1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội

84 408 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 695 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về việcứng dụng hệ thống các test, các bài tập chuyên môn nhằm phát triển tố chất thểlực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hoá của mỗi dân tộc cũngnhư văn minh nhân loại Tập luyện TDTT quần chúng cũng như học tập và thiđấu thể hiện trình độ vận động cao, đã trở thành nhu cầu của đông đảo quầnchúng Các hoạt động đó không chỉ là những hình thức nghỉ ngơi, giải trí màcòn nhằm nâng cao sức khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, các trường Đại học, Caođẳng thể dục thể thao đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của mình nhằm phục vụmục tiêu chung của đất nước trong tình hình mới Việc nâng cao chất lượngđào tạo là nhiệm vụ trọng tâm, với những biện pháp và cách thức khác nhaunhư áp dụng quy trình đào tạo mới cải tiến chương trình, nội dung giảng dạy,trang thiết bị hiện đại hóa dụng cụ tập luyện, cơ sở vật chất và phòng thínhiệm, tổ chức biên soạn chương trình giáo dục, tài liệu, sách giáo khoa tạo

ra sản phẩm ra đào tạo có chất lượng cao, đáp ứng tốt với nhu cầu đổi mới vàphát triển của xã hội

Trường Đại học sư phạm thể dục thể thao Hà Nội là nơi đào tạo giáoviên giáo dục thể chất cho phổ thông các cấp Mục tiêu đào tạo của nhàtrường là đào tạo một cách toàn diện các môn và khá giỏi một môn Để thựchiện mục tiêu đó ngay trong quá trình học tập trên ghế nhà trường công táctập luyện kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với kiểm tra đánh giá tri thức kỹ năng vàtrình độ thể lực của sinh viên luôn là bộ phận không thể tách rời và rất quantrọng trong quá trình dạy học, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hoàn thiện vàphát triển nhân cách, thậm trí còn tác động quyết định đối với tương lai củasinh viên

Nhiệm vụ của huấn luyện thể lực là nhằm phát triển song song giữa thểlực chung và thể lực chuyên môn cho các vận động viên.Tức là nhằm hìnhthành sự phát triển đồng đều các tố chất: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo, khảnăng phối hợp vận động Để phát triển các tố chất vận động trên đòi hỏi ngườigiáo viên, huấn luyện viên phải sử dụng các phương pháp, các bài tập, cách

Trang 2

thức sắp xếp, tổ chức và thực hiện sao cho có hệ thống và phù hợp với đốitượng, lứa tuổi, trình độ tập luyện, đặc thù thể hình của người tập để giảngdạy huấn luyện cho đối tượng của mình.

Bóng rổ là môn thể thao thi đấu đối kháng giữa hai đội, mục đích củamỗi đội là tìm cách ném bóng vào rổ của đối phương và ngăn cản không chođối phương ném bóng vào rổ của đội mình Vì vậy, các yếu tố về kỹ chiếnthuật, yếu tố thể lực và các tố chất nhanh, mạnh, bền là vô cùng quan trọng.Việc này đòi hỏi vận động viên phải huy động đến cực hạn các khả năng chứcphận của cơ thể và các tố chất nhanh, mạnh, bền để đạt hiệu quả cao trong tậpluyện và thi đấu

Nhằm đáp ứng được những yêu cầu đó của nhà trường, bộ môn Bóng

rổ - Bóng ném thường xuyên triển khai các mặt công tác đổi mới về nội dung,cũng như phương pháp đào tạo, trong đó phương pháp kiểm tra đánh giá,cũng như phương tiện giảng dạy, huấn luyện trình độ thể lực cho sinh viênchuyên sâu là vấn đề được bộ môn hết sức quan tâm

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh mà công tác đào tạo sinh viênchuyên sâu Bóng rổ đã đạt được như kỹ, chiến thuật… thì còn một nhượcđiểm rất lớn cần phải khắc phục đó là: Trình độ thể lực chuyên môn, đặc biệt

là sức bền tốc độ của sinh viên chuyên sâu Bóng rổ còn rất hạn chế Điều nàyđược bộc lộ qua khả năng thi đấu của các sinh viên chuyên sâu bóng rổTrường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội thông qua một số giải nghiệp vụ sưphạm và các giải thi đấu khu vực Hà Nội cũng như toàn quốc còn yếu kém,đặc biệt vào những thời điểm cần phát huy nỗ lực tối đa trong trận đấu

Với thực trạng như vậy, hiện nay đã có một số các công trình nghiên cứu

về vấn đề ứng dụng hệ thống các bài tập phát triển tố chất thể lực chuyên môncho một số môn thể thao ở các đối tượng khác nhau như:

- Nguyễn Hữu Thắng (1998) với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp rèn luyện sức bền cho đơn vị bộ binh sau giai đoạn huấn luyện tân binh”.

- Phạm Đông Đức (1998) với đề tài “Nghiên cứu lựa chọn một số bài

tập sức bền cho VĐV vật tự do Việt Nam”

Trang 3

- Phạm Văn Thảo (1999) với đề tài "Nghiên cứu lựa chọn chỉ tiêu và

xây dựng chỉ tiêu tuyển chọn ban đầu cho vận động viên Bóng rổ nữ ở Việt Nam lứa tuổi 12-14”.

