1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện kiến xương tỉnh thái bình

116 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là một nhiệm vụ có tính chiến lược, đúng chủ trương, đường lối của đảng, pháp luật của nhà nước giúp tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN MẠNH HÙNG

PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG CHẠM MỸ NGHỆ BẠC, ĐỒNG

Ở HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan trước Hội đồng đánh giá luận văn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tác giả cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong nội dung luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Quyền Đình Hà (A), đã tận tình hướng dẫn định hướng cho nội dung nghiên cứu của tác giả, trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đồng thời tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám đốc, Ban quản lý đào tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Huyện ủy, HĐND - UBND huyện Kiến Xương, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế & Hạ tầng, Chi cục Thống kê huyện, UBND các xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các hộ được điều tra,

đã tận tâm giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục các chữ viết tắt viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract……… xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu ……….2

1.4 Đối tượng, giới hạn, phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu 2

1.4.3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 3

1.4.4 Giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp của luận văn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 4

2.1 Cơ sở lý luận của phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình 4

2.1.1 Những định nghĩa, khái niệm có liên quan phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 4

2.1.2 Vai trò của phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 6

2.1.3 Đặc điểm của phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 9

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 11

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 12

Trang 5

2.2 Cơ sở thực tiễn của phát triển nghể truyền thống chạm mỹ nghệ bạc,

đồng 17

2.2.1 Những kinh nghiệm phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở nước ngoài 17

2.2.2 Những kinh nghiệm phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở trong nước 19

2.2.3 Những nghiên cứu có liên quan 31

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 34

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

3.2 Phương pháp nghiên cứu 41

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn điểm điều tra, đối tượng điều tra, mẫu điều tra mang tính đại diện của vấn đề nghiên cứu 41

3.2.2 Phương pháp điều tra thông tin 43

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 45

4.1 Thực trạng phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình 45

4.1.1 Kết quả phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương 45

4.1.2 Tóm lược những tồn tại và nguyên nhân tồn tại 72

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình 73

4.2.1 Chính sách phát triển nghề truyền thống của Nhà nước 73

4.2.2 Ảnh hưởng của Hội nhập Kinh tế quốc tế 74

4.2.3 Phát triển của kinh tế xã hội đất nước tác động đến thị trường tiêu thụ 74

4.2.4 Trình độ kỹ thuật và kỹ năng của người lao động 75

4.2.5 Khả năng vốn đầu tư của các cơ sở và hộ SX 77

4.2.6 Nguồn nguyên liệu đầu vào 81

4.2.7 Năng lực sản xuất của các chủ cơ sở và hộ 82

4.2.8 Các mối liên kết trong sản xuất nghề truyền thống 84

Trang 6

4.3 Các giải pháp phát triển nghề truyền thống ở huyện Kiến Xương, tỉnh

Thái Bình 85

4.3.1 Định hướng phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương 85

4.3.2 Giải pháp về đất đai 89

4.3.3 Giải pháp về lao động và đào tạo nghề, truyền nghề cho nguồn nhân lực nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 90

4.3.4 Giải pháp phát triển lực lượng nghệ nhân nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng 92

4.3.5 Giải pháp về vốn 93

4.3.6 Giải pháp về thị trường 94

4.3.7 Giải pháp về nguồn nguyên liệu đầu vào và điện phục vụ sản xuất 95

4.3.8 Giải pháp về khoa học, kỹ thuật và vệ sinh môi trường trong các làng có nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 95

4.3.9 Một số giải pháp chung khác 98

Phần 5 Kết luận và đề xuất ý kiến 100

5.1 Kết luận 99

5.2 Đề xuất ý kiến 100

5.2.1 Trung ương 100

5.2.2 Bổ sung thêm mục lục….……… ……….……… 99

Tài liệu tham khảo 102

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu của huyện Kiến Xương 36

Bảng 3.2 Đất đai và sử dụng đất đai huyện Kiến Xương năm 2013 - 2015 37

Bảng 3.3 Dân số và Lao động của huyện năm 2013 - 2015 38

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu cơ sở hạ tầng của huyện Kiến Xương 39

Bảng 3.5 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện 2013-2015 40

Bảng 4.1 Các chủ trương, chính sách Nhà nước 46

Bảng 4.2 Tổng sản phẩm chạm mỹ nghệ bạc, đồng của huyện Kiến Xương năm 2014 -2016 47

Bảng 4.3 Thống kê giá trị SP, thu nhập nghề chạm mỹ nghệ bạc đồng ở huyện Kiến Xương năm 2016 48

Bảng 4.4 Tài sản trong sản xuất chạm mỹ nghệ bạc, đồng các cơ sở, hộ

điều tra năm 2016 51

Bảng 4.5 Sử dụng đất đai trong các cơ sở, hộ sản xuất - kinh doanh nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương năm 2016 53

Bảng 4.6 Nguyên liệu sản xuất nghề CMNBĐ năm 2016 54

Bảng 4.7 Chi phí cho sản xuất bình quân cho một cơ sở, hộ nghề đại diện ở các đơn vị xã ở địa bàn huyện KX 56

Bảng 4.8 Tình hình lao động sản xuất CMN bạc, đồng điều tra 2016 59

Bảng 4.9 Kết quả đào tạo lao động nghề CMNBĐ ở Kiến Xương 3 năm 2014 -2015 – 2016 60

Bảng 4.10 Hình thức sản xuất nghề chạm mỹ nghệ 2016 61

Bảng4.11 Chi phí sản xuất 1 bức tranh cảnh khung gỗ chò chỉ

cỡ 2,0 x 1,1 m 65

Bảng 4.12 Doanh thu bình quân một cơ sở sản xuất nghề truyền thống chạm mỹ nghệ Bạc, đồng 66

Bảng 4.13 Lợi nhuận sản xuất của đại diện cơ sở, hộ sản xuất trong các xã có nghề chạm mỹ nghệ bạc đồng ở huyện Kiến Xương năm 2016 68

Bảng 4.14 Tình hình lao động của cơ sở sản xuất trong các làng có nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc đồng 76

Trang 8

Bảng 4.15 Tình hình sử dụng vốn và vay vốn của các cơ sở sản xuất ở địa bàn

điều tra năm 2016 79 Bảng 4.16 Tình hình huy động vốn của các cơ sở sản xuất ở địa bàn điều tra

năm 2016 80 Bảng 4.17 Một số chỉ tiêu kế hoạch phát triển chính của nghề truyền thống chạm

mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương đến năm 2020 88 Bảng 4.18 Nhu cầu thuê thêm đất sản xuất TTCN của các cơ sở sản xuất đến

năm 2020 90

Trang 9

HĐND - UBND Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân

SX TTCN Sản xuất tiểu thủ công nghiệp

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng

Tên luận văn: Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu thực trạng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phân tích các yếu tố ảnh hưởng, có định hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển giai đoạn 2017 -2020, định hướng đến 2030

Phương pháp nghiên cứu

Từ thực tế tiềm năng và nguồn lực kinh tế - xã hội của huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình Chọn điểm nghiên cứu, điều tra đại diện 83 cơ sở, doanh nghiệp, hộ SX, 30 cán bộ chính quyền, các đoàn thể, chi hội nghề Tổng số phiếu điều tra là 113 phiếu Thu thập thông tin, nhóm các chỉ tiêu đánh giá: Quy mô, mức độ phát triển, chất lượng, kết quả và hiệu quả Sử dụng các phương pháp phân tích thông tin, so sánh, thống kê

mô tả, trên cơ sở chỉ tiêu nghiên cứu phản ánh phát triển gồm: Giá trị sản xuất, lao động, vốn đầu tư, lợi nhuận, thu nhập của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Tìm ra những hạn chế để có hướng giải pháp khắc phục, phát huy các lợi thế và tiềm năng đã phân tích để đẩy mạnh phát triển

Kết quả sản xuất cơ bản từ nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc,đồng

Giá trị sản xuất tổng sản phẩm từ nghề truyền thống (CMNBĐ) năm 2015 đạt 147.445 triệu đồng năm 2016 đạt 178.828 triệu đồng tăng 121,28% so với cùng kỳ năm

Trang 11

2015 Tổng giá trị thu nhập từ nghề CMNBĐ năm 2015 đạt 88.468 triệu đồng năm 2016 đạt 108.136 triệu đồng tăng 122,23% so với cùng kỳ năm 2015 Kết quả thể hiện tổng giá trị sản xuất năm sau tăng cao hơn năm trước, tổng giá trị thu nhập tăng, thu nhập bình quân theo tháng, theo năm của người lao động đều tăng, mức TNBQ của người lao động đạt: 2,22 - 2,66 tr đồng/tháng

* Hiệu quả về xã hội: Giải quyết việc làm, tăng thu nhập xoá đói, giảm nghèo góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thúc đẩy sự phát triển của thị trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

* Về Môi trường: Khu dân cư làng nghề chú ý tới các vấn đề rác thải, bụi, tiếng

ồn, chất thải nguy hại cần sớm được xử lý khắc phục đảm bảo an toàn

* Các yếu tố ảnh hưởng: khách quan Chính sách của Nhà nước, hội nhập Kinh tế quốc tế, phát triển của kinh tế xã hội đất nước, thị trường

Chủ quan Trình độ kỹ thuật, dạy và truyền nghề, kỹ năng nghề, vốn đầu tư, nguyên liệu, Năng lực sản xuất, liên kết trong sản xuất

Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là một nhiệm vụ có tính chiến lược, đúng chủ trương, đường lối của đảng, pháp luật của nhà nước giúp tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trong địa bàn huyện, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Khuyến khích thành lập doanh nghiệp làng nghề có đủ tư cách pháp nhân, phát triển quy mô lớn, thuận lợi trong vay vốn, ổn định trong đầu tư SXKD nghề

Tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, tạo điều kiện về vốn để tổ chức mở các gian hàng hội chợ quốc tế, ngoài nước để thu hút khách quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, nhằm tăng quy mô, tăng giá trị SX, tăng trưởng KT

Đẩy nhanh việc quy hoạch các cụm công nghiệp của huyện sớm đưa vào hoạt động Hằng năm có kiểm tra đánh giá việc dự báo quy hoạch chỉnh sửa, bổ sung kịp thời, đánh giá hiệu quả các dự án phát triển nghề, làng nghề

Tham mưu các cơ chế chính sách khuyến khích hỗ trợ ưu đãi các nghệ nhân, đào tạo truyền nghề, dạy nghề nâng cao tay nghề cho đội ngũ thợ nghề và thế hệ trẻ để không ngừng phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng./

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author: Nguyen Manh Hung

Thesis title: Development of silver and bronze encrusting traditional craft in Kien Xuong district, Thai Binh province

Field of Study: Economic management Code: 60.34.04.10

Training institution: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Objectives

Developing silver and bronze encrusting traditional craft to create the work opportunity, increase income for rural people, contribute for the growth and development of economy Sustainable development of handicraft and handicraft village is an important employment of government at district level

To systemize theory and practical basis, to study the situation of silver and bronze encrusting traditional craft; to analyze influenced factors, to suggest solutions to promote the development in the period 2017-2020, orientation to 2030

Methodology

Based on the situation and potential of socio-economic resources of Kien Xuong district, Thai Binh province, the study has chosen 83 households and company, 30 officers, social organizations and professional association for primary data collection Total respondents are 113 Analyzed indicators: Scale, level of development, quality, results and efficiency Use information analysis methods, comparison, descriptive statistics based on development indicators included: Gross output, labor, investment capital, profit, income of silver and bronze encrusting traditional craft Identifying constraints to address the solutions and promote the advantages and potential analyzing to accelerate development

Main findings and conclusions

Silver and bronze encrusting traditional craft in Kien Xuong district had developed more than 600 years ago, in 1428, it had 149 workers with 7 wards Up to now, there are 1962 households, 10 enterprises, 01 cooperative, 3696 workers; 6 artisans at national level Total product reached 55,783 products in 2014 and reached products in 2016

Production results of silver and bronze encrusting traditional craft:

Gross output of silver and bronze encrusting traditional craft production reached 147.445 million VNĐ in 2016, reached 178.828 million dong, up 121.28% over the same period in 2015 Total income of silver and bronze encrusting traditional craft

Trang 13

production reached 88.468 million dong in 2015, and reached to 108.136 million dong

in 2016, up 122.23% over the same period in 2015 The results showed that the total gross output of the following year is higher than that of the previous year The income increases, the average monthly income of employees increased, the average level of labor productivity was 2.22 - 2 , 66 million dong / month

* Social efficiency: Creating jobs, raising income for hunger elimination and poverty alleviation, contributing to maintaining political security, safety society, promoting the development of the market and preserving cultural identities of country

* Environment: The residential areas of the village should pay attention to issues

of environment Garbage, dust, noise, hazardous waste should soon be dealt with overcomes to ensure safety

* Influenced factors: State policy, international economic integration, development of the country's socio-economic, market

Subjective factors: Technical, teaching and communication skills, investment capital, raw materials, production capacity, and production links

Developing silver and bronze encrusting traditional craft is a strategic task, in line with the Party's policy and the laws of the State, to help the economy grow and transform, create jobs and increase income for workers in study area, changing the face of the countryside, products meet the needs of domestic consumers and export Encouraging the establishment of craft enterprises; promoting large-scale development, favorable conditions for capital borrowing, and stable investment in production and business Enhancing international cooperation and create favorable conditions for capital

to open international fair booths to attract international consumers and expand export markets in order to increase the scale and raise gross output, and economic growth Accelerating the planning of industrial clusters in the district soon put into operation Annually, there is an examination and evaluation of the forecast of the planning, correcting and supplementing in time, evaluating the effectiveness of the projects on development of craft villages

Advising on mechanisms and policies to encourage artisans' incentives, vocational training and vocational training for skill workers and the young generation

in order to continuously develop the traditional craftsmanship of and bronze encrusting traditional handicraft./

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng không chỉ mang ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội nó còn lưu truyền nét tinh hoa văn hoá, nghệ thuật ở kỹ, mỹ thuật tinh xảo, độc đáo góp phần nâng cao giá trị cuộc sống Giá trị kinh tế gắn liền với giá trị văn hoá của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng làm tô đậm thêm tính truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

Phát triển nghề nói chung và nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng nói riêng, đã tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân lao động ở nông thôn, hạn chế di dân (ly nông bất ly hương), góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng GDP, tạo việc làm cho nhiều lao động có sẵn tay nghề truyền thống, giảm chi phí đào tạo nghề Đứng trước thực trạng các nghề truyền thống hiện đang mai một, suy giảm trên cả nước Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở Kiến Xương đang gặp phải những khó khăn nhất định như: thiếu vốn đầu tư cho sản xuất; thị trường hạn hẹp, không ổn định; tổ chức sản xuất phân tán, quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; các công trình hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng với nhu cầu SX lớn, hạn chế về công nghệ, thiết bị

SX thô sơ, lạc hậu; có rất ít nghệ nhân, thợ giỏi, các chủ cơ sở hạn chế về quản lý kinh tế, điều hành SX, tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nghề truyền thống vẫn chưa được giải quyết triệt để Tiềm năng phát triển của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở Việt Nam còn nhiều cơ hội phát triển, lực lượng lao động ở nông thôn dồi dào Nguồn nguyên liệu cho sản xuất nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng một phần tái sử dụng từ thu mua phế liệu, thị trường nguyên liệu thuận lợi, phần lớn nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đã thích nghi nhanh với cơ chế thị trường phát triển không ngừng

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kiến Xương, gắn với phát triển sản xuất nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là một trong những nghề quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Nghiên cứu thực trạng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng trước nguy cơ suy giảm, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” nghiên cứu các biện pháp phát triển nghề truyền thống trước mắt và lâu dài, để giải quyết những bất cập nhằm tăng cường phát triển nghề tốt hơn

Trang 15

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đề xuất định hướng và những giải pháp đẩy mạnh phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ?

Thực trạng và giải pháp phát triển của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng hiện nay ra sao? kết quả, tồn tại và nguyên nhân của tồn tại là gì? Những giải pháp mới để tăng cường phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương trong thời gian tới là gì?

1.4 ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các thông tin và chỉ số kết quả phát triển kinh tế của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

- Các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường tác động đến sự phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương

- Các tác nhân cơ sở sản xuất, hộ sản xuất đại diện điển hình, đối tượng tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước về nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng

- Tổ chức chi hội nghề, các nghệ nhân, phương pháp truyền dạy nghề chạm

mỹ nghệ bạc, đồng

1.4.2 Giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện

Trang 16

Kiến Xương lựa chọn các xã (Lê Lợi, Hồng Thái, Trà Giang), tại đây có: (làng nghề Đồng Xâm)

1.4.3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu

Một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

Nghiên cứu thực trạng phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương

Phân tích những yếu tố ảnh hưởng (thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức), liên quan đến phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở huyện Kiến Xương, định hướng đến năm 2030 1.4.4 Giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu

Số liệu về thực trạng phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

ở huyện Kiến Xương 3 năm (2014 - 2016); Số liệu mới (sơ cấp) điều tra năm

2016 Dự báo về tình hình phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030

- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017 1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Đánh giá thực trạng của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phân tích đưa ra các mục tiêu, giải pháp đẩy mạnh sự phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng từ đó có những định hướng duy trì và phát triển các nghề truyền thống và nghề hiện có của huyện Kiến Xương Nhằm góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng phát triển bền vững nền kinh tế của huyện Kiến Xương nói riêng, của tỉnh Thái Bình và cả nước nói chung Nâng cao mức thu nhập của nhà sản xuất, người lao động làm nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng, chất lượng sản phẩm đáp ứng với nhu cầu của người tiêu dùng Đồng thời góp phần giữ gìn nét bản sắc văn hóa, nghệ thuật truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG CHẠM MỸ NGHỆ BẠC, ĐỒNG

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG CHẠM

MỸ NGHỆ BẠC, ĐỒNG Ở HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

2.1.1 Những định nghĩa, khái niệm có liên quan phát triển nghề truyền

1 Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng theo bậc trình độ kỹ

năng nghề cho mỗi nghề Số lượng bậc trình độ kỹ năng nghề đối với từng nghề

phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nghề đó

2 Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là cơ sở để người lao động phấn đấu

nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất, kinh doanh và để

người sử dụng lao động bố trí công việc, trả lương hợp lý cho người lao động;

góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hội nhập quốc tế

trong lĩnh vực nghề nghiệp; là căn cứ để xây dựng chương trình dạy nghề phù

hợp với yêu cầu của sản xuất, kinh doanh.”

