Với lợi thế về điều kiện tự nhiên khá phù hợp với đặc điểm sinh thái của cây cà phê, cùng với sự đầu tư mọi mặt của chính quyền địa phương, cây cà phê đã trở thành loại cây công nghiệp m
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
- -
NGUYỄN TIẾN LÂM
Phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến
sự phát triển cây cà phê ở huyện Krông Nô, tỉnh
Đăk Nông Một số giải pháp đề xuất
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KHOA HỌC
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trang 2Nằm ở phía nam Tây Nguyên, Đăk Nông là một tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nhất là Nông – Lâm nghiệp Đặc biệt, do nằm trong vành đai nhiệt đới lại có diện tích đất bazan rộng lớn nên tỉnh có thế mạnh để phát triển các loại cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tế cao trong đó có cây cà phê Đây là loại cây công nghiệp lâu năm có diện sinh thái rộng, việc trồng cây cà phê vừa tạo ra sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao, tạo nguồn ngoại tệ, vừa phát huy lợi thế vùng đồi núi, tạo ra việc làm cho người lao động, góp phần thỏa mãn nhu cầu ẩm thực của mọi người Trong những năm qua, diện tích và sản lượng cây cà phê ở tỉnh Đăk Nông không ngừng tăng Huyện Krông Nô là một trong những địa phương có diện tích trồng cà phê lớn của tỉnh Với lợi thế về điều kiện tự nhiên khá phù hợp với đặc điểm sinh thái của cây cà phê, cùng với sự đầu tư mọi mặt của chính quyền địa phương, cây cà phê đã trở thành loại cây công nghiệp mũi nhọn có đóng góp to lớn trong việc phát triển kinh tế của huyện Krông Nô Tuy nhiên, việc phát triển ồ ạt cây cà phê mà không quan tâm đến các yêu cầu sinh thái của cây trong những năm qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng sản phẩm, gây ra những tác động không tốt đến môi trường sinh thái của huyện
Để phát triển cây cà phê một cách bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế tác động không tốt của nó đến môi trường cần phải có sự tìm hiểu, phân tích các điều kiện tự nhiên của huyện để biết được mức độ phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây cà phê Từ đó có cái nhìn tổng thể về quy hoạch, phân bố cây cà phê sao cho vừa phát huy được lợi thế của vùng, vừa bảo vệ môi trường sinh thái Với mong muốn hiểu rõ hơn về thế mạnh của huyện Krông Nô, đồng thời vận dụng những kiến thức đã
học vào thực tiễn, tôi chọn đề tài “Phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến
sự phát triển cây cà phê ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông Một số giải pháp đề xuất” để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu
- Trên cơ sở phân tích các điều kiện tự nhiên của huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông ảnh hưởng đến sự phát triển cây cà phê Từ đó so sánh các điều kiện tự nhiên với yêu cầu sinh thái của cây cà phê nhằm đánh giá sơ bộ khả năng thích nghi của cây cà phê trên địa bàn
- Đồng thời trên cơ sở đánh giá để đưa ra một số đề xuất mang tính thực tế để giúp việc quy hoạch và phát triển cây cà phê ở địa phương đạt được hiệu quả cao hơn
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 3- Thu thập, nghiên cứu tài liệu về cây cà phê như: loài, giống, đặc điểm sinh thái, vai trò, ý nghĩa…
- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của huyện Krông Nô
- Phân tích các điều kiện tự nhiên của huyện Krông Nô trong mối quan hệ với các yêu cầu sinh thái của cây cà phê
- Nghiên cứu hiện trạng phát triển, phân bố và hiệu quả của canh tác cây cà phê trên địa bàn của huyện
- Nghiên cứu các định hướng, định hướng của địa phương nhằm đưa ra các giải pháp đề xuất của đề tài
- “Đánh giá đất để phát triển nông nghiệp bền vững”: 1997 – 1999 Sở khoa học
công nghệ và môi trường Đăk Lăk 1998 – 1999 của GS Trần An Phong và các cộng
ở huyện Krông Nô, từ đó đề ra định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trông việc canh tác cây cà phê trên địa bàn huyện
Trang 45 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Theo quan điểm này thì địa lý của một tỉnh bao gồm cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh Trong hệ thống này tồn tại những địa hệ cấp thấp hơn
và giữa chúng đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau
Vì vậy khi nghiên cứu, phân tích các đặc điểm tự nhiên của một lãnh thổ, một vùng ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp nói chung và cây cà phê ở huyện Krông Nô – Đăk Nông nói riêng, ta cần phải nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội trong một hệ thống nhất, dưới sự tương tác, qua lại giữa các nhân tố đó với nhau
5.1.3 Quan điểm sinh thái
Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý và ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự nhiên, đặc biệt là giữa con người với việc sử dụng, khai thác, tái tạo hệ địa lý tự nhiên
Việc phân tích các điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện nhằm mục đích khi thác
sử dụng hợp lí trong hiện tại và đề xuất phương hướng phát triển bền vững và lâu dài cho nông nghiệp, nhằm bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái của địa phương
5.1.4 Quan điểm lãnh thổ
Trang 5Mỗi đối tượng địa lí đều gắn với một không gian lãnh thổ nhất định trên đó có các hoạt động sản xuất tương ứng, phù hợp với các đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ Quan điểm này được vận dụng trong đề tài để thấy được ưu thế phát triển cây cà phê trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra các giải pháp và định hướng phát triển lâu dài
Đồng thời mỗi thành phần tự nhiên đều biến động trong từng điều kiện, thời gian,
và các xu hướng nhất định để có mối quan hệ nhân - quả, vì vậy khi nghiên cứu cũng cần dựa trên lịch sử hình thành lãnh thổ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thập, xử lí số liệu, tài liệu
Bao gồm việc thu thập tài liệu, số liệu có liên quan từ cơ sở, cơ quan và các ban ngành để tiến hành phân tích và xử lý số liệu Các nguồn tài liệu thu thập được rất đa dạng, phong phú vì vậy phải sử dụng linh hoạt và xử lý đúng số liệu thì mới làm sáng
tỏ được vấn đề cần chứng minh
5.2.2 Phương pháp bản đồ
Từ các bảng số liệu đã thu thập được từ cơ sở, đề tài đã phân tích, xử lý số liệu,
từ đó thành lập các bản đồ, lựa chọn các phương thức thể hiện, so sánh đối chiếu, phân tích các biểu đồ, bảng số liệu để xác định sự phân bố và tình hình canh tác cây cà phê theo không gian và thời gian
Sử dụng các biểu đồ bằng trực quan hóa số liệu thống kê, phương pháp này đã đưa ra những công cụ hữu ích cho việc thể hiện sinh động, khách quan, rõ ràng kết quả
nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp thực địa
Tiến hành tham quan, khảo sát thực tế để tìm hiểu đặc điểm tự nhiên của huyện
và một số nông trường cà phê để quan sát, thu thập thông tin, hình ảnh, số liệu cần thiết để bổ sung cho đề tài
Qua thực tế tôi có thể phân tích, đánh giá đúng với hiện thực khách quan hơn
5.2.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này là thu thập các ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài ngành nhằm đánh giá về vấn đề, một sự kiện khoa học, đối tượng nào đó
Đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một đối tượng nghiên cứu để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó
B PHẦN NỘI DUNG
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật canh tác cây cà phê
1.1.1 Các chủng loại và đặc điểm sinh học của cây cà phê
Cà phê là cây đã được phát hiện cách đây hàng ngàn năm, là một chi thực vật thuộc họ Thiên Thảo (Rubiaceae), có nguồn gốc từ châu Phi cận nhiệt đới và phia Nam châu Á Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với 6000 loài cây nhiệt đới Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế Loài thứ nhất có tên thông
thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica) với các giống
điển hình như: Typica, Buorbon,Catura,Catuai, Catimor, đại diện cho khoảng 61% các
sản phẩm cà phê trên thế giới Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea
canephora hay Coffea robusta), đại diện là giống cà phê Robusta, chiếm gần 39% các
sản phẩm cà phê Ngoài ra còn có Coffea liberica và chari (ở Việt Nam gọi là cà phê
mít) với sản lượng không đáng kể Ở nước ta nói chung và ở huyện Krông Nô nối
riêng thì giống cà phê vối (coffea robusta) là được trồng chủ yếu Giống cà phê này có
