Trên cơ sở hiệu quả của các loại hình sử dụng đất đã được xem xét và các mục tiêu phát triển để đề xuất một số kiểu sử dụng đất: Lúa xuân - Lúa hè thu – khoai tây, LUT trồng cây lâu năm,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Vòng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS-TS Nguyễn Thị Vòng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch sử dụng đất, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức thuộc phòng ban trong huyện, chính quyền các xã, thị trấn cùng nhân dân huyện Gia Lâm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị, sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 4
2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 4
2.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 5
2.1.3 Đặc điểm suy thoái đất nông nghiệp 6
2.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 8
2.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
2.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 9
2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 12
2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
2.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 15
2.3.1 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp 15
2.3.2 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 18
2.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 19
2.4.1 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp 19
2.4.2 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
2.5 Sử dụng đất nông nghiệp ở các vùng ven đô 22
2.5.1 Nông nghiệp ven đô thị 22
2.5.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ven đô 24
2.6 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp thành phố Hà Nội 25
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm 27
3.4.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm 27
3.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27
3.4.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 28
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 28
3.5.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 28
3.5.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả 29
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 42
4.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm 43
4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 47
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 47
4.3.2 Hiệu quả xã hội 51
4.3.3 Hiệu quả môi trường 55
4.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 69
4.4.1 Dự kiến định hướng sử dụng đất nông nghiệp 69
4.4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện 74
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
Tài liệu tham khảo 79
Phụ lục 86
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt
BVTV CLĐ
Bảo vệ thực vật Công lao động CN-TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp CPTG Chi phí trung gian
GTSX/CLĐ Giá trị sản xuất trên 1 công lao động HTX
HQĐV
Hợp tác xã Hiệu quả đồng vốn LUT Loại hình sử dụng đất KHKT Khoa học kỹ thuật
TNHH Thu nhập hỗn hợp UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 30
Bảng 3.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 30
Bảng 3.3 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường 31
Bảng 4.1 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm 37
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng nông nghiệp huyện Gia Lâm năm 2015 43
Bảng 4.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng I 44
Bảng 4.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng II 45
Bảng 4.5 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng III 46
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng I 48
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng II 49
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng III 50
Bảng 4.9 Hiệu quả xã hội các kiểu sử dụng đất tiểu vùng I 52
Bảng 4.10 Hiệu quả xã hội các kiểu sử dụng đất tiểu vùng II 53
Bảng 4.11 Hiệu quả xã hội các kiểu sử dụng đất tiểu vùng III 53
Bảng 4.12 Mức sử dụng phân bón của tiểu vùng I 56
Bảng 4.13 Mức sử dụng phân bón của tiểu vùng II 57
Bảng 4.14 Mức sử dụng phân bón của tiểu vùng III 58
Bảng 4.15 Mức sử dụng thuốc BVTV của tiểu vùng I 60
Bảng 4.16 Mức sử dụng thuốc BVTV của tiểu vùng II 61
Bảng 4.17 Mức sử dụng thuốc BVTV của tiểu vùng III 62
Bảng 4.18 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất huyện Gia Lâm 64
Bảng 4.19 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng I 66
Bảng 4.20 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng II 67
Bảng 4.21 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng III 68
Bảng 4.22 Dự kiến các kiểu sử dụng đất đến năm 2020 tiểu vùng I 73
Bảng 4.23 Dự kiến các kiểu sử dụng đất đến năm 2020 tiểu vùng II 73
Bảng 4.24 Dự kiến các kiểu sử dụng đất đến năm 2020 tiểu vùng III 74
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Đồ thị 4.1 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm 37
Sơ đồ 4.2 Cơ cấu diện tích của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng I 45
Sơ đồ 4.3 Cơ cấu phân bố diện tích của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
tiểu vùng II 46
Sơ đồ 4.4 Cơ cấu phân bố diện tích của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
tiểu vùng III 47
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Gia Lâm, thành
phố Hà Nội
Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã số: 60 85 01 03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho địa phương lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao
II Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm
Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Để thực hiện các nội dung của đề tài, các phương pháp được sử dụng gồm: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp đánh giá hiệu quả và phương pháp xử lý số liệu
III Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được 6 LUT với 19 kiểu sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường đại diện tiêu biểu cho vùng nghiên cứu, bao gồm: LUT chuyên lúa (lúa xuân – lúa mùa); LUT 2 lúa – màu (lúa xuân – lúa mùa – ngô thu đông, lúa xuân – lúa mùa – lạc đông, lúa xuân – lúa mùa – cà chua, lúa xuân – lúa mùa – khoai tây); LUT chuyên màu (lạc xuân – ngô, lạc xuân – đậu tương – dưa chuột, lạc xuân – khoai tây, lạc xuân – ngô xuân, rau các loại, ngô – cà chua, ngô – khoai tây, bắp cải, đậu tương – ngô); LUT cây lâu năm (chuối, nhãn, ổi); LUT hoa cây cảnh; LUT nuôi trồng thủy sản (cá nước ngọt)
Trang 10Trên cơ sở hiệu quả của các loại hình sử dụng đất đã được xem xét và các mục tiêu phát triển để đề xuất một số kiểu sử dụng đất: Lúa xuân - Lúa hè thu – khoai tây, LUT trồng cây lâu năm, LUT hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao Để đạt được hiệu quả các loại hình sử dụng đất đề xuất cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, về vốn đầu tư, về nguồn nhân lực, giải pháp về cơ sở hạ tầng, về cơ chế chính sách trong nông nghiệp
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Thi Hang
Thesis title: Evaluate the Effectiveness of Agricultural Land Use in Gia Lam
District, Ha Noi city
Major: Land Management Code: 60 85 01 03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
II Materials and methods
Features natural conditions, economic - social Gia Lam District
Agricultural land use status of Gia Lam district
Evaluate the effectiveness of agricultural land use
The orientation of agricultural land use district
To make the content of the subject, the methods used include: data collection method, select the method of research, effective assessment methods and data processing method
III Results and conclusions
Based on the research results 6LUTs and 19 LUS having social economic and enviromental effectiveness representing for study area were chosen: LUT specialized rice (paddy spring - summer rice); LUT 2 rice - vegetable (spring wheat - winter rice - corn, autumn, winter, spring wheat - paddy season - located east, spring wheat - paddy season - tomatoes, spring wheat - winter rice - potato); Specialized vegetable LUT (optimistic spring - maize, groundnuts spring - soybean - cucumber, peanuts spring - potatoes, peanuts spring - spring corn, vegetables, corn - tomato, maize - potatoes, cabbage, soybeans - look); LUT perennial crops (banana, longan, guava); LUT flower; LUT aquaculture (freshwater fish)
Trang 12Based on the effectiveness of different land use types and on the development objectives, some kinds of lan use were proposed: Spring rice - summer-autumn rice - potatoes, perennial crop LUT, LUT decorative and flower plants of high economic value To achieve the effectiveness of proposed land use types, these following synchronized solutions should be implemented agricultural products marketing, funding, man power, development of infrastructure, policy mechanisms in agriculture
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn lực quan trọng của bất cứ một nền sản xuất nào Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Vì vậy sử dụng đất là một hợp phần quan trọng của chiến lược nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững Việt Nam là nước có diện tích đất bình quân thấp cho nên sự phát triển của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của việc sử dụng đất Việc sử dụng thích hợp cho sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước
Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được không ít những thành tựu sau hơn 20 năm đổi mới Thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp là tạo ra và duy trì quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài Từ năm 1986 đến năm
2005, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm Thắng lợi lớn thứ hai là đã cơ bản đảm bảo an ninh lương thực Năm 1989 ở miền Bắc, khoảng 39,7% số hộ nông nghiệp của 21 tỉnh thành bị đói Chính sách đổi mới đã tạo nên
sự thần kỳ: sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng liên tục, giải quyết được vấn đề an ninh lương thực Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm) Trước đổi mới, số người sống dưới mức đói nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn 19% Mức giảm đói nghèo ấn tượng này chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn Trong khi công nghiệp và dịch vụ còn đang lấy đà thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làm chính cho dân cư nông thôn
Cùng với việc tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân Việt Nam nói chung còn rất yếu Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử
Trang 14dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết Nghị quyết Đại hội X của Đảng
khẳng định: "Xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, áp dụng khoa học công nghệ, làm ra sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước
và tăng khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, lao động, vốn; tăng thu nhập và đời sống nhân dân"
Gia Lâm là một huyện đồng bằng ven sông Hồng, là một huyện ngoại thành, cách trung tâm Hà Nội khoảng 13 km về phía Đông Bắc Toàn huyện có
20 xã và 02 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 11.671,24 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 5.934,33 ha, chiếm 50,85% tổng diện tích tự nhiên
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của huyện không còn là độc canh cây lúa
mà từng bước cải thiện theo hướng sản xuất sản phẩm cung cấp cho thị trường thành phố Hà Nội và các khu công nghiệp đã và đang phát triển Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi diễn ra hầu hết các xã trong huyện, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao và góp phần hình thành một nền kinh tế mới - đó
