Theo Luật đất đai 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau: - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây l
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Đạt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Châu Thu, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Yên Dũng, Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Yên Dũng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Dũng, Ủy ban nhân dân xã, cán bộ địa chính và cán bộ khuyến nông của 02 xã điều tra đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu bản
đồ trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Đạt
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp 3
2.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp 4
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 5
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp 8
2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 10
2.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam 12
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
2.3.1 Khái quát về vấn đề hiệu quả sử dụng đất 14
2.3.2 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp bền vững 15
2.3.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO 17
2.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 19
2.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 19
Trang 52.4.2 Nghiên cứu của Việt Nam 22
2.5 Công tác đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 22
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu liên quan đến sử dụng nguồn tài nguyên đất nông nghiệp 25
3.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng 25
3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng 25
3.3.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu 25
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu điểm 26
3.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 26
3.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu 28
3.4.5 Phương pháp so sánh 28
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 34
4.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 42
4.1.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất 43
4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiện tại của huyện Yên Dũng 46
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 46
4.2.2 Các loại hình sử dụng đất của huyện 48
4.3 Đánh giá hiệu qủa sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng 52
Trang 64.3.1 Hiệu quả về kinh tế 52
4.3.2 Hiệu quả về xã hội 59
4.3.3 Hiệu quả về môi trường 66
4.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng 73
4.4.1 Lựa chọn các LUT, kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao tại huyện Yên Dũng 73
4.4.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 76
4.4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất 77
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81
5.1 Kết luận 81
5.2 Kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 85
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân cấp hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất (tính cho 1 ha) 27
Bảng 3.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội (tính cho 1 ha) 28
Bảng 3.3 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường 28
Bảng 4.1 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp qua các năm 36
Bảng 4.2 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi huyện Yên Dũng 37
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng năm 2015 46
Bảng 4.4 Biến động diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng giai đoạn 2010-2015 47
Bảng 4.5 Một số cây trồng chính của huyện Yên Dũng năm 2015 48
Bảng 4.6 Các loại hình sử dụng đất của tiểu vùng 1 (tại xã Nham Sơn) 49
Bảng 4.7 Các loại hình sử dụng đất của tiểu vùng 2 (tại xã Tư Mại) 50
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 53
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 55
Bảng 4.10 Tổng hợp hiệu quả kinh tế các LUT của huyện Yên Dũng (tính trên 1 ha) 57
Bảng 4.11 Mức đầu tư lao động, tiếp thu khoa học kỹ thuật và chấp nhận của người dân theo tỷ lệ điều tra tại tiểu vùng 1 60
Bảng 4.12 Mức đầu tư lao động, tiếp thu khoa học kỹ thuật và chấp nhận của người dân theo tỷ lệ điều tra tại tiểu vùng 2 62
Bảng 4.13 Tổng hợp hiệu quả xã hội các LUT huyện Yên Dũng 64
Bảng 4.14 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 68
Bảng 4.15 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của một số cây trồng trên địa bàn huyện Yên Dũng 71
Bảng 4.16 Tổng hợp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 74
Bảng 4.17 Tồn tại hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất 77
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 29
Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Yên Dũng giai đoạn 2010 -2015 35
Hình 4.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Dũng năm 2015 45
Hình 4.4 Cây vải tại xã Nham Sơn 52
Hình 4.5 Ruộng trồng củ đậu tại xã Nham Sơn 54
Hình 4.6 Cánh đồng khoai tây vụ đông tại xã Tư Mại 56
Hình 4.7 Cánh đồng mía tại xã Nham Sơn 61
Hình 4.8 Cánh đồng lúa tại xã Tư Mại 62
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp;
+Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp;
- Phương pháp nghiên cứu điểm
- Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Hiệu quả kinh tế;
+ Hiệu quả xã hội;
+ Hiệu quả môi trường
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu
- Phương pháp so sánh
Kết quả nghiên cứu chính
• Khái quát địa bàn nghiên cứu liên quan đến sử dụng tài nguyên đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; địa hình, địa mạo; khí hậu; thủy văn; các nguồn tài nguyên như: đất, nước, rừng
- Điều kiện kinh tế xã hội: Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh tế; dân số, lao động, việc làm và thu nhập; thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng
Trang 11• Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
• Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Hiệu quả về kinh tế
- Hiệu quả về xã hội
- Hiệu quả về môi trường
• Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Yên Dũng
- Lựa chọn các LUT sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao;
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020;
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
• Kết luận chủ yếu của luận văn
- Huyện Yên Dũng có diện tích tự nhiên 19.174,38 ha, trong đó đất nông nghiệp
