1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005 2013

87 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 842,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, điển hình là Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 64CP ngày 2791993 của Thủ tướng chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Với chính sách mới về quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam. Sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá, hướng đến xuất khẩu. Một số hàng hoá đã vươn lên cạnh tranh khá và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ sản…. Việc phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói ở trên là không thể phủ nhận, song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu. Nhưng sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất. Với mục đích: khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán hiện nay để có điều kiện thực hiện vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tạo thuận lợi cho việc áp dụ ng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí sản xuất; nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần đẩy nhanh tiến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào;

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Tiệp

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong cả quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo thuộc Khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý Đào tạo và các Khoa có liên quan đến nội dung đào tạo – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Nguyễn Khắc Thời

- Khoa Quản lý đất đai để tôi thực hiện những định hướng của đề tài và hoàn thiện luận văn này

Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi được sự giúp đỡ nhiệt tình của Cán bộ

và nhân dân các xã, thị trấn thuộc huyện Vũ Quang, đặc biệt là cán bộ địa chính của các xã: Hương Minh, Ân Phú và Đức Liên, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình công tác của UBND huyện Vũ Quang, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện, các phòng ban khác có liên quan, các anh chị em, bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Tôi xin chân thành cảm ơn các sự giúp đỡ quý báu đó!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Tiệp

Trang 5

1.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở

1.1.1 Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta sau cách mạng

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đất nông nghiệp 16

Trang 6

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Vũ Quang 20

2.2.2 Thực trạng và quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên

2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh

2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi thực hiện chính sách dồn

điền đổi thửa trên cơ sở các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội 20

2.2.5 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa 20

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm EXCEL 21

2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Quang 24

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của huyện Vũ Quang 37

3.2.2 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh

Trang 7

3.3 Tình hình dồn điền đổi thửa ở huyện Vũ Quang 43

3.3.2 Quy trình dồn điền đổi thửa tại huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 45

3.3.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Vũ Quang 50

3.4 Những tác động của dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện

3.4.1 Dồn điền đổi thửa góp phần làm tăng hiệu lực trong công tác

3.4.2 Chính sách dồn điền đổi thửa làm thay đổi hệ thống đồng ruộng 56

3.4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trước và sau khi thực hiện

3.5 Dồn điền đổi thửa góp phần làm nâng cao hiệu quả xã hội 69

3.6 Những khó khăn, tồn tại sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi

3.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất

sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách chuyển đổi

Trang 8

CHN, CLN Cây hàng năm, cây lâu năm

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

SXNN Sản xuất nông nghiệp

TT Thị trấn

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Hiện trạng diện tích và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 của huyện

3.4 Một số chỉ tiêu trước và sau DĐĐT tại huyện Vũ Quang 52

3.5 Thực trạng ruộng đất trước và sau DĐĐT các xã nghiên cứu đại diện 54

3.6 Diện tích đất công ích trước và sau DĐĐT tại các xã nghiên cứu 57

3.7 Giá thầu đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa tại các xã

3.8 Bình quân diện tích đất SXNN trên nhân khẩu trước và sau dồn

3.9 Diện tích đất trồng lúa bình quân trên khẩu trước và sau DĐĐT 60

3.10 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng trước và sau

3.11 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT 63

3.12 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã

3.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một héc ta (ha) đất nông

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

3.2 So sánh giá thầu đất công ích bình quân trước và sau DĐĐT 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, điển hình là Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Thủ tướng chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Với chính sách mới về quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân

đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình - đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam Sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá, hướng đến xuất khẩu Một số hàng hoá đã vươn lên cạnh tranh khá và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ sản…

Việc phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói ở trên là không thể phủ nhận, song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu

Nhưng sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất

Với mục đích: khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán hiện nay để có điều kiện thực hiện vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tạo thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí sản xuất; nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần đẩy nhanh tiến

Trang 12

độ xây hoàn thành xây dựng chương trình nông thôn mới

Vũ Quang là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện xong công tác đồn điền đổi thửa trong hai giai đoạn Sau dồn điền đổi thửa, do quy mô của thửa đất, số thửa và sự phân bố các thửa đất của một chủ hộ thay đổi sẽ tác động đến việc sử dụng đất Vì vậy cần tìm hiểu xem tác động đó như thế nào sau khi dồn điền đổi thửa, tìm ra yếu tố hạn chế đến sử dụng đất

Xuất phát từ những lý do nêu trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn

Khắc Thời, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của hộ

nông dân sau khi dồn điền đổi thửa tại huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2005- 2013”

2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Vũ Quang và những ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến các vấn đề sử dụng

đất nông, lâm, ngư nghiệp

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa tại huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

3 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra các hộ nông dân về các vấn đề sử dụng đất

- Tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn điền đổi thửa

- Những ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh tác trên địa bàn nghiên cứu

- Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trước và sau khi dồn điền đổi thửa

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta

1.1.1 Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta sau cách mạng Tháng Tám đến trước năm 1986

- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước từ sau cách mạng Tháng Tám đến trước năm 1981

Sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều sắc luật

về ruộng đất và chính sách đối với nông dân như Sắc lệnh số 78/SL giảm 25% tô (ngày 14.7.1949) Năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ về sử dụng công điền, công thổ để cho công bằng và có lợi cho người nghèo Chính phủ cũng chia lại ruộng đất cho nông dân Ngày 4 tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất với mục tiêu để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc đồng thời đem những đồn điền ấp trại tịch thu của thực dân Pháp và bọn phản động chia cho nông dân tá điền Ngày 14 tháng 12 năm 1956 Bộ tài chính đã có thông tư số 430 hướng dẫn việc thi hành miễn giảm thuế nông nghiệp để tạo điều kiện cho nông dân trong sản xuất nông nghiệp Mặc dù đất nước đang bị chia cắt 2 miền, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, các chính sách ruộng đất đã phát huy được nhiều hiệu quả cả ở hai miền và đã gặt hái được nhiều thành công, lần đầu tiên dân nghèo ở nông thôn được làm chủ quá nửa số diện tích đất canh tác Năm 1960, miền Bắc đã căn bản hoàn thành HTXNN bậc thấp, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân tham gia hoạt động (85,8%), 76% diện tích đất nông nghiệp Đến năm 1965 về cơ bản miền Bắc đã đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể với 90,3% số hộ nông dân

là xã viên HTXNN Thắng lợi cải cách ruộng đất và mô hình HTXNN đã phần nào tạo điều kiện cho Đảng ta vững tin bước vào công cuộc xây dựng nông thôn theo

mô hình kinh tế XHCN Tuy nhiên, do nóng vội nên mô hình HTXNN sử dụng đất kém hiệu quả, làm hao hụt hàng vạn héc ta ruộng đất, năng suất lúa giảm, thu nhập của xã viên càng giảm thấp Từ đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải cải cách các

Trang 14

HTXNN, mà trước hết là chính sách ruộng đất trong các HTXNN Chính sách đất đai cũng bộc lộ nhiều mặt tiêu cực và chưa thực sự thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp phát triển Cùng với mô hình tập trung bao cấp đã đẩy nước ta vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 Đầu thập niên 1980 sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân, hàng năm vẫn phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực

- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước từ năm 1981 đến năm 1986

Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các mô hình thí điểm, ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ra Chỉ thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đã hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị 100 là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn sự

sa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Từ đó nền nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó Đã xuất hiện nhiều mô hình mà năng suất lúa đạt 10 tấn/ha.(Ban chấp hành TW Đảng, 1981)

1.1.2 Chính sách ruộng đất sau thời kì đổi mới đến nay

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là

Trang 15

các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Nghị quyết 10/NQ- TW ngày 05 tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”): Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn

vị kinh tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ Nghị quyết 10 đã được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân; tháng 6 năm 1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam Tuy nhiên, “Khoán 10" chưa

đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới

Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất Từ đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp

Luật đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Theo đó, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất Luật cũng quy định thời gian giao đất được ổn định trong 20 năm đối với cây hàng năm,

50 năm đối với cây lâu năm Hết thời hạn giao đất nông dân có thể được gia hạn sử dụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản lý đất đai khác của Nhà nước Điểm mới của Luật đất đai năm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định

đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tự chủ cá nhân trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụng khuyến khích nông dân tìm phương thức

Trang 16

sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn Luật đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi,

bổ sung vào các năm 1998, năm 2001 năm 2003, trong đó có quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp giấy CNQSD đất Việc giao đất, cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định

Đó là sơ sở để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển (Chính phủ,1993)

1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa

1.2.1 Khái quát về ruộng đất manh mún

để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng mang lại một số lợi ích cho nông dân Do đó

ở nhiều nơi nông dân muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này

Trang 17

Manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh:

Một là, sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều

xứ đồng

Hai là, sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản

xuất khác.( Văn Thị Ngọc, 2011)

1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất

Những nguyên nhân sau dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún:

Một là, do sự phức tạp của địa hình đất nước ta, đất đai bị chia cắt theo 3 dạng: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún

Hai là, chế độ chia đều ruộng đất cho con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả con cái sau khi lập gia đình và tách hộ ra ở riêng Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ;

Ba là, các hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ mang tâm lí ngại thay đổi ruộng đất

vì họ đã quen với tư duy, tập quán sản xuất, phương thức canh tác trên thửa đất quen thuộc

Bốn là, do phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu,

Trang 18

ruộng khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều mảnh nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra cao hơn;

- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tóm lại, tình trạng manh mún ruộng đất dẫn đến việc sản xuất đạt hiêu quả thấp, chất lượng sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường, không đáp ứng được việc xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Vì thế Đảng và Nhà nước ta chủ trương cần phải dồn điền đổi thửa tạo ra sự tươi mới trong sản xuất nông nghiệp

1.2.2.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất của các trang trại quy mô nhỏ thành những trang trại quy mô lớn, tạo điều kiện để áp dụng khoa học

kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất sinh học, năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành nông sản Vì vậy, việc tích tụ ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa hầu như đã trở thành quy luật, diễn ra ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không giống nhau

1.2.2.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Âu, Mỹ

Ở các nước châu Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ

đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện, với Hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc

Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường

Trang 19

Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụ ruộng đất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản (Văn Thị Ngọc, 2011)

1.2.2.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á

Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp, quy mô trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu, Mỹ Ngay ở Nhật Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình trạng như vậy

Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán ruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương này nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, họ có kinh nghiệm đáng quan tâm là hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân Một

hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con

Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi NN) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thức sản xuất ủy thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước

Trang 20

tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao

động để sản xuất

Năm 2007, Trung Quốc đã chi 2.6 tỷ USD cho việc cải tạo cơ sở hạ tầng nông nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa Việc thúc đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa là nhằm biến những mảnh đất phân tán, rải rác thành những vùng canh tác rộng lớn, thống nhất hơn với một hệ thống hỗ trợ nông nghiệp như thuỷ lợi, đê điều được tốt hơn, mang lại năng suất nông nghiệp cao hơn cho người dân

Vấn đề hạn điền ở một số nước được đặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cải cách ruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất của những người có nhiều ruộng được giữ lại, vượt quá hạn mức Nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nông dân thiếu đất như

ở Nhật Bản và Đài Loan Đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển thì vấn đề hạn điền thường không cần đặt ra

Theo Macheal Lipton, 2002, nền nông nghiệp của các nước đang phát triển ở Châu Á được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây:

- Tỷ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn khá lớn và dư thừa;

- Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa nước chủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ;

- Sự tăng tưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăng trưởng kinh tế nông thôn