Nguyễn Hùng (2008) nêu rõ: “Những chuyên môn có đặc điểm chung, gần

giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là

tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn là một

dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh

tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những

đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”

Từ các khái niệm nêu trên ta hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động

mà trong đó con người được đào tạo và có được những tri thức, những kỹ năng

để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những

nhu cầu của xã hội

Trang 18

b Khái niệm về nghề thủ công

Tác giả Vũ Trung (2014) nêu rõ: “Nghề thủ công gắn liền với lao động mang tính kỹ năng, kỹ sảo, bí quyết nghề nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào thời vụ ”

c Khái niệm nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

Nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng là nghề thủ công truyền thống theo tác giả

Vũ Trung (2014) ‘‘ Chạm bạc có công đoạn chính như sau: tạo mẫu, tạo dáng, tạo hoa văn, hàn nối, đánh bóng SP Chạm bạc có 3 kỹ thuật cơ bản chạm ám, chạm thúc và chạm thủy ’’

Đối với những nghề được xếp vào nghề thủ công nhất thiết phải có các yếu

tố sau:

Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta.(tối thiểu 50 năm) Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề

Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo

Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu

Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm dân tộc, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, với những giá trị văn hóa phi vật thể được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO) đánh giá cao

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đã tạo việc làm có thu nhập chính cho một bộ phận dân cư trong cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước

Từ những quan niệm trên nhận xét: Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là một lĩnh vực hoạt động nghề lao động biết làm nghề ở mọi lứa tuổi, được đào tạo, truyền dạy kinh nghiệm, con người có được những tri thức, kỹ năng thao tác thủ công là chính công nghệ cổ truyền, bí truyền, để làm ra các loại sản phẩm, vật chất từ nguồn nguyên liệu bạc, đồng nhằm đáp ứng được nhu cầu của con người và xã hội

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển

Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “Sự

Trang 19

bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng đồng ” (Nguyễn Điền, 1997)

Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tập trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân (Smith, 1904)

Phát triển bền vững lồng ghép các quá trình hoạt động kinh tế, hoạt động

xã hội với việc bảo vệ tài nguyên và làm giầu môi trường sinh thái Nó đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho tương lai (Lê Nin, 1976)

2.1.2 Vai trò của phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng 2.1.2.1 Vai trò của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

a Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đã tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng phong phú phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu

Bùi Thế Dân và cs.(2010a) “Chuyện về chiếc búa sắt của Triệu Đà được thờ

ở đền Đồng Xâm lại kể: Triệu Vũ Đế được vua nhà Hán giao cho một chiếc búa sắt thiết Việt, giao cho cai quản địa phận Giao Châu, lỵ sở đóng ở Quảng Đông, sau đó đi tuần hành, xem xét công việc của bộ thuộc các nơi, đến xã Đường Thâm để lấy con gái nhà họ Trình làm vợ Khi đế chết dân lập đền thờ, chiếc búa sắt cũng được thờ ở đấy” Ngày nay sản xuất của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển theo hướng chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm đã làm cho nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng năng động hơn Trong khi chưa có điều kiện để phát triển kinh tế hợp tác thì phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng chiến lược: chén,

ấm pha sâm bằng bạc, tranh đồng, mâm đồng, chữ đồng, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu là rất quan trọng Điều quan trọng hơn cả là thời gian qua các nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đã có hàng nghìn hộ nông dân chuyển sang phát triển nghề này hoặc vừa sản xuất nông nghiệp vừa sản xuất làm ngành nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Vì thế đã tăng cường cơ

sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất cho kinh tế nông thôn Việc sản xuất trong các nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đang hướng vào những sản

Trang 20

phẩm kỹ, mỹ thuật cao, thị trường tiêu thụ rộng khắp, chứng tỏ rằng sản xuất và lưu thông hàng hóa của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển mang tính hàng hóa tập trung khá rõ nét

b Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là biện pháp hữu hiệu

để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Phát triển của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng không chỉ thu hút lao động ở gia đình, làng xã có nghề và thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến làm thuê Đồng thời nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển tạo đà cho dịch vụ phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều lao động

c Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn và tăng tích lũy tài chính Qua thực tế ở một số nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng cho thấy, thu nhập bình quân của một lao động làm nghề bao giờ cũng hơn lao động thuần nông Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm

2013 thu nhập bình quân lao động/tháng làm việc thường xuyên ở các hộ chuyên sản xuất ngành nghề là 1.200.000đ - 1.500.000đ/ tháng Cá biệt ở một số nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển như ở (Thái Bình) thu nhập của 1 lao động/tháng là 1.800.000đ và 2.500.000đ

d Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là bước đệm cho nền

SX công nghiệp và tạo cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp hiện đại

Huyện ủy Kiến Xương (2015) “Khai thác tốt tiềm năng thế mạnh của làng nghề; triển khai xây dựng dự án bảo vệ làng nghề truyền thống của huyện”

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã tác động

Cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng ngày 20/3/2014 “Nói đến trách nhiệm, thì theo tôi, trước hết các nghệ nhân của các làng nghề phải chú trọng trong việc gìn giữ và bảo tồn tinh hoa của giá trị văn hóa trong các làng nghề Đòi hỏi trách nhiệm cao, tâm huyết, đam mê, nhận thức chứ không phải chỉ cái tài hoa của các nghệ nhân Bên cạnh đó Đảng và nhà nước phải có những chính sách phù hợp, không những công nhận mà phải hỗ trợ, khuyến khích cho các nghệ nhân, để họ có một môi trường làm việc chuyên nghiệp, đảm bảo về phương diện kinh tế thì họ mới có cơ hội để trao truyền toàn bộ kinh nghiệm, những tâm huyết đam mê của mình vào nghề, vào sản phẩm.”

Trang 21

rất lớn đến sự phát triển của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Đó chính là nhân tố thúc đẩy việc huy động nguồn nhân lực, vật lực, tài chính trong nhân dân, để đưa vào phát triển sản xuất kinh doanh Thúc đẩy nền kinh tế ở nông thôn tăng trưởng mạnh mẽ Tạo tiền đề để phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng

kỹ thuật phục vụ đời sống dân cư nông thôn

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển mạnh mẽ, sẽ thúc đẩy đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn Hơn nữa, khi cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động, thích ứng với tác phong môi trường lao động công nghiệp, tạo tiền đề cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất Ngày nay phát triển nghề thủ công không có nghĩa là dùng hoàn toàn kỹ thuật thô sơ, phải dùng kỹ thuật theo hướng hiện đại hoá Hàng hoá trên thị trường ngày càng

đa dạng hoá, phong phú thì nhất định nghề thủ công tất yếu phải thay đổi cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Có nghĩa là, người lao động phải luôn luôn thích nghi với điều kiện và kỹ thuật mới để tồn tại và phát triển Đây cũng chính

là bước tạo tiền đề về cơ sở SX, lực lượng lao động có kiến thức và trình độ kỹ thuật để phát triển nền đại công nghiệp

e Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc

Bùi Thế Dân và cs.(2010b) “ Sau khi tổ nghề Nguyễn Kim Lâu mất dân làng Đồng Xâm lập đền thờ dựng bia đá khắc ghi công lao của ông lưu truyền mãi mãi về sau Văn bia có câu:

Thiên công kỳ đại dư danh lưu thương quốc,

Thần đức vị thương kỳ lợi cập đồng nhân

Dịch nghĩa:

Công lớn tựa trời tên tuổi truyền đến Trung Hoa,

Đức lớn như thần dạy kỹ nghệ sinh lợi khắp xã thôn”

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng được hình thành và sản xuất tại các cụm dân cư sinh sống, tạo thành làng quê hay phường hội Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá Những phong tục, tập quán, đền thờ, miếu mạo.v.v Của mỗi làng xã vừa có nét chung của văn hoá, dân tộc, vừa có nét riêng của mỗi làng quê Các sản phẩm của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng làm ra

là sự kết tinh, giao lưu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân

Trang 22

tộc Những sản phẩm đó làm cho nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng vừa mang nét đặc sắc riêng biệt, vừa mang những nét tương đồng với các dân tộc khác trên thế giới Vì vậy không có ý thức bảo vệ và phát triển nghề truyền thống thì những nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một Thiết nghĩ, việc duy trì nghề, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc là rất cần thiết vì: Các sản phẩm thủ công có giá trị trường tồn đặc biệt, nó bao hàm bản sắc văn hoá dân tộc mà các dân tộc khác không có được Mặt khác các sản phẩm thủ công, là những bức thông điệp bền vững của một dân tộc, được lưu truyền lại cho những thế hệ mai sau

f Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở nông thôn gắn với sự hợp tác và phân công lao động xã hội

Lênin chỉ ra rằng: “Công nghiệp gia đình là cái phụ thuộc tất nhiên của kinh

tế tự nhiên mà những tàn dư hầu như luôn luôn vẫn rớt lại ở những nơi nào đó có tiểu nông” Nguyễn Điền (1997) “đứng về mặt là một nghề nghiệp thì công nghiệp vẫn chưa tồn tại dưới các hình thức đó, ở đây nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi”

Như vậy trong quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là quá trình phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng về thực chất nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là sản xuất tiểu thủ công nghiệp kết hợp với sản xuất nông nghiệp và trên cơ sở nông nghiệp Sự phát triển đó gắn liến với

sự hợp tác và phân công lao động xã hội

2.1.3 Đặc điểm của phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng + Về nguyên liệu

Nguyễn Văn Lịch (2012a) nêu rõ:“Kiểm tra đột xuất, định kỳ quy trình quy trình sản xuất, từ khâu chuẩn bị nguyên vật liệu tới khâu tiêu thụ sản phẩm; kiểm tra việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường vùng sản xuất”

Nguyên vật liệu cho nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng một phần được khai thác từ nguồn nguyên liệu sẵn có ở tại địa phương và nguồn nguyên liệu được nhập khẩu về từ Trung Quốc Các loại nguyên liệu chính thường sử

nhựa thông, bột đá, việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế, trong quá trình sản xuất có tẩy, mạ đánh bóng kim loại bạc, đồng phải dùng hóa chất,

Trang 23

+ Quá trình sản xuất và hình thức tổ chức sản xuất việc phân bổ sử dụng lao động trong sản xuất

Nguyễn Văn Lịch (2012b) nêu rõ:“Ngành nghề truyền thống nói chung và nghề sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ bạc truyền thống nói riêng đang thu hút một lượng lớn lao động dư thừa trong khu vực nông thôn, ngoài ý nghĩa nâng cao thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, việc bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể cho các làng nghề, các địa phương, từng khu vực nông thôn là rất quan trọng, và đặc biệt quan tâm trong cơ chế của nền kinh

tế thị trường”