- Nguyễn Hải Đường ( 2009) với đề tài: “ Lựa chọn hệ thống bài tập

nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường đại học TDTT Đà Nẵng”

Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về việcứng dụng hệ thống các test, các bài tập chuyên môn nhằm phát triển tố chất thểlực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ chuyên ngành sư phạm giáodục thể chất còn đang rất hạn chế, đặc biệt là chưa có một công trình nghiêncứu nào đề cập đến việc ứng dụng hệ thống các test, các bài tập chuyên mônnhằm phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ

Qua thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng, ứng dụng hệ thống cácphương tiện, phương pháp cũng như các bài tập chuyên môn trong công táchuấn luyện nhằm phát triển các tố chất thể lực chuyên môn nói chung và pháttriển tố chất sức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ Trường Đại học

sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng mới chỉ là bước đầu Để đem lại hiệu quảcao trong công tác đào tạo - huấn luyện, các phương tiện này cần thiết phảiđược ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp kỹ - chiến thuật, đặc biệt làviệc phát triển tố chất sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổnăm thứ nhất trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội Mặt khác, do yêu cầu

và đặc thù chuyên môn của công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành sư phạmGDTC, bước vào năm thứ nhất của học chuyên sâu là sinh viên đã trải quamột năm để tích luỹ được năng lực chuyên môn và tố chất thể lực chung ởnăm đầu trong chương trình đào tạo chung của nhà trường Đồng thời, tố chấtthể lực chuyên môn đặc trưng của môn Bóng rổ là sức bền tốc độ, đây là tốchất thể lực nền tảng để tiếp thu kỹ - chiến thuật trong quá trình tập luyện, thiđấu và nó cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em trongquá trình đào tạo chuyên sâu Nhưng tiếc rằng, vấn đề này cho đến nay vẫnchưa được các nhà chuyên môn quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức

Trang 4

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO NAM SINH VIÊN CHUYÊN SÂU BÓNG RỔ NĂM THỨ NHẤT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI”

2 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm phát triển sức bền tốc độ vàkhảo sát các chỉ tiêu đặc trưng cho sức bền tốc độ của nam sinh viên chuyênsâu Bóng rổ trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, đề tài tiến hành lựa chọn

và ứng dụng hệ thống bài tập chuyên môn nhằm phát triển tố chất sức bền tốc

độ cho đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

3 Mục tiêu nghiên cứu.

Để giải quyết mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyếtcác mục tiêu nghiên cứu sau:

- Mục tiêu 1: Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho

nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất Trường Đại học SP TDTT

Hà Nội.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác giảng dạy, huấn luyện sức bềntốc độ cho đối tượng nghiên cứu, đồng thời căn cứ vào cơ sở lý luận và thựctiễn huấn luyện thể lực chuyên môn và phỏng vấn các chuyên gia , huấn luyệnviên Bóng rổ có kinh nghiệm nhằm lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sứcbền tốc độ cho đối tượng nghiên cứu

- Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập phát triển sức bền

tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất Trường Đại học

sư phạm TDTT Hà Nội

Ứng dụng và kiểm nghiệm hiệu quả hệ thống bài tập chuyên môn phùhợp với điều kiện thực tiễn trong huấn luyện sức bền tốc độ cho nam sinhviên chuyên sâu Bóng rổ trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học.

Sau quá trình nghiên cứu, hệ thống bào tập mà chúng tôi đưa ra nhằmphát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sau bóng rổ Trường Đạihọc sư phạm TDTT Hà Nội sẽ có hiệu quả thiết thực, nhằm nâng cao năng lựcsức bền cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận của đề tài.

1.1 Nhiệm vụ GDTC trong trường Đại học và Cao đẳng chuyên nghiệp.

Đảng và nhà nước luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC vàthể dục thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo độingũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hàihoà, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và

có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Căn cứ vào mục tiêu trên, GDTC và thể dục thể thao trường học phảigiải quyết 3 nhiệm vụ:

- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tậpthể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh,tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất vàbảo vệ tổ quốc

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung

và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản củamột số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụngcác phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền

và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội

- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ, nâng cao trình độ thể lực chosinh viên, phát triển cơ thể hài hoà, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêuchuẩn thể lực quy định

- Dễ nhận thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng củaGDTC là không ngừng nâng cao sức khoẻ, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lựccho sinh viên Nôvicốp A.D; Mátvêép L.P (1993); khẳng định; “…thể lực làmột trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động củacon người, trong đó có thể dục thể thao Hơn nữa, rèn luyện (phát triển) thểlực, lại là một trong những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC”

Trang 6

1.2 Đặc điểm tác dụng môn học bóng rổ.

1.2.1 Đặc điểm của môn bóng rổ.