Vì vậy, để xóa đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng lao động nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất thời gian qua đã mang lại công ăn việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ phát triển kinh tế Nếu việc tập trung ruộng đất, phát triển trang trại quy mô lớn không hợp lý thì có nguy

cơ làm tăng thất nghiệp trong nông thôn Do đó, tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giải quyết việc làm cho lực lượng nông dân đã cho thuê hoặc bán ruộng đất cho người khác Việc làm ở đây bao gồm các công việc ngay trong lĩnh vực nông nghiệp như làm thuê cho các trang trại lớn (có thể làm thuê cho chính người mình

Trang 21

cho thuê hay bán ruộng đất) Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làm ngoài

nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

1.2.3.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.3.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa và nguyên nhân của việc tiến hành dồn điền đổi thửa

Khái niệm dồn điền đổi thửa (Regrouping of lands, trong tiếng Anh, hay Remenbrement, trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiên dồn điền đổi thửa:

Một là để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế nay vận hành tốt hơn;

Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này

có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau

Từ những hạn chế của vấn đề manh mún ruộng đất cho thấy chủ trương và việc tiến hành dồn điền đổi thửa là rất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.2.3.2.Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa

Nước ta bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình kể từ Đại hội VI của Đảng vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15

Trang 22

năm và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất

Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp bằng QSD đất

Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận

và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 - 8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10 – 20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng ĐBSH

đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo

Trang 23

cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700 xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất.( Bộ NN và PTNT, 2003)

1.2.3.3.Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh, thành trong nước

Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí trong xây dựng NTM, song với những địa phương có diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, bình quân mỗi hộ dân sở hữu nhiều ô, thửa ruộng phân tán trên nhiều cánh đồng như hầu hết các xã của Thành phố Hà Nội thì việc làm này hết sức cần thiết Nếu tiến hành thành công DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới hầu hết 19 tiêu chí trong xây dựng NTM Chính vì vậy, để triển khai thắng lợi Chương trình 02-CTr/TU, Ban chỉ đạo

TP Hà Nội đã xác định một trong những khâu đột phá là tập trung chỉ đạo thực hiện công tác DĐĐT diện tích đất nông nghiệp không nằm trong quy hoạch công nghiệp

và quy hoạch đô thị Ngay sau khi UBND Thành phố Hà Nội có kế hoạch và Hướng dẫn, các Huyện, thị xã đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch và ban hành nghị quyết

về công tác DĐĐT, đồng thời giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể để các xã căn cứ phấn đấu thực hiện Các xã đã bám sát hướng dẫn của Sở NN-PTNT tiến hành xây dựng phương án DĐĐT trình duyệt, đồng thời rà soát nhân khẩu, hộ khẩu, diện tích đất

Trang 24

nông nghiệp giao theo Nghị định số 64/CP, một số xã đã và đang tiến hành đo đạc, quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng

Một số địa phương đã thực hiện thành công như xã Tân Hưng, xã Minh Trí (huyện Sóc Sơn); xã Liên Mạc (huyện Mê Linh); xã Hợp Thanh (huyện Mỹ Đức); xã Đại Thắng (huyện Phú Xuyên) và các xã này đang là mô hình điểm cho các địa phương khác đến học tập kinh nghiệm Một số huyện đã thể hiện sự quyết tâm bằng việc đăng ký tăng thêm diện tích thực hiện trong năm 2010 như Chương Mỹ, Mê Linh, Phú Xuyên, Thường Tín, Đông Anh,

Tại các địa phương trình tự, phương pháp đã cơ bản thực hiện theo hướng dẫn của TP Nhiều huyện, thị xã đã coi nhiệm vụ DĐĐT là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm trong năm 2010

Kết quả đến nay, toàn TP đã có 99/228 xã (43,4%) có phương án DĐĐT, trong đó có 35 xã đã được phê duyệt, số còn lại đang tiến hành xây dựng phương án

và xin ý kiến nhân dân thống nhất phương án Một số huyện có nhiều xã trong kế hoạch DĐĐT đã xây dựng được phương án DĐĐT như Chương Mỹ 32/32, Sóc Sơn 23/23, Ba Vì 6/6, Phú Xuyên 10/16, đặc biệt 100% số xã của huyện Sóc Sơn đã

có phương án DĐĐT được phê duyệt Kết quả có trên 30 nghìn ha đăng ký kế hoạch DĐĐT của các huyện, vượt trên 11 nghìn ha so với kế hoạch của UBND TP

Với những kết quả tích cực trên cũng đồng nghĩa với năng lực tổ chức thực hiện các nội dung Chương trình xây dựng NTM nói chung và công tác DĐĐT nói riêng của cán bộ từ huyện đến xã đã được nâng lên rõ rệt, củng cố lòng tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo công bằng, dân chủ trong cộng đồng nông thôn

Tuy nhiên, công tác DĐĐT là một việc làm rất khó, bởi nó đụng chạm tới quyền lợi của hầu hết các hộ dân, phải tiến hành một khối lượng công việc rất lớn từ xây dựng phương án, kế hoạch triển khai, đến tổ chức tuyên truyền, họp ở nhiều cấp, đo đạc, lên bản đồ, gắp thăm, chia đất, cấp hồ sơ giấy tờ chính vì vậy cán bộ địa phương ở một số nơi ngại, không muốn làm Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ở một

số nơi hạn chế, chưa làm cho người dân thấy được ích lợi trước mắt và lâu dài của công tác DĐĐT Những nguyên nhân đó đã dẫn đến một số hạn chế, khó khăn trong