là kinh tế hàng hóa Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rất mạnh khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm do chuyển sang các mục đích
sử dụng khác Đây là vấn đề khó khăn đặt ra đối với người nông dân và sản xuất nông nghiệp Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để từ đó định hướng cho người dân trong huyện khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Quản
lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được sự đồng ý của UBND huyện
Gia Lâm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm lựa chọn phương thức
sử dụng phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện Gia Lâm
Định hướng và đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 151.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi không gian: Đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP
Hà Nội bao gồm đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác
Giới hạn thời gian : Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2010 – 2015; các
số liệu về hiệu quả sản xuất năm 2015
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Đóng góp mới: Đã đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm qua đó lựa chọn được loại hình sử dụng đất và định hướng sử dụng đất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung và hoàn thiện phương pháp tiếp cận trong việc sử dụng đất nông nghiệp, từ đó làm cơ sở bố trí hợp lý các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho địa phương lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất, có quan điểm cho rằng:" Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất
đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian" (Đỗ Nguyên Hải, 2001) Sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên
Theo điều 10 Luật đất đai năm 2013 thì đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nhiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng (Luật Đất đai, 2013) Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác
Đất đai được xem vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hóa học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996)
Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế- xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường) Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý,
có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế, nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái Đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của
Trang 17bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)
Trong lịch sử phát triển của thế giới của bất cứ nước nào dù phát triển hay đang phát triển thì việc sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Sản phẩm nông nghiệp là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu
tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân
Theo báo cáo của World Bank (1995), hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150-200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6
- 7 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý
Theo kết quả kiểm kê đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta là 33.093.857 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 26.100.106 ha Dân số là 87 triệu người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 3.807 m2/người (theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2010) So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp thứ 2, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
2.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên vì sự khác biệt về vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo
Trang 18từng vùng Miền Bắc có nhiệt độ trung bình 15,3- 25,2 độ C, lượng mưa trung bình từ 1.500- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650- 1.750 giờ/năm Trong khi
đó, ở miền Nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 25,7- 27,1
độ C, lượng mưa trung bình 1.400- 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm (Bộ Thủy Sản) Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta có thể đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa dạng và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ
ẩm không khí là các yếu tố khí hậu (Hà Thị Thanh Bình và cs., 2002) Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Theo Nguyễn Văn Nam (2005), khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Nếu như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu cô ve, súp lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt hay miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trổng chôm chôm, trái bơ, thanh long là những cây nhiệt đới điển hình (Nguyễn Văn Nam, 2005)
Khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp với các mức độ khác nhau Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung
bộ, nhiệt độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa sáng,
ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng (Nguyễn Duy Tính, 1995)
2.1.3 Đặc điểm suy thoái đất nông nghiệp
Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng Trong điều kiện hầu hết đất canh canh tác đều có độ phì, không cao để tăng vụ và
Trang 19năng suất cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (ESCAP/FAO/UNIDO,1993), cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất Qúa trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá hủy cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hóa đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P,K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống (Phùng Văn Phúc, 1996)