Bóng rổ là môn thể thao mang tính đồng đội, thi đấu đối kháng trựctiếp Đội hình chính của mỗi đội gồm 5 người, tất cả đều được liên kết vớimục tiêu chung là đưa bóng vào rổ đối phương Chính vì vậy mà các tìnhhuống được diễn biến mang tính chất luân phiên ở cả hai phía rổ của mỗi đội.Quá trình thi đấu được xác định bằng kỹ - chiến thuật và thể lực

* Bóng rổ là môn thể thao có tính tập thể và đối kháng cao.

Trong trận thi đấu bóng rổ gồm 10 người hoạt động và di chuyển trênmột sân với phạm vi hẹp, nên nếu chỉ dựa vai trò của từng cá nhân VĐV thìkhông thể nào giành được chiến thắng Không có bất kỳ VĐV ưu tú nào cóthể vượt qua khoảng không gian trên sân, lọt qua cả một tập thể đối phươnggồm 5 người để kết thúc ném rổ thành công và có đủ sức phòng thủ trước sứctấn công của toàn đội đối phương Điều này cho thấy sức mạnh của đội bóngtrước hết là tính tập thể của đội bóng đó Số lượng VĐV của một đội bóng rổkhông nhiều nên sức mạnh hiệp đồng phải lớn và phải biết phát huy điểmmạnh cũng như phải biết khắc phục điểm yếu của đội

Với trình độ kỹ chiến thuật phát triển nhanh và đạt tới trình độ cao nhưngày nay thì đòi hỏi tính tập thể lại càng cao Khi bị đối phương tấn công hầunhư toàn đội rút về liên kết phòng thủ và khi tấn công thì toàn đội cùng thamgia phối hợp tạo sức mạnh, tăng cường sức uy về số lượng tận dụng nhữngkhoảng trống của đối phương kết thúc ném rổ chính xác

Khi thi đấu bóng rổ cầu thủ hai đội được tràn sang sân đối phương đểtranh giành bóng một cách hợp lệ, nên sự đối kháng mang tính chất trực tiếp,các VĐV của hai đội đều phải quyết tâm thi đấu giành chiến thắng trong từngpha bóng, tạo ra từng cơ hội thuận lợi nhỏ nhất cho đội mình Bên cạnh ý chíquyết tâm của toàn đội giành phần chiến thắng, từng VĐV cũng có cuộc đốikháng riêng với VĐV đối phương Nhìn chung khi tham gia các pha tấn côngcác VĐV thường di chuyển mọi cách thoát khỏi sự truy cản và kèm sát củađối phương để tìm khoảng chống nhằm phối hợp với đồng đội kết thúc ném rổ

Trang 7

thành công Tuy nhiên khi bị tấn cống thì toàn đội di chuyển phòng thủ theo

vị trí và kèm sát VĐV đã được phân công tạo ra tuyến phòng thủ vững chắcnhằm vô hiệu hóa sự nguy hiểm của đối phương Trong suốt thời gian thi đấucuộc chiến gay go giữa các VĐV của hai đội diễn ra liên tục với mật độ cao

và chỉ dừng lại khi tiếng còi của trọng tài kết thúc trận đấu

* Bóng rổ là môn thể thao có tính nghệ thuật cao.

Bóng rổ là môn thể thao mà các VĐV trên sân dùng tay chơi bóng, việc

sử dụng khéo léo đôi bàn tay để dẫn bóng, chuyền bóng và ném rổ các vậnđộng viên còn phải di chuyển linh hoạt tạo khoảng chống cho đồng đội để dứtđiểm Do vậy trong quá trình thi đấu đã tạo nên sự sinh động, đa dạng của các

kỹ - chiến thuật và làm tăng được tính hấp dẫn và tính nghệ thuật của mônbóng rổ

Trong khi thi đấu bóng rổ thông qua các pha tấn công cũng như phòngthủ các VĐV phải thể hiện hết trình độ về kỹ chiến thuật chính vì vậy nhiềupha bóng đẹp luôn mang nhiều cảm xúc cảm cho khán giả bởi tính nghệ thuậtcủa nó như: Dẫn bóng qua hàng phòng thủ kết thúc ném rổ, phối hợp chuyềnbắt bóng nhảy ném cự ly 3 điểm, bay người úp rổ

* Bóng rổ là môn thể thao có đặc điểm thi đấu phức tạp.

Do đặc điểm thi đấu của môn bóng rổ là tình huống luân phiên diễn ra

ở hai rổ của nhau nên đòi hỏi vận động viên phải có tốc độ di chuyển rấtnhanh để phối hợp trong các pha phản công nhanh và nhanh chóng thu về đểphòng thủ Vì vậy nhiều lúc vận động viên phải hoạt động với công suất lớn.Khối lượng và cường độ vận động trong các trận đấu luôn khác nhau và sẽkhông đồng đều đối với từng vận động viên cũng như đối với từng đội bóng.Khối lượng đó phụ thuộc vào tình huống thi đấu cụ thể chịu ảnh hưởng củalực lượng đối phương, kế hoạch chiến thuật, trình độ thể lực, kỹ - chiến thuật,tính tích cực của từng cầu thủ Bóng rổ là môn thể thao hoạt động chủ yếukhông theo chu kỳ và là môn thể thao của những hoạt động sức mạnh độnglực với cường độ luôn thay đổi Điều đó tạo nên tình huống khác nhau trênsân trong từng thời điểm thi đấu Sự phối hợp tuần tự giữa các thời kỳ chủ

Trang 8

động và thụ động trong hoạt động của vận động viên bóng rổ diễn ra trong thờigian 24 giây Tổng số mạch đập trong cả trận đấu lên tới 9000 – 11000 lần.Trong một trận đấu vận động viên thường giảm sút từ 1,5 đến 2 kg trọng lượng.

