Với mong muốn, phát huy hết lợi thế của từng vùng, khu vực trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào
Tôi cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Anh Dũng
Trang 4Không biết nói gì hơn tôi xin phép được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy giáo, cô giáo, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt nam, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Xuân Thành người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo UBND huyện, cám ơn lãnh đạo và chuyên viên các phòng: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tài nguyên&Môi trường, Thống kê, Tài chính - Kế hoạch, Dân số, Trung tâm khí tượng thuỷ văn, cán bộ và nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Anh Dũng
Trang 51.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 4
1.1.2 Chính sách đất nông nghiệp sau thời kỳ đổi mới cho đến nay 6 1.1.3 Quan hệ đất đai trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
1.2.3 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh 22
2.2.1 Điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Động 29 2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền
Trang 62.3.3 Phương pháp xử lý thông tin số liệu và phân tích 31
3.1.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 41
3.2.3 Một số khó khăn và thách thức sau dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Động 48
3.3 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện dồn điền
3.3.1 Việc sử dụng đất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra sau dồn điền đổi thửa 53 3.3.2 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi
3.3.3 Hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa góp phần nâng cao hiệu
3.3.4 Việc sử dụng đất sau dồn đổi góp phần bảo vệ môi trường 70 3.4 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 73
3.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN&TTCN Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trang 83.4 Tổng hợp kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Động 45 3.5 Sự thay đổi diện tích đất canh tác của huyện sau dồn điền đổi thửa 47 3.6 Một số kết quả của dồn điền đổi thửa tại các xã điều tra 51
3.8 Số lượng trang trại tại các xã, thị trấn nghiên cứu đại diện 55
3.11 Sự thay đổi trong cơ cấu lao động, thu nhập của nông hộ 59 3.12 Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính của 3 xã nghiên cứu trước
3.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một héc ta đất nông nghiệp tại 3 xã
3.14 Mức độ đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao
3.15 Kết quả điều tra, phỏng vấn hộ dân đối về dồn điền đổi thửa 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.5 Khu Công nghiệp tại TT Lương Bằng thu hút nhiều lao động 60
3.7 Vùng sản xuất 2 lúa-1 mầu hiệu quả kinh tế cao tại xã Đức Hợp 68 3.8 Vùng sản xuất chuyên mầu hiệu quả kinh tế cao tại xã Đức Hợp 68
3.10 Mô hình trang trại chuyên trồng cây ăn quả tại Đức Hợp 69 3.11 Mô hình lúa – cá hạn chế sử dụng thuốc BVTV tại xã Vũ Xá 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như William Petty từng nói “Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải
vật chất” Điều đó cho thấy đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội, trong sản xuất nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất rất đặc biệt không gì thay thế được Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của
hộ sử dụng đất đai đang là vấn đề mang tính cấp bách và lâu dài của nước ta, nó mang tính thời sự cả về tính kinh tế và xã hội hết sức nhạy cảm, nên việc quản lý sử dụng đất đai luôn phát sinh những vấn đề hết sức phức tạp
Với mong muốn, phát huy hết lợi thế của từng vùng, khu vực trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ trương của Đảng và nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện “dồn điền đổi thửa” trên cơ sở tự nguyện, đồng thuận để phục vụ tốt cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, nhằm phát huy tối đa hiệu quả sản xuất, nâng cao giá trị cuộc sống và thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp
Sau khi đất nước được giải phóng, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng Đảng
ta xác định CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp như khoán 10, khoán 100 với mục đích khoán sản phẩm đến người lao động và coi các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra bước ngoặt lớn Việt Nam từ một nước nghèo phải nhập lương thực đã trở thành một nước xuất khẩu lương thực đứng hàng đầu thế giới với 4 -5 triệu tấn gạo /năm Năng suất bình quân, sản lượng hàng chục năm nay cứ năm sau cao hơn năm trước
Tuy nhiên vấn đề ruộng đất đang bộc lộ những tồn tại những nảy sinh mới cản trở sự phát triển Đó là tình trạng đất đai manh mún, phân tán khó áp dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hoá, thuỷ lợi, đầu tư dẫn đến năng suất lao động và năng suất đất đai thấp Thấy được những hạn chế đó nhiều hộ đã tự đổi ruộng cho nhau, có hộ đã đi mua, đi thuê và đấu thầu của hộ khác để ruộng của hộ mình rộng hơn Việc tập trung
Trang 11ruộng đất giúp người sản xuất thuận tiện hơn trong đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy chuyển đổi ruộng đất, chống mang mún phân tán, tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH nông thôn Mô hình cánh đồng mẫu lớn bắt đầu được Bộ NN&PTNT phát động xây dựng tại các tỉnh ĐBSCL vào tháng 3/2011 và được các địa phương, doanh nghiệp, nông dân hưởng ứng tích cực Hầu hết các CĐML đã thực hiện ở Nam bộ đều thành công tốt đẹp cả về tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và tiêu thụ thuận lợi, tăng thu nhập cho nông dân Trong đó, điển hình là kết quả thực hiện CĐML ở TP Cần Thơ, trong vụ Đông Xuân 2011-2012, với tổng diện tích 1.852 ha ở 3 huyện và 1.200 hộ tham gia đã đem lại lợi nhuận cho các nông gia tham gia tăng từ 28,3- 38,8% Trong vụ Hè Thu 2012, các địa phương ở Nam bộ đang tiếp tục mở rộng CĐML
Nhận biết rõ được những hạn chế của việc đất đai manh mún, phân tán và hiệu quả của việc dồn điền đổi thửa, nhiều địa phương đã thực hiện phong trào khuyến khích các hộ nông dân dồn đổi ruộng ô thửa nhỏ thành ruộng ô thửa lớn dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng uỷ, UBND các cấp Những địa phương đi đầu trong phong trào này có thể kể đến như: Thanh Hoá, Hà Tây (nay là Hà Nội), Nam Định, Bắc Ninh, cho đến nay, phong trào dồn điền đổi thửa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong
cả nước và được ủng hộ đồng tình của đông đảo các hộ dân