Quá trình sản xuất trong nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở các làng nghề có sự khác nhau rất rõ nét về tính chất gia truyền và công đoạn sản xuất Mặt bằng sản xuất hạn chế, máy móc phục vụ sản xuất thô sơ, giản đơn, chủ yếu các công đoạn sản xuất bằng thủ công, số lượng sản phẩm ít, vốn đầu tư cho sản xuất nhỏ Tiếp thu khoa học và công nghệ từ năm 2013 đến nay các làng nghề đã biết sử dụng một số máy ép bằng thủy lực để thay thế các công đoạn thúc thủ công, máy SX thay thế một phần sức lao động thủ công tạo ra năng suất cao hơn, sản phẩm nhiều hơn

+ Hình thức tổ chức sản xuất nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Nguyễn Văn Lịch (2012c) nêu rõ: “Người sản xuất sẽ được hướng dẫn và giám sát thực hiện các quy trình từ sản xuất đến khi đưa sản phẩm ra thị trường đảm bảo chất lượng sản phẩm”chủ yếu là các cơ sở SX, hộ gia đình , 2 doanh nghiệp và 1 hợp tác xã, quy mô sản xuất nhỏ, rất khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp, xen kẽ với khu vực nơi ăn ở, sinh hoạt, hình thức tổ chức sản xuất của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng mang tính quy mô lớn như công

ty TNHH, DN tư nhân còn hạn chế Nếu phân chia theo hướng cơ sở sản xuất thì

có cơ sở chuyên sản xuất, cơ sở gia công và cơ sở kiêm sản xuất nông nghiệp có

cơ sở mang tính chất gia truyền và có cơ sở mới vào nghề Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã với tính bảo thủ cao, việc

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế Việc hướng dẫn

tổ chức SX là rất cần thiết để có hiệu quả cao hơn

+ Quá trình sử dụng lao động của cơ sở sản xuất

chủ yếu là lao động thủ công và sử dụng ở các cơ sở sản xuất khác nhau, tuỳ thuộc vào tính chất công việc của từng cơ sở sản xuất, ứng với sự phân công công việc cụ thể cho từng lao động, thời gian làm việc phụ thuộc vào mùa, vụ,

Trang 24

hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Nguồn lao động gồm có lao động của cả gia đình

và lao động đi thuê Trình độ lao động không được đào tạo kỹ thuật cơ bản qua trường lớp, hình thức đào tạo chủ yếu là "truyền nghề" cha truyền con nối và những lao động đi làm thuê học nghề ở các cơ sở sản xuất, hoặc đi học nghề ở nơi khác đến làm thuê Tuỳ thuộc vào trình độ tay nghề của lao động làm thuê, chủ cơ sở đánh giá, nhận xét, phân công thực hiện làm ở những công đoạn sản xuất khác nhau cho phù hợp với khả năng

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

UBND tỉnh Thái Bình Quyết định số 3946(2016) "Danh mục quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020

Căn cứ vào phê duyệt của tỉnh Quy hoạch phát triển nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng gồm các quy hoạch về không gian phát triển nghề, quy hoạch về quy mô phát triển giai đoạn trước mắt và lâu dài, quy hoạch về vị trí, diện tích đất dành cho phát triển nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng phù hợp với phê duyệt của tỉnh

- Phát triển cơ sở vật chất sản xuất nghề chạm mỹ nghệ gồm đất phục vụ sản xuất, cơ sở vật chất tài sản cố định máy, trang thiết bị phục vụ sản xuất

- Cung ứng nguyên liệu đầu vào ổn định có tính đến hợp đồng dài hạn

- Đào tạo nghề cho người lao động nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng số lượng lao động hiện có, trình độ, các hình thức đào tạo hiện nay của các cơ sở sản xuất,

hộ sản xuất, việc quan tâm đào tạo nghề của cơ quan quản lý nhà nước các cấp,

cơ chế chính sách ưu đãi đào tạo nghề hiện nay, vấn đề quy hoạch đào tạo phát triển nghề trước mắt và lâu dài và cấp chứng chỉ cho lao động có nghề

- Các hình thức tổ chức sản xuất nghề chạm mỹ nghệ bạc đồng nghiên cứu các mô hình sản xuất hiện đang tồn tại tìm ra mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả cao hơn và khuyến khích phát triển

- Nghiên cứu các ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất sản phẩm, giá trị sản xuất và hiệu quả về kinh tế

- Kết quả phát triển sản xuất nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng từ các thông tin thu thập và điều tra, tổng hợp phân tích các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh các năm 2014 - 2016 lấy căn cứ xây dựng các chỉ tiêu phát triển nghề

- Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng Các

Trang 25

yếu tố góp phần tích cực vào tỷ lệ tăng trưởng về kinh tế của huyện, gắn với gia tăng thu nhập của người lao động làm nghề, tăng hộ giầu, giảm hộ nghèo

- Nghiên cứu phát triển các công trình hạ tầng tạo thuận lợi cho phát triển nghề Phát triển thị trường tiêu thụ và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Nghiên cứu tác động của cơ chế chính sách của nhà nước đến phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường trong SXKD nghề

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng

* Các yếu tố khách quan:

2.1.5.1 Chính sách phát triển nghề truyền thống của Nhà nước

Theo Nghị định số 123/2014/NĐ-CP, ngày 25/12/2014 của Chính Phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ, lập hồ sơ xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”,

“Nghệ nhân ưu tú”, đã mang lại hiệu quả nhất định góp phần duy trì bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, có tính hỗ trợ, động viên, khích lệ tạo tiền đề cho sự phát triển nghề, nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở Kiến Xương đã tồn tại trên 600 năm cần được bảo tồn và phát triển có tính kế thừa

2.1.5.2 Hội nhập kinh tế quốc tế

Với các chính sách nhà nước mang tính kích cầu sự phát triển bằng các quan hệ hợp tác phát triển và Hội nhập Nhà nước đã chủ động tham gia các thỏa thuận Hiệp định TTP, WTO để tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế tạo điều kiện

mở rộng thị trường tự do thương mại, hạn chế các rào cản thương mại, tạo điều

Cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng ngày 20/3/2014 “Khi Việt Nam gia nhập WTO, thì văn hóa Việt Nam càng tiến sâu hơn trên con đường Hiện đại hóa, quốc tế hóa, tạo cơ hội cho sự phát triển Vì thế theo tôi nên lợi dụng nó để đầu tư và phát triển ngày càng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ làng nghề

Cần có những kế hoạch cụ thể trong việc nghiên cứu nhu cầu thị hiếu của thị trường quốc tế - nơi mà sản phẩm của mình có cơ hội thâm nhập

Tăng khả năng tiếp thị và quảng bá sản phẩm, cũng như người ta thường nói

“ Cau già, dao sắc vẫn ngon Mẹ già ngọt miệng thì con đắt chồng” Chất lượng sản phẩm của mình không tốt lắm thì khả năng tiếp thị phải tốt lên

Trang 26

kiện thuận lợi để các DN, cá nhân SXKD trong nước có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường quốc tế để mở rộng thị trường tiêu thụ SP

Với công cuộc đổi mới kinh tế và các hiệp định thương mại tự do là những điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện để nhà sản xuất nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa Song cũng cần phải cải tiến để nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài

2.1.5.3 Sự phát triển của nền kinh tế xã hội đất nước tác động đến thị trường tiêu thụ

Bùi Thế Dân và cs.(2010c) “Từ cuối thế kỷ XVIII, nhiều thợ bạc Đồng Xâm đã được triệu lên kinh đô phục vụ triều đình làm các vật dụng khảm, chạm vàng, bạc trên những ngai thờ, mũ thờ như: lưỡng long chầu nguyệt, ngư long ký thủy ở các lăng miếu hoặc làm khay chén, hòm tráp bằng bạc”

Ngày nay tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế càng cao, làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán tăng dẫn tới sức mua của các loại hàng hóa dịch vụ tăng lên Nền kinh tế phát triển mạnh, cơ sở hạ tầng được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông, hàng hóa được mua bán tiêu thu nhiều hơn Khi nền kinh tế phát triển Nhà nước có thể thực hiện chính sách kích cầu để mở rộng thị trường, tăng thị phần tạo điều kiện mở rộng đầu ra cho doanh nghiệp, đồng thời với công cụ chi tiêu của chính phủ, Nhà nước cũng là người mua hàng với nhu cầu lớn Như vậy khẳng định một quốc gia có tiềm lực mạnh

về kinh tế, nền kinh tế tăng trưởng và phát triển sức mua hàng hóa lớn kích cầu cho sản xuất phát triển mạnh hơn

* Các yếu tố chủ quan:

2.1.5.4 Trình độ kỹ thuật và kỹ năng của người lao động

Bùi Thế Dân và cs.(2010d) “Nghề chạm bạc Đồng Xâm càng phát triển thì tay nghề càng tinh xảo Người làng Đồng Xâm còn lưu giữ được những sản phẩm thể hiện được tài năng, trí tuệ và sự khéo léo của những người thợ lớp trước” Lực lượng lao động nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng hiện nay tay nghề cao về mặt kỹ thuật do truyền nghề từ nhỏ, song đa số chủ hộ, chủ cơ sở

SX chưa qua đào tạo về quản lý SX, quản lý kinh tế, Trình độ văn hoá còn hạn chế Do vậy cần thiết phải bổ sung thêm các kiến thức về sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế, tiếp thu kỹ thuật công nghệ hiện đại phát huy tính mới, tính sáng