có diện tích 13.435,28 ha chiếm 70,07 % (chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp Trên địa bàn huyện có 7 loại hình sử dụng đất với 14 kiểu sử dụng đất khác nhau Đất chuyên lúa
là loại hình sử dụng đất phổ biến trên địa bàn huyện với tổng diện tích là 7.950 ha
- Kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Yên Dũng cho thấy:
Có nhiều loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao như loại hình sử dụng đất 1 lúa – 2 màu, loại hình sử dụng đất cây công nghiệp hàng năm Loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao nhất là loại hình sử dụng đất cây công nghiệp hàng năm với GTSX trung bình đạt 300,59 triệu đồng/ha, TNHH trung bình đạt 197,92 triệu đồng/ha Loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế thấp nhất là loại hình sử dụng đất cây ăn quả với GTSX trung bình đạt 5,4 triệu đồng/ha, TNHH trung bình đạt 4,2 triệu đồng/ha
Về hiệu quả xã hội: Loại hình sử dụng đất 1 lúa - 2 màu là loại hình sử dụng đất thu hút nhiều công lao động nhất Số công lao động trung bình của loại hình này là 1.113 công LĐ/ha; loại hình sử dụng đất thu hút ít công lao động nhất là cây ăn quả (cây vải) 83 công LĐ/ha
Hiệu quả môi trường: Mức độ bón phân cho cây trồng chưa phù hợp với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý Đa số các loại thuốc BVTV đều được sử dụng theo đúng chủng loại, tuy nhiên liều lượng sử dụng thuốc cho các loại cây trồng đều vượt
Trang 12tiêu chuẩn cho phép ghi trên nhãn bao bì của nhà sản xuất
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng theo hướng phát triển bền vững cụ thể: khuyến nông và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giống mới, thị trường và bảo vệ môi trường
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Thi Dat
Thesis title: Evaluating the agricultural land use efficiency in Yen Dung
district, Bac Giang province
Major: Land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives:
- Evaluating the agricultural land use efficiency in Yen Dung District, Bac Giang province
- Proposing the solutions for increacing the agricutural land use efficiency in Yen Dung District, Bac Giang province
Material and Methods:
Dissertation mainly used these methods listed as below
- Survey and data collection methods: Primary data collection; Secondary data collection; Directly interviewing household;
- Case study method;
- The methods used to assess the effectiveness of agricultural land use are socio – economic environmental efficiency assessment;
- An Integrated approach, analysis and data processing Method;
- Comparative method
Key research findings:
• Essential research area relating to resource use of agricultural land in the
district of Yen Dung
- Natural condition: Geographical location; topography, geomorphology; climate; hydrology; resources such as land, water, forest;
- Social and economic conditions: Economic growth and economic restructuring; the current status of economic development sectors; population, labor, employment and income; the status of infrastructure development;
- The situation of land management and land use in Yen Dung district
• Assessing the current state of agricultural land use and determining the
agricultural land use types in Yen Dung district
- Curent status of agricultural land use;
- The agricultural land types the district
Trang 14• Evaluating the effectiveness of agricultural land use in the Yen Dung
district
- Economic efficiency;
- The social efficiency;
- Environmental efficiency
• Proposing the measures to improve the efficiency of use of agricultural
land in the district of Yen Dung
- Selecting the high effective agricultural land use types;
- Orienting the agricultural land use by 2020;
- Some solutions to improve the efficiency of land use
• Conclusion
Yen Dung district has a natural area of 19,174.38 hectares, in which agricultural land has an area of 13,435.28 hectares occupies 70.07% (most land uesing for agricultural prodution) The district has 7 types of land use with 14 different kinds of land use Specialized land use types of rice is common ground in the district with a total area of 7,950 hectares
The research results on the effectiveness of agricultural land use in Yen Dung district are showed follow:
The highest economic effective land use types are: 1 rice - 2 subsidiary crops and annual industrial crops The land use type for annual industrial crops giving highest economic efficiency; the average annual production value is 300.59 million dong/ha; the average mixed income is 197.92 million dong/ha Type of land use for the lowest economic efficiency was the type of fruit land use the average annual production value
is 5,4 million dong/ha and the mixed income is 4,2 million dong/ha
Social efficiency: Land use type 1 rice - 2 subsidiary crops is the type of land use to attract the most labor The average number of employees was 1,113 labor/ha; type of land use to attract the less labor was fruits (litchi) about 83 labor/ha
Environmental efficiency: The level of fertilizer for crops was not suitable with rational and balanced fertilization standards The most of plant protection drugs are used according to type, however the doses used for crops are exceed the allowed standard packaging indicated on the label by the manufacturer
Some solutions to improve the efficiency of land use in Yen Dung district are towarded sustainable development in particular: the extension and application of science and technology in production, new varieties, marketing and environmental protection were proposed
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mọi sự sống trên trái đất Đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp, làm mặt bằng xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh, xây dựng đô thị và khu dân cư Cùng với sự phát triển của đất nước đất đai dược sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau và nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng lên Vì vậy, cần phải sử dụng đất hiệu quả và bền vững
Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ suy thoái ngày càng cao dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong sử dụng Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ
Do vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền nông nghiệp là chủ yếu như Việt Nam, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Huyện Yên Dũng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc giang, toàn huyện
