1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk

67 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện CưM’gar – tỉnh Đăk Lăk
Tác giả Đỗ Thị Nga
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Sư Phạm Địa Lý
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 784,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá hiện trạng đất đai phục vụ mục đích quy hoạch, định hướng phát triển đã có ở nước ta từ lâu, tuy nhiên việc đi sâu vào đánh giá tiềm năng đất đai với loại hình sử dụng đất

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

- -

ĐỖ THỊ NGA

Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà

phê ở huyện CưM’gar – tỉnh Đăk Lăk

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống Đặc biệt đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp không thể thay thế được hiện nay cũng như trong tương lai

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với cây cà phê, đất đai

đã ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu, sản lượng cũng như năng suất cây trồng Cây cà phê chỉ phù hợp với một số loại đất nhất định và qua đó quyết định năng suất, chất lượng Chính vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá đất đai phục vụ phát triển cây cà phê

là một việc hết sức cần thiết

Huyện Cư M’gar cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột – tỉnh Đăk Lăk 18km về hướng Đông Bắc Với tổng diện tích đất tự nhiên là 60.145 ha, trong đó hơn 70% diện tích là đất đỏ bazan Như vậy với diện tích đất tương đối lớn và bằng phẳng nơi đây đã có nhiều tiềm năng để phát triển cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cây cà phê và nó có tầm quan trọng lớn đối sự phát triển của huyện, 80% dân

số của huyện sống bằng nghề nông nghiệp, trong đó chủ yếu là hoạt động sản xuất cây cà phê Vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả nhằm đem lại nhiều hơn những sản phẩm cho xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với tỉnh ĐắkLắk nói chung, huyện CưMgar nói riêng Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của hoạt động này chưa tương xứng với tiềm năng đất đai khu vực Hơn nữa, do phải chịu sức ép về gia tăng dân số nên một số năm gần đây hoạt động sản xuất cây cà phê ở huyện Cưm’gar chưa chú trọng đúng mức việc đánh giá đất đai nên năng suất sản lượng cây trồng còn thấp Chính vì vậy hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đặc biệt là trong trồng cây công nghiệp lâu năm còn chưa cao Và việc đất đai ở đây không được quan tâm đánh giá đầy đủ đã làm thay đổi đáng kể và tính bền vững trong hệ thống nông nghiệp Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm thoái hoá đất đai đặc biệt là ở các vùng sản xuất chuyên canh

Trang 3

Từ thực tế đặt ra cùng với việc bản thân là sinh viên Địa lí, với mong muốn tìm hiểu về địa lí địa phương nơi mình sinh ra và lớn lên, mặt khác để trau dồi kiến

thức và tích lũy thêm kinh nghiệm, tôi chọn đề tài: “Đánh giá sơ bộ đất đai phục

vụ phát triển cây cà phê ở huyện CưM’gar – tỉnh Đăk Lăk” làm khóa luận

nghiên cứu kết thúc khóa học của mình

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt được các mục đích trên , trong quá trình thực hiện đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Thu thập tài liệu có liên quan đến đánh giá đất đai

- Nghiên cứu các điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành và phân hoá đất đai

ở địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá, phân hạng mức độ thích nghi đất đai đối với cây cà phê theo nội dung và phương pháp của FAO

- Một số phương hướng và giải pháp để phát triển bền vững sản xuất cà phê ở huyện CưM’gar

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Việc đánh giá đất đai là một trong những vấn đề được nghiên cứu từ rất lâu đời cả trên thề giới và ở Việt Nam Nhưng kể từ sau năm 1990, khi nước ta bước vào thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế, nhiều kiến thức khoa học kỹ thuật mới được cập nhật và ứng dụng, trong đó có công tác điều tra, đánh giá đất đai theo

Trang 4

hướng dẫn của FAO/UNESCO Đất được nghiên cứu một cách hệ thống bao gồm

cả việc nghiên cứu thổ nhưỡng học (soil), nghiên cứu đất đai (land), nghiên cứu về

sử dụng đất (land use) Tuy nhiên vấn đề điều tra đánh giá đất đai mới chỉ dừng lại

ở khâu điều tra xây dựng bản đồ đất, chưa đi sâu vào việc đánh giá mức độ thích nghi đất đai cho từng loại cây trồng

Đặc biệt đối với trên địa bàn huyện CưM’gar cũng có nhiều đề tài, nhưng chủ yếu về đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai như: “ Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất được giao cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quyết định 134/2004/QĐ-TTg trên địa bàn huyện Cư M’gar – tỉnh Đắk Lắk” của Giảng viên Nguyễn Thị Ngọc Quyên Bên cạnh đó còn một số công trình nghiên cứu trong nội

bộ của huyện nhằm nghiên cứu tìm ra phương thức phát triển hợp lý về sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tiềm năng đã có của huyện Đây cũng là cơ sở để đề tài này tham khảo và vận dụng vào đánh giá đất đai

Việc đánh giá hiện trạng đất đai phục vụ mục đích quy hoạch, định hướng phát triển đã có ở nước ta từ lâu, tuy nhiên việc đi sâu vào đánh giá tiềm năng đất đai với loại hình sử dụng đất chính là cây cà phê là việc làm khá mới, do đó trong một chừng mực nào đó đề tài này vẫn phát huy được những đặc tính mới mẻ của nó

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

4.1 Giới hạn lãnh thổ

Huyện Cưmgar – tỉnh Đăk Lăk theo ranh giới hành chính gồm 15 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 60.145 ha

4.2 Giới hạn nội dung

- Đánh giá sơ bộ tính thích nghi cho loại hình sử dụng đất là cây cà phê tại địa bàn nghiên cứu

- Do điều kiện thời gian và nguốn tài liệu hạn chế, đánh giá đất đai mới chỉ mang tính sơ bộ, chỉ dừng ở phân tích đặc điểm đất đai, phân tích chỉ tiêu, đặc tính phát triển của loại hình sản xuất, không dùng thang bậc đánh giá Đánh giá chủ yếu định tính, không đi sâu vào định lượng

Trang 5

- Đề tài còn nghiên cứu một số phương hướng và giải pháp phát triển bền vững sản xuất cây cà phê ở huyện CưM’gar

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm hệ thống

Đất là một yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên luôn tồn tại trong mối quan

hệ hữu cơ biện chứng với nhau tạo thành một hệ thống động lực hỗ trợ điều chỉnh

và cân bằng động Tiếp cận hệ thống trong quan điểm cấu trúc trong địa lí là nghiên cứu các cấu trúc và mối quan hệ Mặt khác hệ sinh thái địa nông nghiệp là một hệ thống với cấu trúc thẳng đứng : địa hình, khí hậu, tính chất đất, chế độ nước… và cấu trúc thẳng đứng bao gồm các hệ địa sinh thái nhỏ phân hóa theo không gian Việc nghiên cứu vấn đề theo quan điểm hệ thống là đồng nghĩa với việc xác định các cấu trúc tồn tại tại khu vực nghiên cứu và các mối quan hệ thông qua các đường trao đổi vật chất và năng lượng

5.2 Quan điểm tổng hợp

Theo Docustraev : “Đất là thành phẩm của sự tác động đồng thời, tương hỗ của đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật, thủy văn…” Vì vậy khi nghiên cứu đánh giá đất đai phải xem xét tất cả các điều kiện hình thành Mặt khác cũng phải thấy rằng tác động của đất đai đối với cây trồng, vật nuôi là từ tổng thể nhiều đặc tính của đất như độ dày, mùn, thành phần cơ giới… và cả mức độ thực thi biện pháp cải tạo dặc tính đất vì thế khi đánh giá đất để đề xuất loại hình sử dụng đất cần phải xem xét đồng thời, tổng hợp nhiều chỉ tiêu