Trang 25

công tác DĐĐT trong thời gian qua tại các địa phương và rất cần phải khắc phục

Tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định là một trong những huyện đi đầu và làm tốt công tác chuyển đổi đất nông nghiệp để thực hiện cùng một lúc nhiều mục tiêu, đó là: khắc phục tình trạng đất manh mún, giảm thiểu số thửa ruộng trên mỗi hộ; kết hợp quy hoạch lại đồng ruộng phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá; tập trung lại đất công của từng xã lâu nay nằm tản mạn trong các hộ, việc quản lý và sử dụng diện tích đất này không hiệu quả Trong năm 2003 có 19 xã, thị trấn đã hoàn thành kế hoạch công tác dồn điền đổi thửa Còn xã Liêm Hải hoàn thành 26/33 đội (7 đội chưa thực hiện là các đội 1, 2, 10, 18 HTXNN Trực Liêm và các đội 5, 6, 10 HTXNN Trực Hải); xã Phương Định hoàn thành 8/10 đội của HTXNN Trực Phương, (2 đội chưa thực hiện là đội ông Hưng và đội ông Bộ thôn Cự Trữ); HTXNN Trực Định 14/14 đội chưa triển khai Đến năm 2006 HTXNN Trực Định đã thực hiện tại 5 đội là Hoà Lạc, Hoà Bình, Đại Thắng 1, Đại Thắng 2 và An Trong

Qua tổng hợp, công tác dồn điền đổi thửa đã đạt được một số mục đích, yêu cầu đề ra đó là:

+ Số thửa đất nông nghiệp bình quân/hộ đã giảm trên 34 %: Từ 4,80 thửa/hộ xuống còn 3,16 thửa/hộ Những xã có số thửa bình quân/hộ giảm nhiều là Trực Nội giảm 3,78 thửa/hộ, Trực Mỹ giảm 3,6 thửa/hộ, Trực Thanh giảm 2,98 thửa/hộ

+ Đất công ích và đất dành cho quy hoạch đã được dồn đổi cơ bản tập trung theo vùng và theo quy hoạch; số thửa đất công ích giảm 2.627 thửa (= 44,7%) số thửa, từ 5.868 thửa xuống còn 3.241 thửa

+ Bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, diện tích đất trồng lúa có năng suất thấp được chuyển sang nuôi trồng thủy sản, diện tích đất sản xuất cây vụ đông được tăng lên, rõ nhất là các xã, thị trấn thực hiện tốt công tác dồn điền đổi thửa như xã Trực Hùng, Trực Khang, Trực Chính,

+ Hiệu quả cho thuê đất công ích và đất nông nghiệp dành cho quy hoạch tăng lên rõ rệt, qua kết quả báo cáo của xã Trực Nội, Trực Hưng, Trực Thuận, Trực

Mỹ ngay sau thời điểm dồn đổi ruộng xong, xã tổ chức đấu thầu đất công đã nâng mức thu bình quân lên 180 kg/sào/năm (trước đây 70 kg/sào/năm)

Trang 26

+ Song song với công tác dồn điền đổi thửa, việc lập hồ sơ cấp đổi GCN QSDĐ nông nghiệp đã được triển khai, đến nay đã lập xong hồ sơ cấp đổi GCN sau dồn điền đổi thửa tại 11 xã với 21.005 hộ đạt 47,55% Trong đó đã có quyết định cấp GCN của UBND huyện và ký, trao GCN tới hộ nông dân là 11.048 hộ

Tỉnh Phú Thọ chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên (Phong Châu) và xã Trung Vương (TP Việt Trì) tổ chức làm thí điểm và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm 60 xã ở các vùng khác nhau

Tại Bắc Ninh, thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về việc vận động nông dân chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau Toàn tỉnh xác định 450 thôn cần chuyển đất nông nghiệp trong đó đến hết năm 1998 có 237 thôn đã hoàn thành đạt 52% số thôn, còn 217 thôn triển khai vào đợt tiếp theo

Ở Hà Tĩnh, thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU của BCH Đảng bộ tỉnh, các huyện, thị trong toàn tỉnh đã chủ động tiến hành thực hiện việc dồn điền đổi thửa Kết quả của việc thực hiện dồn điền đổi thửa cho thấy trước khi thực hiện dồn điền đổi thửa, bình quân mỗi hộ có 14 thửa ruộng với diện tích 310m2/ thửa, sau khi thực hiện thì bình quân mỗi hộ có 4,2 thửa ruộng với diện tích mỗi thửa là 709,2m2.(UBND tỉnh Hà Tĩnh,2009)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đất nông nghiệp

1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên

Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước … Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất

+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần

cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, … quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất

+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển

+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng

Trang 27

là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi

+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyết định đến khả năng

và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường

1.3.2 Nhóm các yếu tố về kinh tế - xã hội

Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách, …) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất Trong đó, thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng cố hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất

+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất

và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo

+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất

+ Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh

tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo … các chính sách này đó có những tác động

Trang 28

rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất

mới đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc tại chỗ

1.3.3 Nhóm các yếu tố về quản lý, kỹ thuật

Đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất, một

bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch

sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý

và đạt hiệu quả kinh tế cao

1.4 Tình hình dồn điền đổi thửa tại tỉnh Hà Tĩnh

Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình bằng vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, hộ nông dân được công nhận như là một đơn vị kinh tế

tự chủ,tự do hóa thị trường cũng như các tư liệu sản xuất, được giao đất sử dụng ổn định, lâu dài Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công

cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định

Tại tỉnh Hà Tĩnh, đất trồng cây hàng năm được chia thành 6 hạng Đất đai được chia bình quân theo bình quân theo nhân khẩu Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai

Theo số liệu của tỉnh Hà Tĩnh chính năm 2000, bình quân 1 hộ được giao từ

10 – 14 thửa Vào năm 2001, thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU của BCH Đảng bộ tỉnh và Chỉ thị số 40-CT/ TU ngày 26/3/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các huyện, thị xã, thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, vận động nhân dân chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp.Qua 2 đợt thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp

Trang 29

kết quả đạt được trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 10 thửa xuống còn 3-4 thửa Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Phương châm thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh là gắn công tác chuyển đổi ruộng đất với việc quy hoạch sử dụng đất, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng.Từ đó sản xuất nông nghiệp có bước phát triển tích cực việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng năng suất, xây dựng các mô hình trang trại, gia trại, từng bước hình thành sản xuất hàng hóa tập trung Phong trào sản xuất giỏi, làm giàu trong nông dân ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy KT- XH phát triển, công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được đẩy mạnh Tuy nhiên, ở một số huyện trong tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất.(Tỉnh ủy Hà Tĩnh,2009)

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Các hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông, lâm, ngư nghiệp theo Nghị định

64 CP và Nghị định 02 CP của Chính phủ trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Vũ Quang

- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, địa mao, khí hậu, đất đai…

- Tình hình phát triển kinh tế, các mặt đời sống xã hội: cơ cấu kinh tế, cơ sở

hạ tầng, lao động, dân số, giáo dục, môi trường…

2.2.2 Thực trạng và quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện

- Các cơ sở pháp lý để tiến hành công tác dồn điền đổi thửa

- Thực trạng ruộng đất trước khi dồn điền đổi thửa

- Quá trình tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa

- Đánh giá lại quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa

2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất canh tác trên địa bàn nghiên cứu

- Những ảnh hưởng về cơ cấu sử dụng đất,cơ cấu cây trồng, mùa vụ của hộ nông dân sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa

- Những điểm đạt được nhận thấy trên cánh đồng sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa như: khả năng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, công tác giao thông thủy lợi, khả năng đầu tư cho sản xuất…

- Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý nhà nước

về đất đai trên địa bàn huyện

2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa trên cơ sở các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội

2.2.5 Đề xuất các giải pháp đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa

- Giải pháp về chủ trương chính sách

- Giải pháp về khoa học kỹ thuật

Trang 31

- Giải pháp về vốn, ngân sách

- Các giải pháp khác

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Điều tra, thu thập thông tin số liệu thứ cấp: các văn bản số liệu liên quan từ

các phòng ban trong huyện như: số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất của các năm, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, các văn bản về đất đai, các chủ trương, chính sách về khuyến khích đầu tư sản xuất và các thông tin số liệu khác

- Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: đó là các số liệu thông tin chưa công bố, phải qua quá trình điều tra, phỏng vấn người dân Quá trình làm đề tài đã tiến hành điều tra phỏng vấn 200 hộ nông dân, trên địa bàn 03 xã nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh có địa hình bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu xen lẫn các cánh đồng phù sa nhỏ hẹp ven sông tạo thành các kiểu khác nhau Xuất phát từ địa hình khó khăn chung của toàn huyện cùng với thời gian và nguồn lực hạn chế nên phạm vi nghiên cứu được tiến hành tại 03 xã: Ân Phú, Đức Liên và Hương Minh Đây cũng là các xã đại diện có địa hình đặc trưng phân bố trên địa bàn toàn huyện và đã hoàn thành tốt công tác dồn điền đổi thửa trong thời gian sớm

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm EXCEL

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành điều tra, phỏng vấn 200 hộ dân theo mẫu phiếu điều tra đã xây dựng Sau quá trình điều tra nông hộ các số liệu thô được tổng hợp và tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm EXCEL để thống kê, phân tích, so sánh, sắp xếp, vẽ biểu đồ

2.3.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

- Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội

Trang 32

ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xã hội

Để đánh giá hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp chúng tôi tiến hành phân tích tài chính trên địa bàn Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế sau đây:

+ Giá trị sản xuất: (GO: Gross Ouput) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định ( thường là một năm ), nó phản ánh năng suất đất đai trên khía cạnh giá trị thu được trên một đơn vị diện tích

GO =∑Qi * Pi

Trong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra

- Pi là giá trị của đơn vị sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (IC: Intermediate Cots): là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ

sử dụng trong qúa trình sản xuất như: chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, vận chuyển, chi phí khác….Chỉ tiêu này phản ánh mức đầu tư chi phí trên một đơn vị diện tích gieo trồng

IC = ∑Cj

Trong đó: Cj là khoản chi phí thứ j

+ Giá trị gia tăng ( VA: Velue Added ): Là giá trị tăng thêm của qúa trình sản xuất khi đã loại bỏ chi phí vật chất và dịch vụ

VA = GO - IC + Thu nhập hỗn hợp ( MI: Mixel Income) là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài

MI = VA - KHTS ( khấu hao) - T (Thuế) - L (Thuê lao động) + Giá trị ngày công lao động: giá trị ngày công lao động = thu nhập hỗn hợp / số công lao động

+ Hiệu quả kinh tế/một ngày công lao động (LĐ) quy đổi:GO/LĐ và VA/LĐ, thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng người lao động

Trang 33

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

- Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội ( kết quả xét

về mặt xã hội ) và tổng chi phí bỏ ra, chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định

cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân

Do điều kiện về mặt thời gian và phạm vi nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi đánh giá hiệu quả xã hội theo một số chỉ tiêu mang tính định tính như sau:

- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ ý kiến của hộ

- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân

- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng

- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân

- Góp phần định canh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật,

- Khả năng sản xuất hàng hóa thể hiện ở chủng loại sản phẩm, số lượng tiêu thụ, giá cả, thị trường tiêu thụ

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Quang

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Vũ Quang là huyện miền núi biên giới của tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở tọa độ: Từ

18009’10 đến 18030’00 độ vĩ Bắc và từ 105014’00 đến 105038’30 độ kinh Đông; có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp huyện Đức Thọ, Can Lộc;

- Phía Tây giáp huyện Hương Sơn và huyện Căm Bớt, tỉnh Bô Ly Khăm Xay

- CHDCND Lào;

- Phía Nam giáp huyện Hương Khê;

- Phía Bắc giáp huyện Hương Sơn

Là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Hà Tĩnh, có 43 km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào, có diện tích tự nhiên là 63.821,13 ha Thị trấn Vũ Quang là trung tâm huyện lỵ, nằm trên trục đường Hồ Chí Minh cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 70 km về phía Tây Bắc Huyện có 12 đơn vị hành chính cấp xã, 101 thôn, 2 cụm dân cư