có 19 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 19.174,38 ha, dân số trung bình năm 2015 là 136.925 người Bình quân diện tích đất đất canh tác đầu người trên địa bàn huyện chỉ còn dưới 1.000 m2 Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh Bắc Giang, Yên Dũng được xác định là một trong 04 huyện, thành phố trọng điểm của tỉnh Dẫn đến quỹ đất nông nghiệp của huyện ngày càng bị thu hẹp do công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển cơ
sở hạ tầng, sức ép tăng dân số, Vì vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trang 16Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
của huyện tôi tiến hành việc thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất những giải pháp giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tiến hành nghiên cứu toàn bộ quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Xác định được những ưu điểm, hạn chế trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện và lựa chọn được LUT/kiểu sử dụng đất hiệu quả làm cơ sở đề xuất sử dụng đất
- Thông qua các kết quả nghiên cứu có thể giúp địa phương tìm ra được loại hình sử dụng đất nào phù hợp nhất mang lại thu nhập giúp người nông dân cải tạo đời sống kinh tế xã hội
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2003)
Theo Luật đất đai 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất trồng cây lâu năm: cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả lâu năm, vườn tạp, cây lâu năm khác;
- Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
- Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định;
- Đất rừng đặc dụng là đất sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái;
- Đất nuôi trồng thủy sản là đất được sử dụng chuyên cho mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt;
- Đất làm muối là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối;
- Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống
và đất trồng hoa, cây cảnh
Trang 182.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng
là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Các Mác viết:“Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia Do vậy, đất nông
nghiệp nói riêng và đất nói chung có chức năng và vai trò sau:
a Đất được coi là yếu tố sản xuất
- Đất có thể được coi như một loại đầu vào (input) của quá trình sản xuất nông nghiệp
- Đối với sản xuất nông nghiệp đất vừa là cơ sở nền móng, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Ở đây đất được coi là một loại đầu vào đặc biệt quan trọng không gì thay thế, một tư liệu sản xuất chủ yếu
- Sử dụng đất phải xem xét kỹ yếu tố này trong quá trình sản xuất để phân
bố sao cho hợp lý nhằm sử dụng đất đạt hiệu quả cao, hạ giá thành sản phẩm
b Đất được coi là tài nguyên
- Đây là một loại tài nguyên quý hiếm, không có khả năng tự tái sinh Con người dù có cố gắng đến bao nhiêu cũng không thể tạo thêm ra đất
- Để khai thác sử dụng đất một cách hữu hiệu cần phải quan tâm đồng bộ đến cả môi trường sinh thái và xác định phương thức sử dụng đất hợp lý nhằm đáp ứng 2 yêu cầu cơ bản là hiệu quả và bền vững
c Đất được coi là tài sản
- Đất là một loại tài sản đặc biệt, người chủ tài sản này được hưởng những quyền lợi nhất định khi quản lí sử dụng nó
- Đối với nhà nước thì đất đai là tài sản quốc gia, nhà nước thống nhất quản
lí theo pháp luật và giao cho các chủ sử dụng
- Đối với chủ sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được hưởng các quyền sử dụng đất theo quy định của
Trang 19Luật đất đai: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp, quyền góp vốn
d Đất được coi là một loại hàng hoá
- Trong sản xuất xã hội đất cũng được coi như một loại hàng hoá và đất cũng có giá Giá đất được xác định trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp của nhiều yếu tố trong môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội, chẳng hạn như: vị trí địa lí, chất lượng đất, khả năng sinh lợi
- Đất là hàng hoá vì nó cũng tuân theo quy luật cung - cầu trong sản xuất xã hội qua các giai đoạn phát triển
- Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng đất không phải là thứ hàng hoá thông thường, việc trao đổi, chuyển nhượng đất đai trên thị trường phải do Nhà nước quản lí theo pháp luật
- Để thị trường đất ít biến động làm mất ổn định nền kinh tế xã hội thì Nhà nước phải thường xuyên xem xét, cải tiến, sửa đổi hệ thống chính sách, văn bản pháp luật đất đai cho phù hợp với sự phát triển của từng thời kỳ
- Có một mảnh đất trong tay coi như có một nguồn vốn để phát triển sản xuất
- Quy mô và giá trị đất của chủ sử dụng đất cũng biểu hiện quy mô vốn liếng của họ (Vũ Thị Bình, 2013)
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
2.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
* Đất nông cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý
Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
Để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây:
Trang 20+ Thực hiện đánh giá đất đai theo số lượng, chất lượng và các điều kiện gắn với đất đai làm cơ sở khoa học cho việc phân loại, bố trí quy hoạch sử dụng đất theo hướng khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương
+ Điều tra, đánh giá phân loại đất, một mặt nhằm đánh giá chính xác tiềm năng đất đai có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, mặt khác nhằm xác lập cơ
sở khoa học cho việc bố trí sử dụng đất đai
+ Đánh giá số lượng, chất lượng đất đai là hai mặt của điều tra cơ bản nguồn tài nguyên đất Đó là công việc cần thiết nhưng cũng rất tốn kém công sức tiền của Vì vậy cần tiến hành từng bước, có sự đầu tư và phối hợp với nhiều ngành khoa học khác nhau
+ Đẩy mạnh thâm canh nông nghiệp, đồng thời tích cực mở rộng diện tích bằng khai thác và tăng vụ
+ Phải sử dụng một cách tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, đặc biệt là việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác
+ Đẩy mạnh công tác chuyển đổi ruộng đất nhằm khắc phục tình trạng phân tán manh mún trong sử dụng đất
+ Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất, khuyến khích thực hiện phương thức “ai giỏi nghề gì làm nghề đó”
+ Phải kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo ruộng đất
+ Tăng cường quản lý Nhà nước đối với ruộng đất (Kỹ thuật nông nghiệp)
* Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích
đó
* Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều
Trang 21kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài (Phạm Vân Đình
và Đỗ Kim Chung, 1997)
2.1.3.2 Quan điểm về sử dụng đất nông nhiệp
- Sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm;
Theo nhận xét của Thạc sĩ Vũ Văn Nâm, Nhà Xuất bản Chính trị quốc
gia-Sự thật, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vấn đề quản lý sử dụng đất đai cũng bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế-xã hội như diện tích đất ngày càng thu hẹp, quản lý sử dụng kém hiệu quả, mất đất canh tác….Chính vì vậy, việc cần thiết là phải tập trung đất cho phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả cao và vấn đề việc làm, thu nhập của bộ phận nông dân không
có đất sản xuất Phân bổ đất đai hợp lý cho các ngành kinh tế khác nhau, nhất là mối quan hệ gữa đất trồng cây lương thực, đất trồng rừng, đất phi nông nghiệp, đất dịch vụ, đất chỉnh trang và phát triển đô thị (Tổng cục quản lý đất đai, 2015).Quỹ đất nông nghiệp rất có hạn về mặt diện tích, trong khi đó nhu cầu về nông sản ngày càng tăng lên Đồng thời nhu cầu chuyển một phần đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp cũng rất bức xúc trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Vì vậy sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp vừa là yêu cầu vừa
là biện pháp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai
- Đất đai được sử dụng thông qua quy hoạch và kế hoạch, vừa đảm bảo tính thống nhất về quản lý của Nhà nước vừa phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất;
- Đất đai phải được phân bổ sử dụng cân đối giữa các ngành, nhưng cần được ưu tiên cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp để vừa đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, vừa thoả mãn nhu cầu nông sản phẩm cho toàn xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông sản hàng hoá xuất khẩu;
- Hạn chế sự mất đất đang sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất đang trồng lúa mặc dù nhu cầu CNH- HĐH ngày càng cao
- Trong sử dụng đất nông nghiệp cần sử dụng theo quan điểm: tích cực khai hoang mở rộng diện tích từng bước đi đôi với thâm canh, tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật (giống, phân bón, bảo vệ thực vật…), thích ứng với thị trường… để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao;
- Sử dụng đất phải gắn với bảo vệ, cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu đất đai, duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái để sản xuất phát triển bền vững
Trang 222.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp
a Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
- Nguồn nước và chế độ nước: Là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: Điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng
là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
- Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người
b Nhóm yếu tố về biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1994) thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trang 23Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000) ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXi, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế (Đường Hồng Dật, 1994) Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
c Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi
và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc
sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có
Trang 24những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới
Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả
2.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra (Phạm chí Thành, 1998) Theo P.Buringh, toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ
ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác
Trang 25Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng châu á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng
407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40 - 60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu
về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm Trên toàn thế giới diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp càng ngày càng giảm dần trong khi đó dân số càng ngày càng tăng Vì vậy, để có đủ lương thực
và thực phẩm cung cấp cho nhân loại trong tương lai thì việc khai thác số đất có khả năng nông nghiệp còn lại để sử dụng là vấn đề cần được đặt ra Theo các chuyên gia trong lĩnh vực trồng trọt cho rằng với sự phát triển của khoa học và
kỹ thuật như hiện nay thì có thể dự kiến cho đến năm 2075 thì con người mới có
thể khai phá hết diện tích đất có khả năng nông nghiệp còn lại đó
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP cho ta thấy đây
là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia Asean (Ngô Văn Nhuận, 1985)
Theo Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), bên cạnh hiện tượng thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do sa mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, mất rừng, việc chuyển đổi đât nông nghiệp không bền vững sẽ làm tình trạng sản xuất nông nghiệp rơi vào tình
trạng trầm trọng hơn trong vòng luẩn quẩn: suy thoái đất – mất đa dạng sinh học
– biến đổi khí hậu – hiệu quả sử dụng đất thấp – tăng cường khai thác đất – suy thoái đất Cùng với mức tăng dân số và sự gia tăng hàng loạt nhu cầu của con
Trang 26người về các sản phẩm của nông nghiệp thì cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững đã đem lại nhiều thất bại
Tóm lại, đất nông nghiệp trên thế giới đã không nhiều so với tổng diện tích
tự nhiên, lại bị sử dụng kém hiệu quả và kém bền vững dẫn tới nhiều hệ lụy xấu cho hiện tại và tương lai Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do con người.Qua nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng tăng cường quản lý và sử dụng đất theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay
2.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Với 70% dân số sống ở khu vực nông thôn, việc phát triển nông nghiệp vừa là mục tiêu, động lực, vừa là công cụ, giải pháp hiệu quả
để nâng cao đời sống của cư nông thôn, bảo vệ môi trường
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2014, Việt Nam có tổng diện tích
tự nhiên là 33.096.700 ha, trong đó đất nông nghiệp là 26.822.900 ha chiếm 81,05%, đất phi nông nghiệp là 3.796.900 ha chiếm 11, 47 %, đất chưa sử dụng là 2.476.900 ha chiếm 7,48 % tổng diện tích tự nhiên; dân số là 90.728.900 người; bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2956,4 m2/ người So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào sản xuất nông nghiệp rất thấp Là một nước