Hòa trong không khí chung của cả nước, huyện Kim Động nói riêng, tỉnh Hưng Yên nói chung đã tiến hành dồn điền đổi thửa, phân bố lại ruộng đất Tuy nhiên, những tác động của dồn điền đổi thửa tới sản xuất nông nghiệp như thế nào, hiệu quả có tốt hơn không, có tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng các nguồn lực tốt nhất không, có thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là những vấn đề đặt ra sau dồn điền đổi thửa cần được đánh giá
Xuất phát từ những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện dồn
Trang 12điền đổi thửa tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
3 Yêu cầu của đề tài
- Sử dụng bộ phiếu điều tra nông hộ để đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội
và môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp sau khi dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;
- Chỉ ra được những thuận lợi, hạn chế trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của nông dân tại huyện Kim Động
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Hiến pháp 2013 quy định,“ Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý…” “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật…”
Qua mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lý và sử dụng đất ngày càng rõ ràng và cụ thể hơn Tại Hội nghị Trung ương 2, khoá VII, tháng 3/1992 đã nêu rõ: việc dồn đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển sản xuất hàng hoá, đi đôi với mở rộng phân công, phân bố lao động Từ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã thể chế hoá bằng những văn bản pháp luật đối với việc quản lý và sử dụng đất nói chung và việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, cụ thể:
- Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001
- Luật đất đai năm 2003 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2009
- Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành
- Nghi định 64/1993/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 27/9/1993 “ về
việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, trong đó đã qui định rõ các nguyên tắc giao đất, đối tượng được giao đất, thời hạn giao đất và hạn mức đất được giao cho các tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân”
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng
dẫn thi hành luật đất đai năm 2003, tại Điều 102 đã nêu “ Hộ gia đình, cá nhân sử
Trang 14dụng đất nông nghiệp do Nhà nước giao đất hoặc dồn đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì được dồn đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng
xã, phường để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp” Việc chuyển đổi quyền sử
dụng đất nông nghiệp không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước
bạ, lệ phí địa chính đã tạo điều kiện cho việc tích tụ ruộng đất hay đã bước đầu hình thành việc dồn điền đổi thửa
Chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước về việc dồn đổi
ruộng đất thực hiện “dồn điền đổi thửa” trong nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tích tụ và tập trung đất đai Tuy nhiên, văn bản pháp luật thường ban hành chậm, thường là sau khi tổng kết, đánh giá hiệu quả cụ thể tại một số đơn vị làm điểm Chính phủ chưa có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể, việc dồn điền đổi thửa chủ yếu do các tỉnh, huyện tự triển khai thực hiện ( Bộ Tài nguyên& MT, 2003)
1.1.1 Chính sách đất nông nghiệp trước thời kỳ đổi mới
Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam luôn có mối quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng đất đai Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản năm 1930 đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt
Nam là “ Đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xóa bỏ chế độ phong
kiến giành ruộng đất cho nông dân”
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính là đất
sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Ở nông thôn phân làm 2 tầng lớp chính là địa chủ
và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ
Sau khi Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam, năm
1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ nhiều loại thuế, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, việt gian phản động để chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ
Năm 1954 kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp, đất nước bị chia cắt làm 2
Trang 15miền, hòa bình được thiết lập ở miền bắc và bắt đầu thực hiện chương trình cải cách ruộng đất, nhằm công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, đồng
thời tiến hành chia lại ruộng đất cho nông dân với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”
Tháng 8/1955 Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng khóa II đã thông qua chủ trương xây dựng thí điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Ở loại hình hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất
Năm 1965 với chủ trương tiếp tục củng cố HTX nông nghiệp Quy mô HTX ngày càng mở rộng với mô hình HTX liên thôn, HTX quy mô toàn xã Mô hình trên
đã thích ứng với điều kiện thời chiến, tuy nhiên phương thức điều hành theo lối hành chính đã phát sinh yếu tố độc đoán, chuyên quyền, mệnh lệnh đã kìm hãm sản xuất, nông dân vẫn không quan tâm đến hiệu quả sử dụng đất, sản xuất trì trệ,
đời sống tiếp tục gặp nhiều khó khăn Từ đó bắt đầu xuất hiện hình thức “khoán
hộ” tại Vĩnh Phúc, tuy nhiên do trái với quy định chung đã bị phê phán và đình chỉ
Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh
để lại cùng những hậu quả trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung trong nông nghiệp Trong thời kỳ này, hiệu quả kinh tế giảm do người nông dân thiếu chủ động trong sản xuất, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2% thì dân số tăng từ 2,2-2,35%/ năm đã dẫn đến việc phải nhập khẩu lương thực mà vẫn không đảm bảo, tình trạng đói nghèo ngày càng tăng (Lê Quang Huyền, 2002)
1.1.2 Chính sách đất nông nghiệp sau thời kỳ đổi mới cho đến nay
Việt Nam trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc khi kinh tế đất nước không có khả năng phát triển, nguy cơ xã hội chủ nghĩa bị đổ vỡ khi phương thức sản xuất cũ duy trì quá lâu Vì vậy đã xuất hiện những phương thức sản xuất mới, bắt đầu bằng Chỉ thị
100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoán 100) Thực hiện Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động, sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra
và ngày công đóng góp Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của
Trang 16HTX Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/năm trong suốt giai đoạn 1981-
1985 Nhưng sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-1988 chỉ
là 2,2%/năm Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn
cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào
bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai (BCH TW Đảng, 1981).