chiều cao cây từ 8 - 12m Cây to khỏe, tán cây rộng, không thích hợp cho mật độ trồng dày, năng suất cao và có sức chống chịu sâu bệnh tốt hơn các giống cà phê khác
Hiện nay, Viện Nông Nghiệp Tây Nguyên đã nghiên cứu và chọn lọc đưa ra sản xuất đại trà nhiều dòng cà phê, điển hình là các dòng: Dòng TR5, TR6, TR4, TR8…
Về đặc điểm sinh học của cây cà phê:
- Rễ: Cây cà phê có 3 loại rễ: Rễ cọc dài từ 0,3 - 0,5 m tùy thuộc rất lớn vào độ
hổng của đất, mạch nước ngầm, mọc từ thân chính, thẳng, to, khỏe Rễ nhánh: mọc ra
từ rễ cọc, song song với mặt đất nên còn gọi là rễ ngang có thể ăn sâu 1,2 - 1,3 m Các
rễ bên mọc từ rễ nhánh thành hệ thống rễ con Rễ con phát triển phụ thuộc vào độ dày của tầng đất canh tác, giống cà phê, chế độ bón phân, tưới nước, canh tác Hệ thống rễ này hầu hết tập trung ở tầng đất mặt (từ 0 - 30 cm)
Ngoài các yếu tố nội tại là đặc tính của giống, bộ rễ chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như đất trồng, chế độ dinh dưỡng, các biện pháp kỹ thuật canh tác, chế độ nhiệt và độ ẩm của đất Bộ rễ phát triển trong tầng đất dày, có tính chất vật
lý tốt
- Thân cành: cây cà phê là cây thân gỗ nhỏ có màu vàng ngà dòn dễ gãy, thân có
nhiều đốt, tốc độ phát triển của thân phụ thuộc vào đặc tính của từng giống và điều kiện ngoại cảnh, nếu để phát triển tự nhiên thì có thể cao đến hàng chục mét Trong điều kiện chăm sóc tốt, các cành cơ bản của cây cà phê bắt đầu xuất hiện sau khi trồng
20 - 40 ngày, gồm có cành ngang và cành vượt tuy nhiên chỉ có cành ngang ra hoa và
Trang 7quả còn cành vượt thi không Các cành mọc từ thân chính gọi là cành cơ bản (cành cấp 1), cành mọc từ cành cấp 1 gọi là cành thứ cấp (cành cấp 2)
- Lá: Đối với cà phê vối, lá có tuổi thọ từ 7 - 10 tháng, nếu chăm sóc tốt thì tuổi
thọ của là có thể đạt đến 12 tháng Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới nhạt hơn Chiều dài của lá koảng 8 - 15 cm, rộng 5-10 cm Thời tiết, dinh dưỡng không tốt có thể làm lá rụng sớm Cành và lá có tương quan chặt chẽ với sức sinh trưởng và năng suất
cà phê Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của lá cà phê là: ánh sáng và nhiệt độ
- Hoa: Cà phê là loại hoa lưỡng tính, hoa mọc ra ở các chồi nách lá của cành sơ
cấp và cành thứ cấp Hoa thường ra vào tháng 2, nở về đêm và nở hết khoảng 4 - 5 giờ sáng, có màu trắng, 5 cánh, thường mọc theo chùm đôi hoặc chùm ba Cà phê vối thụ phấn chéo là chủ yếu, đặc tính này phụ thuộc rất nhiều vào gió và côn trùng, vì vậy việc nuôi ong mật trong vườn cây cà phê cũng là biện pháp tăng tỷ lệ đậu quả của cà phê Cà phê vối không ra hoa lại ở những đoạn cành (hoặc nách lá) đã ra hoa năm trước
- Quả: Sau khi thụ phấn, quả phát triển nhanh qua 4 giai đoạn (đầu đinh, tăng
nhanh về thể tích, tích lũy chất thô và hình thành hạt, quả chín), thường quả cà phê có
1 - 2 nhân (tùy theo lượng nước tưới, nhiệt và chế độ dinh dưỡng) Thời gian sinh trưởng đối với quả cà phê vối thường từ 9 - 11 tháng (tùy theo điều kiện chăm sóc)
1.1.2 Yêu cầu ngoại cảnh
Cây cà phê có chu kỳ sinh học dài và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố ngoại cảnh Trong đó khí hậu và thổ nhưỡng là những yếu tố sinh thái cơ bản mang tính quyết định đến đới sống của cây
1.1.2.1 Yêu cầu thổ nhưỡng
Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất bazan là một trong những loại đất lý tưởng để trồng cà phê, vì các đặc điểm lý hóa tính tốt, và tầng dày của loại đất này Yêu cầu cơ bản của đất trồng cà phê là có tầng sâu từ 70 cm trở lên, mạch nước ngầm là 1,5m, nếu mạch nước ngầm quá thấp rễ cây không khai thác được nước còn nếu cao quá sẽ làm bộ rễ dễ bị thoái hóa, đất chặt thiếu oxy và đất có
độ thoát nước tốt Ngoài độ sâu trên 70 cm, đất phải có tính tốt, độ tơi xốp cần đạt trên 60% vừa để thoáng khi nước mưa to vừa thuận lợi cho bộ rễ phát triển, dung trọng khoảng 0,9g/cm3, tỷ trọng đạt 2,54g/cm3, cấp hạt đất >0,25mm đạt trrung bình 66%, thành phần cơ giới thích hợp cho cây cà phê là đất sét pha thịt, tỷ lệ sét vật lý đạt
>60% là tốt Các loại đất thường thấy ở Việt Nam ở trên các vùng cao như granit, sa phiến thạch, phù sa cổ, gờ nai, đá vôi, dốc tụ, đều trồng được cà phê Tuy nhiên, đất bazan là thích hợp nhất, đất đỏ vàng hay đất cát xám phát triển trên đá Granit, đặc biệt
là đất xám bạc màu ít thích hợp với cây cà phê Ở cà phê vườn có khả năng trồng được
cả ở nơi có đá lộ đầu, ở những nơi đất dốc vẫn trồng được cà phê nếu làm tốt công
Trang 8trình chống xói mòn Trên nền đất tốt và được chăm sóc chu đáo thì không những cây
cà phê phát triển tốt, năng suất cao mà còn kéo dài tuổi thọ và nhiệm kì kinh tế
Theo Nguyễn Sĩ Nghị (1982) thì các loại đất có N tổng số từ 0,15 - 0,25%, P2O5
tổng số từ 0,08 - 0,1% và K2O tổng số từ 0,1 - 0,15% là thích hợp để trồng cà phê Tuy nhiên các chất dinh dưỡng phải ở dạng dễ tiêu Cà phê được trồng trên đất tốt cho sản lượng cao liên tục trong 30 năm, đất xấu cà phê sớm tàn lụi
Ngoài các loại phân hóa học, để trồng cà phê cần loại đất có độ mùn thấp nhất là 2%, để tăng độ mùn thì trồng cây họ đậu, cây phân xanh như cây cốt khí đậu mùa…để
tủ đất, ép xanh cho cà phê là rất quan trọng
So với các loại cây như chè, cao su thì cà phê thích hợp với đất có độ pH ít chua
từ 5,5 - 6,5%, đối với đất quá chua (độ pH dưới 5%)thì cần bón lót vôi khi trồng
Đất bazan là loại đất thích hợp nhất dể trồng cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cao su, cà phê Đất bazan có độ tơi xốp 60% thoát nước nhanh, giữ ẩm tốt, thoáng khí Hàm lượng các chất như N, P2O5, K2O…phù hợp với yêu cầu của cây cà phê Ngoài ra đất bazan còn có các nguyên tố như: Bo, Zn, Cu, Fe…là các vi lượng quan trọng đối với phẩm chất của cây cà phê
Ngoài đá bazan cây cà phê còn trồng trên đất poocpia, diệp thạch sét, diệp thạch mica, diệp thạch vôi, phù sa cổ,….Tuy nhiên, các loại đất này kém loại đất bazan nhưng nếu được thâm canh tốt ngay từ đầu thì cà phên vẫn cho năng suất cao
Do điều kiện địa hình nước ta 3/4 diện tích là đồi núi nên diện tích trồng cà phê ở nước ta rất lớn, nằm trên độ dốc nhất định Do vậy, cần có biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất như trồng theo đường đồng mức, gieo cây ngắn ngày họ đậu, chắn dòng chảy, trồng rừng đầu nguồn, đồng thời tìm cách nâng cao độ phì cho đất trong quá trình canh tác
1.1.2.2 Yêu cầu về địa hình
Giới hạn độ dốc để trồng cây cà phê tương đối lớn, độ dốc thích hợp để trồng từ
0 -150, trong đó thích hợp nhất là từ 3 - 100 Với những vùng có độ dốc từ 8 - 150 cần phải chú ý đến mật độ trồng thích hợp, trồng âm, tạo bồn, tủ gốc và trồng các loại cây bụi vừa bổ sung độ mùn cho đất vừa hạn chế quá trình xói mòn do độ dốc lớn Độ dốc càng lớn xói mòn đất trong màu mưa càng nhiều, nên không nên trồng cà phê trên đất
có độ dốc > 150
Độ cao thích hợp nhất cho cà phê là 800 – 1.700m, ở độ cao này cà phê đặc biệt thơm ngon Tuy nhiên ở độ cao từ 500m cũng đủ làm cho năng suất và phẩm chất ổn định
1.1.2.3 Yêu cầu về nhiệt độ
Cà phê sinh trưởng và phát triển tốt trong phạm vi nhiệt độ tương đối rộng từ 50C đến 320C Song phạm vi nhiệt độ phù hợp đối với từng giống cà phê có khác nhau
Trang 9Cây cà phê chè phát triển thuận lợi từ 19 - 250C, nếu trên 250C làm cho quá trình quang hợp giảm dần, thích hợp nhất trong khoảng từ 20 - 220C Do yêu cầu nhiệt độ như vậy nên cà phê chè được trồng ở những miền núi có độ cao từ 600 – 2500m So với các loại giống cà phê khác, cà phê chè có khả năng chịu rét tốt, khi nhiệt hạ thấp xuống 1 - 20C trong một vài đêm cũng không gây thiệt hại chi cà phê chè Những cây mới trồng chịu lạnh yếu hơn những cây từ 3-5 tuổi trở lên
Ngược lại, đối với giống cà phê vối thích nơi nóng ẩm, phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 22 - 260C, song giới hạn thích hợp nhất là từ 24 - 260C, ở nhiệt độ 50C đã bị hại nghiêm trọng, 70C cây ngừng sinh trưởng
Nhìn chung các loài cà phê có yêu cầu nhiệt độ khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển:
+ Thời kỳ hạt nãy mầm nhiệt độ thích hợp là 30 - 320C
+ Thời kỳ vườn ươm kiến thiết cơ bản từ 19 - 260C
+ Thời kỳ ra hoa nhiệt độ thích hợp cho phê chè là 19 - 230C; cà phê vối ra hoa thích hợp nhất từ 22 - 260C
Trong các giống cà phê đang trồng ở nước ta, giống cà phê Catura, Catimor chịu rét khá hơn các loại giống khác Tuy nhiên ở nhiệt độ cao từ 380C trở lên cũng gây ảnh hưởng xấu đến cà phê
