1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf nonius

42 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở sinh lý điều khiển sợi cơ: Điều khiển sự hoạt động cơ bắp trong cơ thể bao gồm việc lựa chọn các cơ tham gia vào động tác, sự phối hợp giữa các cơ đó trong không gian, thờigian và

Trang 1

Trong những năn gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế nước ta, nhiều lĩnh vực hoạt động trong đó có TDTT đã đạt được những thànhtựu đáng khích lệ Bơi lội là một trong những môn thể thao cơ bản có vị trí quantrọng trong hệ thống huấn luyện thể thao Đó là nội dung không thể thiếu trongchương trình thi đấu của các đại hội TDTT trong nước và quốc tế

Đối với bơi lội, sức bền của các nhóm cơ là rất quan trọng trong việc nângcao thành tích, việc huấn luyện phát triển các nhóm cơ cho sinh viên được cácgiáo viên chú trọng song chưa có nghiên cứu đầy đủ vền vấn đề này Hiện naycác bài tập phát triển các nhóm cơ có rất nhiều tuy nhiên làm thế nào để sủ dụngnhững bài tập này nhằm nâng cao khả năng sức bền của sinh viên chuyên sâubơi lội năm thứ 2 và 3 trường đại học TDTT Bắc Ninh

Hiện nay, hệ thống máy Enraf – Nonius do Hà Lan sản suất, là hệ thốngphục hồi chức năng và kiểm tra năng lực hoạt động của cơ bắp Sử dụng hệthống Enraf – Nonius, chúng ta có thể đánh giá kiểm tra được khả năng hoạtđộng cơ, cũng như tập luyện nhằm phục hồi các chức năng vận động của cácnhóm cơ bị tổn thương trong quá trình tập luyện và thi đấu

Hệ thống Enraf – Nonius là một hệ thống bao gồm nhiều máy tập khácnhau, mỗi máy có một tính năng riêng nhằm phát triển và phục hồi khả năng

Trang 2

hoạt động của các nhóm cơ khác nhau trên cơ thể Đặc biệt cơ chế hoạt động của

hệ thống Enraf cũng khác hệ thống tập luyện thể lực thông thường, thay vàonhững chiếc đĩa tạ, hệ thống này được thiết kế sủ dụng bằng khí nén để làm tăngtrọng lượng của bài tập, mỗi máy được gắn một chiếc bơm thủy lực và kết nốivới máy nén khí bên ngoài Thông qua bảng điện tử được gắn trên mỗi máy ta

có thể điều chỉnh lượng vận động sao cho phù hợp với khả năng của người tập

Và ta cũng có thể lập chương trình tập luyện hoàn chỉnh cho mỗi người tập dựatrên máy tính và chương trình này sẽ được lưu trên thẻ cá nhân

Xất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2

và 3 trường Đại học TDTT Bắc Ninh trên hệ thống Enraf – Nonius”

Mục đích nghiên cứu :

Thông qua kết quả nghiên cứu, đánh giá được thực trạng sức bền hệ cơcủa sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và 3 trên cơ sở đó đánh giá đượcmức độ ảnh hưởng của quá trình tập luyện đối với sự phát triển sức bền cácnhóm cơ của sinh viên Qua đó góp phần cung cấp tài liệu phục vụ cho công tácgiảng dạy và nghiên cứu khoa học của bộ môn và nhà trường

Mục tiêu nghiên cứu.

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài giải quyết hai mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Lựa chọn test đánh giá sức bền hệ cơ cho sinh viên chuyên

sâu bơi lội trên hệ thống máy Enraf

Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ cho sinh viên chuyên sâu

bơi lội năm thứ 2 và 3 trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Đối tượng nghiên cứu: thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên

sâu bơi lội năm thứ 2 và 3 trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên sinh viên chuyên

sâu bơi lội năm thứ 2 và 3 trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm sinh lý hệ cơ.

1.1.1 Cơ sở sinh lý điều khiển sợi cơ:

Điều khiển sự hoạt động cơ bắp trong cơ thể bao gồm việc lựa chọn các

cơ tham gia vào động tác, sự phối hợp giữa các cơ đó trong không gian, thờigian và điều khiển mức độ co của cơ là sự điều khiển trong nội bộ một cơ, đó là

sự điều khiển phối hợp hoạt động xảy ra ở mức độ đơn vị vận động, đảm bảocho cơ thể co với một lực co cơ (hay căng cơ) tuỳ ý

Điều khiển sự co cơ có thể xảy ra bằng ba cách:

1 Điều chỉnh chế độ làm việc của đơn vị vận động

2 Điều chỉnh số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động

3 Điều chỉnh sự phối hợp hoạt động của các đơn vị vận động

Như ta đã biết, tần số xung động của nơron vận động càng cao thì lực cocủa các đơn vị vận động (sợi cơ) sẽ càng lớn Vì vậy lực co của cơ có thể điềuchỉnh bằng cách thay đổi tần số phát xung của nơron vận động

Tần số phát xung của nơron vận động, lại phụ thuộc vào đặc điểm của cáckích thích tác động vào chúng Nếu cường độ của các kích thích đó nhỏ thì cácnơron vận động có ngưỡng kích thích thấp (các nơron chậm là chủ yếu) sẽ hưngphấn và phát xung động với tần số nhỏ Trong trường hợp đó đơn vị vận động sẽlàm việc theo chế độ co đơn, lực co yếu nhưng lại lâu mệt mỏi Kiểu co nàydùng để duy trì những hoạt động nhẹ, như duy trì tư thế

Khi tác động kích thích đối với các nơron tăng lên thì tần số phát xungđộng của các nơron có ngưỡng thấp sẽ tăng lên, đồng thời các nơron vận động

có ngưỡng cao hơn cũng bị lôi cuốn vào hoạt động Các đơn vị vận động cóngưỡng thấp sẽ làm việc với chế độ co cứng, còn các đơn vị vận động hoạt độngvới ngưỡng cao hơn thì sẽ hoạt động với chế độ co đơn Khi tác động kích thíchđạt mức tối đa thì tất cả các đơn vị vận động kể cả các đơn vị vận động cóngưỡng hưng phấn cao nhất đều hoạt động với chế độ co cứng và cơ sẽ co với