Tháng 4 năm 1988, Nghị quyết 10 (Khoán 10) của Bộ Chính trị được ban hành để giải quyết các vấn đề trên Người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất được
sở hữu dưới hình thức cá thể Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975
Cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền sử dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được luật pháp thừa nhận làm nảy sinh một loạt vấn đề liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp Để giải quyết các vấn đề trên Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời
Trong suốt thời kỳ đổi mới, nhiều chính sách và văn bản luật liên quan đến việc sử dụng đất đai đã ra đời, quan trọng nhất đó là Luật Đất đai năm 1993, sau đó
là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai năm 2003; Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề về đất đai
Theo Luật Đất đai 2013, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất với
8 quyền gồm quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế, quyền tặng cho, quyền thế chấp và quyền góp vốn quyền sử dụng đất Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 50 năm đối với cây
Trang 17hàng năm và cây lâu năm Luật cũng quy định hạn mức giao đất đối với hộ nông dân,
cụ thể đối với cây hàng năm là 2 ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10 ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30 ha đối với vùng trung du và miền núi (Quốc Hội, 2013)
Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các hộ Đến năm
2011, đất sản xuất nông nghiệp đã cấp 16.173.096 GCN, diện tích 8.316.529 ha chiếm 85,1% Đối với đất rừng năm 2011 đã cấp 2.629.232 GCN, diện tích
10.371.482 ha chiếm 86,3% (Báo cáo hội nghị ngày 29/11/2011- Bộ TNMT)
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT từ năm 1986 - 2005 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm, năm 2006-2010 tăng 5%, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia Năm 2011 trong 47 triệu tấn lương thực đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn gạo
1.1.3 Quan hệ đất đai trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Việc đổi mới phương thức điều tiết quan hệ đất đai từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường, về thực chất là một quá trình giải phóng sức lao động và sức sử dụng đất đai Nó gắn liền với hai quá trình chủ yếu sau đây:
- Quá trình hình thành các thị trường về tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động, bất động sản, trong đó có đất đai và sản phẩm nông nghiệp
- Quá trình hình thành và phát triển của các chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế
Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn từ mô hình hợp tác xã đã tập thể hoá triệt để đất đai và các tư liệu sản xuất khác trong sự điều hành quản lý tập trung đến sự ra đời của “Khoán 100”, “Khoán 10” tại Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương lần thứ VI đã khẳng định: “Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ” Xét
về bản chất đây là sự điều chỉnh một bước rất cơ bản quan hệ sở hữu trong nông
Trang 18nghiệp, trong đó có quan hệ đất đai và các tư liệu sản xuất khác Các hộ nông dân được quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, còn đất đai được giao ổn định lâu dài Tuy nhiên bước phát triển tiếp theo của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường đang đặt ra những yêu cầu mới, nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ đất đai, đó là:
- Sự đòi hỏi phân phối bình quân đã tạo nên sự manh mún về đất đai, nhất là đồng bằng Bắc bộ và những nơi đất chật người đông, mâu thuẫn với việc phải tích
tụ tập trung đất đai tới những quy mô hợp lý cho sản xuất hàng hoá trong nền kinh
tế thị trường với mục tiêu hiện đại hoá nền nông nghiệp
- Sức ép về dân số và lao động tăng khi sự phân công lao động ở trình độ thấp trong khi ngành nghề và dịch vụ còn chậm phát triển
- Năng lực vốn, năng lực sản xuất, kinh doanh của đa số hộ nông dân còn rất thấp, đặc biệt là qua một thời gian dài trong cơ chế tập trung, bao cấp Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất đai
Xét về xu thế phát triển của nền kinh tế quốc dân trong những năm tới đòi hỏi sẽ phải rút bớt lao động và dân số sống bằng nông nghiệp Như vậy, quan hệ đất đai phải được nhìn nhận và giải quyết theo quan điểm phát triển
Để tạo cho quan hệ đất đai vận hành trong nền kinh tế thị trường thì trước tiên phải làm rõ là mối quan hệ giữa Nhà nước và người nông dân về vấn đề đất đai, việc “Người cày có ruộng” là một thành quả vĩ đại của Cách mạng, tuy nhiên quan
hệ đất đai trong cơ chế cũ đã bộc lộ tính kém hiệu quả của nó Vấn đề đặt ra là phải xác định một cấu trúc mới của quan hệ đất đai về thực chất là xác định rõ quyền năng của Nhà nước và quyền của các hộ nông dân Do tính chất đặc biệt, quan hệ đất đai có hai phương diện chủ yếu sau:
- Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên không thể thay thế được của mỗi quốc gia, là không gian sinh tồn của cả dân tộc Do đó, cả Nhà nước và mọi công dân phải có quyền và nghĩa vụ bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, nó phải là kết quả
Trang 19đầu tư lao động sống, vốn, công sức cải tạo, của con người, trong nhiều trường hợp được truyền từ đời này sang đời khác ngay trong một gia đình
Với mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH phải đổi mới quan hệ sở hữu đất đai theo 3 tiêu chí chủ yếu như sau:
+ Đảm bảo quyền quản lý tối cao của Nhà nước và lợi ích quốc gia đối với mọi loại đất đai và mọi sự vận động của quan hệ đất đai
+ Xác định quyền làm chủ thực sự của các hộ nông dân trong sử dụng đất bao gồm cả quyền sử dụng ổn định, lâu dài, quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế,
quyền chuyển đổi, quyền thế chấp bảo lãnh
+ Đưa quan hệ đất đai vào quan hệ thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước để từng bước hình thành thị trường bất động sản
Sẽ không thể phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá trong nền kinh tế thị trường nếu quan hệ đất đai bị “đóng băng” và tiếp tục bị manh mún hơn sau mỗi lần phân chia ruộng đất Nếu yêu cầu bất kỳ ai ở nông thôn cũng phải có đất canh tác thì toàn bộ nền kinh tế nước ta khó có thể chuyển sang kinh tế nông nghiệp hàng hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và sẽ không thể nào có bước đổi mới căn bản về cơ cấu kinh tế của đất nước nói chung cũng như cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng ( Hội khoa học kinh tế Việt nam, 1998)
Sự chuyển đổi quy mô, cơ cấu ruộng đất ở nông thôn hiện nay là bước khởi đầu quan trọng, làm tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Thông qua sự chuyển đổi ruộng đất, tạo ra các ô thửa có quy mô diện tích đủ lớn, song song với việc quy hoạch lại đồng ruộng, hoàn thiện hồ sơ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân
sẽ tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh cho quan hệ đất đai vận động trong cơ chế thị trường, đảm bảo cho Nhà nước quản lý được sự vận động này
Nền nông nghiệp càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá càng đẩy mạnh thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, hoặc đất trồng lúa sang đất trồng cây công nghiệp, làm màu, làm vườn, chăn nuôi, thúc đẩy quan hệ đất đai theo hướng sử
Trang 20dụng hợp lý hơn, có hiệu quả hơn
Việc chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là điều kiện tiền đề quan trọng trong quan hệ đất đai vận động theo những quy luật kinh tế khách quan Đất đai được tích tụ tập trung một cách hợp lý vào những người chủ có năng lực sản xuất, kinh doanh thực sự có hiệu quả Đồng thời, chính quá trình này sẽ là một trong những động lực thúc đẩy sự phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng “ai giỏi nghề gì thì làm nghề đó”, từng bước rút bớt lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.2.1 Manh mún đất đai và nguyên nhân của nó
1.2.1.1 Khái niệm manh mún đất đai
Manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển và ở Việt Nam, manh mún đất đai được coi là rào cản của sự phát triển trong nông nghiệp, nhất là trồng trọt Manh mún đất đai được hiểu trên hai khía cạnh:
Một là, sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một hộ nông dân có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng
Hai là, sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản
xuất khác ( Bộ Nông nghiệp& PTNT, 2003)
Cả hai kiểu manh mún trên dẫn đến tình trạng hiệu quả sản xuất thấp, khó ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, do vậy đất đai sử dụng kém hiệu quả
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất
Tình trạng manh mún ruộng đất chủ yếu do các yếu tố: như lịch sử, địa hình,
áp lực dân số, thừa kế Ở Việt Nam, thực chất của tình trạng đất nông nghiệp manh mún hiện nay là do trước đây việc chia đất canh tác cho nông dân theo Nghị định 64/CP được thực hiện theo phương châm: “Có gần có xa, có xấu có tốt, có cao,
có thấp” Tâm lý của người nông dân là muốn có sự công bằng giữa các hộ cả về
Trang 21các yếu tố thuận lợi trong canh tác như: độ phì nhiêu của đất đai, mức độ thuận lợi trong giao thông, thủy lợi, hiệu quả kinh tế từ các mảnh ruộng mang lại và cả những yếu tố bất lợi như: khả năng tưới, tiêu nước, đất chua mặn, đất canh tác ở xa khu dân cư cũng được chia đều cho các hộ nông dân, dẫn đến việc một hộ dân sở hữu trên 10 thửa ruộng nằm rải khắp các xứ đồng Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ
+ Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ
+ Các chân đất thường hay bị úng, hạn, chua do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng
"thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro" nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng
Manh mún có thể được tạo ra do điều kiện địa hình Chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho con cái, ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi tách hộ, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ Áp lực từ gia tăng dân số, nhất là những vùng nông dân ít có cơ hội tìm việc làm phi nông nghiệp
Một nguyên nhân khác để nông dân duy trì tình trạng manh mún là do nhận thức họ cho rằng có thể sử dụng hiệu quả lao động thời vụ hơn, mặc dù lao động nói chung đang dư thừa ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng vào những lúc chính vụ như thời kỳ gieo trồng, thu hoạch và vụ đông thì nhu cầu về lao động cũng rất cao, nông dân có thể giảm thời điểm căng thẳng bằng cách đa dạng hoá cây
Trang 22trồng trên các mảnh khác nhau; một lợi ích tiềm năng khác của manh mún là người
sử dụng đất có thể thế chấp hoặc bán một phần quyền sử dụng đất của họ; cũng có thể có khả năng là chi phí giao dịch để giảm manh mún đất đai rất cao cho nên nông dân quyết định không thực hiện các giao dịch đất này nhằm làm giảm mức độ của manh mún ( Lê Quang Huyền, 2002)
1.2.1.3 Manh mún đất đai và giải pháp khắc phục ở nước ngoài
a) Ở Nhật Bản
Trước năm 1960, mỗi hộ nông dân Nhật Bản có nhiều thửa ruộng với diện tích bình quân từ 500m2 - 1000 m2 Nhật Bản đã nhận thấy được những hạn chế do tình trạng manh mún, phân tán đất đai trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và sức kéo gia súc Thu nhập giữa lao động nông nghiệp và lao động của các ngành khác có sự chênh lệnh đáng kể Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành luật cơ bản về nông nghiệp với ba mục tiêu là: rộng, chắc chắn và sâu Để đạt được mục tiêu đặt
ra, Nhật Bản đã tiến hành dồn đổi ruộng đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau thành những
ô thửa ruộng có quy mô lớn, trong việc dồn đổi thì đứng trên ba giác độ: cùng giá trị, cùng vị trí và cùng diện tích, trong đó giá trị là yếu tố chính Yêu cầu một thửa ruộng sau khi dồn đổi phải đạt diện tích tối thiểu 3000 m2 nhưng phải tiếp giáp với mương, máng, đường giao thông Quá trình dồn đổi này kéo dài từ 5- 6 năm, hình thức thực hiện dồn đổi là do tổ hợp cộng đồng nông nghiệp từ 15 hộ trở lên đứng ra xin phép và Uỷ ban nông nghiệp cấp tỉnh có quyền cho phép Kết quả của quá trình dồn đổi này là mỗi hộ bình quân có 1,8 thửa trên hộ Việc dồn đổi xử lý đất nông nghiệp đã làm tăng năng suất của máy móc nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất lao động của nông dân để nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp Hiện nay việc dồn đổi đất được tiếp tục khuyếch trương lên, diện tích mỗi thửa là 10.000 m2 - 20.000m2 ( Đặng Quang Cường, 1998)
b) Ở Đài Loan
Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối
Trang 23đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29ha/trang trại Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất ( Tổng cục địa chính, 1998)
c) Ở Indonesia
Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh mún Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5ha Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản
lý Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó Ở Indonesia nói riêng và Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xẩy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả
Trang 24các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu
tư thêm lao động giảm xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê đất Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế ( Tổng cục địa chính, 1998)
d) Ở Châu Âu và các nước phát triển khác
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy
mô 35 ha/hộ Ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 ( Tổng cục địa chính, 1998)
1.2.1.4 Manh mún ruộng đất ở Việt Nam
Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt, có xấu, có xa, có gần, đã làm cho số thửa ruộng tăng gấp 2 lần so với khi thực hiện khoán 100, làm cho đất đai ngày càng manh mún, số diện tích trên thửa nhỏ
Theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính trung bình cả nước, một hộ
sử dụng 0,72 ha đất nông nghiệp và diện tích 1.045m2/ thửa Nhưng nếu chỉ xét riêng khu vực miền Bắc thường từ 13-25 thửa Đây là một thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cả nước hiện có khoảng 7.843
ha đất nông nghiệp chia thành 75 triệu mảnh cho 10.824 nghìn hộ Tính trung bình cả nước, một hộ sử dụng 0,72ha đất nông nghiệp và diện tích mỗi mảnh là một 1.045m2 Nhưng nếu chỉ xét riêng khu vực miền Bắc thường từ 13-25 thửa, ngay trên một số
Trang 25đồng một hộ cũng có nhiều thửa Có thể nói đó là một thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là theo hướng sản xuất hàng hoá (Bộ TNMT, 2003)
Bảng 1.1: Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
Diện tích bình quân (m 2 )/ thửa Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)
Kết quả điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cũng đã phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 7 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Qua bảng 1.2 ta thấy tỉnh Nam Định có tổng số thửa trung bình nhỏ nhất là 5,7 thửa/hộ, diện tích/ thửa tương đối cao 288 m2/thửa Ở Hải Dương trung bình là
11 thửa/hộ và diện tích trung bình 252 m2/thửa
Bảng 1.2: Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
Diện tích bình quân m 2 /thửa
Ít nhất Nhiều nhất Trung bình nhất Nhỏ nhất Lớn Trung bình
(Nguồn: Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2002)
1.2.1.5 Nguyên nhân manh mún ruộng đất ở Việt Nam
Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam phải kể đến là sự phức tạp trong địa hình, địa mạo đất đai ở mỗi địa
Trang 26phương và mật độ dân số Do được khai phá từ rất sớm, ruộng đất của các làng, xã
đã bị các đê phân cắt thành ô thửa có địa hình cao thấp khác nhau Mỗi làng, mỗi xã đều có ruộng cao, ruộng thấp khác nhau và ruộng vàn khá phức tạp, dân số đông dẫn đến tình trạng manh mún
Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế bằng cách chia đều ruộng đất cho tất cả con cái, ở Việt Nam ruộng đất của bố mẹ thường chia đều cho tất cả các con cái sau khi tách từ ở chung ra ở riêng
Nguyên nhân thứ 3 phải kể đến tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Nhìn chung do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại đứng trước mỗi thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất Kết quả điều tra của trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia năm 2001 cho thấy ở đồng bằng có đến 86,5% số
hộ được hỏi không muốn điều chỉnh lại ruộng đất cho phù hợp với sản xuất
Và nguyên nhân cuối cùng mà hầu như tất cả những ai quan tâm đến sự manh mún ruộng đất đều nhất trí, đó là nguyên nhân liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần, có thấp, có cao khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ về giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân Việc chia nhỏ các ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở Việt Nam
1.2.1.6 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý đất đai
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây không ít khó khăn cho người nông dân và các nhà quản lý, chỉ đạo sản xuất Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dồn đổi ruộng đất từ thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn Các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất Có thể khái quát những ảnh hưởng bất lợi như sau:
+ Quy mô ruộng đất gây nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất, phát triển cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thực hành thâm canh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 27+ Gây lãng phí diện tích canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính trung bình phải mất từ 3 - 5% diện tích đất canh tác dùng để làm bờ vùng, bờ thửa
+ Gây cản trở cho quy hoạch giao thông, thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng khác phục
vụ sản xuất nông nghiệp
+ Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Tình trạng manh mún ruộng đất đã hạn chế việc thực hiện các quyền sử dụng đất của hộ nông dân chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, Vì vậy cũng cản trở quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất để thực hiện mục tiêu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Tích tụ tập trung ruộng đất
1.2.2.1 Một số vấn đề về tích tụ tập trung ruộng đất
Tích tụ tập trung ruộng đất là tập hợp các thửa đất nhỏ thành những thửa đất lớn, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp góp phần tăng năng suất lao động, hàng hoá và giảm chi phí sản xuất, giá thành nông sản Tùy theo chính sách, mức độ tích tụ tập trung ruộng đất ở mỗi quốc gia có sự khác nhau
Hay nói cách khác, tích tụ tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn Tích tụ tập trung ruộng đất diễn
ra theo hai con đường đó là:
Một là, hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ
sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua việc xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây
Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản
Trang 28Việc tích tụ tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai Mặt khác, tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận
lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác
1.2.2.2 Tích tụ tập trung ruộng đất ở một số nước trên thế giới
Bảng 1.3 Tích tụ tập trung ruộng đất quy mô trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm 1998)
Để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước
như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đai của
từng tỉnh, huyện Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường
b) Ở một số nước Châu Á
Các nước thuộc Châu Á, bình quân ruộng đất ít, quy mô trạng trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như ở các nước Âu, Mỹ Ngay ở Nhật Bản là một nước có trình độ công nghiệp hoá cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình trạng như vậy
Trang 29Bảng 1.4 Tình hình tích tụ tập trung ruộng đất ở một số nước Châu Á
(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm 1998)
* Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán ruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương này nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, họ có kinh nghiệm đáng quan tâm là hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân Một
hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con
* Ở Đài Loan, có kinh nghiệm đáng chú ý về biện pháp tích tụ ruộng đất trong điều kiện ruộng đất có hạn Thời gian bắt đầu công nghiệp hoá, nông dân đi làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp thu nhập cao hơn làm nông nghiệp thuần, nhưng không muốn giao ruộng cho người khác thuê để sử dụng, vì họ sợ cho thuê sau này không đòi lại được Một số nông dân đi làm công nghiệp, uỷ thác cho anh