Khi trồng cà phê cần chú ý đến nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm Độ chênh lệch ngày và đêm càng cao thì phẩm chất cà phê thơm ngon, vì ban ngày nhiệt độ cao thúc đẩy quá trình quang hợp, tích lũy chất khô và ban đêm nhiệt độ hạ thấp xuống sẽ hạn chế tiêu hao các chất đã tích lũy
1.1.2.4 Yêu cầu về độ ẩm và lượng mưa
- Về độ ẩm: Tùy theo giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu độ ẩm khác
nhau Đối với vườn ươm cây giống cần độ ẩm không khí từ 75 – 80%, đối với vườn sản xuất thì độ ẩm của không khí phải trên 70%, độ ẩm đất từ 65 – 75%, mới thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Đặc biệt là giai đoạn cà phê nở hoa cần phải có ẩm độ cao từ 94 – 97%, do đó tưới nước bằng biện pháp phun mưa rất thích hợp cho quá trình nở hoa của cà phê, thời kỳ quả chín chỉ cần 60 – 65% Ẩm độ quá thấp cộng với điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao dẫn tới hậu quả làm cho các mầm, nụ hoa bị thui, quả non bị rụng
- Về lượng mưa: Cà phê là loại cây có nhu cầu nước rất lớn Lượng mưa thích
hợp cho cây cà phê sinh trưởng là 1.500 – 2.000 mm, cần thiết đối với cây cà phê chè thường 1.200 mm - 1.500 mm, còn đối với cà phê vối cần từ 1.300 - 2.500 mm Nếu lượng mưa được phân bổ tương đối đều trong năm có một mùa khô hạn ngắn vào cuối
và sau vụ thu hoạch, nhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa của cây cà phê Đối với cà phê mít có yêu cầu về nhiệt độ và lượng mưa tương tự như cà
Trang 10phê vối Song cây cà phê mít có bộ rễ ăn sâu, vì vậy có thể trồng ở những nơi có lượng mưa ít hơn Sự mẫn cảm với yếu tố nước thể hiện rõ nhất ở thời kỳ ra hoa, kết quả Tuy nhiên trong từng giai đoạn phát triển của cây cà phê cần có lượng nước khác nhau nên phải có chế độ tưới tiêu thích hợp
Thực tế ở nước ta cho thấy, các vụ cà phê được mùa thường trùng hợp với những năm có mùa khô rõ rệt, tiếp theo là mùa mưa nhiều làm cho cà phê trải qua mùa khô phân hóa mạnh mầm hoa và sau đó đủ ẩm để sinh trưởng, nở hoa nuôi quả Độ ẩm tương đối ảnh hưởng đối với sinh trưởng của cây cà phê Vì nó liên quan đến độ bốc hơi của lá điều này thể hiện ở hiện tượng rũ là khi có gió Lào tác động Nếu khô nóng gây gắt sẽ gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năg suất của cây cà phê, chính vì vậy cần phải có các biện pháp khắc phục phù hợp như: trồng cây che bóng, xới xác từ gốc giữ ẩm, trồng cây phân xanh giữa hàng…
1.1.2.5 Yêu cầu về ánh sáng
Những nghiên cứu của Trung tâm cây ăn quả Phủ Quỳ cho thấy cà phê quang hợp tốt khi cường độ ánh sáng từ 23.000 – 27.000 lux Cà phê chè là loại cây thích ánh sáng tán xạ (nguồn gốc mọc trong rừng thưa tại Châu Phi), ánh sáng trực xạ làm cho cây bị kích thích ra hoa quá độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, vườn cây xuống dốc nhanh, ánh sáng tán xạ có tác dụng điều hòa sự ra hoa, phù hợp với cơ chế quang hợp tạo thành và tích lũy chất hữu cơ có lợi cho cây cà phê, giữ cho vườn cây lâu bền, năng suất ổn định
Cà phê vối là cây thích ánh sáng trực xạ yếu (nguyên quán cà phê vối mọc rải rác ven bìa rừng ở Châu Phi) Ở những nơi có ánh sáng trực xạ với cường độ mạnh thì cây cà phê vối cần lượng cây che bóng để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của vườn cây
Tuy nhiên trong quá trình thuần hóa con người đã trồng cây cà phê không cần che bóng nhưng vẫn đạt năng suất cao, nhưng phải được thâm canh ngay từ đầu 1.1.2.6 Yêu cầu về gió
Gió là tác nhân cộng hưởng với các nhân tố khác gây ảnh hưởng xấu cho cây cà phê Gió làm tăng sự bốc thoát hơi nước, giảm độ ẩm đất và độ ẩm không khí Đối với
cà phê, gió có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây Tốc độ gió vừa phải sẽ giúp cho quá trình thụ phấn tốt hơn Yêu cầu của cà phê về tốc độ gió là 3,3 – 3,7 m/s Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê Gió quá mạnh làm cho lá bị rách, rụng lá, các lá non bị thui đen, gió nóng làm cho lá bị khô héo Gió làm tăng nhanh quá trình bốc thoát hơi nước của cây và đất đặc biệt là trong mùa khô, gió bão gây gãy cành Vì vậy cần giải quyết trồng tốt hệ đai rừng chắn gió chính và phụ, cây che bóng để hạn chế tác hại của gió Đai rừng chắn gió và cây che bóng còn có tác
Trang 11dụng hạn chế hình thành và tác hại của sương muối, ở những vùng có gió nóng, đai rừng còn có tác dụng điều hòa nhiệt độ trong lô trồng
Nhìn chung để phát triển tốt, cho năng suất cao ta cần phải nghiên cứu đặc điểm sinh thái của nó thích hợp trong giới hạn sinh thái nào để chọn vùng trồng thích hợp đồng thời dự báo được hiệu quả kinh tế mà nó mang lại
1.1.3 Kỹ thuật canh tác
Lựa chọn những cây có tiềm năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với
sở thích của thị trường và có khả năng chống chịu tốt Chọn hạt giống là những cây đã cho trái 6 - 8 năm, năng suất cao và ổn định, kháng sâu bệnh, dạng hình dẹp Chọn trái chín có hai nhân phát triển cân đối
Sau đó xử lý hạt giống và gieo hạt, có hai cách gieo ươm là gieo trong túi bầu và gieo vào luống đất Cả hai cách này đều bố trí trong vườn ươm có giàn che chắn, dàn che phải có mái dàn di động được chủ động trong điều khiển ánh sáng, đảm bảo sự thông thoáng lưu thông không khí vì vậy chiều cao dàn là 1,8- 2m, không gian đủ rộng
để dễ chăm sóc trong thời kì cây con phát triển
Thời vụ:Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6)
Khoảng cách, mật độ:
+ Đất tốt, điều kiện thâm canh cao thì trồng thưa và ngược lại
+ Khoảng cách: đất tốt và bằng phẳng 3 x 3 m (1.118 cây/ha); đất trung bình và dốc 3 x 2.5 m (1.330 cây/ha)
Cách trồng, bón phân lót: Đào hố trước trồng 1 tháng (60 x 60 x60 cm) Bón lót : Lớp đất mặt trộn với 10 – 20 kg phân chuồng ủ hoai mục (đây là chất dinh dưỡng quan trọng nhất trong giai đoạn mới trồng của cây con) + Hữu cơ sinh học + 0,5 kg super lân + 0,5 kg vôi bột đưa xuống hố Lớp đất dưới để một phía sau dùng làm bồn quanh gốc Lúc trồng bón lót ngoài tán lá cây 100 gram phân NPK Khi trồng tránh để làm vở bầu đất, điều cần làm sau khi trồng dặm chặt đất ở xung quanh gốc, tạo bồn, dùng rơm
rạ tủ gốc, sau cơn mưa lớn cần vét bồn, để phòng cây bị ngập úng
Sau khi trồng và chăm sóc đến mùa thu hoạch cần chú ý đến các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng đối với hoạt động sinh lý của cây cà phê như: Đạm, lân, kali và các nguyên tố trung lượng : lưu huỳnh, canxi, magiê và nguyên tố vi lượng khác
Trong giai đoạn tiếp theo cần loại bỏ chồi vượt cho cây cà phê, đào rãnh ép xanh, hoặc cày rạch hàng ép xanh, làm cỏ, bón phân, tỉa cành…
1.1.4 Các bệnh hại cơ bản
1.1.4.1 Bệnh gỉ sắt hay nấm vàng da cam
Triệu chứng: trên lá xuất hiện những vết bệnh hình tròn, trên mặt vết bệnh có một lớp bột phấn vàng màu da cam Đó là những bào tử của nấm bệnh Tác hại chủ
Trang 12yếu của nó là làm rụng lá dẫn tới hậu quả khô cành, giảm hoặc mất sản lượng Cà phê chè có tỷ lệ bị bệnh này rất nặng
Biện pháp phòng trừ: Đối với những giống dễ mẫn cảm với bệnh thì dùng thuốc
hóa học để phun phòng trừ Các thuốc nấm thường được sử dụng là Boóc-đô 0,5 - 1%, Oxyd clorid đồng 1% phun vào mặt dưới của lá ở giai đoạn bệnh mới phát triển và trong mùa bệnh Trong mùa mưa cần sử dụng chất dính như Hafton để tăng độ bám dính của thuốc Ngoài ra, hiện nay có một số thuốc như: Sicarol, Bayleton, Anvil, Sumi-eight
1.1.4.2 Bệnh thối rễ
Triệu chứng: Một số loại nấm ở trong đất như Rhizoctonia, Fusarium tấn công
gây tác hại vào bộ rễ của cây cà phê Triệu chứng: Trên các rễ ngang, chóp rễ, phần
rễ đuôi chuột xuất hiện những vết thối mềm có màu thâm đen Cây bị bệnh sinh trưởng cằn cỗi, lá vàng, héo, cây bị nặng sẽ bị chết
Biện pháp phòng trừ: Chú ý tới biện pháp thâm canh, tăng cường bón phân hữu
cơ, cải thiện đặc điểm lý và hóa tính của đất đặc biệt là giảm độ chua của đất Chưa
có những loại thuốc hóa học để phòng trừ bệnh thối rễ có hiệu quả
1.1.4.3 Bệnh khô cành, khô quả
Triệu chứng: bệnh này hường gây nên do nấm coffeanum Noack Bệnh gây hiện
tượng khô cành, khô quả, khô lá thành từng vết hay thành từng mảng trên phiến lá Khi bệnh nặng có thể làm cho cà phê bị chết khô không hồi phục lại được