Tuy nhiên , đứng trên quan điểm này cũng phải thấy rõ rằng các yếu tố cấu thành đất và mức độ phù hợp cho từng loại hình sử dụng đất có vai trò không giống nhau : có những yếu tố có vai trò lớn và mang tính đại diện hoặc phản ánh gián tiếp các yếu tố khác nên khi nghiên cứu đánh giá không nhất thiết phải nghiên cứu đánh giá đầy đủ mà có thể lựa chọn các yếu tố tiêu biểu để đánh giá

5.3 Quan điểm lãnh thổ

Sự phân hóa theo không gian là đặc tính điển hình của lớp vỏ cảnh quan Trong cấu trúc cảnh quan, đất và sinh vật được các nhà khoa học coi là tấm gương

Trang 6

phản chiếu của cảnh quan – phản ánh mối quan hệ cấu trúc bên trong Vì thế khi nghiên cứu đất cần phải phát hiện được sự sai biệt theo không gian Mặt khác, sự sai biệt đất sẽ kéo theo sự sai biệt về loại hình sử dụng hợp lý tương ứng Vì thế muốn đánh giá đất đai phục vụ phát triển cà phê cần phải đứng trên quan điểm lãnh thổ

5.4 Quan điểm lịch sử

Các yếu tố hình thành đất không những phân hóa theo không gian mà còn vận động theo thời gian qua đó làm cho đất cũng không ngừng thay đổi Vì thế khi đánh giá, nhất là đánh giá khả năng thích nghi đất đai với các loại cây công nghiệp lâu năm phải dựa vào sự vận động của đất để từ đó định hướng mới có giá trị lâu dài

5.5 Quan điểm sinh thái

Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên thường bị ô nhiễm bởi các hoạt động cuả con người Con người tác động, cải tạo tự nhiên tạo ra nhiều loại đất với mục đích sử dụng khác nhau, nhưng mục đích chính là phục vụ cho việc cư trú và cung ứng tài nguyên Các hoạt động tác động vào đất như quá trình di cư, phá rừng, sử dụng đất không hợp lý….làm biến đổi thủy học, địa mạo học, hủy hoại các thảm thực vật, gây xói mòn tác động vào môi trường gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm nguồn nước và nhiều vấn đề khác

Do vậy, nghiên cứu đối tượng thổ nhưỡng trên quan điểm sinh thái sẽ giúp ta hiểu được các tính chất của thổ nhưỡng một cách toàn diện và biện chứng Điều này cần thiết cho mục đích sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong việc bảo vệ môi trường

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Đây là phương pháp cơ bản để hệ thống lại các thông tin thu thập được một cách đầy đủ, cần thiết cho đề tài Dựa vào các nguồn tài liệu, số liệu thu thập được

để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đánh giá đất đai vận dụng vào khu

Trang 7

vực nghiên cứu từ đó có những nhìn đánh giá, nhận định chính xác về đất đai để phục vụ cho mục đích sản xuất cây cà phê

6.2 Phương pháp bản đồ

Với phương pháp bản đồ cho phép khái quát về khu vực được đánh giá trong tổng thể chung Phương pháp biểu đồ có tác dụng làm cho số liệu thu thập được mô hình hóa, trực quan, trở nên dễ hình dung và sâu sắc hơn Phân tích bản đồ tự nhiên, bản đồ thổ nhưỡng từ đó phục vụ công tác đánh giá

6.3 Phương pháp thực địa

Để kiểm tra mức độ chính xác của tài liệu, số liệu thu thập và bổ sung những

số liệu còn thiếu và tìm hiểu sự phân hóa lãnh thổ, cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của một số loại hình sản xuất đất chính để từ đó tiến hành nghiên cứu, đánh giá Bên cạnh đó, việc khảo sát thực địa còn giúp cho việc tìm hiểu sự phân hóa của các điều kiện tự nhiên, chia cắt của địa hình, hướng chảy của các con sông, ranh giới của các loại đất…

6.4 Phương pháp đánh giá đất đai của FAO

Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này Trên cơ sở quy trình đánh giá đất đai của FAO, từ đó vận dụng linh hoạt vào lãnh thổ nghiên cứu Như việc chọn chỉ tiêu, lựa chọn đơn vị cơ sở…

7 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, thì nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài và thực tiễn của đề tài

Chương 2 : Khái quát các nhân tố hình thành đất và các loại đất ở huyện CưM’gar

Chương 3 : Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê của huyện CưM’gar – tỉnh Đăklăk và phương hướng, giải pháp để phát triển bền vững cây cà phê ở huyện CưM’gar

Trang 8

B NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1.1 Khái niệm đánh giá

Đánh giá là thể hiện giá trị của tự nhiên đối với một yêu cầu kinh tế cụ thể, là biểu hiện thái độ của chủ thể đối với khách thể về phương diện giá trị sử dụng, khả năng và kết quả sử dụng của khách thể Trong đó chủ thể là yêu cầu kinh tế - xã hội, khách thể là tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nói cách khác đánh giá

là xem xét mối quan hệ giữa đối tượng đánh giá là các đơn vị đất đai với chủ thể là yêu cầu kinh tế - xã hội (cây trồng nông - lâm nghiệp) Khi đánh giá tốt hay xấu, thích hợp hay không thích hợp là kết quả sự so sánh tự nhiên đó đối với một yêu cầu cụ thể của con người Đặc điểm của tự nhiên là đơn vị, giá trị kinh tế của đặc điểm đó là giá trị Một điều kiện của tự nhiên có thể không thích hợp với hoạt động này nhưng lại có thể thích hợp với hoạt động khác (Trần An Phong, 1995)

1.1.1.2 Đất và đất đai

Hiện nay trên thế giới để chỉ về đất người ta dùng hai thuật ngữ riêng biệt là đất (soil) và đất đai (land) Ở các nước tiên tiến thì hai khái niệm này được phân biệt rõ ràng, còn ở Việt Nam thì hai thuật ngữ trên không được phân biệt rõ ràng và chỉ được gọi chung một cách không đầy đủ là đất Để hiểu sự khác nhau giữa đất

và đất đai ta cần tìm hiểu hai khái niệm

Đất (soil): Theo nghĩa Hán – Việt đất là thổ nhưỡng và được Docustraev

(1990), người đặt nền móng cho khoa học thổ nhưỡng định nghĩa: “ Đất là một thực thể tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, có quy luật phát sinh và phát triển rõ ràng, được hình thành dưới tác động tương hổ của 5 yếu tố: đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và tuổi địa phương” Sau này nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần bổ sung một số yếu tố khác cho định nghĩa về đất, đặc biệt là con người Chính do tác động của con người, nhiều tính chất của đất thay đổi, tạo nên những đặc tính mới Như vậy đất có liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và phát triển của vỏ

Trang 9

phong hóa Có thể nói đất tồn tại trong tự nhiên một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người và những thuộc tính của đất trong nghiên cứu và đánh giá đất đai chúng ta có thể đo lường hay ước lượng được, ( FAO, 1985)

Đất đai (Land): Theo định nghĩa của FAO, đất đai bao gồm tất cả các yếu tố

của môi trường tự nhiên Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất

Ta thấy, đất đai không chỉ có lớp phủ thổ nhưỡng mà còn bao gồm cả những yếu tố

của môi trường liên quan như địa chất, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật,

động vật Như vậy ta thấy đất chỉ là một phần, một bộ phận quan trọng của đất đai,

muốn xác định giá trị hay đánh giá tiềm năng đất đai của một khu vực thì người ta phải có ít nhất ba nguồn tư liệu về khí hậu, thổ nhưõng, kinh tế - xã hội

1.1.1.3 Đơn vị đất đai ( Land Unit - LU)

Đơn vị đất đai là một thuật ngữ dùng để chỉ diện tích đất đai với những điều kiện môi trường đặc trưng riêng được phân biệt nhờ các đặc tính riêng: Đặc điểm đất đai, chất lượng đất đai Đơn vị đất đai được xem như là một đơn vị tự nhiên cơ

sở nghiên cứu đất đai, việc đánh giá đất đai được thực hiện dễ dàng hơn nên các đơn vị đất đai được xác định trên bản đồ sử dụng các tư liệu có một số lượng lớn về đặc tính của đất