Trang 27

tạo trong lao động SX, nâng cao chất lượng hàng hoá từ nghề truyền thống chạm

mỹ nghệ bạc, đồng để hạn chế rủi ro làm ăn thua lỗ, phá sản

2.1.5.5 Khả năng về vốn đầu tư sản xuất của các cơ sở SX và các hộ

Đỗ Quang Vinh và Vũ Thanh Sơn (2014) “ Trong quá trình vận động, giá trị của các bộ phận của tư bản sản xuất chuyển vào sản phẩm theo những phương thức khác nhau Căn cứ vào sự khác nhau trong phương thức chu chuyển giá trị của các bộ phận đó người ta chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động” Vốn là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh trong nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Theo tác giả phân tích vốn được phân ra làm 2 loại vốn cố định và vốn lưu động Trên thực tế nhiều chủ cơ sở, chủ hộ gia đình làm nghề thủ công hiện nay, hết sức khó khăn về vốn Nguyên nhân là các

hộ gia đình, các cơ sở sản xuất trong nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng khó tiếp cận nguồn vốn vay Lãi suất ở ngân hàng còn cao so với lãi suất kinh doanh, thủ tục vay vốn luôn gắn với bìa đỏ đất ở, trên thực tế tỷ lệ hộ dân được cấp sổ đỏ đất ở còn rất thấp, thời hạn vay vốn lại ngắn Do thiếu vốn nên các cơ

sở sản xuất không có điều kiện để đầu tư mua sắm trang thiết bị, công nghệ mới Tình trạng công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, chủ yếu vẫn là lao động thủ công đang phổ biến ở các nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Nguồn vốn sản chủ yếu là vốn tự có Vốn ít đồng nghĩa với hạn chế mở rộng quy mô sản xuất và

áp dụng công nghệ mới Điều đó không chỉ làm giảm năng suất lao động, còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động

Thực tế những năm gần đây, trong SX chạm mỹ nghệ bạc, đồng xuất hiện tín dụng đen cho vay nặng lãi, có nơi lãi suất tới 3 - 4 %/tháng, do đó tình trạng phân hoá giầu, nghèo đang diễn ra nhanh chóng Một số hộ có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, biết ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp cận được thị trường, họ trở lên khá giả và trở thành chủ cơ sở, doanh nghiệp Mặc dù hầu khắp các làng nghề đã có các tổ chức tín dụng hoạt động song cơ chế chính sách cho vay, thủ tục vay, lượng vốn cho phép giải ngân vẫn còn nhiều ràng buộc, hạn chế

ở mức cho vay thấp, khó tiếp cận với món vay lớn

Như vậy, thiếu vốn là vấn đề lan giải nhất, diễn ra ở hầu hết các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân đều rơi vào vòng luẩn quẩn Không có vốn để đổi mới kỹ thuật và công nghệ, tính cạnh tranh sản phẩm thấp,

do đó không chiếm lĩnh được thị trường Nhà nước cần có cơ chế ưu đãi SX nghề

để nhà SX dễ tiếp cận nguồn vốn vay để sản xuất, đem lại hiệu quả cao hơn

Trang 28

2.1.5.6 Nguồn nguyên liệu đầu vào

LêNin đã phát hiện ra quy luật: “ Sán xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất” Trên thực tế nguyên liệu chủ yếu của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là kim loại bạc, đồng, gỗ, xi, A xít, Suya, cloramich và các chất đốt như than củi, gas và điện, nước Nguyên liệu trên không có sẵn (ngoại trừ nước), các nguyên phụ liệu khác các hộ SX phải đi mua hoàn toàn Giá nguyên vật liệu cung cấp cho nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng cũng tuỳ thuộc vào giá từng thời điểm Khối lượng sử dụng hàng năm

là rất lớn, trong khi đó nguồn nguyên liệu này không phải là vô tận Nếu sử dụng không tiết kiệm hợp lý và có hiệu quả thì trong tương lai, nguyên liệu sản xuất đối với nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng là rất khó khăn, giá nguyên liệu tăng dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật, buôn lậu, chi phí tăng gây bất lợi cho người sản xuất đặc biệt là những hộ có quy mô nhỏ thì giá thành sản phẩm sẽ tăng, giá bán sản phẩm cung cấp ra thị trường phải cạnh tranh với mức giá thấp,

rẻ dẫn đến lợi nhuận thấp, đồng nghĩa với thu nhập của người lao động ở cơ sở nhỏ sẽ thấp dẫn đến việc sản xuất, kinh doanh nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng kém hiệu quả và sẽ mai một dần đi

2.1.5.7 Năng lực tổ chức sản xuất của các chủ cơ sở sản xuất và các hộ

Chính phủ Việt Nam (2014): “Một xã hội văn minh, trong đó mỗi người dân và mỗi tổ chức chính trị xã hội(toàn bộ hệ thống chính trị) được bình đẳng trước pháp luật Nền tảng của xã hội đó là một xã hội có tổ chức xã hội của người dân vững mạnh …” Chi hội nghề giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển nghề

và duy trì nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng đội ngũ lãnh đạo quản lý Chi hội nghề là những người có tâm huyết với nghề, có uy tín với nhân dân trong làng nghề, am hiểu tường tận về nghề, có trình độ tay nghề cao mới duy trì được hoạt động của Chi hội và phát huy được tác dụng trong chỉ đạo phát triển nghề Đối tượng lãnh đạo quản lý lựa chọn không có đủ các yếu tố hội tụ trên thì Chi hội nghề đó có thể làm suy giảm sự phát triển của nghề truyền thống

Ở một số làng nghề truyền thống có Chi hội nghề cho thấy mô hình này phù hợp với các quy định hiện hành và có hiệu quả cao trong việc giúp UBND các

xã, phường, thị trấn quản lý nhà nước về làng nghề, mặt khác xây dựng được bộ máy có chức năng hoạch định, tổ chức về hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo đà phát triển nghề Mô hình quản lý đã được các cấp, ngành, doanh nghiệp, cơ sở

Trang 29

sản xuất, hộ dân đồng tình nhất trí tiếp tục duy trì ở địa phương và đề xuất nhân rộng mô hình ra các địa phương khác

Chi hội nghề cần bám sát tham mưu duyệt và ban hành kế hoạch hoạt động của làng nghề trong kỳ kế hoạch 5 năm, hàng năm có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp Kế hoạch hoạt động của các làng nghề nêu rõ mục tiêu xây dựng làng nghề phát triển bền vững, tăng trưởng về giá trị SX, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong khu vực, trong nước và tiến tới xuất khẩu; mở rộng quy mô của các cơ sở, các hộ sản xuất của làng nghề, từng bước đưa máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, gắn làng nghề với hoạt động du lịch, văn hóa, lễ hội; kiện toàn tổ chức quản lý và đồng quản lý làng nghề, phát triển nghề theo quy định pháp luật

2.1.5.8 Sự liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Chính phủ Việt Nam (2014): “Chính vì thế tiếp tục điều chỉnh vai trò của nhà nước nhằm hỗ trợ nền kinh tế thị trường lấy khu vực tư nhân làm chủ đạo để nâng cao năng lực cạnh tranh là một cơ hội lớn Mặc dù hội nhập quốc tế tiến triển tốt ” Việc tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị có vai trò rất quan trọng quyết định tính bền vững trong sản xuất Qua thực trạng các liên kết đang tồn tại trong chuỗi giá trị sản xuất đã khẳng định, doanh nghiệp có vai trò chính trong việc định hướng thị trường, quyết định đến tính bền vững của chuỗi liên kết sản xuất hàng hóa, bao tiêu sản phẩm

Liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm mỹ nghệ truyền thống và bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp trong việc chia sẻ lợi nhuận, rủi ro với các tác nhân để tạo ra chuỗi liên kết Đây là vấn đề mà các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục tổ chức các hội thảo để các nhà khoa học, nhà quản

lý, doanh nghiệp, người sản xuất, các đại biểu thảo luận nhằm tháo gỡ các nút thắt trong liên kết giữa các tác nhân mà vai trò của doanh nghiệp làm trung tâm phân phối là chủ đạo để chuỗi giá trị sản phẩm TCMN phát triển bền vững Đồng thời nó tuân theo một quỹ đạo chung nhất đến tay người dùng

Quá trình phát triển của nghề truyền thống CMNBĐ đã xuất hiện các mối liên kết nhưng mới chỉ đơn giản, sản xuất hiện nay chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, chưa liên kết SX để tạo ra số lượng lớn sản phẩm.Các hộ sản xuất chưa chú ý tới việc liên kết nhóm hộ mà vẫn sản xuất tự phát mạnh ai người đó làm nên chưa hình thành vùng SX tập trung Người SX tự định giá bán không đồng

Trang 30

nhất, dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao, chưa tạo được tính bền vững trong sản xuất Nguyên nhân là do nhận thức của người dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường, một số bộ phận còn chạy theo lợi ích trước mắt, làm hàng hóa kém chất lượng bán giá rẻ để chiêu khách, đã vô hình dung làm mất thương hiệu của sản phẩm truyền thống

Doanh nghiệp đầu mối làm trung gian phân phối: Đầu tư sản xuất nghề truyền thống hiệu quả cao, hạn chế rủi ro song người thợ từ lâu đã quen với lề lối làm việc tính pha canh pha chiến, vừa làm nghề vừa làm ruộng nên ngại lập doanh nghiệp Chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nghề truyền thống còn hạn chế Nếu để thành lập doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm thì phải có lượng vốn lớn Doanh nghiệp có vốn song không giám đầu tư mạo hiểm Tình trạng tiêu thụ sản phẩm vẫn còn qua nhiều khâu trung gian phân phối giá bán thực tế cao hơn nhiều so với giá thu mua tại cơ sở sản xuất, sức cạnh tranh yếu Công tác tuyên truyền quảng bá Marketting giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động còn yếu

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NGHỂ TRUYỀN THỐNG CHẠM MỸ NGHỆ BẠC, ĐỒNG