Lượng vận động thi đấu của bóng rổ hiện đại rất lớn Trong những trậnđấu lớn, vận động viên đẳng cấp cao phải di chuyển trung bình từ 3500 –5500m Tổng số đợt bứt phá trong tấn công và từ tấn công sang phòng thủ lênđến hàng 100 đến 120 lần Di chuyển với tốc cao kết hợp thực hiện với các kỹ

- chiến thuật, di chuyển, chuyền bắt bóng và ném rổ đòi hỏi các vận động viênphải có trình độ thể lực và trình độ kỹ thuật hoàn hảo mới mang lại hiệu quảcao trong thi đấu

Tóm lại: Bóng rổ là môn thể thao có đặc điểm hoạt động vô cùng đa dạng

và phức tạp Vì vậy, đòi hỏi vận động viên bóng rổ phải có trình độ kỹ - chiếnthuật và một nền tảng thể lực thể lực vững chắc thì mới có thể đáp ứng được vớilượng vận động trong thi đấu và ý đồ chiến thuật của huấn luyện viên

1.2.2 Tác dụng của môn bóng rổ.

Là môn thể thao ra đời từ rất sớm( năm 1890) tại Mỹ và nhanh chónglan truyền rộng ra khắp châu lục Cũng như bất kỳ môn thể thao nào khác, tậpluyện và thi đấu kích thích sự phát triển của các khả năng vận động của conngười và điều đặc biệt ở môn bóng rổ có tác dụng phát triển toàn diện các tốchất thể lực Trong toàn bộ các động tác và những tình huống thi đấu trên sânđều cho bộc lộ rõ các tố chất như sức nhanh, sự khéo léo trong các pha phảncông kết thúc ném rổ, sức mạnh trong tình huống tranh cướp bóng dưới rổ vàsức bền trong quá trình thi đấu liên tục di chuyển tấn công rồi chuyển sangphòng thủ

Do đặc điểm thi đấu của bóng rổ là hoạt động tập thể, đối kháng trựctiếp cao nên ngoài tác dụng nói trên nó còn có tác dụng nâng cao lòng dũngcảm, tinh thần phối hợp giữa đồng đội, tính kỷ luật, tính quyết đoán trongtừng tình huống cụ thể, năng lực tư duy về kỹ - chiến thuật và những phẩmchất tâm lý tốt đẹp khác

Trang 9

Với đặc thù hoạt động của môn bóng rổ có tính chất thay đổi cường độvận động thường xuyên, các động tác phong phú, đa dạng, tính gay cấnthường xuyên xảy ra trong các tình huống thi đấu nên có thể luôn chịu cáckích thích mới làm cho hệ thần kinh phải hưng phấn cao trong thời gian dài,chính điều này làm cho hệ thần kinh phát triển linh hoạt, sáng tạo, tần sốmạnh, tần số hô hấp và dung tích sống của vận động viên tăng lên rõ rệt.

1.3 Quan điểm, phân loại và phương pháp phát triển sức bền.

1.3.1 Quan điểm về sức bền.

Quan điểm về sức bền trong các tài liệu, các công trình nghiên cứu cónhững cách thể hiện và nhìn nhận khác nhau Thuật ngữ sức bền trong hoạtđộng TDTT được các nhà khoa học nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau như:Sinh lí học, tâm lí học và lí luận và phương pháp TDTT Qua phân tích vàtổng hợp tài liệu chúng tôi thấy có một số cách tiếp cận sau:

Theo tác giả D Harre: “Sức bền được biểu hiện là khả năng chống lại

sự mệt mỏi của VĐV” Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độnhất định (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gianvận động kéo dài của thi đấu Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác vàgiải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ chiến thuật tới cuộc thi đấu và vượt quamột khối lượng vận động lớn trong tập luyện” Tác giả cũng cho rằng: “Sứcbền là nhân tố xác định ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu và là nhân tố xácđịnh thành tích tập luyện, khả năng chịu đựng lượng vận động của VĐV” [19]

Pharơphen là người đầu tiên xác định được đường biểu diễn của mốiquan hệ tốc độ và thời gian, thời gian chạy tăng lên thì tốc độ giải mệt mỏi đitheo 1 quy luật nhất định Pharơphen đã xác định 4 vùng công suất tương đốiứng với 4 loại cự li trong mệt mỏi vận động có chu kỳ:

- Vùng công suất cực đại :100m-200m-300m

- Vùng công suất gần cực đại: 400m-2000m

- Vùng công suất lớn: 3000m-10.000m

- Vùng công suất trung bình: trên 10.000m

Trang 10

Sự phỏt hiện này cú ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn Cỏc hoạtđộng trong cựng một vựng cụng suất cú cơ chế mệt mỏi (cơ chế sức bền)tương tự nhau Cũn ở cỏc hoạt động thuộc trong vựng cụng suất khỏc nhau thỡ

cơ chế mệt mỏi cũng sẽ hoàn toàn khỏc nhau

Theo quan điểm dưới gúc độ sinh hoỏ, tỏc giả Kirlụp A.A cho rằng:

Sức bền thể hiện dưới dạng kộo dài thời gian hoạt động ở một cường độ nhất định đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiờn của mệt mỏi, cũng như giảm khả năng hoạt động khi bắt đầu mệt mỏi và cuối cựng dẫn đến sự ngừng vận động [24]

Sức bền được xỏc định bởi tỷ số dự trữ cỏc chất năng lượng được sửdụng với tốc độ tiờu hao năng lượng khi thực hiện bài tập đó định:

Dự trữ năng l ợng (J)

ức bền (tng, phút)=

Tốc độ tiêu hao năng l ợng (J/phút)

S

Trong đú: tng - ngưỡng thời gian

Theo quan điểm của tỏc giả Lưu Quang Hiệp dưới gúc độ sinh lý họccho thấy: Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện cỏc hoạt động thể lực kộodài liờn tục từ 2 - 3 phỳt trở lờn với sự tham gia của một khối lượng cơ bắplớn (từ ẵ đến toàn bộ lượng cơ bắp cơ thể) nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấpnăng lượng cho cơ thể chủ yếu bằng con đường ưa khớ [28]

Nguồn năng lượng chớnh cho sự co cơ trong vận động là 3 hệ:

- Hệ phốt phogen (ATP - CP)

- Hệ lỏctỏc

- Hệ oxy hoỏ

Trong đú hệ phốtphogen và hệ lỏctỏc là hệ yếm khớ, cũn hệ oxy hoỏ là

hệ ưa khớ Như vậy việc vận dụng cỏc phương phỏp đều tập trung vào việcgiải quyết cỏc nhiệm vụ là nõng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể(VO2Max) và khả năng duy trỡ lõu dài mức độ hấp thụ oxy tối đa của cơ thể.Song, việc tập luyện sức bền cho VĐV búng đỏ là một vấn đề cú ý nghĩa quantrọng Trong tập luyện nguồn năng lượng chớnh cung cấp cho hoạt động của

Trang 11

VĐV bóng đá là hệ yếm khí và ưa khí, nhưng trong thi đấu thì hệ yếm khíchiếm ưu thế nhiều hơn so với hệ ưa khí

Khả năng hấp thụ oxy tối đa được quyết định bởi khả năng của hai hệthống chức năng chính là Hệ vận chuyển oxy và hệ cơ [26], [27]

* Hệ vận chuyển oxy: Bao gồm hệ hô hấp, máu và tim mạch

- Hệ hô hấp: Đảm bảo việc trao đổi khí giữa không khí bên ngoài và

máu, tức là làm cho phân áp oxy trong máu động mạch được duy trì ở mứccần thiết để cung cấp cho cơ và các cơ quan

Khi phát triển sức bền thì hệ hô hấp phải có những biến đổi cả về cấutạo và chức năng nhất định Những biến đổi đó bao gồm:

+ Các thể tích khí của phổi tăng lên (10 - 20 %)

+ Công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài tăng lên

+ Tăng cường khả năng khuếch tán của phổi

- Hệ máu: Thể tích máu và hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng

vận chuyển oxy của cơ thể Tập luyện sức bền làm tăng lượng máu tuần hoàn

Ở VĐV tập luyện các môn thể thao sức bền cao hơn VĐV các môn khác vàngười bình thường khoảng 20% Lượng máu tăng chủ yếu là do tăng thể tíchhuyết tương, vì vậy độ nhớt của máu có xu hướng giảm đi

Hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng kết hợp oxy, tức là khảnăng vận chuyển chúng Lượng hemoglobin ở người bình thường trong máukhoảng 700 - 900g, trong khi VĐV tập luyện sức bền là 100 - 1200g

Axit lactic trong máu tỷ lệ nghịch với thời gian vận động và do các yếu

tố sau đây quyết định

+ Cơ bắp có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng oxy cao.+ Hệ vận chuyển oxy (hô hấp, máu, tuần hoàn) thích nghi với vận độngnhanh hơn

+ Tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát triển

+ Lương máu tuần hoàn tăng làm pha loãng axit lactic chứa trong máu,

vì vậy axit lactic trong máu giảm xuống

Trang 12

Như vậy là tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khả năng hấp thụ oxytối đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và như vậy làm tăngkhả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể Đó là một trong những cơ chếquan trọng nhất để nâng cao sức bền của VĐV.