Đơn vị đất đai hoặc đơn vị bản đồ đất đai là những vùng có đặc tính và chất lượng đủ để tạo nên sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác nhằm bảo đảm sự thích hợp với các loại đất sử dụng khác.Trong thực tế các đơn vị đất đai được xác định trên bản đồ chồng lên nhau thể hiện các mặt khác nhau

1.1.1.4 Loại hình sử dụng đất đai ( Land Utilization Type - LUT)

Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất đối với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế -

xã hội và kỹ thuật được xác định

Loại hình sử dụng đất bao gồm:

+ Loại hình sử dụng đất chính (Major type of land use): Là sự phân nhỏ của

sử dụng đất trong vùng nông lâm nghiệp hoặc trên lãnh thổ đánh giá nói chung, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, rừng,

Trang 10

khu giải trí, nghỉ dưỡng, công viên quốc gia… với các công nghệ như tưới nước, cải thiện đồng cỏ

+ Loại hình sử dụng đất (LUT-Land Use Type) Là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính: Qui trình sản xuất Quản lý đất đai, như sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật Các đặc tính về kinh té, kỹ thuật, như: Thị trương, vốn, thâm canh, lao động, sỡ hữu đất đai

Được thể hiện loại hoặc giống cây gì, con gì sẽ trồng, nuôi, loại phân bón nào sử dụng Cần mô tả các đòi hỏi của của các cây trồng cụ thể đối với đất đai, việc đáp ứng của loại phân bón đối với nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng, tác động của phân bón đối với độ phì của đất, tính hiệu quả về mặt kinh tế…

Như vậy rõ ràng, loại hình sử dụng đất cụ thể và chi tiết hơn so với loại hình

sử dụng đất chính

1.1.1.5 Đánh giá đất đai theo FAO

Theo FAO( 1976), “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với tính chất của đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu cần phải có” Vùng đất nghiên cứu được chia thành các đơn vị bản

đồ đất đai đó là những khoanh đất, vạt đất được xác định trên bản đồ với những thuộc tính riêng như độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới…

Trình tự đánh giá đất đai theo FAO :

Trong đề cương và hướng dẫn về đánh giá đất đai của FAO khái quát toàn bộ những nội dung, các bước tiến hành có hai vấn đề cần quan tâm là:

a) Vấn đề vận dụng bước đi trong đánh giá đất: Theo phương pháp này,

tiến hành đánh giá đất phải thực hiện theo 7 bước sau:

- Xác định mục tiêu: Đây là bước khởi đầu, quyết định đến quy mô mức độ

và các công việc cụ thể ở các bước tiếp theo

- Thu thập số liệu và tài liệu cần thiết liên quan đến bản đồ đơn tính, các ngành nông nghiệp, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, băng từ,… phục vụ thiết thực cho việc đánh giá

Trang 11

- Xác định loại hình sử dụng đất: Loại hình sử dụng đất là chế độ canh tác một hoặc nhiều loại cây trồng trong chu kỳ một hoặc nhiều năm Loại hình sử dụng đất không chỉ là hiện tại mà cả dự kiến trong tương lai

- Xác định đơn vị đất đai: Là những khoảng đất được xác định trên bản đồ, tương ứng với các vùng đất trên thực tế Đây là các khoanh cơ sở để đánh giá, phân hạng cho các loại sử dụng đất cụ thể Đơn vị đất đai được xác định bằng cách chồng ghép các loại bản đồ đơn tính (đất, nước, khí hậu,…) để có sự đồng nhất tương đối

về tất cả các đặc điểm và tính chất đất đai

- Đánh giá mức độ thích hợp (phân hạng): Thực chất là sự đối chiếu so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng với đặc tính của mỗi đơn vị đất đai Từ đó chỉ ra mức độ thích hợp cao hoặc thấp

- Xem xét tác động tới môi trường và kinh tế - xã hội:

Kết quả đánh giá thuần tuý ở công đoạn này chỉ có ý nghĩa và giá trị thực tiễn khi được xem xét và coi là không gây tác hại đến môi trường và sự phát triển sản xuất lâu bền

- Xác định loại hình sử dụng đất đai thích hợp nhất: Công đoạn cuối cùng của đánh giá là xác định, đề xuất các loại hình sử dụng đất đai thích hợp nhất Bao gồm các biện pháp bồi dưỡng, bảo vệ cải tạo đất đai làm cơ sở cho khoa học quy hoạch

Trang 12

nội dung phương pháp và quy trình đánh giá phân hạng đất trong điều kiện Việt Nam

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO trong điều kiện cụ thể của huyện CưM’gar

1.1.1.6 Hiện trạng sử dụng đất đai (Land Use Present Condition)

- Thể hiện qua phân bố các loại cây trồng, thảm thực vật tự nhiên là kết quả

của quá trình sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại, làm tiền đề cho hướng phát triển

trong tương lai

- Hiện trạng sử dụng đất đai phản ảnh khả năng sử dụng đất đai, đồng thời cũng

là một trong những tiền đề cho việc đề xuất sử dụng đất đai phù hợp với thực tế

1.1.2 Nguyên tắc, nội dung phương pháp đánh giá đất đai theo FAO

1.1.2.1 Nguyên tắc đánh giá đất đai

Đánh giá đất đai dựa vào những nguyên tắc cơ bản:

- Khả năng thích nghi đất đai được đánh giá và được phân loại cho các loại đất sử dụng dùng rất cụ thể Khả năng thích nghi đất đai được thể hiện theo hệ thống đánh giá: Bộ thích hợp, bộ không thích hợp, mỗi bộ được chia làm hai hoặc

ba lớp theo thứ tự (rất thích hợp, thích hợp, ít thích hợp, không thích hợp hiện tại, không thích hợp vĩnh viễn)

- Việc đánh giá đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau

Trang 13

- Yêu cầu phải có sự phối hợp đa ngành, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội

- Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và chính trị của lãnh thổ nghiên cứu

- Khi đánh giá và đặc biệt là lựa chọn để đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ

sở tính bền vững, trong đó các nhân tố sinh thái đóng vai trò quyết định

- Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của lãnh thổ

- Đồng thời, khi đánh giá cần có sự so sánh các sử dụng đất khác nhau

1.1.2.2 Nội dung chính của đánh giá đất đai

- Lựa chọn các loại đất và xây dựng yêu cầu cần dùng đất của các loại đất lựa chọn

- Mô tả các đơn vị đất đai trong phạm vi các đặc điểm và chất lượng đất đai

- Đánh giá khả năng thích nghi của từng loại đất sử dụng đã chọn trên từng đơn vị đất đai

1.1.2.3 Các bước chính trong đánh giá đất đai theo FAO

Theo tài liệu “Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển của FAO”, (1986), đã chỉ dẫn tiến trình đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất được thực hiện qua 9 bước, các bước này không tách rời mà kết hợp hài hòa với nhau được trình bày ở hình 1.1

a Xác định mục tiêu

Đây là bước quan trọng trong quá trình đánh giá vì nó liên quan đến thời gian

và kinh phí thực hiện Bước này bao gồm:

- Khảo sát sơ bộ để xác định các loại hình sử dụng đất

- Điều tra nhu cầu của người sử dụng đất

- Đề ra mục tiêu đánh giá và xếp hạng ưu tiên

b Thu thập tài liệu

Bao gồm các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và môi trường Để hạn chế thời gian và kinh phí trong quá trình thu thập thường dùng các phương pháp

Trang 14

sau:

- Tổng hợp và chọn lọc tối đa các tài liệu sẵn có

- Tập trung thu thập số liệu cần thiết trong đánh giá

- Đối với lãnh thổ rộng: Loại hình sử dụng đất đai chỉ xác định đến loại hình

sử dụng chủ yếu (Major of land use) như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,…