Trang 4

lực tối đa Như vậy, tần số phát xung động của nơron vận động quyết định chế

độ co của đơn vị vận động là một yếu tố điều khiển mức căng của cơ Mặt kháccàng nhiều đơn vị vận động ở một cơ tham gia vào hoạt động thì lực co của cơ

sẽ càng lớn Số lượng các đơn vị vận động tham gia vào hoạt động phụ thuộcvào cường độ của các kích thích đi đến từ các trung tâm thần kinh cao cấp hơn.Cường độ kích thích này, về bản chất, lại liên quan chặt chẽ với ngưỡng hưngphấn của đơn vị vận động, tức là ngưỡng hưng phấn của nơron vận động

Khi cần phải co cơ nhẹ, từ các trung tâm thần kinh sẽ có kích thích tươngđối yếu đi đến nơron vận động Khi đó chỉ có nơron vận động có ngưỡng hưngphấn thấp mới hưng phấn thấp, như đã trình bày ở phần trên, chủ yếu đó lànhững nơron vận động chậm, nơron vận động nhỏ; sự hưng phấn đó làm co một

số ít sợi cơ và tạo ra một lực co cơ yếu

Trong một cơ có chứa rất nhiều đơn vị vận động với ngưỡng hưng phấnkhác nhau Khi cường độ kích thích tăng lên, ngoài các đơn vị vận động cóngưỡng thấp, các đơn vị vận động có ngưỡng cao hơn cũng bắt đầu tham gia vàohoạt động sự co cơ lúc đó sẽ mạnh hơn

Như vậy là sự co cơ mạnh được bắt đầu bằng hoạt động của các đơn vịvận động chậm, nhỏ có ngưỡng thấp và kết thúc bằng các đơn vị vận độngnhanh, to có ngưỡng cao Càng có nhiều đơn vị vận động có ngưỡng cao thamgia vào hoạt động, lực co càng mạnh Kích thích càng mạnh, lôi cuốn được càngnhiều đơn vị vận động vào hoạt động

Cơ chế tham gia hoạt động như trên của các đơn vị vận động, tuân theongưỡng hưng phấn (kích thích) của chúng được gọi là cơ chế bổ xung hay quyluật kích thước (E.Kaunxeman) Theo quy luật này các đơn vị vận động chậm vànhỏ sẽ hoạt động trong bất cứ loại cơ nào, lực co càng tăng lên thì càng có nhiềuđơn vị vận động nhanh và to tham gia vào hoạt động Như vậy là đơn vị vậnđộng chậm, và nhỏ phải làm nhiều hơn so với các đơn vị vận động nhanh và cácđơn vị vận động lớn

Trang 5

Ngoài chế độ co của đơn vị vận động và số lượng các đơn vị vận độngtham gia hoạt động, lực co của cơ còn có thể được điều khiển bằng cách phốihợp hoạt động của các đơn vị vận động trong cùng một sợi cơ, mặc dù cách điềukhiển co cơ như vậy chỉ xảy ra ở một mức độ co cơ nhất định Các đơn vị vậnđộng của một cơ có thể làm việc với các tần số khác nhau và không cùng mộtlúc, nghĩa là các pha co của các sợi cơ không trùng nhau Các đơn vị vận độnghoạt động càng lệch nhau thì lực co chung của cả cơ càng nhỏ Khi sự đồng bộtrong hoạt động của các đơn vị vận động riêng lẻ tăng lên thì lực co chung của

cơ sẽ tăng lên theo

Nếu các đơn vị làm việc theo chế độ co cứng hoàn toàn hay gần hoàn toànthì sự phối hợp hoạt động giữa chúng thực tế không ảnh hưởng đến lực co cơ tối

đa, vì khi co cứng hoàn toàn, mỗi đơn vị vận động đều co tới mức ổn định (cocứng phẳng) tôi đa Ngược lại khi co với lực dưới tối đa và nhất là vào thời kỳđầu của các lần co cơ, sự đồng bộ trong hoạt động của các đơn vị vận động có ýnghĩa rất quan trọng đối với tốc độ phát triển lực, nghĩa là đối với sức mạnh bộtphát

Khi các đơn vị vận động hoạt động không đồng thời thì lực co cơ chungnhỏ và dao động không đáng kể Số đơn vị vận động co không đồng thời càngnhiều thì sự giao động khi co cơ càng nhỏ, có nghĩa là động tác được thực hiệnnhịp nhàng, chính xác hơn Trong điều kiện bình thường đa số các đơn vị vậnđộng của một sợi cơ làm việc không đồng thời với nhau

1.1.2 Đặc điểm sinh lý hệ cảm giác (cơ quan phân tích)

Hệ cảm giác bao gồm: Hệ cảm giác thị giác, hệ cảm giác thính giác, hệcảm giác tiền đình, hệ cảm giác vận động

Hệ cảm giác vận động có chức năng phân tích trạng thái của bộ máy vậnđộng, tức là tư thế và sự chuyển động của máy vận động Đó là những thông tin

về chế độ co của cơ vân, độ căng của dây chằng, sự biến đổi góc của khớp

a Ý nghĩa của hệ cảm giác trong hoạt động vận động

Trang 6

Các hệ cảm giác có vai trò quan trọng trong tập luyện và thực hiện độngtác Khi tiến hành hoạt động vận động, điều quan trọng không phải là cảm thụcác kích thích khác nhau tác động đến cơ quan cảm thụ khác nhau, mà còn phảiphối hợp hoạt động giữa các hệ đó Vì vậy, trong quá trình tập luyện, các đườngliên hệ tạm thời giữa các trung tâm cảm giác khác nhau sẽ được hình thành.

Hệ cảm giác vận động là hệ quan trọng nhất trong hoạt động thể lực Tất

cả các động tác phải có sự tham gia của cảm giác vận động mới có thể thực hiệnđược Các cung động hướng tâm của cảm giác vận động quyết định sự điềukhiển động tác và trương lực cơ

Hệ cảm giác thị giác cung cấp những thông tin về môi trường xung quanh,

có ý nghĩa to lớn trong các hoạt động đòi hỏi độ chính xác và thay đổi hướngcũng như tốc độ vận động nhanh chóng Tuy nhiên ý nghĩa của tri giác trungtâm và thị giác ngoại biên cũng khác nhau trong từng môn thể thao

Cảm giác tiền đình đảm bảo duy trì sự thăng bằng của cơ thể và phối hợpđộng tác trong vận động Cảm giác tiền đình đặc biệt quan trọng trong các độngtác TDTT không có chân trụ như: nhảy cao, nhảy xa, thể dục nhào lộn hoặcchân đế hạn chế như thể thao dụng cụ, đua xe đạp