Biện pháp phòng trừ: Cần bón phân đầy đủ đặc biệt là phân đạm, kali có tác dụng hạn chế sự tác hại của bệnh Nếu hàm lượng đạm ở trong lá có từ 4% trở lên thì cây cà phê không bị loại bệnh này gây tác hại Khi thấy xuất hiện bệnh thì dùng các loại thuốc có gốc đồng để phun phòng trừ Trồng cây che bóng một cách hợp lý cũng hạn chế được sự xuất hiện của bệnh Có thể dùng thuốc nội hấp Derosal pha 0,1% 1.1.4.4 Bệnh đốm mắt cua
Triệu chứng: Bệnh này do nấm Cercospora coffeicola gây nên Vết bệnh trên lá
hay quả thường là hình tròn, ở giữa có òn đồng tâm, xung quanh màu nâu đỏ, ngoài màu vàng Quả bị nấm gây hại sẽ bị thối đen từng phần hay toàn bộ, cây bị bệnh thường cằn cỗi kém phát triển, là vàng và rụng, quả chin ép
Biện pháp phòng trừ: Bón phân cân đối, tiếp tục chăm sóc Nơi bị bệnh nặng có thể dùng các loại thuốc gốc kim loại đồng nồng độ từ 0,5 - 1% để phun phòng trừ 1.1.4.5 Rệp sáp
Triệu chứng: Rệp sáp có hình dạng bầu dục, trên thân có phủ một lớp sáp trắng xám mịn Nếu rệp sáp gây tác hại ở vùng cuống quả sẽ làm cho quả phát triển chậm, quả nhỏ, nếu bị nặng sẽ dẫn tới chùm quả bị khô hoặc làm chết cả cành Trong sản
Trang 13xuất cần có định kỳ kiểm tra phần cổ rễ ở dưới mặt đất (đào sâu xung quanh cổ rễ sâu
10 cm) để phát hiện kịp thời sự xâm nhập gây tác hại của rệp
Biện pháp phòng trừ: Khi thấy có rệp sáp xuất hiện cần dùng các loại thuốc như Methyl parathion, Tinox BI-58 để phun phòng trừ hoặc tưới gốc cây bị bệnh Hiện nay xuất hiện một số loại thuốc mới có hiệu quả cao như: Suppracid 40 BC 1, Dimecron 100DD, Carbicron Thuốc hạt, bột xử lý rắc ở gốc: Basudin 3H, Sevidol 6H, Karphos 2%, Sunithion 5W.P, Oncol 25W.P
1.1.4.6 Mọt đục cành
Đặc điểm gây hại: Thành trùng là bọ cánh cứng rất nhỏ gần bằng đầu kim găm Con cái đen bóng, con đực nâu xám dài trung bình từ 0,9 - 1,6mm Mọt đục lỗ nhỏ bên dưới các cành tơ hay bên hông các chồi vượt tạo tổ để đẻ trứng làm cành, chồi khô héo và chết
Biện pháp phòng trừ: Hiện nay chưa có loại thuốc nào đặc trị mọt đục cành Cà phê vì vậy biện pháp tốt nhất là cắt bỏ cành bị mọt để ngăn chặn sự lây lan hoặc là dùng thuốc phun sớm dể phòng ngừa như: Nitox 30EC, Nibas, Bini 58, Bonus 40EC…
1.2 Đặc điểm sản phẩm và kĩ thuật thu hái, sơ chế, bảo quản
Trang 14có quả chín đỏ hay vừa chín, không hái quả xanh Không để quả chín nẫu hay khô trên cây, cà phê quá chín hoặc xanh là nguyên nhân làm cho cà phê mất mùi vị ngon Ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho nấm mốc và độc tố phát triển
Trong sản phẩm thu hoạch số quả chín hoặc vừa chín nhất là 95%, trừ đợt thu hoạch lần cuối tỷ lệ có thể thấp hơn Mặc khác, tùy vào phương pháp chế biến
mà có thể có yêu cầu chất lượng quả thu hoạch khác nhau Quả cho chế biến ướt phải
có tỷ lệ chin cao hơn so với chế biến khô, phương pháp chế biến khô có thể chấp nhận một tỷ lệ nhất định các quả xanh già, quả ương, quả khô trên cây, quả rụng dưới đất Hái cà phê phái có kĩ thuật phù hợp để bảo vệ cành, lá,nụ tránh ảnh hưởng tới vụ sau
1.2.3 Chế biến
Có hai phương pháp chế biến: Chế biến khô và chế biên ướt Với cà phê chè hầu hết là dùng phương pháp chế biến ướt và cả một phần cà phê vối cũng chế biến theo phương pháp ướt (hoặc nửa ướt) nếu có yêu cầu của khách hàng
Cà phê vối Tây Nguyên, do mùa thu hoạch thường là mùa khô nên người ta áp dụng chế biến khô để tận dụng năng lượng mặt trời
Chế biến ướt: Cà phê sau khi hái về phải chọn lọc loại riêng quả xanh, quả khô,
loại bỏ cành lá rụng và đất đá…Quả cà phê chín được đưa vào máy xát tươi để tách vỏ quả ra Nhân cà phê đã tách vỏ quả, còn vỏ trấu gọi là cà phê thóc
Cà phê thóc phải loại bỏ lớp nhớt bên ngoài vỏ trấu Đó là giai đoạn ngâm và rửa
Vì thế người ta gọi phương pháp này là chế biến ướt và cà phê chế biến theo phương pháp này “cà phê rửa” Cà phê này qua phơi sấy cho khô, có độ ẩm dưới 10 – 12% gọi
là cà phê thóc sấy khô
Cà phê thóc khô qua quá trình xát khô, loại bỏ vỏ trấu, đánh bóng sẽ thu được cà phê nhân Cà phê nhân qua phân loại trở thành cà phê thương phẩm cho việc buôn bán
Chế biến khô: Quả cà phê đưa về không xát tươi mà đưa ra phơi khô cho đến khi
độ ẩm xuống còn 12 – 13 % Đưa cà phê phơi khô vào xát bằng máy xát kho cà phê, loại bỏ vỏ quả vỏ trấu khô ta được cà phê nhân thành phẩm
Trang 15Ngoài hai phương pháp trên, ở nước ta người ta thường áp dụng phương pháp chế biến nửa ướt Ở phương pháp này, người ta xát tươi quả cà phê bằng loịa máy xát tươi kèm theo đánh sạch một phần nhớt rồi mang phơi, không ủ len men và rửa sạch hoàn toàn
1.2.4 Bảo quản sau thu hoạch
Nguyên tắc bảo quản ở nơi nhiệt độ thấp, thoáng mát, khô ráo Bảo quản kín ngăn ngừa sự xâm nhập của các nấm bệnh và sâu hại, thường bảo quản dạng cà phê thóc khô hoặc cà phê quả khô, chỉ chế biến cà phê nhân trước khi xuất khẩu hoặc bán trên thị trường
Không để quả cà phê lẫn vào trong đất dễ bị nhiễm nấm bệnh Cà phê hái xong phải chế biến ngay Nếu không kịp phải tãi quả cà phê trên nền gạch thoáng mát, tầng không quá dày 30 – 40 cm Không ủ đống cà phê làm cho cà phê lên men Không giữ
cà phê hái về quá 24h
Bao bì đựng sản phẩm cà phê quả tươi và phương tiện vận chuyển phải sạch, không có mùi phân bón, mùi hoá chất…
Đối với cà phê thóc và cà phê nhân thì có các cach bảo quản khác nhau như: Phơi nắng , sấy bằng không khí nóng, sấy bằng không khí khô, dùng hoá chất hút nước như H2SO4, CaCl2, bảo quản ở trạng thái thoáng gió tích cực, bảo quản ở trạng thái nhiệt độ thấp, bảo quản kín, đỗ thành đống rời, bảo quản trong bao Tuy nhiên trông quá trình bảo quản cần chú ý đến một số điểm sau:
Trang 16- Chỉ đưa vào bảo quản trong kho khi độ ẩm trong hạt không quá 12,5% để cà phê không bị lên men mốc, không bị mất mùi, không để trực tiếp trên nền đất
- Dùng bao tải sạch để bảo quản cà phê, trong nhà kho có thông gió tốt và đề phòng nước dột, không để cà phê sát tường Không dùng bao nhựa để chứa cà phê, chứa cà phê trong bao không quá đầy
- Tạp chất trong cà phê càng ít càng tốt, đối với cà phê cấp I , II phần trăm tạp chất < 0,5 %
- Để tránh hiện tượng nén chặt các bao do sức nén của tải trọng các bao phía trên, cứ sau 3 tuần phải đảo thứ tự xếp bao một lần
1.3 Khái quát đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Huyện Krông Nô nằm ở phía đông của tỉnh Đăk Nông, có tổng diện tích tự nhiên 81.365,7 ha, được chia làm 12 đơn vị hành chính gồm 11 xã và một thị trấn, có tọa độ địa lý từ 21o11’16” đến 12o33’12” độ vĩ Bắc và từ 107o41’52” đến 108o05’41” độ kinh đông, vị trí địa lý của huyện tiếp giáp với các đơn vị như sau:
- Phía Nam giáp huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông;
- Phía Bắc giáp huyện Cư Jút và huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông;
- Phía Tây giáp huyện Đắk Mil và huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông;
- Phía Đông giáp huyện Krông Ana và huyện Lắk,tỉnh Đắk Lắk
Trang 17Bản đồ 1.1:
Nguồn ảnh: Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Krông Nô
Huyện Kông Nô có các tuyến giao thông quan trọng chạy qua trung tâm huyện như tuyến tỉnh lộ 4 đoạn qua huyện dài 54.5 km, nối Q1 14 với huyện và thị xã Gia Nghĩa; tuyến tỉnh lộ 3 đi qua thị trấn, đoạn qua huyện dài 20km đã dược đầu tư nâng cấp; có nhiều di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã được biết đến như thác Dray Sáp, khu bảo tồn Nam Nung, khu căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV,…; có nhiều tiềm năng
về thủy điện đã và đang được khai thác; có nguồn khoáng sản phong phú Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh nền kinh tế - xã hội heo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một trong những hạt nhân về phá tiển kinh tế
- xã hội của tỉnh
1.3.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo
Địa hình Krông Nô toàn bộ là đồi núi gần như liên tiếp theo hướng từ Tây sang Đông Nam và có độ cao từ 470 - 840m so với mặt nước biển, cá biệt có một số ngọn núi cao trên 1.000m, như Nâm Nung, Nam Ka Địa hình huyện Krông Nô đa dạng và được chia thành ba dạng chính:
Trang 18- Dạng địa hình núi cao: phân bố về phía Tây và phía Nam của huyện, chiếm khoảng 51% tổng diện tích tự nhiên Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc trung bình cấp V,
VI, độ cao trung bình từ 800 – 1.200 m so với mặt nước biển, các xã Đắk Nang, Đức Xuyên, Nâm Nung, Nâm N’Đir, khu bảo tồn Nam Nung mang nét đặc trưng của dạng địa hình này