- Đối với lãnh thổ hẹp: Mức độ nghiên cứu chi tiết hơn thì các loại hình sử dụng đất phải được xác định kỹ lưỡng đến cấp kiểu sử dụng đất (Land use type – LUT) như đất cây lúa, đất cây ăn quả, đất cây trồng cạn,…

Ngoài ra, tùy thuộc vào mức độ chi tiết mà có thể xác định loại sử dụng đất đến cấp sử dụng đất Tuy nhiên, việc xác định loại hình sử dụng đất cần phải căn cứ vào nhu cầu sinh lý và sinh thái của các loại cây trồng, tập quán canh tác của địa phương và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu

d Xác định đơn vị đất đai

Đơn vị đất đai là một khoanh vi đất cụ thể được xác định trên bản đồ Nó là kết quả của sự chồng ghép các bản đồ đơn tính như bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ độ dốc, bản đồ địa hình…Tùy thuộc vào phạm vi lãnh thổ nghiên cứu và mức độ chi tiết của công tác đánh giá mà chọn các yếu tố chủ đạo khi vạch ranh giới các đơn vị đất đai

Trang 15

Hình 1.1 : Các cấp và hạng của đất theo FAO

f Xác định môi trường và kinh tế - xã hội

Đánh giá đất đai không chỉ dừng lại ở việc xác định các đơn vị đất đai và đánh giá mức độ thích nghi sinh thái mà cần phải xác định hiệu quả kinh tế - xã hội

và môi trường của từng loại hình sử dụng đất

Đối với kinh tế - xã hội có các chỉ tiêu như: Giá trị kinh tế, yêu cầu vốn và kỹ thuật, tính khả thi của loại hình sử dụng đất

Đối với môi trường bao gồm khả năng bồi dưỡng tái tạo đất, khả năng điều tiết nước của cây trồng, khả năng chống xói mòn và khả năng thiết lập về mặt sinh thái

g Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất

Đơn vị đất đai được đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi cho từng nhóm hoặc từng loại cây trồng cụ thể Yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình đã được các nhà nghiên cứu thống kê và ghi chép thành sách để tra cứu như: sổ tay cây công nghiệp ngắn ngày, sổ tay cây công nghiệp dài ngày,…

h Quy hoạch sử dụng đất

Công tác quy hoạch sử dụng đất là bao gồm toàn bộ các bước đánh giá Trong quá trình này thường tập trung đánh giá tiềm năng đất đai cho từng đơn vị đất đai riêng lẻ và cho từng loại hình sử dụng đất khác nhau nhưng việc quy hoạch sử dụng đất lại được tiến hành trên quy mô tổng thể

Đất đai

Thích hợp (S)

Không thích hợp (N)

Rất thích hợp (S1) Thích hợp (S2)

Ít thích hợp (S3)

Không thích hợp hiện tại (N1) Không thích hợp vĩnh viễn (N2)

Trang 16

l Ứng dụng kết quả đánh giá

Mục đích cuối cùng của đánh giá và quy hoạch sử dụng đất là áp dụng các kết quả đó vào thực tiễn sản xuất nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế cao Công tác này rất đa dạng, phức tạp và sẽ tạo nên một hệ thống sử dụng đất phù hợp với hệ thống cây trồng vật nuôi, có thể xen kẻ hay riêng lẻ

Hình 1.2 Quy trình đánh giá đất theo FAO (1983)

4 Đánh giá khả năng thích hợp

Trang 17

Từ kết quả đánh giá đất theo hướng dẫn của FAO, để phù hợp với đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu, thời gian, kinh phí thực hiện cũng như trình độ của bản thân, trong đề tài này chúng tôi đánh giá đất theo quy trình gồm 8 bước như sau:

Hình 1.3 Quy trình đánh giá đất đai vận dụng vào lãnh thổ

nghiên cứu, huyện CưM’gar

1.1.3 Đặc điểm phát triển cây cà phê

1.1.3.1 Đặc điểm phát triển cây cà phê

Cà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diện tích, cà phê chè (Arabica) 10% và cà phê mít (Excelsa) 1%

4 Đánh giá khả năng thích hợp

Trang 18

a Đặc điểm sinh thái, sinh lý cây cà phê

Ở Việt Nam cà phê được phân bổ hầu hết ở vùng Tây Nguyên và vùng đất đỏ bazan Phạm vi nhiệt độ thích hợp trồng cây cà phê biến động từ 15 – 300C, nhưng

lý tưởng nhất có nhiệt độ trung bình từ 19 - 240C với lượng mưa năm thích hợp từ

1500 - 2000mm

- Nở hoa: Thường cuối vụ thu hoạch cây đã có quá trình phân hóa mầm non

Mầm hoa tiếp tục phát triển vào sau vụ thu hoạch Nếu mầm hoa phát triển đã hoàn chỉnh (dạng mỏ sẻ) khi được tưới nước hay có lượng mưa trên dưới 15 mm thì sau

đó 5 - 7 ngày hoa sẽ nở, thời gian này có thể dài hơn nếu trước đó hoa chưa phát triển đầy đủ

- Nảy mầm của hạt: Hạt giống sau khi chế biến nếu được ngâm cho bão hòa

nước (từ 20 - 24 giờ) sau đem ủ giữ nhiệt độ từ 30 - 32oC thì sau đó từ 3 - 5 ngày đã nhú mầm khi để cả vỏ trấu hoặc bóc vỏ trấu Nếu bóc vỏ trấu thì thời gian nảy mầm nhanh hơn so với không bóc vỏ

- Độ ẩm cây héo của cây cà phê:

Độ ẩm cây héo của cây cà phê là giới hạn độ ẩm trong đất, cây không còn khả năng hút được nước đưa đến hiện tượng làm cho cây cà phê bị héo

* Độ ẩm cây héo đối với cây cà phê con trong vườn ương 26 - 27%

* Độ ẩm cây héo đối với cây cà phê tuổi kinh doanh: 28 - 30%

* Giới hạn độ ẩm trong đất cần phải tưới nước cho cà phê tuổi kinh doanh:

30 - 34%

- Phân bố tầng rễ: Bề mặt của bộ rễ nói chung phát triển ra tới mép ngoài

của tán lá Lượng rễ phát triển tập trung chủ yếu ở tầng đất canh tác sâu từ 0 - 30

cm, chiếm tới 85% trọng lượng và thể tích của bộ rễ Rễ cọc (rễ chính) có khả năng xuyên sâu tới trên dưới một mét, cà phê mít rễ cọc có khả năng xuống sâu hơn Sự phát triển và phân bố của bộ rễ cà phê có quan hệ tới kỹ thuật trồng mới (trồng âm

để đưa bộ rễ xuống sâu dưới mặt đất tránh vùng khô hạn ở lớp đất mặt), kỹ thuật bón phân (bón phân theo mép ngoài của tán, kỹ thuật tủ gốc giữ ẩm và tưới nước)

Trang 19

- Sự phát triển cành lá:

Trong điều kiện thích hợp để phát triển được thêm một cặp cành hay một đôi

lá phải cần một thời gian từ 25 - 30 ngày Cây con sau khi trồng được một năm có khả năng phát triển từ 12 - 14 cặp cành, sau khi trồng 18 tháng cây đã đủ chiều cao

để hãm ngọn (những nơi chăm sóc tốt khả năng sinh trưởng này còn lớn hơn) Sự ra cành của cà phê trên thân theo quy luật đối xứng (mỗi một đốt có một cặp cành đối xứng ) cá biệt có những chủng cà phê chè tại một đốt trên thân cho ba cành phân bố đều quanh thân

Tùy theo từng chủng, từng vùng sinh thái mà trên cành cấp một có phát triển các cành cấp hai Nếu được cắt tỉa hợp lý thì cây cà phê vối có nhiều hệ cành quả thứ cấp Cấu tạo của một cây cà phê có những bộ phận chủ yếu sau đây