em hoặc bạn bè thân tín canh tác trên ruộng của mình, với giao kèo lúc nào đòi lại phải trả ngay Chính quyền thấy cách làm này tạo điều kiện tích tụ ruộng đất mà nông dân yên tâm không sợ mất ruộng nên đã đưa ra Quốc hội thông qua Luật “Sản xuất uỷ thác” trong nông nghiệp Bộ Luật này đã thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất ở Đài Loan
Kinh nghiệm chung của các nước là tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giải quyết việc làm cho lực lượng nông dân cho thuê hoặc bán ruộng cho người khác Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làm ngoài nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ( Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1998)
Trang 301.2.2.3 Tích tụ tập trung ruộng đất và chuyển đổi ruộng đất ở Việt Nam
Hiện nay, vấn đề hạn mức và tích tụ ruộng đất cũng đang trở thành vấn đề thời sự trong nông nghiệp nước ta
Tại Điều 129 - Luật Đất đai năm 2013, có đề cập đến vấn đề hạn mức giao đất nông nghiệp Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình cá nhân không quá 3 ha cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 ha cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi gia đình cá nhân đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng không quá 10 ha; đối với các xã, phường, thị trấn ở Trung du, Miền núi không quá 30 ha (Quốc Hội, 2013)
Hạn mức đất sản xuất nông nghiệp như trên là phù hợp với điều kiện quỹ đất và khả năng đầu tư sản xuất của các hộ nông dân ở nước ta hiện nay Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện hạn điền theo nguyên tắc vừa sử dụng có hiệu quả, vừa không để nông dân bị bần cùng hoá do không có đất sản xuất, vừa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất hợp lý theo tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp
Để giải quyết mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh giữa chính sách hạn điền và chủ trương thúc đẩy tích tụ ruộng đất trong quá trình công nghiệp hoá, trong báo cáo tại
kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá X, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu: “Chính sách
hạn điền cần được xem xét với điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau, không cản trở bước tiến ban đầu sang nền nông nghiệp sản xuất lớn Đồng thời, ngăn chặn việc cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân nghèo bằng các thủ đoạn chèn ép Phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp hàng hoá và các ngành nghề khác ở nông thôn để giúp hộ nông dân thiếu đất lập nghiệp mới hoặc có việc làm và thu nhập ” (Bộ
Nông nghiệp&PTNT, 2003)
Việc tích tụ tập trung ruộng đất diễn ra do một số nguyên nhân sau:
Một là, các hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và quản lý kinh doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất
Trang 31Hai là, các hộ do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn không hiệu quả, không đảm bảo được cuộc sống trên ruộng đất được giao nên chuyển nhượng, cho thuê để đáp ứng yêu cầu trước mắt hoặc chuyển sang để làm các ngành nghề khác
1.2.3 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới kinh tế từ năm 1986, với mục tiêu chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản và lần đầu tiên công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác, ngoại trừ đất đai và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân với thời hạn là 15 năm Các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nền nông nghiệp Việt Nam bước vào giai đoạn tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một
số quyền sử dụng đất khác chưa được luật hoá Điều này dẫn đến nông dân ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Việc giao đất trên nguyên tắc duy trì sự công bằng, nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo nhân khẩu Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất như các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Để đảm bảo nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 - 8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10 – 20 thửa Năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng ĐBSH đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn đổi (Tổng cục địa chính, 1998)
Trang 32Kinh nghiệm công tác dồn điền đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Có nghĩa việc dồn điền đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn
1.2.3.1 Thực hiện dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh trong nước
Sau Hội nghị chuyên đề về dồn đổi đất nông nghiệp do Tổng cục Địa chính
tổ chức tại Hà Tây cũ (7/1997), phong trào dồn đổi đất nông nghiệp được mở rộng ở nhiều tỉnh như Thanh Hoá, Bắc Ninh, Phú Thọ, Nghệ An, Hải Phòng, Hải Dương Một số tỉnh, huyện đã chủ động đề ra chủ trương dồn đổi đất nông nghiệp bằng Nghị quyết của Tỉnh uỷ, kế hoạch triển khai của UBND tỉnh, hướng dẫn dồn đổi đất nông nghiệp ở từng huyện, xã Tại tỉnh Phú Thọ chọn 4 xã Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên (Phong Châu) và xã Trung Vương (TP Việt Trì) tổ chức làm thí điểm và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm 60 xã ở các vùng khác nhau
Tại Bắc Ninh, thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về việc vận động nông dân dồn đổi đất nông nghiệp cho nhau Toàn tỉnh xác định 450 thôn cần chuyển đất nông nghiệp trong đó đến hết năm 1998 có 237 thôn đã hoàn thành đạt 52% số thôn, còn 217 thôn triển khai vào đợt tiếp theo
Huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá là một trong những huyện đi đầu và làm
tốt công tác dồn đổi đất nông nghiệp để thực hiện cùng một lúc nhiều mục tiêu như khắc phục tình trạng đất manh mún, giảm số thửa ruộng trên mỗi hộ; kết hợp quy
hoạch lại đồng ruộng phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá; tập trung lại đất công của từng xã nằm tản mạn trong các hộ để sử dụng vào các mục đích khác
Đầu năm 1998, Huyện mở cuộc vận động đổi điền, dồn thửa ở tất cả các xã, thị trấn Uỷ ban nhân huyện tiến hành thành lập Ban chỉ đạo “đổi điền, dồn thửa” do đồng chí Chủ tịch UBND huyện trực tiếp chỉ đạo, Phó Chủ tịch kinh tế làm Trưởng ban điều hành, Phòng Địa chính là thường trực chỉ đạo Sau khi làm thí điểm ở 2 xã, huyện Thọ Xuân đã tổ chức hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm và triển khai diện rộng
Trang 33Sau 3 tháng triển khai, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1999 có 100% số xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã cơ bản hoàn thành việc “đổi điền, dồn thửa” Số thửa rộng giảm từ
329000 xuống còn 152000 thửa (giảm 54%), bình quân mỗi hộ còn 3,2 thửa; quy
mô 1 thửa rộng đã được nâng lên từ 272,52m2 lên 586,61m2
Nhằm thực hiện dồn đổi ruộng đất một cách có kế hoạch, có cơ sở khoa học
và hiệu quả, ngày 17/7/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
94/2002/QĐ-TTg giao cho các cơ quan chức năng của Chính phủ hướng dẫn các địa