có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất
có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Đất nông nghiệp ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ trọng đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, chiếm 67,1% diện tích toàn vùng và vùng
đất nông nghiệp ít nhất là vùng Duyên hải miền Trung Đất nông nghiệp chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của đất tại các vùng nên độ phì và độ màu mỡ của đất nông nghiệp giữa các vùng cũng khác nhau Đồng bằng Sông Hồng với Đồng bằng Sông cửu Long đất đai ở hai vùng này được bồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ, mỗi năm đất phù sa bồi tụ ở Đồng bằng Sông Cửu Long thêm 80m Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phần lớn là đất bazan
Trang 27Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ phân mảnh đất đai cao nhất so với khu vực và thế giới Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52ha, trong khu vực là 0,36ha thì ở Việt Nam là 0,25ha Sau mỗi hai chục năm, tình trạng phân mảnh tăng gấp đôi Sự phân mảnh còn dẫn đến tình trạng lãng phí đất đai được sử dụng làm ranh giới,
bờ bao Con số này không dưới 4% diện tích canh tác
Quỹ đất nông nghiệp tiếp tục suy giảm do công nghiệp hóa và đô thị hóa Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn hécta, trong khi mỗi năm số lao động bước ra khỏi ruộng đồng chỉ vào khoảng 400 ngàn người hơn nữa, mức gia tăng dân số ở nông thôn không giảm nhiều như mong đợi, khiến cho bình quân đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm mạnh Hiện quỹ đất chưa sử dụng có thể tiếp tục khai thác ở nước ta còn không đáng kể Trong khi đó biến đổi khí hậu có khả năng làm cho diện tích đất
có thể sử dụng có nguy cơ bị thu hẹp
Vấn đề quản lý, sử dụng đất đai đang bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế-xã hội như diện tích đất ngày càng thu hẹp, quản lý sử dụng kém hiệu quả, mất đất canh tác….(Huy Thông, 2015)
Để phát triển bền vững nông nghiệp, trong năm 2015 và những năm tới, cần thực hiện một số mục tiêu và giải pháp đột phá sau:
Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông
nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới Phải đặt người nông dân vào vị trí trung tâm và vai trò chủ thể để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; có cơ chế, chính sách thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân và giữa nông dân với doanh nghiệp, hình thành cánh đồng mẫu lớn, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ
Thứ hai, thực hiện quy hoạch nông nghiệp theo hướng dựa vào thị trường
mở, không nên cố định diện tích lúa, nên bảo tồn diện tích đất nông nghiệp
Thứ ba, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, nhất là ở vùng sâu và
xa Chú trọng các giải pháp bảo đảm an ninh dinh dưỡng hơn là chỉ tập trung vào
Trang 28phát triển lương thực, thực hiện các giải pháp tạo việc làm gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới
Thứ tư, để chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, cần tập trung
vào các lĩnh vực: nâng cao năng lực quản lý và ứng phó rủi ro liên quan đến thời tiết và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cũng như các rủi ro về thị trường
Thứ năm, thực hiện các biện pháp như tăng cường đầu tư công vào các công
trình phòng, chống thiên tai, giảm tác động bất lợi về môi trường, tăng cường quản lý nước thải nông nghiệp, tăng cường áp dụng các biện pháp giảm khí thải nhà kính; quán triệt tư duy nền kinh tế xanh trong phát triển nông nghiệp (Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, 2015)
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.3.1 Khái quát về vấn đề hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả là một vấn đề rất phức tạp, ở mỗi khía cạnh nghiên cứu khác nhau
có hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả khác nhau Nếu đánh giá đúng đắn sẽ kích thích sản xuất phát triển và tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong các hoàn cảnh cụ thể Sản xuất muốn phát triển phải quan tâm tới cả 3 loại hiệu quả, trong
đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc
* Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả được quan tâm hàng đầu, khâu trung tâm
để đạt các loại hiệu quả khác Có khả năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế,
tài chính Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích
đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
* Hiệu quả xã hội: Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế Khó lượng hoá toàn bộ vấn đề, được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân Cụ thể:
Trang 29- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ theo hướng sản xuất nông sản hàng hoá
- Mức độ giải quyết công ăn việc làm thể hiện ở số công lao động cần thiết của loại hình sử dụng đất trong một chu kỳ kinh tế
- Giá trị ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất
- Khả năng ổn định thị trường đối với các chủng loại sản phẩm, số lượng tiêu thụ, giá cả, mức độ cung ứng đầu vào, đầu ra của sản xuất
- Mức độ phù hợp với năng lực sản xuất của nông hộ, việc nâng cao trình
độ và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất
* Hiệu quả môi trường: Là hiệu quả bảo đảm tính bền vững cho sản xuất,
xã hội Là vấn đề đang được nhân loại quan tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất
và môi trường sinh thái
2.3.2 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất: Đó là mục đích tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn Trên thực tế có nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau trong đó có các kiểu sử dụng đất chủ yếu như trồng cây hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, trồng rừng, cảnh quan du lịch, Ngoài ra còn có sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng có thể là tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi
Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp, liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hiện tại và tương lai Sử dụng đất bền vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thức đẩy phát triển nông thôn
Ngày nay, sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng, có tính
toàn cầu bởi vì:
Trang 301.Tài nguyên đất vô cùng quý giá Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất nông- lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân Cho dù khoa học kỹ thuật có hiện đại đến đâu thì con người vẫn phải sống dựa vào đất.