- Hệ tim - mạch: Tập luyện sức bền lâu dài làm cho tim biến đổi theo

hai hướng: Giãn buồng tim và phì đại cơ tim Giãn buồng tim làm cho lượngmáu chứa trong các buồng tim tăng lên Đó là yếu tố quan trọng để tăng thểtích tâm thu khi cần thiết Phì đại cơ tim làm tăng lực bóp của tim, tức là làmtăng thể tích tâm thu

Về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm tần số co bóp của timkhi yên tĩnh Do đó tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng và có thờigian nghỉ dài hơn Thể tích tâm thu tối đa của VĐV sức bền lên đến 190 -210ml, trong khi người bình thường không quá 130ml

- Hệ cơ: Sức bền của VĐV phụ thuộc một phần đáng kể vào đặc điểm

cấu tạo và hoá sinh của cơ

Tỷ lệ các sợi cơ chậm (nhóm i) của VĐV sức bền trong cơ rất cao.Giữa tỷ lệ sợi cơ chậm và VO2max có mối liên quan chặt chẽ (tỷ lệ thuận) vớinhau Song tập luyện sức bền có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanh II-A và giảm

tỷ lệ sợi cơ nhanh nhóm II-B

Tập luyện sức bền còn làm cho cơ phì đại theo kiểu phì đại cơ tương

Ty lạp thể và số lượng các men trong cơ đều tăng lên Điều đó làm cho khảnăng hấp thụ oxy của cơ cũng tăng lên

Tập luyện sức bền làm tăng số lượng mao mạch trong cơ Vì vậy màkhả năng hoạt động thể lực kéo dài của cơ sẽ tăng lên

Trong quá trình tập luyện sức bền, ở cơ xảy ra hàng loạt biến đổi hoá sinh để nâng cao khả năng sử dụng oxy, tức là nâng cao sức bền của cơ thể

-+ Tăng hàm lượng và hoạt tính của men trao đổi chất ưa khí

+ Tăng hàm lượng hemoglobin trong cơ (từ 1.5 đến 2 lần)

+ Tăng hàm lượng các chất chứa năng lượng như glycogen và lipit.+ Tăng khả năng oxy hoá đường và đặc biệt là mỡ của cơ

Trang 13

Qua các đặc điểm trên ta thấy tập luyện phát triển sức bền gây được haihiệu quả cơ bản là nâng cao khả năng ưa khí tối đa của cơ thể và nâng caohiệu quả (tính kinh tế) hoạt động của cơ thể trong hoạt động.

Theo tác giả Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sĩ Hà thì: “Tố chất sức bền là chỉ năng lực của cơ thể khắc phục mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động” Tác giả cho rằng, sức bền là năng lực đa nhân tố, ngoài cấu trúc tổ

chức cơ thể ảnh hưởng đến sức bền ra thì nó còn có những nhân tố ảnh hưởngkhác như: Đặc trưng tâm lý VĐV, năng lực chức năng trao đổi và hấp thụnăng lượng khi cơ thể vận động, tính ổn định chức năng cơ thể, sự tiết kiệmchức năng cơ thể

Theo tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được.

Để phát huy sức bền phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ nhằm hoànthiện và nâng cao những nhân tố chi phối đến sức bền

- Kĩ thuật thể thao hợp lý

- Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hưng phấn của cáctrung tâm thần kinh

- Khả năng hoạt động cao của hệ tuần hoàn và hô hấp

- Tính tiết kiệm của các quá trình trao đổi chất

- Cơ chế có nguồn năng lượng lớn

- Sự phối hợp hài hoà trong hoạt động của các chức năng sinh lý

- Khả năng chịu đựng chống lại cảm giác mệt mỏi nhờ sự nỗ lực ý chí.Mặt khác, việc nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thểthích nghi dần dần với lượng vận động ngày càng lớn, đòi hỏi người tập phải

có ý chí kiên trì, chịu đựng những cảm giác mệt mỏi đôi khi rất nặng nề vàcảm giác nhàm chán do tính đơn điệu của bài tập

Theo các tác giả Nabatnhicova M.ia và Ozolin M.G cho rằng: Sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi Hiện tượng của mệt mỏi trong những hoạt động

với lượng vận động khác nhau là không giống nhau Nói một cách khác, khi

Trang 14

giáo dục sức bền không phải chỉ chú ý đến chiều sâu của sự mệt mỏi mà cả tínhchất của nó nữa.

Như vậy, huấn luyện sức bền lượng vận động phải được xác định đầy

đủ 5 nhân tố sau:

1 Cường độ bài tập

2 Thời gian của bài tập

3 Thời gian nghỉ giữa quãng

4 Tính chất nghỉ ngơi

5 Số lần lặp lại

Theo tác giả Nguyễn Toán cho thấy: Sức bền là khả năng chống lại mệtmỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV Tác giả cho rằng sức bền có ýnghĩa trong việc xác định thành tích thi đấu, đánh giá kết quả huấn luyện vàkhả năng chịu đựng lượng vận động, khả năng phục hồi nhanh chóng củaVĐV

Theo tác giả Phạm Ngọc Viễn thì: “Sức bền là một mặt ý thức của VĐV, phản ánh tổng hợp độ lớn về thời gian của sự nỗ lực cơ bắp và ý chí của VĐV được thể hiện khi hoạt động kéo dài”.