Việc tập luyện TDTT có hệ thống có thể nâng cao trạng thái chức năngcủa hệ cảm giác Sự nâng cao đó được thể hiện ở tăng độ nhạy cảm của cảm giác(VD: cảm giác đau) Ngoài ra hoạt động TDTT còn hoàn thiện sự phối hợp củacác hệ cảm giác với nhau Sự phối hợp đó là cơ sở của những cảm giác tổng hợpđặc biệt có tính chuyên môn cao như “cảm giác nước”, “cảm giác bóng”

b Cảm giác vận động chịu sự chi phối của hệ thần kinh

Để duy trì cuộc sống và thoả mãn các nhu cầu của mình trong môi trườngluôn luôn thay đổi, con người cần phải thực hiện nhiều loại hoạt động vận độngkhác nhau Hoạt động vận động đó cũng như mọi hoạt động khác chịu sự điềukhiển của hai cơ chế: thần kinh và thể dịch trong đó thần kinh chiếm vị trí chủđạo

c Các nguyên tắc chung điều khiển hoạt động vận động

Trang 7

Trong hoạt động TDTT, sự điều khiển của hệ thần kinh đối với hoạt độngđược thể hiện rất đa dạng đối với từng loại hoạt động trong từng điều kiện khácnhau Song sự điều khiển đó luôn theo một số nguyên tắc nhất định.

- Điều khiển khép kín: Các cử động được thực hiện nhờ có sự điều khiểncủa các trung tâm thần kinh nằm ở các vùng khác nhau của thần kinh trungương Để thực hiện một động tác, một phản xạ hay một hành vi hoàn chỉnh, hệthần kinh trung ương phải sử dụng một tổ hợp các trung tâm thần kinh với cácmối quan hệ qua lại nhất định

- Điều khiển ưu tiên: Trong thực tế hoạt động, cơ thể cùng một lúc phảitiếp nhận rất nhiều các kích thích khác nhau Vì vậy, nhiều tác động hướng tâmđược truyền đến cùng một nơron ly tâm là đường dẫn truyền chung cuối cùng điđến cơ quan phản ứng chung của các nơron

Gặp nhau ở con đường chung cuối cùng, các phản xạ liên hợp cùng tăngcường hỗ trợ cho nhau, còn các phản xạ đối kháng thì ngược lại, ức chế lẫn nhau

để chiếm con đường chung cuối cùng Hệ thần kinh phối hợp các phản xạ để ưutiên con đường chung cuối cùng đó cho phản ứng phản xạ có ý nghĩa nhât đốivới sự sống còn của cơ thể trong thời điểm cụ thể đó

- Điều khiển ngược chiều và điều chỉnh cảm giác: Để thực hiện hoạt độngvận động, trong hệ thần kinh trung ương hình thành một chương trình hànhđộng, quyết định sự lựa chọn và trình tự động tác

Trong quá trình thực hiện động tác, từ cơ quan cảm thụ khác nhau thamgia vào thực hiện và kiểm soát hoạt động luôn luôn có các xung động hướng tâmđược truyền về các trung tâm thần kinh điều khiển để thông tin về hoạt động do

nó gây nên Các xung động đó được gọi là mối liên hệ ngược chiều Nhờ có mốiliên hệ ngược chiều có thể đánh giá được động tác đã thực hiện và hiệu quả thựchiện các nơron

Nếu có sự sai lệch giữa hành động thực tế và yêu cầu đã đề ra một số sửađổi cần thiết có thể được đưa vào chương trình điều khiển vận động, các sửa đổi

đó được gọi là điều chỉnh cảm giác (N.A Berstein) Nhờ có sự điều chỉnh như

Trang 8

vậy cơ thể có thể duy trì được phong cách và tính hợp lý của động tác, mặc dùđiều kiện thực hiện có thể thay đổi.

Sự điều khiển dựa trên mối liên hệ ngược chiều và điều chỉnh cảm giácđược gọi là điều khiển ngược chiều và là một nguyên tắc điều khiển vận độngcủa hệ thần kinh

d Điều khiển tư thế và động tác

Sự điều khiển của hệ thần kinh đối với hoạt động vận động thể hiện quaviệc điều khiển tư thế và động tác Tư thế và động tác của cơ thể được điềukhiển bằng các phản xạ chuẩn, điều chỉnh trương lực cơ và điều chỉnh hoạt độngcủa các cơ

- Các phản xạ chuẩn: Là những phản ứng nhằm giữ vững tư thế của cơ thểtrong không gian, nên còn được gọi là phản xạ tư thế

- Điều khiển trương lực cơ: Trương lực cơ được duy trì thường xuyên làcác xung động của nơron vận động anpha ở tuỷ sống phát ra Song hoạt độngduy trì trương lực cơ của tuỷ sống lại chịu sự điều khiển chặt chẽ của các trungtâm vận động ở phía trên Có thể chia các trung tâm điều khiển trương lực cơ ralàm hai nhóm:

1 Nhóm không chuyên biệt gây nên thay đổi chung trương lực của các cơkhác nhau Vùng hưng phấn của não giữa tăng cường trương lực, còn vùng ứcchế của hành não làm giảm trương lực

2 Nhóm chuyên biệt gồm tiểu não, các nhân dưới vỏ và vỏ bán cầu đạinão Tiểu não không có đường liên hệ thẳng với tuỷ sống, song thông qua nhân

đỏ của não giữa, tiểu não tăng trương lực của các cơ co, còn thông qua nhân tiềnđình của hành não tăng trương lực của các cơ duỗi

Vỏ bán cầu đại não tiến hành kiểm tra cấp cao đối với trương lực cơ Cụthể là các vùng vận động, trước vận động và vùng trán Nhờ có sự tham gia của

vỏ não, cơ thể lựa chọn trương lực cơ phù hợp nhất để đảm bảo các nhiệm vụvận động

Trang 9

- Điều khiển hoạt động của cơ: Sự điều khiển của hệ thần kinh đối vớihoạt động cơ bắp bao gồm lựa chọn thời điểm bắt đầu vận động, đảm bảo sựphối hợp giữa các cơ, lựa chọn mức độ và tốc độ căng cơ , lựa chọn mức hoạtđộng tối ưu của các hệ dinh dưỡng và điều khiển tất cả các chức năng đó.