- Dạng địa hình đồi núi thấp đến trung bình: tập trung ở phía Bắc và trung tâm huyện, chiếm khoảng 39% tổng diện tích, độ cao trung bình từ 450 - 600 so với mặt nước biển, địa hình bị chia cắt; độ dốc trung bìn cấp II đến cấp IV Tập trung ở các xã Đắk Sôr, Nam Đà, thị trấn Đắk Mâm Đây là dạng địa hình được hình thành từ đá mẹ chủ đạo là đá sét và biến chất, đất bazan và đá granit Quá trình hình thành đất chủ đạo
là phong hóa tích lũy Fe-Al tương đối, quá trình sói mòn rửa trôi đất
- Dạng địa hình thung lũng: tập trung phía Đông, dọc theo dòng sông Krông Nô
và các suối lớn, chủ yếu ở các xã Đức Xuyên, Buôn Choánh, Đắk Nang, Nâm N’Đir, chiếm khoảng 10% tổng diện tích, độ dốc trung bình cấp I, II, độ cao trung bình 400 –
450 m so với mặt nước biển Khu vực này chủ yếu được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa, hình thành nên những cánh đồng màu mỡ ven sông Kroong Nô và các suối chính trên địa bàn
1.3.1.3 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu huyện Krông Nô mang nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên Thời tiết hằng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, chiếm trên 84% mưa cả năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng
4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, trong đó tháng 2 và tháng 3 hầu như không mưa Đặc biệt cơ bản của khí hậu huyện Krông Nô được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 22,4oC
+Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 28,9oC (tháng 3, 4 )
+Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 20,5oC ( tháng 12, 1)
Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình từ 12- 14oC, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm khoảng 4- 5oC, vùng núi cao nhiệt độ cũng chỉ hạ thấp hơn so với vùng khác từ 1- 2oC
- Chế độ nắng: lượng ánh sáng dồi dào, khoảng 213- 266 ngày nắng trong năm
Tổng giờ nắng trong năm 2.317 giờ Tháng 1 là tháng nắng nhiều, mỗi ngày có 8-9 giờ nắng; tháng 7, 8 nắng ít hơn mỗi ngày chỉ có khoảng 3-4 giờ nắng
- Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa cuẩ huyện bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố địa
hình Tổng lượng mưa bình quân hằng năm khá lớn từ 1.800- 1.900 mm, lượng mưa cao nhất có năm lên tới 2.800 mm.Tháng 8 là tháng mưa nhiều nhất, lượng mưa lên Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa của huyện bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố địa tới 320
Trang 19mm Về mùa khô không khí rất khô, độ ẩm xuống thấp, lượng mưa rất ít từ 4-5 mm vào tháng 1 và tháng 2 Lượng mưa, số ngày mưa phân bố không đều trong năm và trong các vùng Số ngày mưa trun bình năm là 197,2 ngày Lượng mưa bình quân mùa mưa chiếm 86% lượng mưa cả năm
- Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí tương đối hằng năm bình quân từ
80%-85%, đặc biệt về mùa khô độ ẩm khong khí rất thấp khoảng 70% (trung bình tháng 2)
Độ ẩm không khí có khi rất cao 95% vào n hững ngày tháng7, tháng 8
- Chế độ gió: Gió Đông Bắc thổi vào các tháng mùa khô, tốc độ gió trung bình 1
– 3 m/s, tốc độ lớn nhất là 19 m/s (tháng 3); Gió Tây Nam thổi vào các tháng mùa khô, tốc độ trung bình 1 – 2 m/s, tốc độ lớn nhất đạt 23 m/s (tháng 4)
- Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi năm là 946,7 mm, lượng bốc hơi bình quân mùa
khô là 14,9 – 16,2 mm/ngày, vào tháng mùa mưa lượng bốc hơi thấp trung bình từ 1,5 – 1,7 mm/ngày, các tháng mùa khô lượng bôc hơi khá cao gây khô hạn, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung đặc điểm khí hậu khu vực thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên do thời tiết phân chia hai mùa rõ rệt và chế độ lũ của sông Krông Knô nên hằng năm có những đợt lũ lớn gây ảnh hưởng đến dời sống của nhân dân địa phương Mùa mưa cây trồng phát triển tốt Các tháng mùa mưa tập trung cần chú ý các giải pháp chống rứa trôi, xói mòn, sạt lở đất, chống gãy đổ, dập nát cây trồng, phơi sấy sản phẩm mùa vụ sớm Vào mùa khô hạn, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của con người Vì vậy, cần có giải pháp bố trí mùa vụ thích hợp cho cây trông hằng năm; xây dựng các hồ chứa nước, đập dâng lấy nước cho cây trồng, vật nuôi và cung cấp cho sinh hoạt
1.3.1.4 Đặc điểm thủy văn
Mật độ sông suối trên địa bàn là 0,4 – 0,6 km/km2, các sông suối lớn như: sông Krông Knô, suối Đăk Sôr, suối Đăk Mâm, suối Đăk Nang, suối Đăkk Rồ, suối Đăk Pri…., các suối trên địa bàn đều có hướng chảy về sông Krông Knô là nhánh chính hợp thành dòng Srêpôk
- Sông Krông Knô: Bắt nguồn chảy từ dãy Chư Yang Sin có độ cao trên 2000m chảy về phía Tây qua các thung lũng rồi chuyển sang hướng Bắc hợp lưu với sông Krông Ana, dòng sông dài 189 km, đoạn chảy qua địa bàn huyện dài 53,3 km Lòng sông dốc hẹp, nhiều gấp khúc, về mùa mưa nước thượng nguồn đổ về nhanh, gây lũ lụt hai bên bờ sông Diện tích lưu vực khoảng 3.930 km2, chủ yếu là vùng rừng núi nằm dọc ranh giới giwax các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng và cũng chính là ranh giới của huyện Trên dòng sông có nhiều ghềnh thác, hiện nay đã xây dựng các công trình thủy điện như: Buôn Kuốp, thủy điện Buôn Tua Srah
Trang 20- Các suối của huyện bắt nguồn và chảy trên sườn Tây của các dãy núi, có lượng mưa lớn, tầng thổ nhưỡng rất dày, thảm thực vật chủ yếu là cây rừng, cây lâu năm nên nguồn nước khá dồi dào, các suối này có nước quanh năm, có khả năng xây dựng các
hồ chứa nhỏ lấy nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- Hồ tự nhiên: Cùng với hệ thống sông suối kể trên, huyện còn có các hồ Ea Snô,
hồ Buôn Lang, hồ Đăk Viên…, cảnh quan rộng với nhiều phong cảnh rừng núi bao bọc, nhiều loài động thực vật phong phú, có ưu thế phát triển du lịch sinh thái và nuôi trông thủy sản
- Hồ thủy lợi: Huyện có rất nhiêif hồ đập thủy lợi lớn nhỏ, trong đó phải kể đến
hồ thủy lợi Đăk Rồ, hồ Buôn Dơng, hồ thôn Đăk Hòa, Đăk Lưu, hồ Đăk Nang, diện tích vùng nước mặt này tạo nên một vùng cảnh quan sinh thái, có giá trị lớn trong việc cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và nuôi trồng thủy sản
1.3.1.5 Đặc điểm thỗ nhưỡng
Theo tài liệu điều tra đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp năm xây dựng 1978 và các tài liệu điều tra bổ sung năm 2005, trên địa bàn có 8 nhóm đất chính với 14 loại đất như sau:
Bảng 1.1: Thống kê diện tích, nhóm đất huyện Krông Nô
(ha)
Tỷ lệ (%)
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN TOÀN HUYỆN 81.366,0 100
7 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan Rk 1.314,0 1,6
8 Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt, ba zan Ru 497,0 0,6
9 Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính Fk 3.421,0 4,2
10 Đất nâu vàng trên đá macma bazơ và trung
11 Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất Fs 49.411,0 60,7
Trang 21VI NHÓM ĐẤT MÙN VÀNG ĐỎ TRÊN NÚI H 2.100,0 2,6
12 Đất mùn đỏ vàng trên đá phiến sét Hs 2.100,0 2,6
13 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 652,0 0,8
VIII ĐẤT XÓI MÒN TRƠ SỎI ĐÁ E 5.954,0 7,3
Nguồn: Tổng hợp từ Bản đồ đất Đăk Nông - Viện QHTKNN (2005)
* Nhóm đất bãi cát, cồn cát: Độ dốc cấp I, thành phần cơ giới cát, một số nơi
có cơ giới cát pha nhưng tỷ lệ sét không vượt quá 12%; hàm lượng OM tổng số rất nghèo, các chất tổng số khác như: N, P2O5, K2O đều rất thấp Các chất dễ tiêu rất nghèo: lân dễ tiêu <3,2mg/100 g đất, kali trao đổi < 5,2mg/100 g đất Đất cát bằng ven sông có ưu điểm địa hình khá bằng phẳng, độ ẩm khá nên có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, trong quá trình canh tác cần được bón đầy đủ và cân đối các loại phân vô
cơ, đầu tư bón bổ sung nhiều phân hữu cơ nhằm tăng tính đệm, tăng khả năng giữ ẩm
và giữ các chất dinh dưỡng trong đất
* Nhóm đất phù sa: Được hình thành do sông suối mang phù sa bồi đắp nên, đất
giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dày, có màu xám, đen, vùng ngập nước đất bị Glây, phấn bố ở độ dốc cấp I, được hình thành
do sự bồi đắp phù sa của sông Krông Knô Diện tích còn lại là đất phù sa úng nước, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, cần có biện pháp xây dựng cải tạo
* Nhóm đất xám:
- Đất xám trên phù sa cổ phân bố ở cấp độ dốc I (00 - 30) Quá trình hình thành cơ bản là quá trình rửa trôi và xói mòn bề mặt xảy ra trong tự nhiên và quá trình canh tác lâu dài của con người đã dẫn đến sự thay đổi một số tính chất lý hoá học ban đầu của đất Đất có thành phần cơ giới nhẹ, từ cát pha đến thịt nhẹ ở tầng mặt và chuyển dần sang cơ giới thịt trung bình ở tầng dưới (sét >30%), lẫn nhiều sạn sỏi thạch anh Tầng đất thường mỏng dưới 70 cm, hàm lượng các chất dinh dưỡng đều thấp, OM tổng số