2.2.1 Những kinh nghiệm phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở nước ngoài

* Thái lan: Nguyễn Thị Phương Linh (2013), Việc tổ chức lại các làng nghề truyền thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt, bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, giữ gìn văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch Thái lan có 70.000 làng nghề thủ công, khai thác kỹ năng các làng nghề truyền thống ở miền bắc, tạo thu nhập

và giải quyết việc làm cho lao động địa phương Với chính sách hỗ trợ và khuyến khích của cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 - 3000 thành viên tham gia Qua đây có thể đưa ra nhận xét ở đất nước có ngành du lịch phát triển mạnh rất cần thúc đẩy các ngành nghề thủ công truyền thống đổi mới và phát triển đồng hành cùng ngành du lịch Dựa trên nguyên lý khách hàng của sản phẩm nghề thủ công mỹ nghệ chính là các đối tượng khách du lịch trong và ngoài nước Tâm lý của khách đi du lịch họ phải chiêm ngưỡng được cái gì có tính độc đáo, đặc sắc và đến một xứ sở mới lạ có thêm một kỷ vật để làm lưu niệm cho

Trang 31

chuyến du lịch, họ coi đó như một dấu mốc của một hành trình du lịch và sẵn sàng bỏ tiền mua

*Trung Quốc là một trong số các nước phát triển mạnh về nghề thủ công

mỹ nghệ, sản phẩm của Trung Quốc tập trung mạnh vào các lĩnh vực phong thủy, tâm linh với những sản phẩm giá trị cao đem lại thu nhập khá cao về kinh tế chiếm đông đảo thị hiếu của người tiêu dùng đặc biết là khách hàng châu Ắ Nhiều ngành nghề quy mô lớn kỹ thuật tinh xảo như mỹ nghệ dát vàng, gốm sứ Nghề làm đồ sứ ở Trung Quốc xuất hiện từ đời nhà Hán song vẫn tồn tại cho đến nay, sản phẩm gốm sứ được xuất bán sang nhiều nước

* Đài loan phát triển thế mạnh ngành kim hoàn mỹ nghệ, sản phẩm thủ công của Đài loan nổi bật bởi công nghệ mạ sản phẩm Đài loan sẵn sàng nhập hàng của thợ thủ công mỹ nghệ Việt Nam sau đó sử dụng công nghệ mạ sản phẩm xuất bán sang các nước đông âu và tây âu với giá gấp 3 so với giá nhập sản phẩm thủ công của Việt Nam Hiện nay trên thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ của đài loan được bán ở Việt Nam chủ yếu vẫn là bộ đỉnh thờ ngũ sự và một số con giáp Hàng của Đài Loan tuy đẹp mẫu mã, màu sắc khá hấp dẫn song

độ bền không cao, không chiếm được thị hiếu của người tiêu dùng Việt Trao đổi với nghệ nhân nhân dân cấp quốc gia Ông Phạm Văn Nhiêu (ngày 16 tháng 4 năm 2017) nguyên là chủ nhiệm HTX chạm bạc mỹ nghệ Hồng Thái nay đã giải thể ông Nhiêu cho biết: Tôi đã được bạn hàng bên đài loan mời sang bên Đài Loan và ở đó một số ngày thăm xưởng sản xuất và các cửa hàng của nước bạn song trình độ kỹ xảo của thợ Đài Loan không bằng thợ Việt Nam, họ áp dụng máy móc nhiều lên sản phẩm giống nhau không có tính độc đáo, màu mạ thì khá

là đẹp nhưng độ bền thì thua kém hàng Việt Nam Bên đó chỉ thích nhập hàng thô của VN về để mạ và bán cho khách thì tiêu thụ rất tốt

* Nghiên cứu phát triển nghề chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở Bulgaria gặp gỡ

và trao đổi trực tiếp với ông Nguyễn Đức Cảnh (Ngày 15 tháng 2 năm 2017) người gốc Việt mang quốc tịch Bulgaria ông Cảnh trao đổi thị trường sản phẩm chạm mỹ nghệ bên đó còn rất khan hiếm hàng hóa, người Bul có quan điểm đơn giản về tranh ảnh chủ yếu mang tính tưởng tượng hình ảnh làm cho trí óc con người sáng tạo khi nhìn ngắm nó

* Nghiên cứu phát triển nghề truyền thống mỹ nghệ ở Hàn Quốc

Trang 32

Dẫn theo Nguyễn Thị Nhung (2013), Hàn Quốc rất chú trọng sản xuất những sản phẩm tinh xảo trong nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Những sản phẩm mỹ nghệ ở đây không chỉ thể hiện bàn tay khéo léo của của người nghệ nhân mà nó còn toát nên tư duy sáng tạo và cá tính ước mơ của con người Hàn Quốc Ngày nay truyền thống về chế tác vẫn được lưu truyền và phát triển rất tốt, một thực tế là hầu hết người lao động Việt Nam sang lao động tại Hàn, khi về nước đều mua một đến 2 sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hàn với giá trị rất cao, không chỉ người Việt mà du khách Đức hay Nhật Bản đến Hàn cũng phải quan tâm tìm hiểu đến “Vương quốc của đồ thủ công mỹ nghệ”

2.2.2 Những kinh nghiệm phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở trong nước

2.2.2.1 Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng ở làng Phước Kiều, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

ĐCSVN(2012), Theo nhiều nguồn tư liệu để lại, làng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Phước Kiều hình thành từ thời các chúa Nguyễn Làng

có nguồn gốc từ Thanh Hóa, do một người tên là Dương Tiền Hiền di cư vào đây truyền dạy Cuối thế kỉ XVIII, ở đây hình thành hai khu vực là phường Tạc Tượng Đông Kiều và phường Chú Tượng Phước Kiều Ngoài những sản phẩm gia dụng, các nghệ nhân còn đúc súng đạn, ấn tín cho nhà Nguyễn Nhiều nghệ nhân được vua Minh Mạng cho mời về đúc tiền, đúc ấn để thờ tại Thế Miếu (Kinh thành Huế) Đến đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn sáp nhập 2 phường Tạc Tượng và Chú Tượng để hình thành “xã hiệu Phước Kiều”, còn gọi là làng chạm

mỹ nghệ đúc đồng Phước Kiều tồn tại đến ngày nay

Ông Dương Ngọc Truyền - Giám đốc Xí nghiệp bạc đồng Phước

Kiều, thành viên của Hiệp hội chạm mỹ nghệ bạc, đồng làng nghề Phước Kiều cho biết: So với vài năm về trước, làng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Phước Kiều đã có những khởi sắc đáng kể Đây là thành quả của sự quan tâm, chăm lo và giúp đỡ của các cấp chính quyền và ngành chức năng trong tỉnh Theo ông Truyền, bằng nhiều chính sách nhất định, thông qua sở Công thương và Trung tâm khuyến công của tỉnh, nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng truyền thống Phước Kiều từ nguy cơ bị mai một, nay đã từng bước định hình lại và không ngừng phát triển Bên cạnh đó, với sự nỗ lực nhằm khôi phục lại nghề truyền thống của cha ông, các thế hệ nghệ nhân chạm mỹ nghệ

Trang 33

đúc đồng của làng, đặc biệt là các cụ cao tuổi với sự uyên thâm về nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng đã tập hợp lại và truyền dạy cho thế hệ trẻ Đây thực sự là việc làm có ý nghĩa rất lớn nhằm giữ hồn của làng nghề truyền thống địa phương

Tuy nhiên, ông Truyền cũng cho biết: bên cạnh sự phát triển, nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng Phước Kiều đang có những biểu hiện mai một ngay trong thời điểm hiện tại và tương lai nếu không có biện pháp chấn chỉnh kịp thời Theo ông Truyền, sự cạnh tranh làm cho tính liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ lò chạm mỹ nghệ đúc đồng còn hạn chế Ông Truyền cũng cho biết thêm: Điều mà nhiều người làm nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng

ở Phước Kiều đang trăn trở là vì lợi nhuận, hiện nay có không ít người đang quay lưng lại với nghề Họ dùng hình thức “treo đầu dê bán thịt chó”, tức lấy sản phẩm cồng chiêng, chuông, lư ở các nơi khác mang về bán khiến uy tín của làng nghề Phước Kiều giảm sút nghiêm trọng

Còn theo nghệ nhân chạm mỹ nghệ đúc đồng Dương Ngọc Sang (78 tuổi): Hiện nay, trong làng không còn được mấy nghệ nhân am hiểu về nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Nhiều cụ cao niên, am hiểu và giỏi về nghề truyền thống đã lần lượt đi theo tổ tiên Ông cũng chỉ ra những hạn chế trong truyền dạy nghề của làng nghề Phước Kiều Bởi theo ông Sang, trong nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng truyền thống, cái khó nhất chính là khâu pha kim loại và thẩm âm Ví như một cái chiêng 5kg có thể đánh vang xa 100m Nhưng với một người có kinh nghiệm trong nghề, bằng phương pháp pha chế kim loại hợp lý và trình độ thẩm âm uyên bác Thì khi làm chiếc chiêng, âm của

nó có thể vang xa cả hàng cây số “Việc đúc được một cái chiêng, cái chuông thì rất dễ và hầu như ai cũng có thể làm được Nhưng để âm thanh của nó vang xa và thanh tịch(lắng đọng) thì cần phải có bí quyết và kinh nghiệm nghề nữa”

Anh Dương Ngọc Trí, 31 tuổi, vào nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng được gần 9 năm, được coi là đại diện cho thế hệ “mới nhất” của làng và được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng này, cho biết: Lúc đầu tôi định không theo nghề truyền thống chạm mỹ nghệ, đúc đồng mà muốn đi làm công nhân xí nghiệp Nhưng sau khi gia đình phân tích và thuyết phục, tôi đã đi theo nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Gia đình tôi có nghề truyền thống này, tính tới đời tôi là đời thứ năm Điều đặc biệt ở chàng trai trẻ này là anh không những biết làm các loại cồng chiêng lẻ mà có thể