Thành phần quan trọng nhất trong hệ thống điều khiển vận động là vỏ báncầu đại não Vỏ não là nơi xây dựng mô hình và chương trình vận động Cácvùng trán trước và vùng dưới chẩm là nơi quyết định mục đích và cơ cấu củađộng tác có ý thức

Tuỷ sống là nơi xảy ra quá trình phối hợp phức tạp của rất nhiều cơ: kíchthích cơ hoạt động, lôi cuốn các cơ hưởng ứng, ức chế ngược chiều các cơ đốikháng, thực hiện các phản xạ điều chỉnh căng cơ Tất cả các quá trình đa dạng

đó được thực hiện thống nhất do tuỷ sống có hệ thống nơron trung gian rấtphong phú

1.1.3 Cơ sở tâm lý của cảm giác vận động

Cảm giác vận động chịu sự điều khiển của hệ thần kinh, trong đó hệ thầnkinh lại chịu sự chi phối của tâm lý Trong hoạt động thể dục thể thao, đặc biệt

là trong thi đấu vận động viên có tâm lý thi đấu vững vàng sự tập chung chú ýluôn ở mức độ cao, thì hệ thần kinh của anh ta sẽ điều khiển hoạt động vận độngmột cách chính xác và hiệu quả Vì vậy cảm giác vận động chính xác hay khôngchính xác còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý

Trong mỗi hoạt động thể thao đều có sự tác động từ những yếu tố xúccảm động cơ trí tuệ và nhận thức, các yếu tố này có liên quan với nhau Một vậnđộng viên có động cơ ý tưởng tốt chắc chắn sẽ có sự tập chung chú ý tốt hơn vàđạt được thành tích tốt hơn, có cảm xúc mạnh và hành động tích hơn so với mộtvận động viên thiếu hứng thú chán nản Do đó những đánh giá quan trọng quaviệc thực hiện một động tác đã cho ta kinh nghiệm quý báu là tính hợp lý củathành tích thể thao chỉ có thể có được nếu có sự sẵn sàng và sử dụng được tất cảthành phần tâm lý tham gia vào hành vi động tác đó

Trang 10

Trong hoạt động thể dục thể thao những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tâm

lý vận động viên có thể là cấu trúc về thời gian, thời tiết xấu, sân bãi dụng cụ Ngoài ra trong thi đấu có thể có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tâm lý vậnđộng viên như: gặp đối thủ mạnh không lường trước được, phản ứng của khángiả, cách sử dụng chiến thuật của đối phương và những sai lầm mà cá nhân mắcphải từ những ảnh hưởng đó làm cho cảm giác vận động bị sai lệch và làm chothành tích của vận động viên xấu đi không đạt như mong đợi Do đó việc xâychí lòng quyết tâm, tính tự chủ, sự tập trung chú ý bền bỉ rất cần thiết cho vậnđộng viên ở những môn thể thao khác nhau

Qua phân tích như trên, có thể thấy rằng cảm giác vận động chính là việc

sử dụng lực trong các hoạt động Điều này rất quan trọng khi tham gia hoạt độngTDTT Một vận động viên có được cảm giác dùng sức tốt thì hiệu quả hoạt động

sẽ cao

1.1.4 Tác động của tập luyện đối với sự phát triển hệ cơ

Trong hoạt động TDTT, mỗi môn thể thao đòi hỏi hệ cơ phải thể hiện khảnăng hoạt động thể lực ở một mặt nào đó, tức là tuỳ thuộc vào từng bài tập mà

có sự tham gia của các nhóm cơ khác nhau, do vậy ảnh hưởng của nó đến sựphát triển hệ cơ cũng khác nhau Muốn phát triển các nhóm cơ chi trên thì cácmôn thể thao dùng tay sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt nhất

Ví dụ: các môn thể thao như cử tạ hoặc ném đẩy, cơ thể phải tạo ra mộtlực rất lớn để thắng lực cản, hoặc tạo cho dụng cụ một vận tốc chuyển động lớn.Trong đó nhóm cơ chi trên sẽ tham gia chủ yếu, sự lớn mạnh của nhóm cơ chitrên sẽ quyết định đến thành tích của các môn thể thao này

Trên cơ sở sinh cơ học thì nhóm cơ nào tham gia chủ yếu trong một hoạtđộng thì nhóm cơ đó sẽ phát triển Qua đó ta có thể lựa chọn được các bài tậpnhằm phát triển chính các nhóm cơ đó và sự phối hợp của chúng

Ngược lại đối với các môn như chạy và nhảy xa thì tham gia hoạt độngchủ yếu là các nhóm cơ của chi dưới, như vậy những người tham gia tập luyệnnhiều những môn thể thao này thì sẽ có nhóm cơ chi dưới phát triển

Trang 11

Nói tóm lại dưới tác động của tập luyện thì các nhóm cơ sẽ được pháttriển ở các mức độ khác nhau, đồng thời tuỳ thuộc vào từng môn thể thao màcác nhóm cơ cũng sẽ có sự phát triển khác nhau về hình thái và chức năng.

1.2 Đặc điểm sinh cơ học của cơ.

Cơ vân là nguồn cung cấp năng lượng chính của cơ thể Chúng có thể sosánh với một động cơ Nguyên tắc hoạt động của động cơ sống này dựa trên cơ

sở nào? Cái gì đã đưa cơ vào hoạt động và cơ thể hiện các tính chất gì trong quátrình hoạt động? Các cơ hoạt động phối hợp với nhau ra sao? Và chế độ hoạtđộng cơ như thế nào là tối ưu? Chúng ta biết rằng cơ bắp là cỗ máy sống diprotit tạo thành Công năng của nó là đem năng lượng hoá học chuyển thànhnăng lượng cơ học Quá trình chuyển đổi này thông qua lực co duỗi cơ bắp do

đó chúng sẽ sinh công Chất lượng và hiệu quả của việc hoàn thành kỹ thuậtđộng tác quyết định bởi sức mạnh co duỗi cơ bắp và tốc độ co duỗi của cơ bắp

1.2.1 Tính chất sinh cơ học của cơ

Tính chất sinh cơ của cơ bao gồm tính co, tính đàn hồi, độ cứng, độ bềnvững và độ mềm giãn của cơ

1.2.1.1 Tính co: Đây là khả năng co lại của cơ khi có kích thích Kết quảcủa quá trình co cơ làm cho cơ co ngắn lại và xuất hiện lực kéo

Thành phần đàn hồi song song: Trong đó các tổ chức mô liên kết, có đặctính sinh cơ học biểu đạt dưới dạng lò so Các tổ chức mô liên kết bao gồm:màng sợi cơ, bó sợi cơ, bao cơ và cân cơ Khi bị co sẽ sản sinh lực co giãn gọi làtrương lực bị động

Thành phần co: Nó đại diện cho sự sản sinh trương lực Khi co các cầunối ngang actin – miôzin được hình thành, khi bị kích thích các sợi actin vàmiôzin trượt lên nhau Hoạt động này được thực hiện bằng hoạt động kéo củanhững cầu ngang (crossbridge) chìa ra từ những sợi miôzin và gắn bản thânchúng với những sợi actin Và lực co cơ phụ thuộc vào số lượng cầu nối này.Sau khi nối với nhau các cầu ngang thu lại bất thình lình, bằng cách đó kéo haisợi prrotein len vào nhau Cử động này xảy ra cùng một lúc trong hàng ngàn sợi

Trang 12

cơ, dẫn đến sự kéo mạnh mẽ trên các sợi gân Các cầu nối atin-miôzin được biểudiễn trên mô hình dưới dạng các ống hình trụ, trong đó có píttông chuyển động.