Hoạt động sức bền có liên quan mật thiết đến sự nỗ lực ý chí, nó biểuhiện ở các phẩm chất về tâm lí, về tính tự chủ, quyết đoán và cả về tính mụcđích của bài tập Thường những hoạt động sức bền là những hoạt động vớithời gian dài, cường độ lớn dễ gây ra mệt mỏi cho người tập, có thể là mệtmỏi giả Do đó người tập phải tự động viên phát động mọi năng lực dự trữcủa cơ thể đảm bảo duy trì cường độ vận động trong thời gian dài Để đạtđược mục đích của bài tập vận động viên phải cần xác định rõ nhiệm vụ củabài tập và luôn có ý thức tiến lên Trong quá trình tập luyện và thi đấu, VĐVphải có năng lực điều khiển ý thức tập trung chú ý, do thời gian thi đấu kéodài nên có yêu cầu rất cao của hệ thần kinh, sức bền thần kinh, sức bền tâm lícũng là đặc điểm của sức bền chuyên môn mà sức bền tâm lí là khả năng của

hệ thống thần kinh của VĐV có thể chịu đựng được lượng vận động cao trongtập luyện và thi đấu duy trì sự cân bằng cần thiết trong hệ thống đó

Trang 15

1.3.2 Phân loại sức bền.

Sức bền là một tố chất thể lực, là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạtđộng vận động

Sức bền phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Năng lực hoạt động của hệ thống tim mạch

- Quá trình trao đổi chất

- Sự tiết kiệm hoá trong vận động (thả lỏng, kĩ thuật)

- Các phẩm chất tâm lý chuyên môn

Sức bền phát triển tốt là tiền đề quan trọng để con người có thể sẵnsàng lao động, học với năng suất, đồng thời hình thành những phẩm chất tốtđẹp như tính kiên trì, tinh thần bền bỉ, ý chí quyết tâm…

Tập luyện sức bền sẽ nâng cao khả năng làm việc của cơ thể đặc biệt là

hệ thống tuần hoàn, hô hấp và hệ thống vận động

Trong thể thao, sức bền là yếu tố quyết định thành tích của nhiều mônthể thao Sức bền phát triển tốt sẽ nâng cao khả năng chịu đựng lượng vậnđộng tập luyện và là tiền đề quan trọng để người tập có thể hồi phục nhanhchóng sau quá trình tập luyện và thi đấu

Việc phân loại sức bền có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi mộttrường phái khác nhau lại căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm khác nhau để phânloại Qua phân tích và nghiên cứu tài liệu chúng tôi thấy có một số cách phânloại như sau:

Phát triển sức bền cơ sở trước hết phải nâng cao khả năng hấp thụ oxy

và các năng lực chuyển hoá có oxy cũng như phải phát triển các phẩm chấttâm lý chuyên môn

Trang 16

Phát triển tốt sức bền cơ sở sẽ tạo nên nền tảng chức năng vững chắccho tất cả các môn thể thao sức bền và các môn thể thao có yêu cầu sức bềnnhư một yếu tố xác định thành tích

- Sức bền chuyên môn: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt mỏi

khi thực hiện các yêu cầu chuyên môn của môn thể thao hoặc kĩ thuật thể thaotrong điều kiện thi đấu

Dựa vào đặc điểm của từng môn thể thao, người ta phân sức bềnchuyên môn thành các loại như sau:

- Sức bền mạnh: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt mỏi khi

thực hiện các nhiệm vụ vận động kéo dài đòi hỏi sự tham gia của sức mạnh ởmức độ cao

- Sức bền tốc độ: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt mỏi khi

thực hiện các nhiệm vụ vận động đòi hỏi tốc độ gần tối đa, tới tối đa trongđiều kiện năng lượng được cung cấp chủ yếu thông qua quá trình yếm khí

- Sức bền thời gian ngắn: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt

mỏi khi thực hiện các lượng vận động vận động kéo dài từ 45 giây đến 2 phúttrong điều kiện năng lượng được cung cấp chủ yếu thông qua quá trình yếmkhí Sức bền thời gian ngắn phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của sứcbền mạnh và sức bền tốc độ

- Sức bền thời gian trung bình: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại

mệt mỏi khi thực hiện các lượng vận động vận động kéo dài từ 2 phút đến 11phút trong điều kiện đòi hỏi cao về năng lượng thông qua quá trình yếm khí

và ưa khí

- Sức bền thời gian dài: Là một dạng sức bền, là năng lực của VĐV

nhằm chống lại mệt mỏi khi thực hiện các lượng vận động vận động kéo dài

từ 11 phút đến nhiều giờ trong điều kiện năng lượng được cung cấp chủ yếuthông qua quá trình ưa khí

Trong sinh lý TDTT căn cứ vào hệ cung cấp năng lượng người ta chiasức bền ra thành 2 loại:

Trang 17

- Sức bền ưa khí: Là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong điều

kiện sử dụng nguồn năng lượng thông qua quá trình oxy hoá hợp chất hữu cơgiàu năng lượng trong cơ thể