Cành cấp một mọc trực tiếp từ thân, thường thẳng góc với thân hoặc tạo thành một góc nhỏ hơn 900 tùy từng giống và chủng cà phê Các cành thứ cấp phát triển trên cành cấp 1, cành cấp 2, cấp 3, cấp 4 v.v Chồi vượt được mọc từ thân và song song với thân Nếu uốn thân cũng tạo thành các chồi vượt mọc thẳng góc với thân

Từ các chồi vượt có thể giữ lại để tạo thành các thân mới trong kỹ thuật nuôi nhiều thân trên một gốc hay một thân bổ sung thay thế các chồi cũ già cỗi việc nắm chắc quy luật ra cành của cà phê có một ý nghĩa đặc biệt để điều khiển chúng phục

vụ cho kỹ thuật tạo hình Trong thực tế ở Việt Nam, cà phê vối có khả năng phát triển tới cành cấp 8

b Các yếu tố tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê

- Đất đai

Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất ba-zan là một trong những loại đất lý tưởng để trồng cà phê, vì các đặc điểm lý hóa tính tốt, và tầng dày của loại đất này Yêu cầu cơ bản của đất trồng cà phê là có tầng sâu từ 70

cm trở lên, có độ thoát nước tốt (không bị úng, lầy) Các loại đất thường thấy ở Việt Nam ở trên các vùng cao như granit, sa phiến thạch, phù sa cổ, gờ nai, đá vôi, dốc tụ đều trồng được cà phê Ở cà phê vườn có khả năng trồng được cả ở nơi có đá lộ

Trang 20

đầu, ở những nơi đất dốc vẫn trồng được cà phê nếu làm tốt công trình chống xói mòn Dù trồng ở trên loại đất nào nhưng vai trò của con người có tính quyết định trong việc duy trì, bảo vệ nâng cao độ phì nhiêu của đất Ngay cả trên đất ba-zan, nếu cà phê không được chăm sóc tốt vẫn dẫn tới hiện tượng cây mọc còi cọc, năng suất thấp Ngược lại ở những nơi không phải là đất ba-zan nếu đảm bảo được đủ lượng phân hữu cơ, vô cơ, giải quyết tốt cây đậu đỗ, phân xanh trồng xen, tủ gốc tốt cùng các biện pháp thâm canh tổng hợp khác như tưới nước vẫn có khả năng tạo nên các vườn cà phê có năng suất cao

- Khí hậu

Không phải vùng nào ở trên trái đất cũng trồng được cà phê Ngoài yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một số yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh sáng, gió Vì vậy, khi chọn vùng trồng cà phê phải chú ý tới các yếu tố rất quan trọng này

+ Nhiệt độ:

Nói chung trong phạm vi nhiệt độ tương đối rộng từ 50C đến 320C cây cà phê vẫn có khả năng tồn tại, sinh trưởng và phát triển Song phạm vi nhiệt độ phù hợp đối với từng giống cà phê có khác nhau

- Cà phê ưa nơi mát và hơi lạnh Phạm vi thích hợp từ 180C – 250C, thích hợp nhất từ 200C – 220C Do yêu cầu về nhiệt độ như vậy nên cà phê chè thường được trồng ở miền núi có độ cao từ 600 - 2.500m (nguyên quán cà phê chè là ở Ethiopie nơi có độ cao trên dưới 2.000m) Các nước trồng cà phê chè có phẩm vị thơm ngon như: Kenya, Tanzania, Ethiopie, Côlombia thường được trồng ở nơi có độ cao từ

800 m trở lên Ngược lại cà phê vối thích ở nơi nóng ẩm Phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 22 – 260C, song giới hạn nhiệt độ thích hợp nhất từ 24 – 260C Nhiệt độ giảm xuống tới 00C làm thui cháy các đọt non, nếu kéo dài làm cháy cả lá già đặc biệt là vùng hay xuất hiện sương muối Gió rét và gió nóng đều bất lợi đối với sinh trưởng của cây cà phê

+ Lượng mưa:

Lượng mưa cần thiết đối với cây cà phê chè thường 1.300 mm - 1.900 mm, còn đối với cà phê vối cần từ 1.300 - 2.500 mm Nếu lượng mưa được phân bổ

Trang 21

tương đối đều trong năm có một mùa khô hạn ngắn vào cuối và sau vụ thu hoạch, nhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa của cây cà phê Đối với

cà phê mít có yêu cầu về nhiệt độ và lượng mưa tương tự như cà phê vối Song cây

cà phê mít có bộ rễ ăn sâu, vì vậy có thể trồng ở những nơi có lượng mưa ít hơn

Nhìn chung, ở nước ta lượng mưa phân bố không đều Lượng mưa tập trung khoảng 70 - 80% vào trong mùa mưa gây ra hiện tượng thừa nước Mùa khô thường kéo dài từ 3 - 5 tháng, nhưng lượng nước mưa chỉ chiếm từ 20 - 30%, do vậy có nhiều nơi cây cà phê thiếu nước nghiêm trọng đặc biệt là các tỉnh ở Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ Để khắc phục hiện tượng này, vấn đề tủ gốc giữ ẩm, đai rừng phòng hộ, cây che bóng và tưới nước có một ý nghĩa quan trọng

+ Ánh sáng:

Cà phê chè là loại cây thích ánh sáng tán xạ (nguồn gốc mọc trong rừng thưa tại châu Phi), ánh sáng trực xạ làm cho cây bị kích thích ra hoa quá độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, vườn cây xuống dốc nhanh, ánh sáng tán xạ có tác dụng điều hòa sự ra hoa, phù hợp với cơ chế quang hợp tạo thành và tích lũy chất hữu cơ

có lợi cho cây cà phê, giữ cho vườn cây lâu bền, năng suất ổn định Ở những nơi có ánh sáng trực xạ với cường độ mạnh thì cây cà phê vối cần lượng cây che bóng để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của vườn cây

+ Gió:

Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê Gió quá mạnh làm cho lá bị rách, rụng lá, các lá non bị thui đen, gió nóng làm cho lá bị khô héo Gió làm tăng nhanh quá trình bốc thoát hơi nước của cây và đất đặc biệt là trong mùa khô Vì vậy cần giải quyết trồng tốt hệ đai rừng chắn gió chính và phụ;

Trang 22

cây che bóng để hạn chế tác hại của gió Đai rừng chắn gió và cây che bóng còn có tác dụng hạn chế hình thành và tác hại của sương muối, ở những vùng có gió nóng, đai rừng còn có tác dụng điều hòa nhiệt độ trong lô trồng

1.1.3.2 Kỹ thuật canh tác cây cà phê

Yêu cầu kỹ thuật chăm sóc rất quan trọng, trong canh tác cây cà phê nếu không nắm vững kỹ thuật chăm sóc sẽ nhanh chóng làm cây già cỗi, sâu bệnh, giảm năng suất trầm trọng, các kỹ thuật cơ bản:

+ Đảm bảo cho việc bảo vệ đất, chống xói mòn

+ Đảm bảo cho vấn đề cơ giới hóa trong các khâu cày, bừa, chăm sóc, phát

cỏ, vận chuyển, tưới nước, phun thuốc trừ sâu bệnh và cỏ dại

+ Đảm bảo cho việc thâm canh tăng năng suất, hạn chế những yếu tố bất thuận của tự nhiên như: gió, rét, nóng, hạn

Trang 23

c) Trồng xen, trồng cây phủ đất

Khi cà phê mới trồng, đất còn trống, bộ tán cây cà phê còn nhỏ vì vậy phải trồng xen để hạn chế sự thiêu hủy chất hữu cơ trên bề mặt đất do cường độ ánh sáng lớn và nhiệt độ mặt đất rất cao

Trồng trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để phủ đất gồm cây họ đậu, cây phân xanh: trồng cách cây cà phê ít nhất 50-60 cm

Nên trồng xen các loại cây đậu đỗ để cải tạo đất, tăng hàm lượng mùn, tăng các chất dinh dưỡng cho đất, đồng thời nó cũng làm tăng độ ẩm trong đất và giảm nhiệt độ bề mặt đất