2 Tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi Toàn lục địa chỉ có 13.340 triệu hec-ta (trừ 1.360 ha đóng băng vĩnh cửu); trong đó phần lớn
có nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, bị phèn, ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc bom đạn chiến tranh Hiện diện tích đất có khả năng canh tác là 3.030 triệu héc ta
3.Diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do
áp lực tăng dân số, do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa mang lại Bình quan diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới là 0,23 ha, nhiều quốc gia châu
á, Thái Bình dương là 0,15 ha, Việt Nam là 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác
4 Do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả cuả chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm đãn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác (Anh phương, 2008)
Quan điểm sử dụng đất bền vững là sử dụng đất phải đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng trong tương lai Mục tiêu sử dụng đất bền vững:
+ Đạt hiệu quả kinh tế: Tạo ra sản phẩm nhiều hơn trên một đơn vị chi phí; giá trị sản phẩm tăng thêm lớn hơn trên một đơn vị chi phí tăng thêm
+ Đảm bảo sử dụng lâu bền: Tạo ra lợi ích ngày càng cao và lâu dài - sử dụng đất bền vững
+ Bảo vệ môi trường sinh thái: Sử dụng đất đi đôi với bảo đảm độ che phủ
rừng, đa dạng sinh học
Yêu cầu sử dụng đất bền vững: Sử dụng những tài nguyên có khả năng tái tạo không nhanh hơn khả năng tự tạo của chúng; Sử dụng những tài nguyên không tái tạo không nhanh hơn quá trình tìm kiếm tài nguyên thay thế, Không thải những chất độc hại nhanh hơn quá trình hấp thu và đồng hoá của trái đất
Trang 31Ở nước ta, một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
- Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu
mỡ của đất ngăn chặn thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội phát triển
2.3.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO
Theo quan điểm của FAO đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của
bề mặt trái đất có ảnh hưởng đến hiện trạng và tiềm năng sử dụng đất
Theo FAO (1976): Đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có
* Loại hình sử dụng đất:
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định
Những loại hình sử dụng đất có thể hiểu nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính hoặc có thể mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử đất Loại hình sử dụng đất (Land Use Type – LUT): Là loại hình đã được phân chia nhỏ riêng biệt từ các loại hình sử dụng đất chính Nó là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả chi tiết và rõ ràng theo các thuộc tính nhất định như: thuộc tính sinh học, quy trình sản xuất, đặc tính về quản lý đất đai (sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật ) và các đặc tính về kinh tế, kỹ thuật, xã hội (định hướng thị trường, vốn đầu tư, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai)
* Nội dung chính của đánh giá các loại hình sử dụng đất:
- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại Việc mô tả các loại hình sử dụng đất liên quan đến các thuộc tính sau: Các chính sách và mục tiêu
Trang 32phát triển của vùng đánh giá đất; những hạn chế trong sử dụng đất; những nhu cầu của người sử dụng đất; các điều kiện về kinh tế, xã hội và điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Đánh giá dựa theo các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc thích nghi: Mức độ thích hợp của đất đai cho các loại hình sử dụng đất cụ thể
+ Nguyên tắc kinh tế:Việc đánh giá cần phải có sự sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau: phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, máy móc , đánh giá về kinh tế, xã hội và môi trường
+ Nguyên tắc đa ngành: Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp, nghĩa là có
+ Nguyên tắc so sánh giữa các kiểu sử dụng đất: Đánh giá dựa trên cơ sở so sánh nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau, từ đó chọn lựa ra loại hình sử dụng đất tối ưu
Các chỉ tiêu cần phân tích, đánh giá các loại hình sử dụng đất là:
+ Chỉ tiêu về kinh tế: Tổng chi phí, tổng thu nhập, thu nhập thuần, thu nhập hỗn hợp;
+ Chỉ tiêu về xã hội: Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng các lợi ích cho người nông dân; đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế và sử dụng đất trong vùng; thu hút lao động nông nghiệp, giải quyết việc làm cho người dân; tăng cường sản phẩm hàng hóa xuất khẩu; vấn đề định canh định cư, chuyển giao các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
+ Chỉ tiêu về môi trường: Phân tích các ảnh hưởng của các loại sử dụng đất đến môi trường nhằm tìm hiểu khả năng suy thoái của môi trường khi sử dụng chúng Thường phân tich các tác động chính sau: Xói mòn, nguyên nhân gây thoái hóa đất, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Trang 33- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng Khi nghiên cứu các loại
sử dụng đất đã có sẵn và các thuộc tính của chúng, ta thường làm bảng liệt kê danh mục các loại sử dụng đất và các thuộc tính của chúng Các thuộc tính liệt kê còn được mô tả sơ bộ một cách định tính như lực lượng lao động cao, trung bình, thấp, thiết bị kỹ thuật đầu tư tốt, vừa phải hay kém Bảng liệt kê các loại sử dụng đất có thể gồm: Các loại sử dụng đất có ý nghĩa thực tiễn trong vùng; các loại sử dụng đất có triển vọng cả với các vùng lân cận, có cùng điều kiện sinh thái nông nghiệp và kinh tế - xã hội; các loại hình sử dụng đất có triển vọng dựa vào kinh nghiệm của các nhà khoa học nông nghiệp và nông dân; các loại hình sử dụng đất có triển vọng dựa vào các kết quả nghiên cứu thí nghiệm trong vùng Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng cần đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:
+ Được sự xác nhận của các nhà khoa học nông nghiệp và quản lý sản xuất vùng cho rằng loại sử dụng đất đó là tốt cho vùng
+ Có thể giải quyết được lực lượng lao động tại chỗ trong vùng tại thời điểm mùa vụ của các LUT
+ Các LUT đó đáp ứng được nhu cầu thị trường với giá cả hợp lý và ổn định không – có hiệu quả về kinh tế
+ Các LUT có đạt hiệu quả trong điều kiện phương thức sử dụng đất của Luật đất đai
+ Các LUT lựa chọn được chính người nông dân chấp nhận và có phù hợp với các hệ thống canh tác hiện tại và tương lai của họ