Thành phần đàn hồi kế tiếp: Là lò xo được nối tiếp với các ống hình trụ Ởđây lò so là gân và các sợi cơ (các sợi co rút của cơ) lúc này không tham gia vàoquá trình co cơ

1.2.1.2 Tính đàn hồi: Mô hình phản ánh tính chất đàn hồi của cơ, nghĩa làkhả năng phục hồi lại độ dài ban đầu sau khi hết lực tác dụng làm biến dạng nó

Có tính chất đàn hồi là do khi bị kéo căng, trong cơ xuất hiện năng lượng biếndạng đàn hồi Ở đây có thể so sánh cơ vói các lò xo hoặc dây cao su: Lò so bịkéo giãn càng mạnh thì năng lượng dự trữ bên trong càng lớn Hiện tượng nàyđược ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn hoạt động TDTT Ví dụ, sự căng cơ banđầu sẽ dẫn tới căng cả thành phần đàn hồi song song lẫn thành phần đàn hồi kếtiếp Trong các thành phần này năng lượng biến dạng đàn hồi được dự trữ ởvàothời điểm quyết định (thời điểm ném hay đẩy ) sẽ được chuyển thành nănglượng chuyển động (động năng)

1.2.1.3 Độ cứng: Là khả năng phản kháng lại các lực đặt lên cơ Hệ số dộcứng được xác định bằng tỷ lệ gia tăng lực phục hồi với gia tăng độ dài của cơ

do tác động của một lực bên ngoài:

) / (N m L

) / (m N K

Trang 13

bắp bị kéo dài, đặc tính trương lực của nó bị giảm thấp theo thời gian kéo dài,người ta còn gọi đặc tính này là chùng lỏng cơ hoặc nhão cơ.

Trong quá trình hoàn thành động tác, khi cơ bắp xuất hiện tượng lỏngnhão cơ sẽ làm cho lực đàn hồi của cơ bắp giảm thấp Trong bài tập bật cao lạichỗ, khi ngồi xuống dừng ở điểm thấp nhất với thời gian quá dài sẽ xuất hiệnlỏng cơ làm cho tổng trương lực cơ bắp giảm thấp, do đó thành tích bật sẽ thấphơn nếu khi ngồi thấp xuống không dừng

1.2.2 Chế độ co cơ và các dạng hoạt động của cơ

Dựa trên sự thay đổi tốc độ co của sợi cơ, hướng vận động và độ dài cơkhi co Lieber (1992) chia làm 3 dạng vận động cơ, gồm có:

1.2.2.1 Co cơ khắc phục (co cơ rút ngắn): Là dạng vận động cơ mà trong

đó độ dài sợi cơ (từ nguyên uỷ tới bám tận) trở nên ngắn hơn tỷ lệ với cường độ

co Lực sinh ra phụ thuộc vào cường độ vận động và trọng tải, vị trí của cáckhớp

VD: Bài tập nâng tạ tay, cơ hoạt động ở chế dộ co ngắn

1.2.2.2 Co cơ nhượng bộ (co cơ kéo dài): là dạng vận động trái với co cơkhắc phục, độ dài sợi cơ tỷ lệ với mức độ dãn của cơ (từng nguyên uỷ cho tớibám tận) Cường dộ lực của cơ phụ thuộc vào một sực tác động lực từ bênngoài, đơn thuần là cơ thực hiện động tác đối kháng lại lực tác động kéo dãnngược chiều

1.2.2.3 Co cơ đẳng trường (co cơ tĩnh): trong dạng co cơ này sợi cơ vậnđộng chống lại một sức cản nhưng không thay đổi độ dài sợi cơ (từ nguyên uỷtới bám tận) trong suốt quá trình vận động Mặc dù khối lượng cơ không congắn hoàn toàn nhưng vẫn có hiện tượng co ngắn của các sarcrromere (màng sợicơ) hoặc dãn xen kẽ của các sarcromere khác tại các tổ chức gân và mô liên kết.Cường độ lực cơ của co cơ tĩnh phụ thuộc vào sự gắng sức của đối tượng vậnđộng

VD: Bắn súng là một dạng co cơ tĩnh điển hình, giữ tạ trên cao,thăng bàngtrên vòng treo trong môn thể dục

Trang 14

Trong hoạt động TDTT hiếm có dạng vận động nào của cơ thể mà chỉ cómột dnạg co cơ khắc phục, nhượng bộ hoặc đẳng trường Hầu hết các động tácchạy và nhảy là sự tổng hợp của quá trình co cơ khắc phục và nhượng bộ, quátrình này tiếp ngay sau quá trình kia Việc thay đổi và phối hợp giữa co cơ khắcphục và co cơ nhượng bộ là bản chất tự nhiên của cơ, được gọi là chu kỹ co -dãn cơ.