<1% (0,1-0,4%), lân tổng số và lân dễ tiêu đều nghèo (0,03% và 1,5-1,6 mg/100g đất), kali tổng số: 0,4-0,7%, kali dễ tiêu 2-4 mg/100g đất, cation trao đổi nghèo: phổ biến ở mức 3-6 lđl/100g đất Đất xám trên macma acid thường có tầng mỏng dưới 70 cm
- Đất xám trên đá cát và granit phân bố ở cấp độ dốc cấp II ( 30 - 80) đất có tầng dày từ 30cm đến > 70cm Đất có thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, độ phì của đất kém, nghèo lân
- Đất xám trên đá cát phân bố ở độ dốc cấp II (30 - 80), đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng, thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc cây ăn quả
* Nhóm đất đen:
- Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan đất hình thành do sản phẩm bồi tụ của
Trang 22bazan, đất có màu đen, hay đen xám, hàm lượng OM cao, có thể sử dụng vào trồng các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày Phân bố ở độ dốc từ cấp II đến cấp VI
- Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt, bazan hình thành do sản phẩm phong hoá của đá bọt và bazan, có màu nâu hơi đen Địa hình khá bằng, ven thung lũng, phân bố
ở độ dốc từ cấp II đến cấp III
* Nhóm đất đỏ vàng:
- Đất nâu đỏ trên đá bazan và đất nâu vàng trên đá bazan trên các địa hình lượn
sóng, đất giàu các nguyên tố như Sắt, Nhôm, can xi, Magiê, Phospho, Kali, Natri
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất được hình thành tại chỗ trên 3 loại đá
mẹ là phiến sét, Gơnai, phiến mica đã phong hoá triệt để, có thành phần cơ giới thịt trung bình, đất ít xốp, mất nước đất trở nên chai rắn, loại đất này hình thành trên địa hình đồi núi, có độ dốc biến đổi từ 8 - 300 tập trung nhiều ở độ dốc trên 200
* Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi là đất mùn đỏ trên đá sét và đá biến chất hình
thành trên tàn tích sa thạch, là loại đá trầm tích hạt thô, cấu tạo khối đặc, địa hình khá dốc 80 đến 150; độ phì nhiêu thấp, thành phần cơ giới nhẹ
* Nhóm đất thung lũng được hình thành ở chân các thung lũng do sản phẩm dốc
tụ, đất có chất lượng tốt, hàm lượng dinh dưỡng khá cao, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình
* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá là loại đất có nhiều hạn chế do tầng mỏng và lẫn
nhiều đá cứng và kết von, đá ong Trên đất xói mòn trơ sỏi đá thường có lớp thực vật thưa thớt, sỏi đá nổi lên mặt và đang bị tác động mạnh của xói mòn, gây hậu quả xấu đối
với vùng đất thấp phía dưới
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Dân cư và nguồn lao động
a Các dân tộc đồng bào thiểu số
Là huyện có nhiều dân tộc, nơi cư trú của cộng đồng các dân tộc anh em trong
đó dân tộc thiểu số chiếm phần đông tới hơn 37,44% dân số toàn huyện, đông nhất là người Dao, còn lại là các dân tộc ít người khác như Ê Đê, Thái, Tày, M’nông Nhưng phải kể đến cộng đồng dân cư người kinh chiếm tỷ lệ rất lớn trong
cơ cấu dân số huyện với khoảng 62,56% dân số Đặc biệt sau ngày giải phóng đến nay, một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến đây làm ăn, sinh sống làm cho thành phần dân tộc của huyện ngày càng đa dạng
Các dân tộc không hình thành nên những lãnh thổ tộc người riêng biệt nhưng mỗi dân tộc đều tập trung ở một vùng nhất định, trong đó người Kinh có mặt ở hầu hết các vùng trong huyện Cộng đồng các dân tộc ở Krông Nô với những truyền thống, bản sắc riêng của từng dân tộc đã hình thành nên một nền văn hoá rất đa dạng, phong phú
Trang 23và có những nét độc đáo, trong đó nổi bật là bản sắc văn hoá truyền thống của người M’Nông, Thái, Dao, Ê Đê và các dân tộc bản địa khác
Tuy nhiên, chính sự tập trung của nhiều dân tộc đồng bào thiểu số nên có sự phân cấp lao động, do sự năng động, khả năng tiếp thu và ham học hỏi nên người Kinh có kinh nghiệm, tay nghề cao hơn trong quá trình sản xuất, thâm canh nông nghiệp Ngược lại, người đồng bào thường sản xuất tập trung, quy mô, chưa áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, giống mới vào quá trình canh tác Mặc dù vậy, nhưng tình trạng này ngày càng được cải thiện với sự hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp về thôn, buôn của người đồng bào
b Dân số và sự phân bố
Theo điều tra năm 2011 dân số trung bình của huyện là 65.924 người/14.398 hộ
Là một trong những huyện có dân số đông chỉ xếp sau Cư Jút, Đăk Mil, Đăk R’Lấp Phân bố theo khu vực thành thị chiếm 9,1%, nông thôn chiếm 90,9% Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,6 % Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của huyện đang có xu hướng giảm dần
Mật độ dân số trung bình của huyện là 81 người/km2 Tuy nhiên sự phân bố không đồng đều, mật độ cao nhất ở xã Nam Xuân, Đăk Mâm, Nam Đà với trên 210 người/km2, còn ở các xã như: Đức Xuyên, Tân Thành, Buôn Choad có mật độ dân số thấp không quá 40 người/km2
Về dân cư theo hai nhóm thì người Kinh chiếm 62,56%, người dân tộc thiểu số chiếm 37,44%
c Nguồn lao động
Nhìn chung dân số của huyện có cơ cấu trẻ, tỷ lệ dân số dưới độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động thấp so với toàn tỉnh Điều nầy thuận lợi cho yêu cầu về lao động phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cơ cấ dân số đang có xu hướng chuyển biến theo hướng tích cực giữa các ngành kinh tế song vẫn còn chậm
Bảng1.2: Lao động phân theo ngành kinh tế huyện Krông Nô, giai đoạn 2008 – 2011
(Đơn vị: người)
Tổng 26.489 27.958 28.389 29.024
Nông – lâm – ngư nghiệp 21.470 22.651 22.907 23.433
Công nghiệp – xây dựng 793 838 856 883
Dịch vụ 4.226 4.469 4.623 4.708
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Nô 2011
Phần lớn lực lượng lao động là lao động chân tay trong các ngành nông, lâm nghiệp, do vậy đội ngũ cán bộ kỹ thuật của các vùng nông nghiệp và lâm trường và một số nông dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trồng và thâm canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày như đậu đỗ, cà phê, cao su, điều, tiêu…
Trang 24Dân số và nguồn nhân lực của huyện dồi dào, người dân cần cù, tích lũy được nhiều kinh nghiệm… Mặc dù vậy nhưng trình độ dân trí còn thấp gây khó khăn cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.3.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng
a Thủy lợi
Huyện Krông Nô là một huyện có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp của tỉnh Đăk Nông Diện tích có khả năng gieo trồng trên địa bàn khá lớn, nhưng thường xuyên bị hạn hán đe dọa vào mùa kho và lũ lụt vào mùa mưa
Hiện trên địa bàn đã đầu tư 01 công trình thủy lợi, hồ chứa nước, trạm bơm, hệ thống kênh tưới, đảm bảo tưới cho 2.601 ha lúa và cây trồng các loại Các công trình thủy lợi đã được đầu tư xây dựng nhưng chưa hoàn thiện đặc biệt là hệ thống kênh mương, do đó khả năng phát huy của công trình thủy lợi còn hạn chế Tuy nhiên, công tác quản lí các công trình còn yếu kém nên phát huy hiệu quả không cao
b Giao thông
- Tỉnh lộ 4: Có chiều dài chạy qua địa bàn huyện có tổng chiều dài 54,50 km trong đó rãi nhựa 22,50 km (đoạn từ xã Đăk Rồ đến giáp ranh với địa bàn huyện Cư Jút) và 32 km đường cấp phối, chất lượng đường hiện nay đã xuống cấp
- Tỉnh lộ 3: Có chiều dài qua địa bàn huyện là 18 km trong đó rãi nhựa 4,27 km, còn lại là đường cấp phối, hiện nay đường đã xuống cấp, mùa mưa đi lại gặp nhiều khó khăn
- Trên địa bàn hệ thống giao thông đường huyện gômns có 15 tuyến với tổng chiều dài là 133,90 km; hiện đã đầu tư nâng cấp 52,80 km đường nhựa, số còn lại là đường cấp phối 60, 10 km và đường đất 21km
- Đường xã, liên thôn, buôn và đường ssanr xuất: Có tổng chiều dài 406,10 km trong đó được rãi nhựa 6,6 km (thị trấn Đăk Mâm 2 km, xã Nam Đà 3,1 km, xã Nam Nung 1,5 km) đường cấp phối 45 km và đường đất 354,50 km
c Cấp điện
Nguồn điện sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn huyện
từ nguồn điện lưới quốc gia Trong tỏng số 95 thôn, buôn, bon thì có 91 thôn, buôn, bon đã được nhà nước đầu tư cong trình điện chiếm tỷ lệ 95,78%
Công tác điện khí hóa nông thôn còn chậm nguyên nhân do tình trạng di cư tự do trong những năm vừa qua đến địa bàn sinh cơ lập nghiệp phân bổ rãi rác và không theo quy hoạch, một số thôn, buôn cò ở xa trung tâm xã, việc đầu tư công trình điện rất tốn kém