+ Các vấn đề về đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, tín dụng, phương tiện vận chuyển cho các LUT có đáp ứng trong suốt quá trình thực hiện chúng không? (Huỳnh Văn Chương, 2011)
2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Nghiên cứu trên thế giới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia
Trang 34Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đống đều giữa các châu lục và các nước (châu
Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%) Diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục về số lượng
và chất lượng Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra Dân số thế giới tăng nhanh nhưng tiềm năng đất nông nghiệp thế giới lại có hạn Vì vậy để có đủ lương thực và thực phẩm cho nhu cầu của con người phải bảo vệ và có định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá là đất đai cho sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Văn Thông, 2002)
Châu Á, mặc dù chiếm 1/2 dân số thế giới nhưng chỉ có khoảng 20% đất nông nghiệp toàn cầu Từ năm 1995 đến năm 2010 dân số Đông Nam Á dự kiến
sẽ tăng thêm 133 triệu người và khu vực này có thể dành thêm 12 đến 15 triệu ha của 93 triệu ha tiềm năng đất nhờ nước trời còn lại để sản xuất (Hội Khoa Học Đất Việt Nam 2000) Diện tích đất canh tác giảm dần do áp lực từ nhiều phía của quá trình đô thị hoá, khai thác khoáng sản
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, tổng sản lượng lương thực sản xuất
ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân
bô không đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người
Dẫn theo Nguyễn Đình Bồng (1995), hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ
ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000m2 Trong đó ở Mỹ 20.000m2, ở Bungari 7000m2, ở Nhật Bản 650m2 Theo báocáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha
* Nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở một số nước:
Trang 35- Hà Lan: Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt Đất
ít lại trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu Do đó, Hà Lan đã dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất
Quỹ đất ít, “tấc đất, tấc vàng”, Hà Lan đã áp dụng công nghệ “dùng vốn thay đất” Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành hệ thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới Nhà kính đã tiết kiệm đất (thậm chí có nơi không dùng đất), lại có thể khống chế hoàn toàn điều kiện tự nhiên Ngoài ra, với quỹ đất ít, Hà Lan áp dụng công nghệ “tăng diện tích đất”, tập trung áp dụng các biện pháp thâm canh cao, nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích, tạo ra năng suất cao gấp nhiều lần năng suất bình quân thế giới
- Thái Lan: Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan lấy nông nghiệp là
bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mục tiêu cốt lõi là tạo
ưu đãi “tam nông” để ổn định chính trị xã hội Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân được coi trọng hướng đến Vì vậy, mặc dù bình quân diện tích đất canh tác nông nghiệp Thái Lan gấp 4 lần Việt Nam nhưng nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lực nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằn không chỉ dành cho cây ngô, lúa nương mà nhiều loại lúa cao sản đã được triển khai
và cho năng suất cao
- Đài Loan: Vấn đề quan trọng nhất đối với Đài Loan trong chính sách đất đai là làm thế nào để phối hợp với sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý và có hiệu quả, duy trì sự cân bằng, điều hoà giữa các lợi ích tổng thể và lợi ích cá nhân, bảo vệ lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai Đài Loan chủ trương phải giữ một diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất lương thực, bảo tồn sinh thái tự nhiên và khoảng không cây xanh Phát triển các sản phẩm nông nghiệp mang tính dân tộc có khả năng sinh lợi cao, đồng thời dựa vào công nghiệp mở rộng các loại hình sản xuất nông nghiệp sử dụng vốn và
kỹ thuật tập trung
Trang 362.4.2 Nghiên cứu của Việt Nam
Từ những năm 90, với đường lối đổi mới của Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các học giả nghiên cứu tìm hiểu
về đất và tài nguyên đất, giống cây trồng, vật nuôi để từ đó đưa ra những mô hình
sử dụng đất hiệu quả và bền vững Đó là tiền đề cho quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam của Phạm Duy Ưng và Nguyễn Khang (1993), đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Nguyễn Viết Phổ, Trần An Phong và Dương Văn Xanh (1996), phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu và Trần Thị Tú Ngà (1990)
Ngoài ra phải kể đến những công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế về thị trường hàng hóa, về thị trường nông sản như: Vũ Thị Ngọc Trân (1997) - phát triển nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng; Đỗ Kim Chung (1999) - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn ở các vùng kinh tế lãnh thổ Việt Nam; Tô Đức Hạnh và Phạm Văn Linh (2000) - Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tạp chí hoạt động khoa học số 1(536)/2004, Bộ KH&CN, ISSN 0866-7152 (Đào Châu Thu, Nguyễn ích Tân, 2004) những công trình nghiên cứu này góp phần đẩy mạnh quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa cũng như tạo hướng phát triển thị trường nông sản (Phạm Thu Hà, 2014)
2.5 CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
Bắc Giang có tổng diện tích đất tự nhiên là 382.200 ha, bao gồm123.000 ha đất nông nghiệp, 110.000 ha đất lâm nghiệp, 66.500 ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại khoảng 82.700 ha là các loại đất khác, trong đó nhóm đất
đỏ vàng chiếm diện tích lớn hơn cả khoảng 63,13% diện tích tự nhiên Nguồn tài nguyên đất được chia làm 6 nhóm đất chính: Đất phù sa, đất bạc màu, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất xói mòn Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng là miền núi và trung du có đồng bằng xen
kẽ Vùng miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang; trong đó 1 phần các
Trang 37huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Sơn Động là vùng núi cao địa hình chia cắt mạnh, phức tạp chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè ; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản Vùng trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) gồm 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc Giang có địa hình