VD: Trong chạy giai đoạn chống (giai đoạn một điểm tựa) các cơ ở cẳngchân co dưới dạng rút ngắn Ở giai đoạn đạp đất thực hiện co cơ kéo dài

1.3 Công và công suất cơ

Cơ bắp có thể đem năng lượng hoá học chuyển đổi thành năng lượng cơhọc Sự co thu cơ bắp của cơ thể là quá trình đem năng lượng hoá học chuyểnđổi thành nhiệt năng và năng lượng cơ học Trong quá trình chuyển đổi nănglượng cơ bắp đã khắc phục lực cản, làm cho vật thể chuyển chỗ vì vậy cơ bắp đãsinh công Cơ bắp trong quá trình co cơ đẳng trường vật thể sẽ không sản sinhviệc chuyển dịch vị trí và không sinh công nhưng vẫn tiêu hao năng lượng, cóthể nói cơ bắp đã sinh ‘công sinh lý”

1.3.1 Cơ bắp sinh công:

Thông thường nói cơ bắp sinh công là chỉ cơ bắp sinh công cơ học Cơbắp sinh công có quan hệ với mức độ lớn nhỏ của phụ tải và tốc độ, khi phụ tảilớn sẽ sinh công lớn phụ tải nhỏ sẽ sinh công nhỏ

1.3.2 Công suất cơ bắp:

Mức độ lớn của năng lực hoạt động cơ thể, mức độ cao thấp của thànhtích thể thao và sự tốt xấu của chất lượng kỹ thuật của động tác thường quyếtđịnh bới mức độ lớn nhỏ của công suất cơ bắp trong quá trình hoàn thành độngtác Hay nói cách khác quyết định bởi tốc độ chuyển đổi năng lượng hoá học của

cơ bắp thành năng lượng cơ học Từ định nghĩa về công suất ta có công thứcsau:

V F t

F t A

Trang 15

Có thể thấy công suất của cơ bắp bằng tíchư lực với tốc độ Do vậy sự lớnnhỏ của công suất có thể dựa vào đường cong của mối quan hệ giữa “ lực và tốcđộ” để tính toán công suất trên mỗi một điểm của đường cong này bằng với diệntích tạo hình bởi điểm đó và gốc toạ độ tạo thành 2 đỉnh điểm.

Giả thiết khi co bắp co, lực và tốc độ đồng thời đạt được trị số cao nhất,lúc này công suất cũng là lớn nhất Nhưng điều này không xảy ra dựa vàophương trình Hill cho thấy trị số công suất tối đa trên thực tế chỉ có khoảng 1/10trị số giả thiết này Tức là chỉ bằng tích của 1/3 lực co cơ đẳng trường lớn nhấtcủa cơ bắp

Biểu đồ đường cong công suất đã phản ánh mối quan hệ của công suất vớilựa co cơ và tốc độ co cơ Khi phụ tải bằng 0 cơ bắp biểu hiện ra tốc độ co cơlớn nhất lúc này công suất là rất nhỏ Cùng với sự tăng thêm phụ tải thì tốc độ co

cơ cũng theo đó mà giảm thiểu khi ở vào vị trí số lực co bằng 1/3 lực co tối đavới vị trí tốc độ thì công suất đạt mức tối đa, song cùng với sự biến đổi thêmmột bước nữa của lực và tốc độ thì công suất bắt đầu giảm nhỏ

Khi lực cản tăng lên đến lúc cơ không thể co ngắn được nữa thì tốc độbằng 0, không sinh công cho nên công suất cũng bằng 0 Nếu như phụ tải tiếptục tăng lên cơ bắp từ co cơ mang tính đẳng trường sẽ biến đổi thành co cơmang tính nhượng bộ, lúc này cơ bắp sinh công suất âm Nhưng công suất âmcủa cơ bắp cùng với sự tăng lên của tốc độ co cơ mang tính nhượng bộ mà tănglớn thêm, đó là do khi nhượng bộ hoặc co thu xu thế biến đổi của lực cơ và tốc

độ là thống nhất

1.3.3 Sự khác biệt về công suất cư bắp của giới tính và môn thể thao:

Giữa nam và nữ tồn tại sự khác biệt về hình thái và chức năng co thể Vd:

về hình thái cơ thể nữ thấp hơn nam từ 3 – 10%, về chức năng thấp hơn 20 –50%, vì vậy về mặt công suất cơ bắp cũng tốn tại sự khác biệt giới tính Ngoài ra

do VĐV tham gia vào các môn chuyên sâu khác nhau, vì nhân tố bẩm sinh thiênnhiên của họ khác nhau cũng như kết quả huấn luyện tương thích ở các môn thểthao khác nhau, vì vậy về mặt công suất cơ bắp cũng biểu hiện những đặc điểm

Trang 16

chuyên môn Dưới đây sẽ trích dẫn kết quả thực nghiệm của Sutachi (Nhật) đểtrình bày cụ thể và rõ ràng hơn.

+ Sự khác biệt về giới tính: về công suất tức thưòi lớn nhất nam lớn hơn

nữ khoảng 50% Nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt một mặt là do lực cơ của nữsản sinh ra thấp hơn nam 40 – 50% một mặt khác tốc độ co cơ bắp của nữ cũngthấp hơn nam

Khi phụ tải lớn sự khác biệt này càng rõ rệt khi lực cản phụ tải cnàg nhẹthì sự khác biệt cũng thu nhỏ lại Nếu xem xét từ biểu đồ đường cong lực tốc độkhi phụ tải bằng 0 hầu như không tồn tại sự khác biệt

+ Sự khác biệt ở các môn chuyên sâu: từ số liệu kiểm tra trên các VĐVchạy ở các cự ly khác nhau cho thấy: công suất duỗi gối của các VĐV chạy ngắntốt nhất, nếu như lấy công suất tối đa của các VĐV chạy ngắn là 100 thì VĐVchạy cự ly trung bình là 80 và VĐV chạy cự ly dài là 70

Từ tư liệu thực nghiệm trên các VĐV chạy ngắn và VĐV nhảy cao chothấy công suất tối đa của VĐV 2 môn này gần giống như nhau (tiếp cận) nhưnglực cơ và tốc độ ở giây lát lớn nhất của nó lại có sự khác biệt

Đặc điểm của nhóm chạy ngắn lấy phát huy tốc độ chiếm ưu thế cònnhóm nhảy cao lấy phát huy sức mạnh chiếm ưu thế Sự khác biệt mang tínhchuyên sâu trình bày ở trên đã làm rõ thêm: Khi VĐV tiến hành huấn luyện tốchất vận động chuyên môn (các bài tập dùng để nâng cao kỹ thuật và động tác

kỹ thuật cơ bản được gọi là bài tập tố chất vận động chuyên môn) nếu các bàitập loại này mà đặc trưng sinh cơ gần giống (tiếp cận) động tác thi đấu sẽ pháthuy tối đa tác dụng của chúng Từ quan điểm sinh cơ để xem xét các bài tập này(thể lực chuyên môn) cần phải tuân thủ nguyên tắc tính thích ứng động thái (dựavào quan điểm WeilhusanSki) Các mặt dưới đây đêu phải được thích ứng vớiđộng tác thi đấu