d Phát triển giáo dục đào tạo
Nhằm nâng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinhh tế - xã hội của địa phương, năm
2000 toàn huyện có 220 cán bộ, công chức có trình độ cao đẳng trở lên thì đến năm
Trang 252011 tăng lên khoảng 960 người, mức tăng bình quân thời kì là 22,22% Số học sinh tăng bình quân là 8,23%
Ngành học mầm non có 11 trường, ngành học phổ thông có 28 trường: Trong đó tiểu học có 17 tường, trung học cơ sở có 9 trường, trung học phổ thông có 2 trường Ngành giáo dục của huyện cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, không còn tình trạng học ca 3 Tại các xã mới được chia tách như Nâm Nung, Tân Thành và xã Đức Xuyên hiện tại chưa có trường trung học cơ sở, đã ảnh hưởng đến nhu cấu phát triển giáo dục trên địa bàn
e Bưu chính viễn thông và phát thanh truyền hình
Hoạt động bưu chính, viễn thông và phát thanh truyền hình phát triển cả về quy
mô và chất lượng Tính đến thời điểm hiện tại, 10 xã trên tổng số 11 xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã được lắp đặt điện thoại
Năm 2006, số điện thoại trên địa bàn huyện là 12 máy/100 dân, đến năm 2011 tỷ
lệ này là 23 máy/100 dân Tại trung tâm đã được đầu tư xây dựng tổng đài điện tử trung tâm với trang thiết bị hiện đại và 1 trạm phát lại truyền hình tại xa Quảng Phú
f Nước sạch nông thôn
Nước sinh hoạt khu vực dân cư trên địa bàn chủ yếu thông qua việc khai thác nguồn nước ngầm từ giếng đào, giếng khoan, các bể
Tại một số vùng có nguồn nước ngầm hạn chế, người dân phải sử dụng nguồn nước chảy từ khe suối và sinh hoạt sản xuất
1.3.2.3 Thực trạng các ngành kinh tế
a Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 16,97% (năm 2010 đạt 15,2%), giá trị ước đạt 1.062,97 tỷ đồng Trong đó: ngành nông – lâm –ngư nghiệp tăng 6,67%, giá trị ước đạt 443,97 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng tăng 30,77%, giá trị ước đạt 334,0 tỷ đồng, ngành dịch vụ tăng 26,7%, giá trị ước đạt 285,0 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,9 triệu/người/năm, tăng 8,93 triệu/năm so với năm
2005 Quy mô nền kinh tế năm 2010 tăng gấp 2,3 lần so với năm 2005
Bảng 1.3: Cơ cấu kinh tế của huyện Krông Nô năm 2005 và năm 2010
Ngành Năm 2005 (%) 2010 (%)
Nông – lâm – thủy sản 72,63 55,58
Công nghiệp – xây dựng 14,66 24,16
Thương mại – dịch vụ 12,7 20,24
Nguồn: Niêm giám thống kê của tỉnh Đăk Nông năm 2011
Với tiềm năng và thế mạnh của mình, trong tương lai ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ sẽ là động lực để huyện phát triển toàn diện Ngoài ra, nguồn tài
Trang 26nguyên đất đai màu mỡ sẽ tạo điều kiện để huyện phát triển một nền nông nghiệp bền vững
b Thực trạng phát triển các ngành
- Nông nghiệp:
Chuyển dịch theo hướng tạo ra sản phẩm có thị trường tiêu thụ ổn định, hiệu quả kinh tế cao; ứng dụng ngày càng rộng rãi khoa học kĩ thuật trong canh tác Năm 2010, diện tích canh tác đạt 28.080 ha, diện tích gieo trồng đạt 39.105 ha, đạt 105% so với chỉ tiêu đề ra, hệ số sử dụng đất đạt 1,39 lần Tổng sản lượng thực đạt trên 126.600 tấn, giá trị sản phẩm đạt 44,62 triệu đồng/ha; tổng giá trị ngành trông trọt đạt 1.377 triệu đồng
Trồng trọt: cây có củ với diện tích gieo trồng đạt 3.563 ha, cây thực phẩm đạt 1.692 ha, cây lương thực đạt 18.917 ha và cây công nghiệp với diện tích đạt 14.658 ha
Chăn nuôi: Giá trị ngành chăn nuôi đạt 117,1 tỷ đồng, chiếm 8,51% giá trị nông nghiệp Huyện đã từng bước phát triển chăn buôi theo quy mô lớn, tập trung, năng dần tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp, hiện nay trên địa bàn có 25 trang trại với tổng đàn gia súc, gia cầm đạt 48.909 con gồm có trâu, bò, dê, heo và gia cầm
Lâm nghiệp: Công tác quản lí rừng được thực hiện chặt chẽ trên địa bàn Tuy nhiên, hiện trạng phá rừng vẫn còn tái diễn, diện tích rừng khai thác trái phép năm
2010 là 21,84 ha Trong năm qua công tác triển khai trông rừng đã được chu trọng,diện tích trồng mới 224,5 ha
- Công nghiệp:
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2010 đạt 214,56 tỷ đồng,, hiện nay trên địa bàn huyện có 270 cơ sở sản xuất kinh doanh , giải quyết 415 lao động…các cơ sở đang từng bước chuyển đổi nền kinh tế tự cung, tự cấp nhỏ lẻ sang nền kinh tế sản xuất tập trung, sản xuất hàng hóa
- Dịch vụ:
Trong những năm qua ngành dịch vụ trên địa bàn huyện có bước tăng trưởng khá nhanh với nhiều loại hình dịch vụ đa đạng Tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 2010 đạt 495,7 tỷ đồng, trong đó: doanh thu ngành thương mạu quốc doanh đạt 19,8 tỷ đồng, ngoài quốc doạnh đạt 475,9 tỷ đồng Ngoài ra, dịch vụ vận tải với nhiều loại hình đa dạng cũng có đóng góp quan trọng vào cơ cấu GDP của huyện
Trang 271.3.2.4 Thu nhập và tăng trưởng kinh tế
a Thu nhập bình quân đầu người
Do dân tộc đồng bào thiểu số canh tác còn lạc hậu, quy mô nhỏ, không được quan tâm đầu tư nhiều vốn và kĩ thuật và phần lớn dân số hoạt động trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp là chủ yếu nên thu nhập thấp Đồng thời, do dân số đông và dân số dưới độ tuổi lao động còn chiếm một số lượng đáng kể
Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 19,5 triệu đồng/năm, tăng 13,4 triệu đồng/năm so với năm 2005, tuy nhiên khi so sánh giữa thành thị và nông thôn thì có sự chênh lệch lớn Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng năm 2010 ở thành thị đạt 1.327.195 đồng/người, trong khi đó ở nông thôn đạt 955.241 đồng/người So với các huyện trên địa bàn thì thu nhập bình quân đầu người của huyện chỉ đạt ở mức trung bình
b Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 16,97% (năm 2010 đạt 15,2%), giá trị ước đạt 1.062,97 tỷ đồng Trong đó: ngành nông – lâm –ngư nghiệp tăng 6,67%, giá trị ước đạt 443,97 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng tăng 30,77%, giá trị ước đạt 334,0 tỷ đồng, ngành dịch vụ tăng 26,7%, giá trị ước đạt 285,0 tỷ đồng Quy mô nền kinh tế năm 2010 tăng gấp 2,3 lần so với năm 2005 Năm 2011 tốc
độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,97%, ước đạt 1.264,96 tỷ đồng trông đó: ngành công nghiệp và xây dựng đạt 314 tỷ đồng, ngành nông – lâm – ngư nghiệp đạt 658,96 tỷ đồng, ngành thượng mại và dịch vụ đạt 292 tỷ đồng
Với tiềm năng và thế mạnh của mình, trong tương lai ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ sẽ là động lực để huyện phát triển toàn diện Ngoài ra, nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ sẽ tạo điều kiện để huyện phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Trang 28Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CÀ PHÊ Ở HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH
ĐĂK NÔNG
Đối với mỗi loại cây trồng khác nhau, để mang lại hiệu quả kinh tế cao, cho năng suất và chất lượng cao thì việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên cũng như các đặc điểm sinh thái phù hợp với từng loại cây trồng trước khi đưa vào sản xuất đại trà là một việc làm vô cùng quan trọng
Krông Nô được thiên nhiên ưu đãi về địa hình, thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu điều đó đã tạo thuận lợi để người dân hình thành nên nhiều vùng chuyên canh về các loại cây trồng khác nhau, nổi bật là việc chuyên canh cây công nghiệp lâu năm Vì vậy việc tìm hiểu các đặc điểm tự nhiên của huyện đối với việc phát triển các loại cây lâu năm đặc biệt là cây cà phê cũng không nằm ngoài mục đích trên Đề tài này nhằm phân tích điều kiện tự nhiên để đánh giá mức độ thích nghi đối với cây cà phê, đồng thời so sán năng suất và chất lượng sản phẩm cũng như lợi nhuận thu được từ cây mía
so với các cây trồng khác
Để trồng cà phê đạt năng suất chất lượng cao, ngoài việc tuân thủ quy trình kỹ thuật trồng cà phê cần chú trọng đặc biệt đến các điều kiện sinh thái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê đó là địa hình, nguồn nước, khí hậu và đất đai
2.1 Địa hình
- Về độ cao và hình thái:
Nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, do kiến tạo địa chất và lượng mưa lớn, tập trung làm địa hình tỉnh Đắk Nông bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ các vùng thung lũng cao nguyên, núi cao và có hướng thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc đến Nam; độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 600 - 700 m Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 500 m