Huyện có hệ thống giao thông khá thuận lợi: đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn huyện với chiều dài 20 km và đường tỉnh lộ 5 với chiều dài khoảng 28 km, có đường biên giới dài trên 43 km giáp với huyện Căm Cớt - Bô Ly Khăm Xay - nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Ngoài ra có các sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Trươi chảy qua là những tuyến giao thông chính nối Vũ Quang với các huyện lân cận Hệ thống đường sắt Bắc Nam đi qua địa bàn với chiều dài 9,25 km

và có ga Yên Duệ ở xã Đức Hương và ga Hòa Duyệt ở xã Đức Liên Là điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển, giao lưu kinh tế với các vùng lân cận

3.1.1.2 Địa hình

Địa hình của huyện bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu ,tạo thành các kiểu khác nhau Địa hình núi cao trung bình, địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng, địa hình đồi bát

Trang 35

úp và các cánh đồng phù sa nhỏ hẹp ven sông Chênh lệch độ cao giữa các vùng trong huyện rất lớn Vũ Quang là huyện miền núi, diện tích đồi núi chiếm 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng và thung lũng hẹp chiếm 10% Do vậy đất nông nghiệp và đất ở các huyện chạy dài theo địa hình từ Tây Bắc - Đông Nam và ở giữa 2 dãy núi, phía Tây Bắc là dãy Trường Sơn, độ cao từ 800 - 2.275m, phía Đông Bắc là dãy Trà Sơn, độ cao từ 300 - 470m

Địa hình huyện Vũ Quang có 3 dạng chính là địa hình núi cao trung bình, địa hình núi thấp, địa hình thung lũng kiến tạo - xâm thực

- Địa hình núi cao trung bình là địa hình được uốn nếp khối, nâng lên tạo thành một dãy hẹp dọc theo biên giới Việt Lào Gồm các núi cao trung bình khoảng

Từ đặc điểm địa hình của huyện, gây khó khăn về nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như mùa khô gây ra hạn hán, mùa mưa gây ra ngập úng cục bộ

- Mùa đông (mùa lạnh) kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Thời gian này thường có gió mùa Đông Bắc lạnh kéo theo mưa phùn; nhiệt độ thấp nhất có khi xuống từ 4 - 60 C

Trang 36

* Chế độ nhiệt:

- Nhiệt độ trung bình năm: 25,50C

- Nhiệt độ cao trung bình hàng năm: 28,640C

- Nhiệt độ thấp trung bình hàng năm: 21,980C

* Chế độ gió:

Hướng gió: mùa đông là hướng Đông Bắc hay Bắc, mùa hè là hướng Đông Nam hay Nam, đặc biệt trên địa bàn huyện có xuất hiện gió mùa Tây Nam rất khô và nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 năm sau, nhân dân thường gọi là “gió Lào”

3.1.1.4 Thuỷ văn

Vũ Quang có 2 hệ thống sông chính là sông Ngàn Sâu và sông Ngàn Trươi Ngoài ra còn có khá nhiều khe, suối… phân bố không đồng đều giữa các vùng trong huyện

- Sông Ngàn Trươi: chảy theo hướng Đông Bắc, diện tích lưu vực 410 km2, lưu lượng lớn nhất là 917 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất là 602 m3/s, con sông này chảy dọc theo địa bàn huyện, đây là con sông chảy theo vùng phía Đông của huyện có một vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế nông nghiệp nhất là về phương diện thủy lợi và thủy điện

- Sông Ngàn Sâu: Chảy qua địa bàn huyện Vũ Quang khoảng hơn 25 km, lưu lượng lớn nhất là 2.250 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất là 1.039 m3/s, đây là con sông quan trọng của vùng phía Bắc huyện, nhất là các xã Ân Phú, Đức Giang, Đức Bồng, Đức Hương, Đức Liên

Hệ thống sông ngòi huyện Vũ Quang là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, đồng thời chứa đựng tiềm năng phát triển thủy điện Trên địa bàn huyện có 01 trạm thủy văn ở Hòa Duyệt - Đức Liên

Do địa hình đồi núi dốc nên trong quá trình có mưa to gây nên lũ quét và có ngập úng, ngoài ra hệ thống sông suối có độ dốc cao nên tập trung nước nhanh gây nên hiện tương xói lở, rửa trôi đất vào mùa mưa và hiện tượng lũ, hạn hán cục bộ vào mùa khô Do đặc điểm địa hình và khí hậu nên đã gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh hoạt của nhân dân, cũng như sản xuất nông - lâm nghiệp Điển hình như vùng thấp ven sông Ngàn Sâu, hầu như năm nào cũng có nơi ngập lũ sâu tới 1- 2m

Trang 37

Tuy nhiên xét về mặt giao thông thủy thì đây là đường thủy quan trọng nhất nối Vũ Quang với các địa bàn lân cận

3.1.2.5 Các nguồn tài nguyên

* Vùng đồi núi

- Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): Thuộc loại đất thịt, từng đất dày trên 1m độ

dốc lớn (trên 250), diện tích khoảng 20.000 ha, đất có thành cơ giới nhẹ và đất chua

(pHKCL: 3,88- 4,18) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt nghèo 0,86% Đạm tổng số

nghèo: 0,084% Lân tổng số trunng bình 0,057% Kali tổng số nghèo 0,49% Lân và Kali dễ tiêu nghèo (Tương ứng 3,2mg/100g đất và 6,1mg/100g đất) Tổng Cation

kiềm trao đổi rất thấp 1,9đl/100g đất Dung tích hấp thụ (CEC: 4,53 lđl/100g đất)

Nằm trên vùng núi cao thuộc dãy Trường Sơn, thuộc địa bàn các xã: Hương Quang, Hương Điền, Hương Thọ, cây trồng trên loại đất này chủ yếu là rừng tự nhiên

- Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs): Thuộc loại đất thịt trung bình, tầng đất dày, độ dốc

khoảng 150 đất có phản ứng chua đến ít chua (pHKCl: 3,35-4,25) Cation kiềm trao đổi

và dung tích hấp thụ thấp (Tương ứng 7,70 lđl/100g đất và < 9,00 lđl/100g đất) Hàm lượng hữu cơ ở tầng mặt đạt từ trung bình đến khá (2,47-4,08%) Đạm tổng số trung bình đến khá (Từ 0,169-0,263% và 9,70-18,6 mg/100g đất) Kali tổng số và Kali dễ tiêu nghèo (Từ 1,29-2,22% và 4,3-8,2 mg/100g đất) Lân tổng số nghèo (Từ 0,06-0,08%),

nhóm đất này chiếm diện tích lớn nhất, khoảng 70.000 ha nằm trên sườn và chân dãy Trường Sơn thuộc địa bàn các xã như Sơn Thọ, Hương Điền, Hương Quang Diện tích loại đất này có rừng tự nhiên, rừng trồng, đặc tính của loại đất này ở độ dốc vào khoảng

150 thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như: Thông, Gió, Trầm, Chè

Trang 38

Những vùng đất có độ dốc khoảng 100 thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vườn đồi đặc biệt là cây ăn quả lâu năm như: Cam, Bưởi, Vải và các loại cây ăn quả khác

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Thuộc loại đất thịt nhẹ tầng đất dày trên 70

cm thành phần cơ giới nhẹ, chua (pHKCl: 3,88 - 4,22) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình 1,55% Đạm tổng số trung bình (Tương ứng 0,117-0,56%) Kali tổng số nghèo 0,56% Lân và kali dễ tiêu nghèo đến trung bình (tương ứng 6,80 mg/100g đất– 12 mg/100g đất ) Tổng Cation kiềm trao đổi thấp 3,00 lđl/100g đất Dung tích hấp thụ thấp (CEC: 6,32 lđl/100g đất) Độ dốc trên 15o, thuộc địa bàn các xã như Hương Quang, Hương Điền, diện tích đất chủ yếu là rừng tự nhiên phòng hộ khoảng 14.000 ha

- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macmaaxit (Ha): Diện tích của loại đất này nhỏ,

khoảng 3.400 ha, phân bố trên đỉnh dãy Trường Sơn và nằm dọc theo đường biên giới với nước CHDCND Lào Đa số đất có tầng mỏng , thành phần cơ giới nhẹ có

phản ứng chua (pHkcl: 4,72-4,95) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt giàu 7,76% Đạm

và lân tổng số giàu (Tương ứng 0,42% và 0,24%) Kali tổng số nghèo 0,09% Lân

dễ tiêu giàu 17,02 mg/100g đất Kali dễ tiêu nghèo 5,50 mg/100g đất Tổng Cation

trao đổi thấp 3,90 lđl/100g đất Dung tích hấp thụ trung bình (CEC: 12,02 lđl/100g đất) Phân bố thuôc địa bàn các xã như Hương Quang, Hương Điền

- Đất sói mòn trơ sỏi đá (E): Đất bị rửa trôi mạnh nên tầng đất cứng, chặt

Độ phì nhiêu của đất mịn có sự biến đổi lớn, tùy thuộc vào độ dốc, địa hình, địa

chất, lớp thực vật Nhìn chung đất có phản ứng chua (pHKCl: 3,55-4,02) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt đất nghèo 0,76% Các chất tổng số (đạm, lân ,kali) đều nghèo (Tương ứng: 0,042%, 0,024% và 0,59%) Các chất dễ tiêu (lân, kali) đều nghèo Tổng Cation trao đổi thấp 4,68 mg/100g đất Dung tích hấp thụ thấp (CEC: 9,02 lđl/100g đất) Diện tích loại đất này khoảng 3.400 ha, phù hợp trồng keo trắng

và thông phân bố ở các xã như Đức Liên, Đức Hương, Đức Giang…

- Đất xám bạc màu trên đá Macmaaxit (Ba): Đất có thành phần cơ giới nhẹ,

có phản ứng chua ( pHKCl: 3,83-4,45) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình

1,44% Đạm tổng số trung bình 0,123% Lân tổng số nghèo 0,058% Kali tổng số trung bình 1,08% Lân dễ tiêu nghèo 4,10 lmg/100g đất Kali dễ tiêu trung bình:

Trang 39

16,90 mg/100g đất Tổng Cation trao đổi thấp 6,40 lđl/100g đất Dung tích hấp thụ

thấp (CEC: 7,98 lđl/100g đất) Loại đất này có diện tích không nhiều, phân bố nhỏ

lẻ theo núi đá vôi tại các xã như Ân Phú, Đức Lĩnh… đất này phù hợp trồng keo và cây thông

* Vùng đất thấp

- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tích loại đất này được phân bố

dọc theo sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố và sông Ngàn Trươi Đây là loại đất có phản ứng chua pHKCl 4,15-4,80 Hàm lượng hữu cơ ở các tầng đều nghèo 0,82-0,92%

Đạm tổng số cũng nghèo 0,056 - 0,093% Lân và kali tổng số trung bình (tương ứng 0,071 - 0,081% và 1,02 - 1,46%) Lân và kali dễ tiêu nghèo (tương ứng 4,01 - 4,80 mg/100g đất và 4,50 - 4,80 mg/100g đất) Tổng cation trao đổi thấp 8,70 - 9,20 lđl/100g đất Dung tích hấp thụ thấp (CEC: 4,20 - 6,85 lđl/100g đất) Diện tích đất

này trên toàn huyện Vũ Quang khoảng 3.000 ha, phân bố trên địa bàn các xã như Sơn Thọ, Ân Phú, Đức Lĩnh, Đức Giang, Đức Hương, Đức Liên