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng N,P, K, Ca Và Mg Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hóa thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên (Phùng Văn Phúc,1996) Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S chỉ ra rằng" sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hóa về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường" (Nguyễn Như Hà, 2000)
Theo tài liệu của FAO/UNESCO( 1992): trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là
Trang 20280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67% triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha diện tích đất đã bị hoang mạc hóa làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kế quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi:5- 10 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền đề mạnh mẽ cho quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị diện tích đất
2.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý (Cao Liêm và cs., 1990) Vì vậy, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả
đã trở thành chiến lược quan trọng Theo Smyth và Dumanski sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất);
Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn);
Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước (bảo vệ);
Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi);
Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc trên được coi là kim chỉ nam của sử dụng đất đai bền vững
và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ một hay một vài mục tiêu không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Ngoài ra còn có các quan điểm sau:
Trang 21Tận dụng các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng có tỉ suất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu;
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục;
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hóa hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất, đa dạng hóa cây trồng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường;
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan nhiệm kết quả chính là hiệu quả Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng
số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả (Từ điển tiếng Việt, 1992)
Trang 22Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược( lương thực, sản phẩm xuất khẩu để đảm bảo sự ổn định về kinh tế- xã hội đất nước) (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế (Bách khoa toàn thư Việt Nam) Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001)
Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương Từ đó, nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao- đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các
Trang 23ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel- Nordhuas" Hiệu quả là không lãng phí" Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề (Vũ Thị Phương Thụy, 2000):
Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật" tiết kiệm thời gian";
Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối
và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là" với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
2.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu
Trang 24cầu sống khác Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
2.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo
về được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái(>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Từ điển tiếng Việt, 1992)
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Trong nông nghiệp, hiệu quả hóa học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hóa học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường do xã hội đặt ra Cụ thể như tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
Trang 25Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một
hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
* Bảo vệ môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, )
Trang 262.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống hữu
cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm
và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
2.2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
a Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT= GTSX- CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu
sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
Trang 27b Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau (Hội khoa học Đất, 2000):
Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu
c Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải (1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
Đánh giá quản lý đất đai;
Đánh giá hệ thống cây trồng;
Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;
Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
2.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI
2.3.1 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp
Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực
Trang 28phẩm là một sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp (RoSemary, 1994)
Hiện nay, trên thế giới, tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%) (Hoàng Văn Thông, 2002) Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng đối với loài người (Vũ Năng Dũng, 2004) Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản
Ngày nay, thoái hóa đất và hoang mạc hóa là một trong những vấn đề về môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Đất khô cằn có ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất Đối với hầu hết các cư dân ở các vùng đất khô cằn, cuộc sống của họ rất khó khăn và tương lai thường bất ổn, với mức sống cùng cực về các mặt kinh tế- xã hội và sinh thái Trên toàn thế giới, đói nghèo, quản lý đất đai không bền vững và biến đổi khí hậu đang biến các vùng đất khô cằn thành sa mạc và ngược lại, hoang mạc hóa đang làm trầm trọng thêm và dẫn đến đói nghèo
Trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau (Đường Hồng Dật và cs., 1994):
Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;
Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Trang 29Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp theo dạng tổng hợp, các xu hướng đan xen nhau Cụ thể:
* Nông nghiệp công nghiệp hóa: Sử dụng các thành tựu của công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng vật tư kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Nông nghiệp công nghiệp hóa gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, làm ô nhiễm môi trường, giảm tính đa dạng sinh học và hao hụt nguồn gen thiên nhiên (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
"Cách mạng xanh" được thực hiện vào những năm của thập kỷ 60, chủ yếu ở các nước đang phát triển và đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó Thực chất cuộc cách mạng này dựa chỉ yếu vào việc áp dụng đối với trồng trọt, xây dựng hệ thống thủy lợi, sử dụng nhiều loại phân hóa học "Cách mạng xanh" đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hóa học và cả thành tựu của công nghiệp (Đường Hồng Dật và cs., 1994)
"Cách mạng nâu" diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp (Đường Hồng Dật và cs., 1994)
Các cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt chứ không phải là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa công nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng (Đường Hồng Dật và cs., 1994)
Trang 30Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa sản xuất như: Philipin năm 1987- 1992 Chính phủ
đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982- 1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực
2.3.2 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiểu giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân- lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lên đáng kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt, nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao (Hà Thị Thanh Bình
và cs., 2002)
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn Tạp chí" Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là
ở nông thôn (Hà Thị Thanh Bình và cs., 2002)
Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định, chế độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương" nông bất ly hương"
Trang 31đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt
Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), ở
Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD, chiếm 28,3% trong thu nhập của nông nghiệp, Canada tương ứng là 5,7 tỉ và 39,1%, Astraylia 1,7 tỉ và 14,5%, Nhật Bản 42,3 tỉ và 69,8%, cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ và 40,1%, Áo là 1,6 tỉ và 69,8% (Quyền Đình Hà, 1993)
2.4 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
2.4.1 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp
Hiện nay cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hóa và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hóa và hướng mạnh ra xuất khẩu
Trên cơ sở thành tựu nông nghiệp trong 20 năm đổi mới, dựa trên những
dự báo về khoa học ký thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
Phát triển vào sản xuất nông sản hàng hóa theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng (Nguyễn Điền, 2001);
Phát triển sản xuất trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hóa (Nguyễn Điền, 2001);
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trong lao động nông nghiệp xuống còn 50% (Nguyễn Điền, 2001) tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993) Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, phát triển ngành nghề công nghiệp,
Trang 32dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn;
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hóa (Nguyễn Điền, 2001) Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hóa, khuyến khích các sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu
tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ hóa các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hóa, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hóa
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập
và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường
Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5- 4%/năm Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối với thị trường
Phong trào xây dựng phát triển nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn liền với phát triển đô thị, công nghiệp
Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu (Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn, 2009)
Trang 332.4.2 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1- 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2017 (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về
kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong (1995)
Vùng ĐBSH có tổng diện tích đất nông nghiệp là 903.650 ha, chiếm 44% diện tích tự nhiên trong vùng Trong đó, gần 90% đất nông nghiệp dùng để trồng trọt (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng Sông Hồng, 1994) Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng Sông Hồng, 1994), là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Trong đó phải kể đến các công trình như: Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị
Tú Ngà (1990); Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình
Hà (1993); Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng ĐBSH của tác giả Vũ Năng Dũng (1997); Quy hoạch sử dụng đất vùng ĐBSH của tác giả Phùng Văn Phúc (1996); Phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng của tác giả Nguyễn Như Hà (2000); Chương trình quy hoạch cụ thể vùng ĐBSH (1994) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hóa nông nghiệp ĐBSH, kết quả cho thấy:
Trang 34Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3- 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven
đô, tưới tiêu chủ động Đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như: hoa, cây
ăn quả, cây thực phẩm cao cấp
Việc quy hoạch tổng thể vùng ĐBSH, nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà khoa học như: Vũ Năng Dũng, Trần An Phong Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế sản xuất tổ chức ngành hàng trong nông nghiệp cũng như trong nông hộ của Phạm Vân Đình
Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công- huyện Châu Giang- tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy: trên đất vùng úng trũng Phụng Công- Châu Giang- Hưng Yên có thể áp dụng mô hình lúa xuân- cá
hè đông cho lãi từ 9258- 12527,2 ngàn đồng/ha Mô hình lúa xuân- cá hè đông và CAQ, cho lãi từ 14315,7- 18949,25 ngàn đồng/ha
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây
là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ đất
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ đất
2.4.3 Sử dụng đất nông nghiệp ở các vùng ven đô
2.4.3.1 Nông nghiệp ven đô thị
Trong lịch sử, nông nghiệp thường gắn với vùng nông thôn rộng lớn Nói đến nông nghiệp là nói đến nông thôn và ngược lại Các đô thị ra đời đã kéo theo
sự hình thành loại hình nông nghiệp của nhân loại mới – nông nghiệp đô thị Các
đô thị ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và
Trang 35họ cũng đạt được nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này
Trong các thập niên 60, 70 Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu trong phát triển nông nghiệp tại các khu vực ngoại thị Nhưng khi bước sang thập
kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, nông nghiệp ở các đô thị phát triển khá
ồ ạt Tuy đã góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm thực phẩm lúc bấy giờ và tăng thu nhập cho một số người làm công ăn lương ở thành phố, nhưng do phát triển tự phát, không có quy hoạch nên đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm mất cảnh quan đô thị, thậm chí đã tạo nên tâm lý không muốn phát triển nông nghiệp đô thị
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị của FAO (1996), UNDP (1999), RUAF foundation (1999), Luc J.A Mougeot (2002)… vào điều kiện cụ thể của Việt Nam có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến
và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm, dịch vụ cao cấp Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thành với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản (Lê Văn Trưởng, 2006)
Nông nghiệp ngoại thị là bộ phận quan trọng nhất của nông nghiệp đô thị Việt Nam hiện nay Chúng có lãnh thổ rộng, được quy hoạch rõ ràng, hình thành các vùng chuyên canh, các vành đai nông nghiệp nhưng lãnh thổ biến động mạnh
do sự phát triển của không gian đô thị Thành phố Hải Phòng có vành đai phát triển rau, hoa, cây cảnh tập trung chủ yếu tại quận Hải An, huyện An Dương, quận Lê Chân và huyện Thủy Nguyên; vành đai phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm tập trung tại quận Hải An, huyện An Dương, huyện Thủy Nguyên và huyện Kiến Thụy; vành đai phát triển sản xuất lương thực, chăn nuôi tập trung chủ yếu chăn nuôi lớn thịt, gia cầm và bò sữa nhằm đáp ứng nhu cầu của Hải Phòng, Quảng Ninh và xuất khẩu; vành đai phát triển sản xuất lương thực, cây ăn quả tập trung tại các huyện An Dương, Thủy Nguyên và Kiến Thụy
TP Hồ Chí Minh đã hình thành các vùng: cây hoa cảnh, vùng cây ăn quả ở rải rác và xen các vườn hoa đặc chủng (ngâu, nhài, phong lan…), vùng cây ăn
Trang 36quả tập trung kinh doanh đa dạng, vùng rau thực phẩm các loại và vùng chăn nuôi cung cấp thịt, sữa, thủy sản… Riêng diện tích hoa, cây cảnh khoảng 2.848
ha năm 2015
Hà Nội cũ có vùng hoa tập trung ở Tây Tựu (Từ Liêm), vùng rau an toàn Yên Mỹ; Duyên Hà (Thanh Trì); Đặng Xá, Văn Đức (Gia Lâm)… vùng nuôi bò chất lượng cao ở Sóc Sơn, Gia Lâm, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ở vùng trũng thuộc Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh
Ngay tại miền Trung, thị xã Hà Tĩnh cũng đã phát triển mạnh nghề trồng hoa, cây cảnh Năm 2015 có khoảng 80 hộ, mỗi hộ trồng trung bình 0,2 – 1,0 ha Nguồn giống lấy từ Hà Nội, Đà Lạt, Nghệ An
Khu vực giáp ranh các đô thị, sản xuất nông nghiệp cũng đang chuyển dần theo hướng nông nghiệp đô thị Theo khảo sát của một số tác giả, các lãnh thổ nông nghiệp cận kề Hà Nội thuộc các tỉnh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Giang đang có những chuyển dịch theo hướng sản xuất thực phẩm chất lượng cao, trồng hoa, cây cảnh cung cấp cho Hà Nội (Lê Văn Trưởng, 2008)
2.4.3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ven đô
Đô thị hóa là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở các mức độ khác nhau và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hóa tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế, xã hội toàn thế giới – quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân
cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hóa đô thị Bên cạnh những mặt tích mà đô thị hóa đã mang lại thì nó cũng để lại nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
Hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất “bờ xôi, ruộng mật” – bao đời nay
là tư liệu sản xuất quan trọng và quý giá nhất của người nông dân, nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia – đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp (Phùng Hữu Phú, 2008)
Quy mô thành phố ngày càng lớn, dân số ngày càng đông, mật độ dân số ngày càng cao và trình độ kinh tế – văn hóa ngày càng phát triển một mặt làm