phương thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V, khoá IX Nhờ sự chỉ đạo tích cực của các địa phương, việc dồn điền đổi thửa đã thu được một số kết quả:
- Đã có 18 tỉnh, thành phố, 80 huyện và trên 700 xã, phường tiến hành vận động nông dân dồn đổi ruộng đất Nhiều tỉnh đã có Chỉ thị, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của UBND tỉnh về dồn đổi ruộng đất, xây dựng kế hoạch triển khai, thành lập ban chỉ đạo dồn đổi ruộng đất từ tỉnh xuống đến huyện,
xã và đơn vị cơ sở Các ban ngành chuyên môn hướng dẫn triển khai thực hiện việc dồn điền đổi thửa
- Dồn điền đổi thửa đã làm giảm số thửa đất và tăng diện tích bình quân mỗi thửa Tổng hợp bước đầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở 18 tỉnh cho thấy số thửa đất giảm đi bình quân 50 - 60%, nơi giảm ít là trên 40%, nơi giảm nhiều là 80% Bình quân số thửa trên hộ là 2 - 4 thửa, nơi ít giảm 1 thửa, nơi nhiều giảm 6 - 7 thửa/hộ Diện tích bình quân mỗi thửa đã tăng lên gần 600m2 - 1000m2,
có thửa đạt tới 1- 2 ha(Bộ Tài nguyên& Môi trường, 2003)
1.2.3.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh trong nước
Qua tham khảo kết quả nghiên cứu trong luận văn của một số tác giả về đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại một số tỉnh cho thấy đều cho hiệu quả tốt hơn cả trên cả 3 tiêu chí hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể:
- Nguyễn Quôc Tuấn (2013) chỉ ra được hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa:
Trang 34+ Đã khắc phục sự mang mún về ruộng đất;
+ Các diện tích đất sản xuất kém hiệu quả được đào ao thả cá kết hợp với trồng lúa ở giữa từ đó làm cho diện tích lúa cá tăng lên cho hiệu quả kinh tế cao gấp 1,5 đến 2 lần so với trồng lúa và hoa mầu nên đã số các hộ đều muốn thuê muợn và đấu thầu thêm đất để chuyển sang mô hình nuôi cá kết hợp;
+ Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, hiệu quả đồng vốn đều tăng và ngược lại công lao động, chi phí cho sản xuất/ha/vụ đều giảm, xã Liêm Chung (giá trị sản xuất đạt 107579.5 nghìn đồng, tăng 13499.5 nghìn đồng so với trước dồn đổi), lý do: xã này có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ nên năng suất của các cây trồng vật nuôi đều cao hơn và đạt hiệu quả hơn giá trị MI năm 2012 đạt 61980.09 nghìn đồng, tăng 4622.44 nghìn đồng so với năm 2001 giá trị ngày công lao động của người dân đạt 86.9896 nghìn đồng/1 công lao động (tăng 24.114675 nghìn đồng)
Ngoài ra sau dồn đổi hiệu quả về mặt xã hội môi trường cũng được đảm bảo thể hiện qua đồng ruộng được cải tạo, hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng được nâng cấp, cải tạo tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hoá, khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất góp phần giải phóng sức lao động và có cơ hội chuyển sang lao động tại các ngành nghề khác, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân Bên cạnh đó, sau dồn đổi ruộng đất hệ số sử dụng đất được nâng lên, nhiều trang trại tổng hợp với quy mô lớn đã giải quyết được một lực lượng lao động nông nghiệp nhàn rỗi Phát triển sản xuất trên sự kết hợp hài hoà giữa chăn nuôi - trồng trọt - chế biến các sản phẩm nông nghiệp
- Lê Văn Thiệp 2010) chỉ ra được hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa Với việc so sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình sử dụng đất với mô hình chuyên cấy lúa nước trước và sau dồn điền đổi thửa dựa trên tiêu chí cùng một đơn vị diện tích (tính trên đơn vị là sào Bắc bộ 360 m2), cùng một
xứ đồng nhưng sau khi dồn điền đổi thửa cơ cấu sử dụng đất đã thay đổi, đem lại giá trị kinh tế khác biệt so với trước là điều kiện cần thiết để thấy được ý nghĩa của công tác dồn điền đổi thửa
Trong các mô hình tác giả đánh giá cho thấy trong các mô hình sử dụng đất,
mô hình chuyên cá đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất (tăng 5.060.000
Trang 35đồng/sào/năm), mô hình có hiệu quả kinh tế thấp nhất trong số các mô hình chuyển đổi đó là mô hình 2 lúa- 1 vụ đông cũng cho giá trị kinh tế trung bình là 446.000 đồng/sào/năm (tăng 246.000 đồng/sào/năm so với trồng 2 vụ lúa trước kia) Những kết quả tích cực đạt được trong phát triển nuôi trồng thuỷ sản và chuyển đổi mô hình canh tác sang trồng lúa - nuôi trồng thuỷ sản kết hợp chăn nuôi đó là:
+ Vừa khai thác được thế mạnh và tiềm năng sẵn có ở vùng trũng, phá thế độc canh cây lúa, chuyển đổi mô hình canh tác từ đất sản xuất nông nghiệp trồng trọt kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản, vừa nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích Đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn có giá trị thu nhập cao cho người nông dân
+ Vừa thúc đẩy chăn nuôi phát triển và khi chăn nuôi phát triển lại thúc đẩy thuỷ sản phát triển
+ Ở những vùng có thân đất thấp trũng việc trồng trọt kém hiệu quả sẽ chuyển sang phát triển nuôi trồng thuỷ sản là một hướng đi đúng, hiệu quả, phù hợp với vùng sinh thái, phù hợp với quy luật phát triển khai thác thế mạnh ở vùng lợi thế Tạo ra sự liên kết liên doanh tích tụ ruộng đất hợp lý để tạo ra tiểu vùng phát triển nông, thuỷ sản hàng hoá Tạo cho nông dân cơ hội và điều kiện xoá đói giảm nghèo và làm giàu của người nông dân
1.2.3.3 Công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện nghiên cứu
a) Cơ sở pháp lý tiến hành dồn điền đổi thửa tại huyện
- Luật Đất đai năm 1993;
- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
- Chỉ thị số 10-1998/CT-TTg ngày 20/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh và hoàn thành việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ nông dân, khuyến khích các hộ nông dân dồn đổi ruộng đất cho nhau để khắc phục tình trạng phân tán, manh mún ruộng đất;
- Nghị quyết 03–NQ/TU ngày 28/4/1992 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Hải
Trang 36Hưng về việc giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân trong toàn tỉnh;
- Chỉ thị số 05-CT/TU ngày 10/8/2001 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ Hưng Yên về việc dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp;
- Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 6/6/2002 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về việc tiếp tục dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trong toàn tỉnh;
- Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 18/9/2001 của UBND tỉnh Hưng Yên, ban hành quy định về làm điểm dồn điền đổi thửa nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất trên địa bàn toàn tỉnh
- Quyết định số 33/QĐ-UBND ngày 10/7/2002 của UBND tỉnh Hưng Yên, ban hành quy định về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong toàn tỉnh
b) Tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất của nông hộ