là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tùy theo từng khu vực Vùng trung du
có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc với dân số trên 1,5 triệu người tập trung sống ở khu vực nông thôn (chiếm khoảng 90%), sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu hướng vào những chương trình, mục tiêu phát triển nông nghiệp hàng hóa và bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, đã có những nghiên cứu tập trung vào khai thác thế mạnh về điều kiện tự nhiên đặc biệt là tài nguyên đất đai cho phát triển nông nghiệp
Thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020” Trong sản xuất nông nghiệp đã phát huy lợi thế điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai của từng địa phương gắn với đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ thâm canh trong sản xuất, từng bước gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa của tỉnh Tốc độ tăng trưởng bình quân 4,0% năm, sản lượng lương thực có hạt vượt mục tiêu Đại hội đề ra, giá trị sản xuất trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt 86 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2010 Cơ cấu ngành Nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, một số mô hình hợp tác sản xuất, liên kết chế biến, tiêu thụ sản phẩm đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất trong nông nghiệp, đã hình thành một
số vùng sản xuất rau quả hàng hóa tập trung như: Vải thiều Lục Ngạn, lúa thơm Yên Dũng, Lạc giống Tân Yên, Nấm Lạng Giang, Cam đường Canh, Bưởi Diễn Lục Ngạn, Rau cần Hiệp Hòa, Chè Yên Thế, hoa cây cảnh thành phố Bắc Giang, nhiều mô hình sản xuất cho thu nhập cao từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha/năm như: Mô hình trồng cam Vinh, cam đường Canh tại huyện Lục Ngạn, sản xuất rau cần xã Hoàng Lương huyện Hiệp Hòa, mô hình trồng hoa cây cảnh tại xã Dĩnh Trì - TP Bắc Giang, mô hình sản xuất rau an toàn tại phường Đa Mai - TP Bắc Giang
Trang 38Trong chăn nuôi thủy sản phát triển theo hướng bán công nghiệp gắn với áp dụng quy trình an toàn sinh học, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.Tổng đàn lợn đạt 1,2 triệu con là 1 trong 2 tỉnh lớn nhất cả nước, đàn gia cầm 16,1 triệu con đứng thứ 4 cả nước Vùng gà đồi Yên Thế thường xuyên từ 4-5 triệu con, hàng năm xuất bán ra thị trường trong và ngoài tỉnh khoảng 13.000 tấn Một số trang trại chăn nuôi cho thu nhập từ 6-8 tỷ đồng/năm như ở Ngọc Vân - Tân Yên, Tân Thanh - Lạng Giang, Tự Lạn - Việt Yên, Hùng Sơn - Hiệp Hòa
Trong sản xuất lâm nghiệp Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh đẩy mạnh việc giao rừng cho thuê rừng, tạo điều kiện áp dụng các kỹ thuật thâm canh tiên tiến Đưa một số giống mới có chất lượng vào trồng rừng kinh tế Trong 5 năm toàn tỉnh đã trồng mới được gần 30.000 ha rừng tập trung nâng tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn đạt 37,1% (Nguyễn Văn Khái, 2015)
Những nghiên cứu trên địa bàn tỉnh như:Nghiên cứu xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng phục vụ thâm canh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý sử dụng bền vững tài nguyên đất nông nghiệp tỉnh Bắc Giang của Nguyên Thành Long (2015), Viện Thổ nhưỡng nông hóa; Xác định cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên vùng đất bạc màu Bắc Giang của Phùng Gia Hưng (2012), Đại học Nông nghiệp Hà Nội; thuyết minh bản đồ đất tỉnh Bắc Giang do Viện quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ NN&PTNT) xây dựng năm 2005
Trang 39
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Không gian: Toàn bộ quỹ đất sản xuất nông nghiệp trong địa giới hành chính của huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian: Từ 1/2015 – 12/2015
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu liên quan đến sử dụng nguồn tài nguyên đất nông nghiệp
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; địa hình, địa mạo; khí hậu; thủy văn; các nguồn tài nguyên như: đất, nước, rừng
- Điều kiện xã hội: Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh tế; dân số, lao động, việc làm và thu nhập; thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng
3.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Hiệu quả về kinh tế
- Hiệu quả về xã hội
- Hiệu quả về môi trường
3.3.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết
Trang 40cho các mục đích nghiên cứu như: các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; các tư liệu về kinh tế xã hội thông qua các nguồn số liệu thu nhập ở các phòng ban chức năng (phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… huyện)
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thông qua việc tiến hành điều tra các nông hộ bằng phương pháp phỏng vấn nông hộ qua phiếu điều tra nhằm tìm hiểu đánh giá tình hình sản xuất, hình thức canh tác của các loại cây trồng, xem xét hiện trạng
sử dụng đất Thu thập số liệu theo các tiêu chí:
+ Hiệu quả kinh tế : Tổng thu, tổng chi, thu nhập hỗn hợp, ngày công lao động
+ Hiệu quả xã hội: Giải quyết công ăn việc làm, mức độ chấp nhận của người dân, tiếp thu khoa học kỹ thuật
+ Môi trường: Phân bón, thuốc BVTV
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu điểm
Trong các phương pháp nghiên cứu, chọn điểm nghiên cứu được xem là bước quan trọng nhất, bởi kết quả nghiên cứu có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào sự lựa chọn này Điểm nghiên cứu phải là điểm phù hợp với yêu cầu của nội dung cũng như mục tiêu mà đề tài đặt ra
Toàn huyện có 19 xã và 2 thị trấn với địa hình được chia ra thành 2 vùng rõ rệt là vùng miền núi và vùng đồng bằng Vùng miền núi chủ lực về cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp; vùng đồng bằng chủ lực về sản xuất cây lương thực, rau màu theo hướng hàng hóa Nếu nghiên cứu toàn huyện là rất rộng Do vậy, chọn ra 2 xã đại diện cho 2 vùng nghiên cứu trên địa bàn huyện là: + Xã Nham Sơn đại diện cho tiểu vùng 1 (vùng miền núi)
+ Xã Tư Mại đại diện cho tiểu vùng 2 (vùng đồng bằng)
Sau khi đã xác định được các xã đại diện cho các điểm điều tra, tiến hành điều tra nông hộ Tổng số hộ điều tra là 100 hộ, mỗi xã điều tra 50 hộ
3.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
- Hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp thì cần áp dụng một
số các chỉ tiêu chính sau đây:
+ Giá trị sản xuất trên 1ha đất nông nghiệp (GTSX/1ha)