Trang 37cho đất đai nông nghiệp ven đô bị thu hẹp nhiều, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, hiệu ứng về cuộc sống tù túng trong 4 bức tường bê tông cốt thép tăng lên (Phạm Văn Khôi, 2004)
2.5 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phố Hà Nội nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, nơi thu hút nhiều công trình nguyên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và
sử dụng đất thích hợp, thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa Trong đó phải kể đến các công trình như: Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao Liêm và cs (1990), cơ sở chuyển dịch cơ cấu cây trông hợp lý đối với diện tích đất nông nghiệp ngoại thành Hà Nội của tác giả Vũ Thị Phương Thụy (2000)
Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm bền vững hay theo hướng sản xuất hàng hóa còn chưa nhiều TP Hà Nội là một vùng sinh thái đa dạng, điều kiện KT-XH có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế sản xuất, tài nguyên đất đai và nhân lực chưa được khai thác đầy đủ
Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2015 khoảng 168 791ha Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, thành phố Hà Nội có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng với chủng loại cây vụ đông mang tính ôn đới khá phong phú
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của thành phố Hà Nội đạt tăng trưởng bình quân 2,5%/năm Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng hiệu quả; diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản tiếp tục được mở rộng Hiện nay, 100% giống lúa được cấp I hóa; 100% diện tích ngô được gieo trồng bằng giống lai Bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung, đem lại hiệu quả cao, như vùng sản xuất lúa chất lượng cao, vùng sản xuất rau an toàn, vùng trồng hoa, vùng trồng cam canh, bưởi diễn tập trung tại các huyện Đông Anh, Hoài Đức, Đan Phượng, Ba Vì, Thanh Trì,… Trong ngành trồng trọt, tỷ trọng nhóm cây lương thực vẫn còn lớn Những nhóm cây khác như rau, cây ăn quả tuy có tăng, nhưng chậm Hoạt động sản xuất
Trang 38chưa gắn chặt với chế biến và thị trường Chất lượng và tính chất bền vững của tăng trưởng chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của Thành phố
Cơ cấu giống lúa vẫn còn mang tính truyền thống, chất lượng lúa gạo tuy có tiến
bộ, song về cơ bản vẫn còn khoảng cách khá xa với yêu cầu của thị trường (lúachất lượng cao chỉ chiếm 25% trong tổng sản lượng) Nhu cầu sử dụng rau
“sạch” của người tiêu dùng ngày càng tăng, nhưng diện tích canh tác “rau an toàn” còn đạt thấp, chỉ chiếm khoảng 13,3% tổng diện tích trồng rau
Trang 39PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2010 – 2015; các số liệu về hiệu quả sản xuất năm 2015
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm
Điều kiện tự nhiên : vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện kinh tế - xã hội: Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh tế; dân số, lao động, việc làm và thu nhập; thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn; thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, giáo dục - đào tạo, y tế, )
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội
3.4.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu của huyện
3.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất
Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất
Đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất
3.4.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Dự kiến định hướng sử dụng đất nông nghiệp
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Trang 403.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ hệ thống số
liệu thống kê kinh tế- xã hội, các thông tin tài liệu cơ bản đã có liên quan tới nội dung nghiên cứu phục vụ đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Gia Lâm từ các cơ quan: Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống
kê, phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Kinh tế, các Ban khác có liên quan của huyện Gia Lâm
- Điều tra thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp điều tra
nông hộ về diện tích sử dụng đất, việc đầu tư giống, hiệu quả kinh tế từ loại hình sử dụng đất mang lại, khả năng tiêu thụ sản phẩm phục vụ đánh giá hiệu quả sản xuất
3.5.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm về đất đai, địa hình, tập quán canh tác, hệ thống cây trồng có lợi thế về sản xuất nông nghiệp khác nhau Gia Lâm được chia thành 3 tiểu vùng:
* Tiểu vùng I: bao gồm khu vực trung tâm và khu vực Nam Sông Đuống gồm
các xã: Dương Quang, Dương Xá, Lệ Chi, Kim Sơn, Phú Thị, Đặng Xá, Cổ Bi,
Đa Tốn, Kiêu Kỵ, thị trấn Trâu Quỳ Địa hình bằng phẳng, hơi trũng, cốt đất trung bình 3,5-4m Đất chủ yếu là đất phù sa cũ không được bồi hàng năm có glây Hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn là chính, sản phẩm chủ yếu của vùng là lúa, ngô và rau màu Đây là tiểu vùng kinh tế phát triển, thâm canh lúa, rau màu, ngô và sản xuất giống cây ăn quả Đặc biệt khu vực thị trấn Trâu Quỳ, trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội là nơi cung cấp các giống cây ăn quả có chất lượng cao cho huyện và các tỉnh phía Bắc
* Tiểu vùng 2: hay tiểu vùng khu sông Hồng bao gồm 4 đơn vị hành chính
trực thuộc: Xã Đông Dư, xã Bát Tràng, xã Kim Lan, xã Văn Đức Mật độ dân cư trung bình khoảng 1660 người/km2, bình quân đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp
là 571m2 Địa hình tương đối thấp Các loại đất bao gồm: đất phù sa cổ không được bồi hàng năm có glây, đất phù sa được bồi hàng năm và ít được bồi hàng năm của đồng bằng sông Hồng Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là rau, hoa màu
* Tiểu vùng 3: hay tiểu vùng Bắc Đuống gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc:
xã Yên Thường, xã Yên Viên, xã Dương Hà, xã Đình Xuyên, xã Trung Mầu, xã Phù