Krông Nô một trong những huyện miền núi với toàn bộ là đồi núi gần như liên tiếp nhau và là cao nguyên nên bề mặt tương đối bằng phẳng, lượn sóng nhẹ, có độ cao
từ 470 - 840m so với mặt nước biển, cá biệt có một số ngọn núi cao trên 1.000m nên rất thuận lợi cho việc canh tác các loại cây trồng đặc biệt là các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt đới núi cao, hay các loài cây có nguồn gốc ôn đới lạnh
Do địa hình mang tính chất là một cao nguyên nên có tính phân bậc không cao, núi cao phân bố về phía Tây và phía Nam của huyện với độ cao trung bình từ 800 - 1.200 m so với mặt nước biển Đồi núi thấp đến trung bình tập trung ở phía Bắc và trung tâm huyện với độ cao trung bình từ 450 - 600 so với mặt nước biển, dạng địa hình thung lũng tập trung phía Đông có độ cao từ 350 - 450m Tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể giữa vùng cao và vùng thấp
Trang 29- Về độ dốc:
Với địa hình là một cao nguyên nên hình thái chủ yếu là đồi núi thấp như vậy nên
độ dốc có tính có tình tương đối đồng nhất nghiêng dần theo độ cao của địa hình, tuy nhiên có độ dốc sườn tương đối lớn với các dạng địa hình đồi núi cao, với độ dốc trung bình >150, nhưng khi xét độ dốc chung trên toàn khu vực thì địa hình huyện có độ dốc
từ 3 – 150 điều rất thuận lợi cho việc canh tác một số loại cây trồng trên những vùng thung lũng hay những triền đồi thấp và bằng phẳng Đặc biệt là cây công nghiệp lâu năm, điển hình là cây cà phê
Địa hình cũng khá phức tạp vì bị chia cắt bởi các dãy núi đá, xen kẽ với các thung lũng nhỏ theo hướng thấp dần về phía Tây và Đông Nam, vì vậy nó cũng quy định phần nào đến các vùng sản xuất chuyên canh cây công nghiệp chính của huyện
- Các dạng địa hình:
Chiếm ưu thế hơn cả là địa hình đồi núi cao, đồi núi thấp (bao gồm các dạng đồi thoải, lượn sóng nhẹ), đồng bằng và thung lũng, được chia thành 3 dạng địa hình rõ rệt như sau:
+ Dạng địa hình núi cao phân bố về phía Tây và phía Nam của huyện, chiếm diện tích khá lớn khoảng 51% tổng diện tích tự nhiên Địa hình chia cắt mạnh bởi các dãy núi và các thung lũng, độ dốc trung bình cấp V, VI, độ cao trung bình từ 800 - 1.200 m
so với mặt nước biển, các xã Đắk Nang, Đức Xuyên, Nâm Nung, Nâm N’Đir, khu bảo tồn Nam Nung mang nét đặc trưng của dạng địa hình này
Vùng này tương đối thuận lợi cho sự canh tác cây cà phê tuy nhiên do địa hình cao, độ dốc lớn nên gây khó khăn trong việc tạo hố trồng, đất mặt dễ bị xói mòn khi có tác động, đồng thời khó khăn trong việc chăm sóc nếu canh tác được
+ Dạng địa hình đồi núi thấp đến trung bình tập trung ở phía Bắc và trung tâm huyện, chiếm khoảng 39% tổng diện tích, độ cao trung bình từ 450 - 600 so với mặt nước biển, địa hình bị chia cắt; độ dốc trung bình cấp II đến cấp IV, chủ yếu ở các xã Đắk Sôr, Nam Đà, thị trấn Đắk Mâm Đây là dạng địa hình được hình thành từ đá mẹ chủ đạo là đá sét và biến chất, đất bazan và đá granit Quá trình hình thành đất chủ đạo
là phong hóa tích lũy Fe-Al tương đối, quá trình sói mòn rửa trôi đất
Vùng này có nhiều điều kiện phù hợp với sự phát triển, sinh trưởng của cây cà phê do có vùng đồi thoải, sườn thoải, ánh sáng dồi dào, thuận lợi cho việc tạo hố trồng
và tập quán canh tác
+ Dạng địa hình thung lũng tập trung phía Đông, dọc theo dòng sông Krông Nô
và các suối lớn, chủ yếu ở các xã Đức Xuyên, Buôn Choád, Đắk Nang, Nâm N’Đir, chiếm khoảng 10% tổng diện tích, độ dốc trung bình cấp I, II, độ cao trung bình 400 -
450 m so với mặt nước biển Khu vực này chủ yếu được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa, hình thành nên những cánh đồng màu mỡ ven sông Krông Nô và các suối
Trang 30chính trên địa bàn Với dạng địa hình này cũng khá phù hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của cây cà phê tuy nhiên diện tích trồng cũng khá hạn chế do người dân sử dụng đất để trồng cây công nghiệp hằng năm và hoa màu
Cà phê được trồng ở vùng có địa hình đồi núi, độ dốc nhỏ, đỉnh bằng, sườn thoải cùng với những nhân tố khác như chất đất, lượng nước, điều kiện khí hậu cũng quy định sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Với địa hình, có độ cao từ 470 - 840m, tính phân bậc không đáng kể, độ dốc trung bình từ 3 – 150 cùng với dạng địa hình đồi núi phù hợp mà yêu cầu sinh thái của cây cà phê Robusta về độ cao là từ 500
- 800 và độ dốc thích hợp là từ 3 – 100 điều này tương đối thuận lợi cho loài cây ưa sáng như cây cà phê chính vì vậy nên cà phê được trồng hầu hết tại các huyện, xã có địa hình đồi núi thấp trên núi hoặc tại các nơi có địa hình không dốc lắm, thuận lợi cho canh tác
Tóm lại, cà phê trồng trên địa hình của huyện với độ dốc từ 3 - 150 là tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê, tuy nhiên tại những vùng đồi núi thấp hay thung lũng rộng là điều kiện chuyên canh cà phê
Bên cạnh những thuận lợi trên thì địa hình ở đây cũng có những mặt hạn chế
nhất định cản trở sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê, đôi khi còn ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng
Địa hình phức tạp do nằm phía Tây dãy Trường Sơn nên bị chia cắt mạnh, xen kẽ với những thung lũng cao mà cà phê chỉ phát triển trên các sườn đồi thoải, độ dốc thấp nên gây khó khăn trong việc đi lại, chăm sóc, công tác vận chuyển, chi phí tốn kém, đất hay bị xói mòn, rửa trôi do mưa lớn, cây cà phê sinh trưởng và phát triển trên địa hình dốc, cao nhiều khi thiếu nước, cằn cỗi, không tích lũy được chất khô, không đạt năng suất, ảnh hưởng đến giá thành trong mùa thu hoạch Vấn đề quan tâm hàng đầu cần phải giải quyết là phải tăng cường công tác thủy lợi, tuới và tiêu nước hợp lý Mặc khác, gặp ảnh hưởng trong việc vận chuyển sản phẩm thu hoạch từ nương rẫy về sân phơi, các điểm giao thông được gắn kết gay khó khăn trong việc thu mua
Khí hậu huyện Krông Nô mang nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa Cao nguyên Thời tiết hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, chiếm trên 84% lượng mưa cả năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến
Trang 31hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, trong đó tháng 2 và tháng 3 hầu như không mưa, bốc mạnh hơi mạnh vào mùa khô, độ ẩm tương đối cao
2.2.1 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật Nhiệt độ thúc đẩy quá trình quang hợp, quá trình bốc hơi nước Mỗi loài thực vật đều có một ngưỡng nhiệt độ thích hợp để phát triển đối với cây cà phê nhiệt
độ thích hợp nhất là trong khoảng 19 - 230C
Huyện Krông Nô thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của độ cao vùng núi, với nhiệt độ cao và phân bố đồng đều quanh năm Có nền nhiệt thích hợp để trồng cà phê cho năng suất cao, với nhiệt độ bình quân năm đạt 23oC Nhiệt độ tháng cao nhất đạt 24,90C (tháng 5), nhiệt độ tháng thấp nhất đạt 20,40C (tháng 1)
Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình từ 12 - 140C, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm khoảng 4- 50C đây là điều kiện tạo nên phẩm chất của
cà phê, vùng núi cao nhiệt độ cũng chỉ hạ thấp hơn so với vùng khác từ 1- 20C
Bảng2.2: Nhiệt độ trung bình các tháng tại huyện Krông Nô năm 2011
Biểu đồ thể hiện nhiệt độ trung bình tháng của
huyện Krông Nô (0 C)
Nhiệt độ cao nhất trong năm thường từ tháng 5 đến tháng 8, nhiều khi vào mùa
hè nhiệt độ có thể lên đến 370C Trong ngày có thời gian nhiệt độ còn xuống dưới
100C vào ban đêm tập trung vào các tháng 12 đến tháng 1 năm sau
Nhìn chung, nền nhiệt khá thuận lợi cho cà phê sinh trưởng và phát triển tốt, tăng cường độ quang hợp và tích lũy các chất trong cà phê Nhiệt độ vào những tháng mùa
hè không quá cao và cũng không quá thấp vào mùa lạnh phù hợp với thời kì ra hoa và đậu quả của cà phê
Trang 32Lượng mưa của huyện phân bố 2 mùa rõ rệt được thể hiện như sau:
+ Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng 5-10, với lượng mưa chiếm trên 90% lượng mưa năm, rất thuận lợi cho sự phát triển của cây cà phê vì đây là giai đoạn cây cà phê đang trong thời kỳ ra hoa đậu quả Huyện Kr ông Nô các tháng mưa tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8 và tháng 9 đạt trên 350mm/tháng, với số ngày mưa trên 25 ngày/tháng Do đó đây là thời kỳ cây cà phê được cung cấp một lượng nước đầy đủ, giúp cho cây cà phê phát triển toàn diện và hạn chế sâu bệnh