1) Biên độ và phương hướng của động tác

2) Biên độ có hiệu lực của vận động và khu trọng điểm

3) Lực tác dụng (hoặc lực cơ lớn hay nhỏ)

Trang 17

4) Tỷ lệ tố độ phát huy của lực tác động tối đa (gọi là thang độ của lực)5) Hình thức làm việc của cơ

1.4 Các quan điểm về tố chất sức bền trong TDTT.

1.4.1 Các quan điểm về sức bền trong TDTT.

Sức bền là một trong những tố chất cơ bản và quan trọng nhất trong huấnluyện thể lực Sức bền trong vận động là khái niệm rất rộng Các quan điểm vềsức bền trong nhiều tài liệu có những cách thể hiện và tiếp cận khác nhau Quaphân tích và tổng hợp thấy có các quan điểm sau:

Harre D cho rằng: “Sức bền được hiểu là khả năng chống lại sự mệt mỏicủa VĐV Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ nhất định (tốc độ,dùng lực, nhịp độ chơi hoặc thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận độngkéo dài của thi đấu tương ứng khả năng huấn luyện của mình Sức bền còn đảmbảo chất lượng động tác và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ - chiến thuật tớicuộc đấu và vượt qua một kháng lượng vận động lớn trong luyện tập” Tác giảcho rằng: “Sức bền là nhân tố xác định ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu và

là nhân tố xác định thành tích tập luyện, khả năng chịu đựng LVĐ của VĐV”

Diên Phong cho rằng: “Tố chất sức bền là năng lực của cơ thể chịu đựngmệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động, còn mệt mỏi là sự giảm sút tạm thờinăng lực làm việc của cơ thể do làm việc tạo ra” Theo tác giả, sức bền là nănglực đa nhân tố, ngoài cấu trúc tổ chức cơ thể ảnh hưởng đến sức bền ra nó còn

có những nhân tố ảnh hưởng khác như: Đặc trưng tâm lý VĐV, năng lực chứcnăng trao đổi và hấp thu năng lượng khi cơ thể vận động, tính ổn định chức năng

cơ thể, sự tiết kiệm chức năng cơ thể

Quan điểm của Daxiorơxki B.M: Sức bền là khả năng hoàn thành mộtcông việc nào đó trong một thời gian dài mà hiệu suất làm việc không bị giảmsút Nói một cách khác có thể coi sức bền như một khả năng chống lại sự mệtmỏi Sự giảm sút khả năng lao động tạm thời do LVĐ gây nên là mệt mỏi, tứcsức bền liên quan trực tiếp tới mệt mỏi Khả năng chống lại mệt mỏi của từngVĐV là khác nhau do trình độ sức bền khác nhau

Trang 18

Quan điểm tương tự Denslegen.G, Legơ.K (1985), cho rằng: Sức bền lànăng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong vận động kộo dài Gross A.C(1986), đó khỏi quỏt sức bền là khả năng hoạt động kộo dài nhưng khụng giảmhiệu suất trong hoạt động đú Gurevich I.A (1985), cho rằng: Sức bền là khảnăng khắc phục sự cản trở của mụi trường bờn trong cũng như bờn ngoài đểhoàn thành một cụng việc với cường độ xỏc định trong thời gian dài.

Sức bền theo nghĩa rộng được cỏc tỏc giả người Đức như: Thief.G Schnabel.G- Baumann.R (1980), khẳng định: Sức bền là một tố chất thể lực, làkhả năng chống lại mệt mỏi trong vận động thể thao Tương ứng với trỡnh độ tậpluyện đại diện là tố chất sức bền, mà sức bền đảm bảo tớnh hiệu quả của thànhtớch đối với một thời gian vận động đũi hỏi

-Ngày nay cỏc nhà chuyờn mụn thường dựng thuật ngữ sức bền thay chothuật ngữ khả năng chịu đựng trước đõy Francois Bigrel (2001) cho rằng sứcbền biểu thị sự cú thể chịu đựng được mệt mỏi lõu trong bài tập cú cường độ đóđịnh trước Sức bền của VĐV phụ thuộc chủ yếu vào khả năng ưa khớ và yếmkhớ của cơ thể, đặc biệt là ngưỡng yếm khớ Theo quan điểm dưới gúc độ sinhhoỏ của Mensicop.V.V và Volcop N.I, sức bền thể hiện dưới dạng kộo dài thờigian hoạt động ở một cường độ nhất định đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầutiờn của mệt mỏi, cũng như giảm khả năng hoạt động khi bắt đầu mệt mỏi vàcuối cựng dẫn đến sự ngừng vận động

Sức bền được xỏc định bởi tỷ số dự trữ cỏc chất năng lượng được sử dụngvới tốc độ tiờu hao năng lượng khi thực hiện bài tập đó định:

Dự trữ năng l ợng (J)Tng (phút)=

Tốc độ tiêu hao năng l ợng (J/phút)

Trong đú: Tng - Thời gian ngưỡng

Dưới gúc độ y - sinh học, Nguyễn Ngọc Cừ, Lờ Quý Phượng, Lưu QuangHiệp, Phạm Thị Uyờn cho rằng: Sức bền là khả năng duy trỡ trong thời gian dàikhả năng hoạt động của con người và sức đề khỏng cao của cơ thể đối với mệtmỏi Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện cỏc hoạt động thể lực kộo dài

Trang 19

liên tục từ 2 - 3 phút trở lên với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (từ1/2 đến toàn bộ lượng cơ bắp cơ thể) nhờ sự hấp thụ O2 để cung cấp năng lượngcho cơ thể chủ yếu bằng con đường ưa khí Như vậy sức bền là khả năng thựchiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu bằng con đường

ưa khí

Theo quan điểm của các nhà lí luận trong nước như: Nguyễn Toán, PhạmDanh Tốn, Trương Anh Tuấn cho rằng: Sức bền là một tố chất thể lực, là nănglực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khảnăng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được, hay nóimột cách khác sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động thể thao

Các tác giả cho rằng để phát triển sức bền phải giải quyết hàng loạt nhiệm

vụ nhằm hoàn thiện và nâng cao những nhân tố chi phối đến sức bền:

- Kỹ thuật thể thao hợp lý

- Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hưng phấn của các trungtâm thần kinh