Dồn điền đổi thửa phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong việc ra các quyết định sản xuất nông nghiệp Đó chính là sự tăng quy mô sản xuất, đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tự khoa học kỹ thuật để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh tăng vụ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng năng suất Khi dồn điền đổi thửa tiến hành sẽ có các ô thửa lớn, diện tích được tập trung lại thành vùng, các hộ dân có điều kiện bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào đồng ruộng, tăng năng suất và chất lượng, hiệu quả ngày công lao động cao góp phần đưa nền nông nghiệp nước ta thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô gắn với công nghiệp chế biến và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Dồn điền đổi thửa đã làm thay đổi cách nghĩ, cánh làm, tập quán trước đây của người nông dân quen canh tác trên thửa đất nhỏ, chần chừ, do dự, ỷ lại không muốn đầu tư thâm canh Khi có ô thửa ruộng lớn, thì nếp nghĩ của họ thay đổi cho phù hợp với tiến trình của công nghiệp hoá nông nghiệp Hộ nông dân có vốn sẽ đầu tư cơ giới hoá các khâu trong sản xuất, góp phần giải phóng sức lao động
Dồn điền đổi thửa là điều kiện tốt cho việc phân bổ lại lực lượng lao động trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp ngành nghề, dịch vụ nông thôn và giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần tuý Đồng
Trang 37thời còn là điều kiện tốt cho việc phát triển và hiện đại hoá ngành nghề; thủ công,
mỹ nghệ, công nghiệp trong nông thôn, củng cố, phát huy ngành nghề truyền thống, phát triển ngành nghề mới Dồn điền đổi thửa là điều kiện tốt cho các loại hình HTX kinh tế, dịch vụ phát triển
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa và các vấn đề liên quan trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
Tập trung nghiên cứu ở 3 xã Đức Hợp, Song Mai và Thị trấn Lương Bằng
đại diện cho 3 vùng sản xuất đặc trưng của huyện Kim Động (Đức Hợp là xã thuần
nông ngoài đê sông Hồng; Song Mai là xã thuần nông trong đê sông Hồng; thị trấn Lương Bằng là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của huyện Kim Động)
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Động
2.2.1.1 Điều kiện về tự nhiên
2.2.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội
2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
2.2.2.1 Kết quả đạt được sau dồn điển, đổi thửa ở huyện
- Sự thay đổi các chỉ tiêu số thửa, diện tích đất canh tác của huyện sau dồn điển, đổi thửa;
- Kết quả dồn điền đổi thửa ở 3 xã, thị trấn điều tra
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra trước và sau dồn điền đổi thửa;
- Đánh giá sự thay đổi các phương thức sản xuất mới; quyết định đầu tư và
sự cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; thay đổi cơ cấu lao động và cơ cấu thu nhập của hộ trước và sau dồn điển, đổi thửa;
- Đánh giá sự thay đổi diện tích đất của hộ đưa vào canh tác và quỹ đất công điền của xã, thị trấn từ đất bờ vùng, bờ thửa và đất kênh, mương;
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên các tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 392.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Để thấy được những ảnh hưởng, tác động từ dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của nông hộ tôi tiến hành điều tra tại 3 xã, thị trấn gồm xã Đức Hợp, Song Mai và thị trấn Lương Bằng;
- Xã Đức Hợp có những đặc trưng của vùng nằm ngoài đê Sông Hồng có tiềm năng phát triển kinh tế trang trại vì được phù sa bồi đắp hằng năm
- Xã Song Mai có những đặc trưng của vùng trũng, tương đối thấp có tiềm năng phát triển kinh theo mô hình VAC
- Thị trấn Lương Bằng có những đặc trưng của vùng bằng, cốt đất tương đối bằng phẳng có tiềm năng tập trung phát triển công nghiêp, dịch vụ
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
2.3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu sẵn có gồm: Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch, hướng dẫn của tỉnh, báo cáo tổng kết về dồn điền đổi thửa của huyện; bảng biểu, phương án dồn đổi của các xã, thị trấn; niên giám thống kê
2.3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn bằng phiếu điều tra 180
hộ nông dân của 3 xã, thị trấn kết hợp với việc phỏng vấn cán bộ chủ chốt tham gia
chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi thửa ( Trưởng phòng TNMT, chủ tịch xã, cán bộ Địa
chính , Bí thư, Trưởng thôn ) Với sự hỗ trợ của UBND xã tôi lựa chọn ngẫu nhiên
các hộ trong trong mỗi thôn Cụ thể:
Đối với xã Song Mai và thị trấn Lương Bằng, giữa các thôn không có sự khác biệt về đất đai, vì vậy tại xã Song Mai, mỗi thôn lựa chọn 10 hộ; tại thị trấn Lương Bằng, mỗi thôn lựa chọn 15 hộ
Xã Đức Hợp, có 11 thôn, chúng tôi lựa chọn 4 thôn, mỗi thôn 15 hộ Thôn Trung Khu có nhiều đất bãi nhất; thôn Thái Hòa có nhiều đất lúa nhất; thôn Tam Đa
có cả đất lúa và đất bãi; thôn Bông Hạ có nhiều đất xâm canh
Các thông tin được thu thập liên quan đến thực tế sản xuất của hộ nông dân như tình hình sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp; việc đầu tư chi phí cho sản
Trang 40xuất, việc thay đổi cơ cấu cây trồng; quyết định đầu tư của hộ sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa
2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin số liệu và phân tích
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excell
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, để tính toán chỉ tiêu cần nghiên cứu như loại đất, quy mô loại đất, kết quả sản xuất để suy rộng ra toàn bộ tổng thể nghiên cứu
- Phương pháp thống kê so sánh: So sánh các thông tin cùng loại của một số chỉ tiêu kinh tế để thấy được kết quả của dồn điền đổi thửa tác động đến quyết định sản xuất của hộ So sánh các tiêu thức nghiên cứu, các nhóm hộ ở các vùng khác nhau trước và sau dồn đổi như: chỉ tiêu năng suất, các khoản chi phí, thu nhập hỗn hợp, kết quả sản xuất
Tổng hợp các phương pháp để đưa ra các chỉ tiêu phân tích, đánh giá gồm:
* Các chỉ tiêu về kết quả công tác dồn điền điền, đổi thửa
Các chỉ tiêu về số thửa, diện tích, số bờ vùng, bờ thửa, quỹ đất đưa vào canh tác Các số liệu được so sánh trước, sau dồn điền đổi thửa
* Các chỉ tiêu về tác động của dồn điền đổi thửa đến quyết định SX
Các chỉ tiêu về tỷ lệ áp dụng máy móc; thay đổi phương thức sản xuất; thay đổi
cơ cấu cây trồng, mức đầu tư Các số liệu được so sánh trước, sau dồn đổi
* Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
+ Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (GO): Toàn bộ của cải được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Nó phản ánh năng suất đất đai trên khía cạnh
lượng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
GO = ∑Qi *Pi Trong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra;
- Pi là giá trị của đơn vị sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian (IC): Toàn bộ khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền bỏ ra mua các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất như: chi phí về giống,