- Cây che bóng làm giảm tốc độ gió và tăng độ phì đất nhờ lượng cành lá rụng xuống lô cà phê

- Tăng thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng lân và kali dễ tiêu

- Tăng độ xốp và sức chứa ẩm của đất,

- Tiết kiệm được lượng nước tưới, kéo dài thời gian giữa 2 lần tưới

- Tạo điều kiện cho các vi sinh vật có ích hoạt động

Trang 24

- Giảm xói mòn, rửa trôi đất

Thời vụ trồng

Nguyên tắc chung của thời vụ trồng thích hợp là vào đầu mùa mưa khi đất đã đảm bảo được độ ẩm Thời vụ trồng đối với các tỉnh ở Tây Nguyên phù hợp nhất là trong tháng 6 Nếu năm mưa sớm cây con đã đủ tiêu chuẩn trồng thì có thể trồng vào tháng 5 Những năm mưa muộn có thể trồng sau tháng 7 Những vùng có chế

độ mưa chấm dứt vào cuối năm thì có thể trồng muộn hơn Trong kinh tế vườn có thể trồng muộn vào cuối mùa mưa nếu trong mùa khô có đủ nước tưới và có tủ gốc dày

Phân bón

+ Chú ý: cần thay đổi chủng loại phân, không nhất thiết chỉ SA và Kali

Clorua

- Phân lân bón một lần cùng với phân hữu cơ, hoặc ép xanh

- Với những vườn cây bội thu cần bón tăng cường thêm bằng 30% lượng phân cả năm

h) Tưới nước: Trong mùa khô hạn khi thấy cây cà phê có hiện tượng thiếu

nước thì cần phải tiến hành cung cấp nước kịp thời Hai hình thức chủ yếu để cung cấp nước cho cây cà phê đó là: tưới trực tiếp vào gốc và tưới phun mưa

- Tưới gốc: Tiến hành tưới gốc cho cây cà phê trong thời kỳ kiến thiết cơ

bản trên cơ sở tủ gốc, và trồng cây che gió, che bóng tạm thời Mỗi gốc tưới từ 40 -

60 lít nước/lần tưới Khoảng cách giữa 2 lần tưới từ 20 - 30 ngày

Trang 25

- Tưới phun nước

Cà phê ở vụ ra hoa bói rộ (thường sau khi trồng 16 - 18 tháng) và khi chuyển vào thời kỳ kinh doanh thì cần áp dụng kỹ thuật tưới phun mưa Đối với các vùng khô hạn, sau khi các mầm hoa đã phân hóa và phát triển khá hoàn chỉnh (hoa đã ở dạng mỏ sẻ nhỏ có màu xanh hoặc xám xanh) thì tiến hành tưới lần đầu với lượng nước từ 700 - 800 m3/ha Các lần sau tưới từ 500 - 600 m3/ha Khoảng cách giữa các lần tưới tùy thuộc vào mức độ che phủ, chắn gió và loại đất mà biến động từ 15

b Hệ thống khuyến nông

Nội dung chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới

gồm có giống mới, kỹ thuật mới, công nghệ mới, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng Hệ thống khuyến nông chính là cách tiếp cận mới đến với nông dân hoà nhập trong nền kinh tế thị trường, làm cho sản xuất hàng hoá đa dạng gắn với thị trường,

sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên, là điều kiện đảm bảo sản xuất cây cà phê phát triển ổn định và bền vững

c Công tác bảo vệ thực vật

Nhiệm vụ của Công tác bảo vệ thực vật là đề phòng và chống bệnh cho cây trồng Công tác bảo vệ thực vật liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ phòng trừ bệnh cho cây trồcà phê, là nhân tố làm hạn chế các rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp

Trang 26

d Khoa học kỹ thuật và công nghệ

Một trong những nguyên nhân làm cho ngành trồng trọt phát triển nhanh, việc phát triển và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ cho nông nghiệp, nhất

là công nghệ sinh học là yếu tố đưa lại hiệu quả rất cao gồm các giống cây con mới

có năng suất cao thích nghi với điều kiện sinh thái, các quy trình sản xuất, công nghệ nhân giống, kỹ thuật và công nghệ chế biến nông sản, các quyết sách của Chính phủ về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp và nông thôn, các mô hình quản

lý kinh tế xã hội nông thôn, các mô hình sản xuất

1.2 KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, DIỆN TÍCH, HÀNH CHÍNH HUYỆN CƯM’GAR

Huyện CưM’gar cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 16km về phía Bắc Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 60.145 ha; có tọa độ địa lý từ : 12042’ đến 13004’ vĩ độ Bắc và từ 107055’ đến 108013’ kinh độ Đông

Về địa giới hành chính :

Phía Bắc giáp huyện Ea H’leo tỉnh Đăklăk

Phía Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk

Phía Đông giáp huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk

Phái Tây giáp huyện Buôn Đôn và Ea Sup, tỉnh Đăk Lăk

Là huyện của cửa ngõ phía Bắc của thành phố Buôn Ma Thuột, nối liền bằng tuyến tỉnh lộ 8; phía Đông Nam của huyện có tuyến Quốc lộ 14 thông suốt với tỉnh Gia Lai, các tỉnh miền Trung, Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy nó có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng cả về kinh tế, chính trị và Quốc phòng an ninh, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội và mở rộng giao lưu với các huyện, tỉnh lân cận

Tổng diện tích của huyện 60.145 ha, chia thành 15 xã và 2 thị trấn Trong đó

có đơn vị nhỏ nhất là thị trấn Quảng Phú chiếm 1,18% diện tích tự nhiên và diện tích lớn nhất là xã Ea Kuếh chiếm 13,41% diện tích tự nhiên của huyện

Trang 27

Chương 2 KHÁI QUÁT CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT VÀ

CÁC LOẠI ĐẤT Ở HUYỆN CƯM’GAR 2.1 CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT Ở HUYỆN CƯM’GAR

đá gơ nai, và đá phiến

Trên nên tảng này cao nguyên Đăk Lăk được hình thành do hoạt động Tân kiến tạo làm cho khối nhô Kom Tum bị đứt gãy đoạn tầng và nâng lên với biên độ không đều Bên cạnh các hoạt động nâng lên còn diễn ra nhiều hoạt động mác ma rất mãnh liệt Đó là các dòng dung nham nóng chảy, từ lòng quả đất, theo các đường nứt gãy phun trào lên khỏi mặt vỏ quả đất Tạo thành vùng đất bazan rộng lớn, màu mỡ

Như vậy ta thấy địa bàn huyện CưM’gar có lịch sử địa chất khá đồng nhất, từ

đó cũng tạo nên sự đồng nhất về nền tảng dinh dưỡng đất đai, độ dày tầng đất và tính chất đất đai Việc xem xét cấu trúc địa chất, vận động kiến tạo của một lãnh thổ cho phép xây dựng cơ sở để đánh giá đất đai đồng thời xác định vai trò, chức năng

và động lực phát triển của chúng trong quá trình thành tạo đất đai

2.1.2 Nhân tố Địa hình

Huyện CưM’gar nằm trong vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột, nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, có xu hướng thấp dần từ Đông sang Tây, độ dốc trung bình từ 3-150, chiếm 95,8% diện tích tự nhiên, nhiều nơi hệ thống sông suối phát triển, chia cắt bề mặt thành nhiều đồi dốc thoải Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 350 – 500m so với mực nước biển Có thể chia thành các dạng địa hình chính như sau :

Trang 28

- Địa hình đồi núi, dốc

Diện tích khoảng 3463ha, chiếm 4,21% diện tích tự nhiên, phân bổ tập trung chủ yếu ở phía Bắc, giáp với khu vực bán bình nguyên Ea Súp, và một phần nhỏ tại rìa phía Tây và phía Đông của huyện , độ dốc từ 15-250 Đất hình thành trên dạng địa hình này có tầng canh tác mỏng, chủ yếu rừng cây lá rộng tự nhiên tập trung, tuy nhiên do thời gian gần đây do khai phá mở rộng đất canh tác nên diện tích rừng bị giảm khá nhiều