- Khả năng hoạt động cao của hệ tuần hoàn và hô hấp

- Tính tiết kiệm của các quá trình trao đổi chất

- Cơ thể có nguồn dự trữ năng lượng lớn

- Sự phối hợp hài hoà trong hoạt động của các chức năng sinh lý

- Khả năng chịu đựng chống lại cảm giác mệt mỏi nhờ những nỗ lực ýchí

Các tác giả khẳng định: Nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho

cơ thể thích nghi dần dần với LVĐ ngày càng lớn, đòi hỏi người tập phải có ýchí kiên trì, chịu đựng những cảm giác mệt mỏi đôi khi rất nặng nề và cảm giácnhàm chán do tính đơn điệu của bài tập

Daxưorơxki B.M, và Nôvicốp A.D - Mátveép L.P: Sức bền là năng lựcchống lại mệt mỏi Hiện tượng mệt mỏi trong những hoạt động với LVĐ khácnhau không giống nhau Khi giáo dục sức bền không chỉ chú ý đến chiều sâucủa sự mệt mỏi mà cả tính chất của nó nữa

Trang 20

Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hà cho rằng: Sức bền là khả năng chốnglại mệt mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV, sức bền có ý nghĩa trong việcxác định thành tích thi đấu, đánh giá kết quả huấn luyện và khả năng chịu đựngLVĐ, khả năng phục hồi nhanh chóng của VĐV.

Dưới góc độ tâm lý, Phạm Ngọc Viễn cho rằng: “Sức bền là một mặt ýthức của VĐV phản ánh tổng hợp độ lớn và thời gian của mọi nỗ lực cơ bắp và ýchí của VĐV được phát triển trong điều kiện thực hiện các hành động vận độngkéo dài” Cấu trúc tâm lý của tố chất sức bền không biểu hiện rõ, được xác địnhbởi sự biểu hiện tổng hợp nỗ lực cơ bắp sản sinh ra

Như vậy, dưới góc độ tâm lý cho thấy sức bền là khả năng của hệ thốngtâm thể của VĐV chịu đựng được LVĐ cao trong tập luyện và thi đấu, duy trìđược sự cân bằng cần thiết trong hệ thống đó

Từ phân tích các quan điểm về sức bền của các tác giả trong nước và trênthế giới, cho thấy:

- Hầu hết đều thống nhất cho sức bền là khả năng thực hiện lâu dài mộthoạt động nào đó với cường độ nhất định Sức bền là tố chất thể lực, được thểhiện trong một loại hoạt động Nói cách khác, sức bền là một khái niệm chuyênbiệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nhất định

- Sức bền có vai trò to lớn đối với thành tích thi đấu, khả năng chịu đựngLVĐ, đồng thời luôn gắn liền với hiện tượng mệt mỏi và khả năng hồi phục củaVĐV

- Để phát triển được sức bền trong tập luyện thì VĐV phải khắc phục mệtmỏi

Như các môn thể thao khác, sức bền trong môn bóng rổ rất quan trọng đểVĐV thi đấu đạt thành tích cao nhất Sức bền tạo cho VĐV duy trì nhịp độ trậnđấu cao trong thời gian dài VĐV bóng rổ có sức bền tốt luôn giải quyết cáchành vi kỹ, chiến thuật hoàn hảo và chuẩn xác Sức bền còn giúp VĐV bóng rổtập trung nỗ lực ý chí cao và ngăn ngừa chấn thương trong tập luyện và thi đấu

Trang 21

Qua phân tích các quan điểm về sức bền cho thấy: Sức bền trong các mônthể thao nói chung và môn bóng rổ nói riêng là năng lực chịu đựng mệt mỏi củaVĐV trong hoạt động kéo dài Hay nói cách khác, sức bền chính là khả năngduy trì hoạt động chuyên môn trong tập luyện và thi đấu với nhịp độ cao, hiệusuất ổn định trong thời gian dài.

1.4.2 Phân loại sức bền.

Hoạt động vận động của con người rất đa dạng Các môn thể thao khácnhau có hoạt động đặc thù riêng mang tính chất và cơ chế mệt mỏi khác nhau.Mệt mỏi phân ra: mệt mỏi về trí lực và mệt mỏi về phương diện cảm giác, mệtmỏi về thể xác (thể lực) và mệt mỏi về tinh thần (tình cảm) Sự mệt mỏi về thểxác được tạo ra bởi sự hoạt động của cơ bắp, do vậy các loại sức bền tương ứngcũng khác nhau Qua phân tích và nghiên cứu tài liệu có cách phân loại sức bềnnhư sau:

- Căn cứ vào thời gian hoạt động các nhà khoa học như: Harre.D, TrươngAnh Tuấn, Đồng Văn Triệu, Nguyễn Thị Xuyền, Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn

Sĩ Hà chia sức bền ra thành 3 loại:

Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly hoặchoàn thành khối lượng vận động trong thời gian 11 phút tới nhiều giờ, thành tíchphụ thuộc vào khả năng hoạt động ưa khí Trên cơ sở yêu cầu khác nhau về traođổi chất nên sức bền trong thời gian dài lại chia thành 3 loại là sức bền trongthời gian dài I, II và III tương ứng với thời gian thi đấu từ 10 - 30 phút, từ 30đến 90 phút và trên 90 phút

Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết để hoàn thành khốilượng vận động trong thời gian từ 2 đến 11 phút Thành tích sức bền này đòi hỏi

sự hoạt động đầy đủ của khả năng ưa khí và khả năng yếm khí, phụ thuộc vàomức độ phát triển của sức mạnh - bền và sức nhanh bền

Sức bền trong thời gian ngắn (45 giây đến dưới 2 phút): Thành tích phụthuộc vào khả năng hoạt động yếm khí và sự phát triển sức mạnh - bền và sứcnhanh bền

Ngày đăng: 04/09/2015, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền cho sinh viên Bơi lội trường Đại học TDTT - Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf   nonius
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền cho sinh viên Bơi lội trường Đại học TDTT (Trang 33)
Bảng 3.2. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi trên của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo năm học trên hệ thống máy Enraf - Nonius . - Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf   nonius
Bảng 3.2. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi trên của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo năm học trên hệ thống máy Enraf - Nonius (Trang 38)
Bảng 3.4. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi dưới và thân mình của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo năm học trên hệ thống máy Enraf - Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf   nonius
Bảng 3.4. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi dưới và thân mình của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo năm học trên hệ thống máy Enraf (Trang 39)
Bảng 3.5. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi dưới và thân mình của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo giới tính trên hệ thống máy Enraf - Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf   nonius
Bảng 3.5. So sánh kết quả kiểm tra sức bền nhóm cơ chi dưới và thân mình của sinh viên chuyên sâu Bơi lội theo giới tính trên hệ thống máy Enraf (Trang 40)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w