Đây cũng là phần diện tích trong sản xuất nông nghiệp trồng 2 - 3 vụ: Lúa xuân - Đậu chiêm - cây màu hè thu ở những nơi trồng cây công nghiệp ngắn ngày, đảm bảo được an toàn lương thực của huyện

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Thuộc loại đất thịt nhẹ, tầng đất

dày > 1m Đây là loại đất có phản ứng chua pHKCl 4,09 - 4,58 Hàm lượng hữu cơ

ở các tầng đều nghèo 0,17 - 0,57% Đạm tổng số nghèo 0,056% Lân tổng số và

Kali tổng số nghèo (tương ứng: 0,051- 0,84%) Kali dễ tiêu nghèo 4,70mg/100g đất

Lân dễ tiêu trung bình 5,80 mg/100g đất Tổng cation trao đổi thấp 4,6 lđl/100g đất

Dung tích hấp thụ thấp (CEC: 5,76 lđl/100g đất) Loại đất này được phân bố ở vàn

cao nên đã được dân cư trong vùng khai thác vào trồng lúa 1 vụ hoặc màu, ngoài ra còn làm đất ở

Diện tích loại đất này khoảng 4.000 ha, thuộc địa giới các xã như Đức Bồng, Đức Hương, Đức Liên và Hương Thọ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng rất phù hợp với cây ăn quả lâu năm, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế trang trại vườn đồi của huyện Vũ Quang trong những năm tới

Trang 40

- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Loại đất này có thành phần cơ

giới từ trung bình đến nặng, thành phần dinh dưỡng tương đối khá có độ ổn định cao, ít bị ảnh hưởng của quá trình bồi đắp của sông suối, địa hình

Đây là loại đất có phản ứng chua pHKCl 4,61 - 4,74 Hàm lượng hữu cơ ở các tầng mặt trung bình 1,32% Đạm tổng số trung bình 0,112% Lân tổng số giàu 0,158% Kali tổng số trung bình 1,01% Kali dễ tiêu nghèo 9,30 mg/100g đất Lân

dễ tiêu trung bình 4,70 mg/100g đất Tổng cation trao đổi thấp 6,10 lđl/100g đất

Dung tích hấp thụ trung bình (CEC: 12,25 lđl/100g đất)

Diện tích loại đất này khoảng 1.000 ha được nhân dân khai thác để trồng 2 vụ lúa, 1 lúa và 2 màu, diện tích được phân bố ở các xã như Hương Thọ, Hương Minh…

- Đất phù sa đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL): Đây là loại đất có

phản ứng chua pHKCL 4,52 - 4,85 Hàm lượng hữu cơ ở các tầng mặt khá 1,32% Đạm tổng số trung bình 0,152% Lân tổng số trung bình 0,073% Kali tổng số hơi nghèo 0,90% Kali dễ tiêu nghèo 4,40 mg/100g đất Lân dễ tiêu trung bình 5,20 mg/100g đất Tổng cation trao đổi thấp 2,30 lđl/100g đất Dung tích hấp thụ trung

bình (CEC: 6,76 lđl/100g đất) Loại đất này có diện tích khoảng 600 ha, thích hợp

trồng lúa, được phân bố trên địa giới các xã như : Đức Bồng, Đức Hương…

b Tài nguyên nước

* Nước mặt

Hàng năm trên lãnh thổ huyện tiếp nhận lượng nước mưa khoảng 6,2*109 m3nước tương đương lượng mưa 1.750 mm/năm nhỏ hơn mức trung bình của vùng Lượng nước mưa trên rải đều, nhưng có tới 90% tổng lượng mưa và 2/3 số ngày mưa trong năm diễn ra trong 5 tháng mùa mưa Một phần lượng nước này bị bốc hơi, phần còn lại 3,5*109 m3, ứng với lớp dòng chảy mặt trung bình cho toàn lãnh thổ khoảng 950 mm Tổng diện tích lưu vực của 2 sông chính (sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Trươi) và khoảng 76 hồ chứa khối lượng nước ước tính hàng chục tỷ m3/năm

* Nước ngầm

Theo số liệu của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh thì nguồn nước ngầm của huyện khá phong phú, các loại nước ngầm đều có chất lượng đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt Do là huyện miền núi nên quá trình phát triển kinh tế

Ngày đăng: 11/09/2015, 13:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Biểu đồ thực trạng phát triển các ngành kinh tế - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Hình 3.1. Biểu đồ thực trạng phát triển các ngành kinh tế (Trang 42)
Hình dân số trên địa bàn huyện tính đến 31/12/2013, thể hiện trong bảng: - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Hình d ân số trên địa bàn huyện tính đến 31/12/2013, thể hiện trong bảng: (Trang 43)
Bảng 3.1: Hiện trạng diện tích và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 (Trang 48)
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 (Trang 52)
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu trước và sau DĐĐT tại huyện Vũ Quang - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu trước và sau DĐĐT tại huyện Vũ Quang (Trang 62)
Bảng 3.5. Thực trạng ruộng đất trước và sau DĐĐT các xã nghiên cứu đại diện - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.5. Thực trạng ruộng đất trước và sau DĐĐT các xã nghiên cứu đại diện (Trang 64)
Bảng 3.7. Giá thầu đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.7. Giá thầu đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa (Trang 68)
Bảng 3.10. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng trước và sau chuyển đổi  Loại cây trồng - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.10. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng trước và sau chuyển đổi Loại cây trồng (Trang 71)
Bảng 3.11. Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.11. Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau DĐĐT (Trang 73)
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã nghiên cứu (Theo giá hiện hành) - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã nghiên cứu (Theo giá hiện hành) (Trang 76)
Bảng 3.13 . Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một  héc ta (ha)  đất nông nghiệp tại 3 xã điều tra - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất của hộ NÔNG dân SAU KHI dồn điền đổi THỬA tại HUYỆN vũ QUANG, TỈNH hà TĨNH GIAI đoạn 2005  2013
Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một héc ta (ha) đất nông nghiệp tại 3 xã điều tra (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w