- Dạng địa hình đồi lượn sóng

Diện tích khoảng 62.420 ha, chiếm 75,91% diện tích tự nhiên Địa hình bị chia cắt từ nhẹ đến trung bình, có dạng dốc thoải, có nơi tương đối bằng phẳng xen

kẽ giữa các dãy núi Độ dốc dao động từ 3-150 Đất đai phân bố trên dạng địa hình này chủ yếu là đất nâu đỏ bazan và đất đen có tầng canh tác khá dày thích hợp cho nhiều loại cây trồng Các loại đất này hầu như đã được khai thác triệt để cho phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ yếu các loại cây công nghiệp có giá trị như : cà phê, cao su, các loại ngô, ngô, đậu đỗ và bông vải

- Dạng địa hình thung lũng hẹp

Dạng địa hình này có diện tích khoảng 16.341ha, chiếm 19,88% diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố dọc theo các nhánh sông, suối có nơi rộng đến hàng chục hec ta Đất trên địa bàn này được cấu tạo bởi những sản phẩm bồi tụ, thường bị úng ngập vào mùa mưa Đây là dạng địa hình thấp và tương đối bằng phẳng, hầu hết đã được khai thác trồng lúa nước , rau màu và các loại cây ngắn ngày khác

Bảng 2.1 Thống kê diện tích đất huyện CưM’gar theo độ dốc

Trang 29

Nhưng nhìn chung phần lớn diện tích huyện CưM’gar có địa hình độ dốc dưới 150, bề mặt thoáng ít bị chia cắt, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp lâu năm như cây cà phê

2.1.3 Nhân tố Khí hậu

Theo số liệu của Trung tâm Dự báo Khí tượng và Thủy văn Tây Nguyên tại Đăk Lăk, huyện CưM’gar có khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng do sự nâng lên của địa hình nên có đặc điểm rất đặc trưng của chế độ khí nhiệt đới gió mùa Cao nguyên

+ Mùa khô : Tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15%lượng mưa cả năm, kèm theo gió Đông Bắc, nắng nóng và khô hạn, lượng bốc hơi nước lớn dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng

Nguyên nhân gây mưa lũ trên lưu vực là do các loại hình thể thời tiết sau: + Mưa dông do gió mùa hạ hướng Tây Nam kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới + Mưa do bão từ biển Đông đỏ bộ vào đất liền gặp dải Trường Sơn ngăn cản

bị suy yếu hình thành một vùng áp thấp nhiệt đới gây nên mưa lớn trên diện rộng

+ Mưa lớn do cả 2 loại hình thời tiết trên gặp nhau, thường xảy ra vào cuối mùa mưa (cuối tháng 10 hoặc tháng 11)

- Lượng mưa

Phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa trung bình năm từ 1560 - 1900mm; số ngày mưa trung bình trong năm 135 ngày; Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất 504mm (tháng 10) Đây là vùng có lượng mưa trung bình của Việt Nam, lại phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian Phần lớn lượng mưa đều tập trung trong mùa mưa, chiếm đến 85%

Trang 30

lượng mưa cả năm Vòa mùa khô có nhiều tháng liên tục không có mưa Điều này cho thấy sự mất cân bằng nghiêm trọng về sự phân bố lượng mưa trong năm gây khó khăn không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân trong vùng

- Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm là 21- 240C, nề nhiệt độ chung toàn vùng nói chung

là đồng đều.Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm nói chung không lớn, chỉ khoảng 5-60 Biên độ nhiệt ngày - đêm : 9-120C

- Độ ẩm

Độ ẩm không khí tương đối trung bình nhiều năm của vùng nghiên cứu dao động từ 81- 85% theo quy luật tăng theo độ cao Biến trình của độ ẩm không khí trùng với biến trình lượng mưa năm và ngược với biến trình của nhiệt độ trong năm

Độ ẩm cao nhất trong năm vào tháng 8 và tháng 11, chiếm 90%; Độ ẩm thấp nhất trong năm vào tháng 2-4, chiếm 75%

Do đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, địa bàn huyện có nhiệt độ và độ ẩm trung bình cao tạo điều kiện cho qúa trình hình thành đất diễn ra mạnh mẽ tạo nên lớp vỏ phong hóa và lớp vỏ thổ nhưỡng dày Hơn nữa các yếu tố khí hậu thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bốc hơi, gió) tại khu vực huyện CưM’gar thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng Vùng này hầu như không có sương muối, không bị ảnh hưởng của bão và lũ lụt chưa từng xảy ra Nên đặc biệt rất thích hợp để sản xuất cây công nghiệp lâu năm như cà phê

2.1.4 Nhân tố Thủy văn

- Nước mặt :

Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện thuộc lưu vực sông SrêPok, do chịu ảnh hưởng của địa hình nên các suối chính ở đây có hướng chảy từ Đông sang Tây Đáng chú ý trên địa bàn huyện là suối Ea Tul, Ea M’Droh có lượng dòng chảy lớn nhất vào tháng 9, 10, 11 do các tháng trước đây có nắng hạn kéo dài làm cho đất khô cằn vào tháng 5, 6, 7 lượng mưa được bao nhiêu thì ngấm vào mặt đệm và đến tháng 9,10,11 chỉ cần lượng mưa 100mm là sinh ra lũ lớn

Trang 31

+ Suối Ea Tul: bắt nguồn từ xã Ea Ngay huyện Krông Buk, đoạn chảy qua

huyện dài khoảng 45km, long suối hẹp và ít dốc, lưu lượng dòng chảy 10,86m3/s, chảy suốt chiều dài toàn huyện, qua những vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn như: xã Ea Tul, Thị trấn Quảng Phú, Quảng Tiến, Ea M’nang… đây là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu trên địa bàn huyện, trên lưu vực đã xây dựng nhiều công trình thủy lợi với quy mô vừa và nhỏ như hồ Buôn Yông, và một số công trình thủy lợi khác…Ngoài hệ thống chính Ea Tul còn có hệ thống suối nhánh của suối này Ea Drơng, Ea Néh, Ea Pôk, Par Chur…góp phần phục vụ đáng kể cho cây trồng vào mùa khô

+ Suối Ea Mdroh : là suối phát nguồn trong khu vực, chiều dài nhánh chính

chảy qua huyện khoảng 37km, long suối hẹp và dốc, lưu lượng dòng chảy vào khoảng 135m3/s, có nước quanh năm cung cấp đáng kể lượng nước cho cây trồng vào mùa khô, ngoài ra còn có các suối nhánh của suối này

Ngoài hai suối lớn nêu trên còn có các suối nhỏ phân bố khá đều trên địa bàn huyện , các suối này bắt nguồn từ các đồi núi cao đổ ra hai suối lớn, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém, thường không có nước vào mùa khô nên mực nước ở các suối lớn thường xuống rất thấp trong mùa này

Nhìn chung hệ thống suối trong vùng chủ yếu là các suối đầu nguồn, lưu lượng nước biến động lớn giữa hai mùa, nên lượng nước mặt rất khan hiếm vào mùa khô Do địa hình của huyện CưM’gar là dạng địa hình dốc nên vào mùa khô lượng nước ở các suối thường không đủ cung cấp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp cho nên cần phải khai thác và sử dụng tài nguyên nước một cách khoa học

và tiết kiệm Vì vậy, chúng ta cần phải đầu tư xây dựng hệ thống các hồ để tích trữ các nguồn tự nhiên và nhất là một lượng lớn nguồn nước mưa để phục vụ tưới tiêu cho cây trồng vào các tháng hạn trong năm, để tránh tác động của tháng hạn hán mà ảnh hưởng đến giảm sản lượng các loại cây trồng

- Nước ngầm :