Trang 34

làm cả cồng chiêng bộ Anh Trí đã từng làm các loại cồng chiêng bộ có từ 6-8 chiếc Mặc dù kinh nghiệm thẩm âm của Trí chưa nhiều, nhưng nhờ sự giúp đỡ của cha nên những bộ cồng chiêng do Trí làm ra đều đạt chất lượng tốt và được khách hàng ưa chuộng AnhTrí cho biết về ước mơ của mình: “Nếu có thêm vốn, tôi sẽ không chỉ sản xuất cồng chiêng như bây giờ mà mở rộng hơn nữa việc gia công các sản phẩm đồng mỹ nghệ và đồ lưu niệm Thực tế thì tôi cũng đã sản xuất một số hàng đồng mỹ nghệ theo đơn đặt hàng, nhưng không nhiều lắm Theo tôi, không đổi mới sản phẩm nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng thì nghề sẽ khó tồn tại Tôi mong ước được góp một chút sức của mình để gìn giữ nghề cổ truyền của cha ông”

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng ở Phước Kiều được đánh giá là tâm điểm trong các nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam Giá trị của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Phước Kiều đã nhiều lần được ghi nhận trong những lễ hội lớn về làng nghề truyền thống Ông Đinh Hài, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam cho biết: “Những sản phẩm của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Phước Kiều thể hiện bàn tay tài hoa và tâm hồn tinh tế của người dân bản địa”

2.2.2.2 Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Bằng Châu ở Đập Đá, huyện An Nhơn, Tỉnh Bình Định

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Bằng Châu ở Đập Đá (An Nhơn, Bình Định) là một trong các làng nghề truyền thống có từ lâu đời Làng nghề có nhiều điểm tương đồng như các làng chạm mỹ nghệ bạc, đồng truyền thống trong cả nước về cách làm khuôn, nấu đồng, pha chế Để có một sản phấm

đồ đồng ra lò hoàn chỉnh thì phải qua một số công đoạn như lấy nguyên liệu, chế biến nguyên liệu, chế tạo khuôn đúc, xây dựng, sửa chữa nhà đúc, lò đúc, lắp ráp khuôn đúc chế tạo sản phấm và tiến hành kỹ thuật đúc

Vị tổ sư của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng ở đây là Dương Không Lộ (văn tế ghi là Việt Nam thánh chúa Không Lộ chủ nghiệp tổ sư), tương truyền ông là một thầy thuốc Hằng năm, cứ đến ngày 17-3 âm lịch, nhân dân tổ chức cúng lễ tổ sư của mình và tưởng nhớ các vị tiền hiền, hậu hiền là những người có công phát triển làng nghề Từ chỗ chỉ chạm mỹ nghệ đúc đồng , ngày nay, thợ đúc đã phát triển đúc những sản phẩm gang Và cùng với lịch sử, ngày giỗ tổ đã trở thành lễ hội truyền thống làng nghề truyền thống chạm mỹ

Trang 35

nghệ đúc đồng Bằng Châu Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa sinh động, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng nghề, hướng con người tới cội nguồn, tạo nên sự gắn bó trong đời sống cộng đồng Bởi thế, dù đi đâu, người dân làng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Bằng Châu đều nhớ

về lễ hội truyền thống của làng mình

Theo một số cụ già trong làng nghề ở đây kể, muốn đúc một tấn vật đúc thành phẩm phải sử dụng từ năm đến sáu tấn đất sét hỗn hợp để làm khuôn và ruột về nhân lực, việc sản xuất được tổ chức theo gia đình, nghề được truyền dạy theo kiểu cha truyền con nối Người đi trước truyền lại cho con cháu trong gia đình, con cái coi đây là của cải từ cha ông để lại Ở các gia đình làm nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng, người cha hay ông nội đóng vai trò thợ cả, là người thông suốt các khâu từ nặn khuôn, đúc và làm hoàn chỉnh sản phẩm, còn các con cháu là những người thợ phụ, nếu gia đình ít con cháu thì vai trò người thợ phụ ưu tiên dành cho hai bên nội, ngoại

Trước kia ở làng chạm mỹ nghệ đúc đồng Bằng Châu, những nhà làm nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng thường tập hợp lại thành từng vùng, cụm

và sản phẩm gồm các loại như: mâm, nồi, chảo, đèn thờ Thời kỳ đầu mới sản xuất, sản phẩm còn thô sơ, quy trình chế tạo khuôn đúc tốn nhiều công sức, khuôn ngoài và khuôn trong chỉ dùng đúc được một lần, thời gian tháo khuôn phải mất 11 -12 tiếng, có cái phải đập bỏ không sử dụng lại được Dần dần, làng nghề rút kinh nghiệm, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, đồng thời học hỏi, giao lưu với các làng đúc khác, nên sản phẩm làm ra ngày một tinh xảo, mang tính mỹ thuật cao Sản phẩm cũng đa dạng hơn như các loại đèn thờ, nồi, mâm, hộp đựng trầu, khay, chiêng cồng và các loại vật dụng trang trí Qua đó nhận thấy ở bất

cứ làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ nào, nếu người sản xuất biết gắn bó với nghề, không ngừng học tập và truyền dạy nâng cao kiến thức về nghề, tích cực đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, thì ở đó nghề vẫn tồn tại và phát triển tốt

Cùng với thời gian, nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng ở Bằng Châu không những không bị mai một, mà còn được tạo điều kiện phát triển Bà con trong làng vừa giữ được nét độc đáo riêng của một làng nghề truyền thống, vừa biến nghề truyền thống trở thành nguồn sinh lợi chính đáng, góp phần nâng cao đời sống kinh tế và văn hóa của địa phương Báo nhân dân (2011) Làng nghề đúc đồng Bằng Châu, Bình Định Tin tức du lịch trực tuyến.15(8)

Trang 36

2.2.2.3 Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Phú Lộc Tây huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

Đầu tư (2008) Cách đây 8 năm, làng chạm mỹ nghệ đúc, đồng Phú Lộc Tây thuộc huyện Diên Khánh (Khánh Hòa) là một làng nghề kém phát triển, bởi gần như những nhà lò không còn thổi lửa do không có khách mua Tưởng chừng làng nghề đã có trên 100 tuổi nằm nép mình bên dòng sông Cái này sắp bị xoá sổ nhưng giờ đây, có một sự trỗi dậy thật kỳ lạ ở nơi này Lớp nghệ nhân trẻ tuổi đang phát huy tinh hoa của thế hệ cha ông đi trước áp dụng phương pháp mới trong sản xuất để tạo ra sản phẩm không những giữ được dáng vẻ truyền thống,

mà còn sắc sảo hơn

Có thể nói, linh hồn của một làng nghề chính là các nghệ nhân Ớ Phú Lộc Tây, tinh hoa của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ, đúc đồng đang được truyền lại cho lớp nghệ nhân trẻ Người được coi là lớn tuổi nhất trong nghề hiện nay là ông Trần Lau (62 tuổi) Học nghề từ năm 12 tuổi, giờ đây ông vẫn ngồi làm khuôn đất để đúc chân đèn, lư hương, cổ bồng Những sản phẩm đồng dưới bàn tay của ông Trần Lau có nét và đẹp hơn người khác, vì thế mà những người sành sỏi thường tới tận nhà ông để đặt hàng Ông Lau có một người con kế thừa nghề truyền thống là anh Trần Hải (33 tuổi) Anh Hải rất yêu nghề của cha và đã có thể tạo dáng sản phẩm, kiểm tra chất lượng đồng, đổ đồng thuần thục

Anh Biện Phi Khanh (44 tuổi) được coi là lớp nghệ nhân mới, nhưng đã có

30 năm lăn lộn với nghề đồng Anh nói: "Qua nghiên cứu kinh nghiệm của ông cha, chúng tôi đã dùng dầu thay than, xây lò nấu đồng và tạo vỏ khuôn để thuận lợi hơn trong việc chạm mỹ nghệ đúc đồng " Còn nhiều nghệ nhân trẻ khác như Trần Vĩnh Thân (46 tuổi), Trần Bỉ (45 tuổi), Huỳnh Quang Tuấn (40 tuổi) họ đều lớn lên ở mảnh đất này và giờ đây đang làm hồi sinh làng nghề có thời gian dài mai một

Đến Phú Lộc Tây vào thời điếm này, nếu không biết, người ta sẽ tưởng là làng nghề gốm, bởi trong chiếc sân rộng của làng, các chàng trai học nghề đang làm các khuôn đúc bằng đất sét như đang làm gốm

Như nói ở trên, làng Phú Lộc Tây chuyên đúc các loại chân đèn, lư hương dành cho thờ cúng Có nhiều loại khác nhau từ đại đến trung, tiểu với giá rẻ nhất là 200.000 đồng/bộ đến cao nhất là 5.000.000 đồng Nguyên liệu chính để đúc là đồng phế liệu được mua với giá 180.000 đồng/kg Các lò đồng hiện vẫn

Trang 37

giúp nhau theo lối "đổi công", nghĩa là khi nhà này nấu đồng thì nhà kia qua giúp rồi xoay trở lại Những nhà không có vốn thì ăn theo nghề đồng bằng cách làm khuôn đúc chân đèn với giá vài ngàn đồng/bộ

Hiện nay, sản phẩm của Phú Lộc Tây tiêu thụ mạnh Nguyên nhân là đời sống của người dân đã được nâng cao, việc sắm một bộ đồ thờ bằng đồng không còn vượt quá khả năng kinh tế của gia đình Bên cạnh đó, phải ghi nhận sự sáng tạo của các nghệ nhân, đã biến món đồ tưởng chừng không có gì cầu kỳ thành một thứ trang trí mỹ thuật trong nhà

Sự hồi sinh của một làng nghề không những giải quyết được công ăn việc làm cho chính người dân địa phương, gắn với nét văn hoá làng quê độc đáo Riêng với Phú Lộc Tây, là niềm tự hào của nhiều thế hệ quyết tâm giữ lại nét riêng đã tồn tại hơn một trăm năm

2.2.2.4 Phát triển nghề truyền thống mỹ nghệ đúc đồng ở Ngũ Xã, Hà Nội Theo thời gian nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xã được trọng dụng và phát triển hưng thịnh Thời ấy nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xã, đã được coi là một trong bốn nghề tinh hoa bậc cao của Thăng Long xưa Điều này được thế hiện trong câu vè: "Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã"