Nước ngầm trong phạm vi huyện CưM’gar khá đa dạng, được chứa trong hầu hết các loại đất, đá với trữ lượng và độ tinh khiết khác nhau, được chia thành 3 địa

Trang 32

tầng chứa nước như sau:

+ Tầng chứa nước lỗ hổng: Bề dày không quá 10m, nằm ở ven sông suối, lưu lượng từ 0,1-0,14 lít/s, thành phần hóa học thuộc kiểu Bicarbonnát Clorua, độ khoáng hóa từ 0,07-0,33 g/lít

+ Tầng chứa nước lỗ hổng khe nứt: Nước ngầm ở tầng này trên đất bazan của CưM’gar tương đối khá với bề dày chứa nước từ 10-100m, lưu lượng trung bình từ 0,1-1,0 lít/s, chủ yếu là nước không áp, thuộc loại nước nhạt (mức độ khoáng hóa từ 0,01-0,1 g/lít), có thể sử dụng tốt cho sinh hoạt, riêng về khả năng khai thác cho sản xuất được đánh giá ở mức độ trung bình Hiện đã được khai thác để tưới cho cây cà phê mức độ khá phổ biến

+ Tầng chứa nước khe nứt: Tầng chứa nước khe nứt được phân ra nhiều loại, nhưng nhìn chung lưu lượng thuộc loại nghèo, khả năng khai thác cho sản xuất hạn chế

( Nguồn tài liệu: Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất huyện CưM’gar giai đoạn 2003- 2010, Báo cáo Quy hoạch thủy lợi huyện Cư’Mgar giai đoạn 2006 -2020)

2.1.5 Thảm thực vật và cây trồng

Tác động của thực vật đối với đất thông qua quá trình tuần hoàn vật chất, thông qua tác động chống xói mòn và tác động giữ ẩm cho đất nên thực vật có ý nghĩa rất lớn trong thành tạo đất Cho nên không những mỗi kiểu thảm thực vật ảnh hưởng đến đặc tính của đất mà mỗi loại thực vật đều ảnh hưởng đến dộ tốt xấu của đất Chính vì thế, muốn bảo vệ đất, cải tạo đất thì biện pháp chủ yếu là biện pháp sinh học, phải lựa chọn kiểu rừng và từng loại cây thích hợp với từng loại đất

Tùy địa hình, tính chất đất, khí hậu, thủy văn mà sự phân bố thảm thực vật, cũng như các loài chiếm ưu thế, thể hiện khác nhau Thảm thực vật huyện CưM’gar bao gồm thảm thực vật tự nhiên và thảm thực vật nhân tác

- Thảm thực vật tự nhiên

Diện tích rừng tự nhiên của huyện có khoảng 19.539ha, chiếm gần 19% diện tích đất tự nhiên Rừng có nhiều loại gỗ quý có giá trị như: lim xanh, sến, mật, gụ

Trang 33

lau, vàng tâm…Do khai thác tràn lan, nên rừng nguyên sinh chỉ còn lại ở một số xã như: Ea Kuếh, Ea Tar, và Ea Kiết

Thảm thực vật có trên địa bàn huyện khá đa dạng, hiện đã thống kê được 567 loài thực vật bậc cao thuộc 367 chi và 117 họ Hệ thực vật rừng không chỉ phong phú về chủng, loài mà ở đây còn có nhiều luồng thực vật như: Thực vật bản địa Bắc Việt Nam-Trung Hoa( họ Re Lauranceae, họ Dâu tằm, họ Đậu, họ Xoan, họ Trâm); thực vật Inddonexxia – Myanmar( họ Tử vi) và thực vật Himalây( họ cây lá kim)…

- Thảm thực vật nhân tác

Bao gồm các loại cây công nghiệp lâu năm như: Cao su, cà phê, chè, tiêu và các loại cây hàng năm như: Lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả,… Các loại này phân bố chủ yếu ở trong các vườn , các trang trại, các khu dân

cư ở vùng trung du, vùng đồi núi thấp có dân cư sinh sống

2.1.6 Tác động của con người

Từ khi con người được sinh ra đã biết khai thác đất đai và thiên nhiên để tồn tại và phát triển Con người đã tác động rất lớn trong việc thành tạo đất, thể hiện qua dân số ngày một tăng, nhu cầu khai thác và sử dụng đất ngày càng tăng trong khi đất đai thì vẫn giữu nguyên

Vai trò của con người đối với đất đai vô cùng to lớn thể hiện qua sản xuất canh tác nông nghiệp và tập quán đốt rừng làm nương rẫy để lại hậu quả là những vùng đất trống đồi nứi trọc Tác động của con người đã theo hai hướng tích cực và tiêu cực như:

Tác động tích cực là việc cải tạo mở mang diện tích đất trồng, bón phân làm thủy lợi, chọn giống cây trồng thích hợp Cụ thể như mở mang diện tích đất nông nghiệp được thể hiện qua bảng

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, Th.S Hồ Phong Khác
2. Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất huyện CưM’gar giai đoạn 2003 - 2010 Khác
3. Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất huyện CưM’gar giai đoạn 2010 - 2020 4. Báo cáo Quy hoạch thủy lợi huyện Cư’Mgar giai đoạn 2006 – 2020 Khác
5. Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện CưM’gar đến năm 2020 Khác
6. Niên giám thống kê huyện CưM’gar từ năm 2005 – 2009 Khác
7.Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai của huyện CưM’gar từ năm 2000 đến năm 2010 Khác
8. Phòng thống kê huyện CưM’gar, Niên giám thống kê CưM’gar năm 2008, 2009, 2010 Khác
9. Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện CưM’gar , Đặc tính đất đai trên địa bàn Khác
10. Vũ Ngọc Tuyền, Bảo vệ môi trường đất, NXB nông nghiệp, Hà Nội, 1994 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Các cấp và hạng của đất theo FAO. - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Hình 1.1 Các cấp và hạng của đất theo FAO (Trang 15)
Hình 1.2. Quy trình đánh  giá đất theo FAO (1983). - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Hình 1.2. Quy trình đánh giá đất theo FAO (1983) (Trang 16)
Bảng 2.2. Biến động diện tích đất nông nghiệp huyện CưM’gar - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 2.2. Biến động diện tích đất nông nghiệp huyện CưM’gar (Trang 34)
Bảng 2.3.  Tổng hợp  diện tích các loại đất huyện  CưM’gar - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 2.3. Tổng hợp diện tích các loại đất huyện CưM’gar (Trang 36)
Hình  2.1.  Cơ cấu  các nhóm  đất chính của huyện  CưM’gar. - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
nh 2.1. Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện CưM’gar (Trang 37)
Bảng 3.1. Tổng hợp diện tích đất huyện  CưM’gar theo tầng dày - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 3.1. Tổng hợp diện tích đất huyện CưM’gar theo tầng dày (Trang 41)
Bảng 3.2. Tổng hợp diện tích đất huyện  CưM’gar theo thành  phần  cơ giới - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 3.2. Tổng hợp diện tích đất huyện CưM’gar theo thành phần cơ giới (Trang 41)
Bảng 3.3. Tổng hợp diện tích đất theo tỷ lệ mùn - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 3.3. Tổng hợp diện tích đất theo tỷ lệ mùn (Trang 42)
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp quy  mô diện tích một số chỉ tiêu về tiềm năng đất đai - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp quy mô diện tích một số chỉ tiêu về tiềm năng đất đai (Trang 43)
Bảng 3.5.  Yêu cầu sử dụng đất của cây cà phê  Loại - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Bảng 3.5. Yêu cầu sử dụng đất của cây cà phê Loại (Trang 46)
Hình 3.1. Cấu  trúc phân  hạng  khả  năng  thích hợp  đất đai  (FAO,1976,1983) - Đánh giá sơ bộ đất đai phục vụ phát triển cây cà phê ở huyện cưm’gar – tỉnh đăk lăk
Hình 3.1. Cấu trúc phân hạng khả năng thích hợp đất đai (FAO,1976,1983) (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w