Làng Ngũ Xã nằm bên bờ hồ Trúc Bạch phía Tây Hà Nội, hồ Trúc Bạch ăn thông với Hồ Tây một quần thể thiên nhiên thoáng đãng Quanh bờ Hồ Tây tập trung các làng nghề thủ công nổi tiếng của kinh thành Thăng Long trong nhiều thế kỷ, nghề dệt lĩnh hoa và nghề giấy gió Yên Thái, nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xã Làng chạm mỹ nghệ, đúc đồng Ngũ Xã có một lịch sử hình thành khá lâu đời, đến nay đã gần 500 năm tuổi Theo sử sách ghi lại: Vào khoảng đời Lê (1428 - 1527), dân của 5 làng Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Điện Tiền và Đào Viên (mà tên nôm là các làng Hà, Rồng, Dí Thượng,

Dí Hạ ) thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh ngày nay, vốn có nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng, rời về Thăng Long để lập trường đúc tiền và đồ thờ Tại đây, họ đã sinh cơ lập nghiệp, tạo dựng làng mới trên đất Thăng Long và lấy tên là Ngũ Xã, có nghĩa là 5 làng để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình về sau làng được tổ chức thành phường nghề riêng, gọi là phường chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xã, thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Trang 38

Thành công của người Ngũ Xã khi tiến hành đúc các sản phẩm bằng đồng trong suốt mấy trăm năm nay đã khẳng định tài năng kỳ lạ của họ Bên cạnh sự thông minh sáng tạo, đôi mắt nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo và đức tính cẩn trọng, người thợ thủ công còn có bí quyết nghề nghiệp và kinh nghiệm từ lâu đời

Bí quyết chạm mỹ nghệ , đúc đồng của Ngũ Xã, theo tục truyền là ở các khâu làm khuôn, nấu đồng, rót đồng thành sản phẩm

Những pho tượng và đồ thờ bằng đồng của Ngũ Xã đã có mặt ở nhiều đình, chùa lớn ở Việt Nam Một trong những sản phẩm của Ngũ Xã được nhắc tới nhiều nhất là pho tượng Phật A Di Đà, ở chùa Thần Quang nằm ngay tại làng Ngũ Xã Pho tượng cao 3,95 m, khoảng cách giữa hai đầu gối là 3,60 m, không

có những sai sót về kỹ thuật đúc Các tác phẩm nổi tiếng khác như tượng Trấn

Vũ bằng đồng đen ở đền Quán Thánh đúc năm 1677, chuông chùa Một Cột cũng được nhiều tài liệu ghi nhận là sản phẩm của các nghệ nhân chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xã

Thời gian gần đây nghề chạm mỹ nghệ đúc đồng làng Ngũ Xã, bị ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, nghề truyền thống dần bị thu hẹp Thay vào đó là khu phố mới với nhiều dịch vụ ẩm thực nổi tiếng của Hà Nội, đặc biệt là món ăn nổi tiếng món phở cuốn thu hút nhiều nam, nữ thanh niên và du khách trong và ngoài nước đến thưởng thức

Hiện ở đây có chùa Ngũ Xã (tên chữ là Thần Quang tự hay Phúc Long tự, xây thế kỷ 18, thờ Phật và ông tổ nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Nguyễn Minh Không, lấy tên Thần Quang , chùa chính thờ ông hiện nay ở Chùa Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) và đền Ngũ Xã thờ Mẫu Những gia đình còn theo nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng hiện cũng chỉ làm những mặt hàng thủ công mỹ nghệ như lư đồng, mâm đồng, chuông đồng, nhưng tất cả đều có kích thước nhỏ, trong đó một phần phục vụ nhu cầu của du khách nước ngoài Những ai đi xa lâu ngày quay trở về làng Ngũ Xã, chắc hẳn không khỏi xót xa khi nghề truyền thống làng Ngũ Xã không còn nữa, bởi nó dần thất truyền mai một theo thời gian

Ngay tại ngôi chùa của làng Ngũ Xã mang tên chùa Thần Quang hiện nay

có một sản phẩm được coi là hết sức tinh tế, hết sức kỳ vĩ Đó là tượng Phật Di Lặc cao gần 4m, nặng 11 tấn, tọa lạc trên một đài sen bằng đồng có 96 cánh, trông rất uy nghi Không chỉ kỳ vĩ về kích thước mà pho tượng này được đúc

Trang 39

theo kỹ thuật rỗng liền khối, một kỹ thuật bí truyền mà chỉ làng nghề Ngũ Xã mới có

Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng Ngũ Xá nay đã khác xưa nhiều Làng đã chuyển thành phố với những ngôi nhà cao tầng nằm san sát, không tìm thấy bóng dáng của một làng nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng nức tiếng “trong làng, ngoài nước” Người dân làng đã chuyển sang nghề khác hoặc

đã chuyển đi nơi khác sinh sống Phòng TT, TT & QHCC (2010) Làng đúc đồng Ngũ Xã TTCNTT - Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch.21(02)

2.2.2.5 Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng ở tỉnh Nam Định Nam Định không chỉ nổi tiếng bởi sản phẩm gạo Tám Xoan và lòng hiếu học mà còn nổi tiếng bởi nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng

Theo dòng thời gian, nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng phát triển mạnh, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng phát triển, đồng nghĩa với việc tạo tiền tố đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn với quy mô rộng trên địa bàn tỉnh Nhận thức được tầm quan trọng của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng trong việc phát triển kinh tế xã hội, Nam Định đã đẩy mạnh chiến lược phát triển tới năm 2020 đối với ngành kinh tế giầu tiềm năng này Tỉnh thực hiện kế hoạch ngắn hạn và dài hạn nghiên cứu sự phát triển và đặc điểm chính của nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng thủ công Theo báo cáo của ngành công nghiệp tỉnh Nam Định, tiến trình này có thể phân chia thành ba giai đoạn, tương đương với ba giai đoạn phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng thủ công truyền thống sau:

Trước năm 1960: Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng tỉnh Nam Định được thành lập, do nhu cầu của người dân địa phương trong công tác sản xuất và sinh sống, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quá trình hình thành nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng, trước tiên phải kể đến người có công

du nhập và truyền dạy nghề cho người dân trong làng, gọi là ông tổ nghề Làng rèn Vân Chàng (Nam Trực - Nam Định), hiện tại vẫn còn đền thờ ba ông tổ nghề rèn Trong giai đoạn đầu kĩ thuật nghề thủ công hầu như chỉ được truyền dạy, cho các thành viên trong gia đình của ông tổ nghề Sau đó, do nhu cầu phát triển nghề thủ công Xã hội biết đến sản phẩm thủ công và có nhu cầu lượng lớn SP, cùng với sự phát triển từ các hộ gia đình làm nghề thủ công, nghề thủ công được

Trang 40

phát triển từ phạm vi gia đình tới làng, xã Để giành được vị trí vững chắc trong

xã hội và giữ vững việc kinh doanh, các hộ sản xuất đã tập hợp lại thành phường, hội dưới sự chỉ dẫn của ông tổ nghề Nghề truyền thống chạm mỹ nghệ đúc đồng thủ công, bắt nguồn từ những hộ gia đình làm nghề riêng lẻ và từ phường, hội Tuy nhiên phường, hội chỉ là một dạng liên kết tổ chức SX trong những nhóm nghề thủ công, không phải là hiệp hội kinh doanh, không có tư cách pháp nhân Phương thức sản xuất chủ yếu của nghề truyền thống là SX thủ công các hộ sản xuất với số lượng và kiểu loại sản phẩm hạn chế, không giống nhau, chủ yếu phụ thuộc vào thị trường nội địa

*Các sản phẩm tiêu biểu của nghề truyền thống mỹ nghệ đúc đồng Nam Định Những công trình lớn được ghi nhận đó là tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ cao 16,2m, nặng 220 tấn trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử Dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, người thợ đúc đồng Ý Yên lại được "chọn mặt gửi vàng" đúc tượng vua Lý Thái Tổ, cao 10,1m, nặng

45 tấn Ở công trình này, người thợ đúc đồng Ý Yên đã sử dụng công nghệ đúc tượng liền khối cao gần 7m mà chỉ có 1 khuôn, 1 lần đúc đây là bài toán khó lý giải đối với nghề đúc trên Thế giới Đúc tượng 14 vị Vua thời Trần đặt tại quần thể di tích lịch sử văn hoá Thiên Trường, tượng Bác Hồ, tượng Phật tổ Như Lai bằng đồng đúc liền khối 35 tấn tại núi Non Nước (huyện Sóc Sơn, Hà Nội), tượng Tam thế Phật tổ Như Lai chùa Bái Đính, (Ninh Bình) nặng 50 tấn Ngoài các sản phẩm truyền thống như lư đồng,tượng đồng, các đồ kỷ niệm, đồ lễ, còn

có các đồ lưu niệm vừa mang tính thẩm mỹ nghệ thuật lại lâu bền hiệu quả sử dụng cao

2.2.2.6 Phát triển nghề truyền thống chạm mỹ nghệ bạc, đồng ở tỉnh Thái Bình Một vài nét khái quát về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Bình Năm

2015 tỉnh Thái Bình có tốc độ tăng trưởng về kinh tế cao nhất từ trước đến nay, tổng sản phẩm (GRDP) tính chung trong giai đoạn (2010-2015) ước đạt 36.321

tỷ VNĐ Tốc độ tăng trưởng đạt 8,04 %/ năm, (GRDP) bình quân đầu người năm

2015 đạt khoảng 1.410 USD, gấp 1,8 lần năm 2010 Sản xuất công nghiệp và xây dựng đã vượt qua thời kỳ khó khăn, có bước phục hồi và tăng trưởng khá Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường và đạt nhiều kết quả quan trọng; kết cấu hạ tầng các khu cụm công nghiệp tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện

Ngày đăng: 23/03/2021, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w