- Sức bền yếm khí: Là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong

điều kiện dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (các phản ứng giảiphóng năng lượng không có sự tham gia của oxy)

1.3.3 Các phương pháp phát triển sức bền

Phát triển sức bền là một quá trình huấn luyện có chủ đích và kế hoạchnhằm nâng cao năng lực sức bền chuyên môn (sức bền tốc độ, sức bền thờigian ngắn, sức bền thời gian trung bình và sức bền thời gian dài) và sức bền

cơ sở

Phát triển sức bền chuyên môn là trực tiếp phát triển các năng lực sứcbền thi đấu bằng các bài tập thi đấu trong điều kiện thi đấu hoặc gần giống thiđấu với cường độ bằng hoặc xấp xỉ cường độ tối đa

Phát triển sức bền cơ sở hướng vào việc nâng cao năng lực hoạt độngcủa hệ thống tuần hoàn, năng lực trao đổi oxy, sức bền của các nhóm cơ lớnbằng các bài tập phát triển chung

Căn cứ vào mục đích tập luyện có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp kéo dài thời gian: Đặc điểm của phương pháp này là

thực hiện một lượng vận động kéo dài, liên tục, không có thời gian nghỉ.Năng lực hấp thụ oxy được phát triển nhờ hai con đường hoặc là vận độngliên tục trong điều kiện có oxy, hoặc hoạt động trong thời gian dài với sự thayđổi cường độ dẫn đến nhất thời phải hoạt động trong điều kiện không có oxy.phương pháp kéo dài thời gian có 3 phương thức thực hiện dưới đây:

- Phương pháp liên tục: Phương pháp này có đặc điểm hoạt động trong

thời gian dài với tốc độ ổn định Cường độ được xác định dễ dàng thông quatần số mạch đập Tuỳ theo đặc điểm của môn thể thao và trình độ của ngườitập giá trị này ở trong khoảng 140 - 170 lần/phút

- Phương pháp biến đổi: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện

một lượng vận động kéo dài có sự biến đổi tốc độ theo một kế hoạch chặt chẽ

Trang 18

Theo phương pháp này khi tăng tốc độ vận động sẽ làm cho cơ quan cơ thểhoạt động căng thẳng và tạm thời phải làm việc trong điều kiện không có oxy.Mạch đập có thể giao động trong khoảng 140 -150 lần/phút và 155 -170lần/phút.

- Phương pháp Pharơlếch: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện

một lượng vận động kéo dài có sự thay đổi tốc độ theo hứng thú của ngườitập, có thể thay đổi tốc độ chạy, thay đổi địa hình chạy, thay đổi cự ly vớitừng vùng tốc độ

- Phương pháp giãn cách: Đặc điểm của phương pháp giãn cách là luân

chuyển một cách hệ thống các giai đoạn vận động ngắn, trung bình và dài vớicác quãng nghỉ ngắn không đủ để cơ thể hồi phục hoàn toàn Tuỳ thuộc vàomục đích tập luyện có thể thay đổi tốc độ, thời gian vận động vả thời giannghỉ giữa các giai đoạn vận động

- Phương pháp lặp lại: Đặc điểm của phương pháp này là lặp lại một

hoặc một số yêu cầu của lượng vận động thi đấu chuyên môn thông qua việcđiều chỉnh cường độ hoặc thời gian vận động

1.4 Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền và sức nhanh.

1.4.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền.

Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó Hay nóicách khác sức bền là một khái niệm chuyên biệt thực hiện lâu dài một hoạtđộng chuyên môn nhất định

Sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lựckéo dài liên tục từ 2 – 3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơbắp lớn ( ½ toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể ), hấp thụ oxy để cung cấp nănglượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Như vậy sứcbền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thânhoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính ưa khí

Sức bền phụ thuộc vào: Khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể và khảnăng duy trì lâu dài mức hấp thụ oxy cao VO2Max càng cao thì công suấthoạt động ưu khí tối đa càng lớn

Trang 19

Khả năng hấp thụ oxy tối đa được quyết định bởi khả năng của hai hệthống chức năng chính là hệ vận chuyển oxy và hệ cơ.

* Hệ vận chuyển oxy: Bao gồm hệ hô hấp, máu và tim mạch.

- Hệ hô hấp: Đảm bảo việc trao đổi khí giữa không khí bên ngoài vàmáu, tức là làm cho phân áp oxy trong máu động mạch được duy trì ở mứccần thiết đẻ cung cấp cho cơ và các cơ quan

Khi phát triển sức bền thì hệ hô hấp phải có những biến đổi cả về cấutạo và chức năng nhất định Những biến đổi đó bao gồm:

+ Các thể tích khí của phổi tăng lên ( 10 – 20%)

+ Công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài tăng lên

+ Tăng cường khả năng khuếch tán của phổi

- Hệ máu: Thể tích máu và hàm lượng hemoglobin quyết định khả năngvận chuyển oxy của cơ thể Tập luyện sức bền làm tăng lượng máu tuần hoàn

Ở VĐV tập luyện các môn thể thao sức bền cao hơn VĐV các môn khác vàngười bình thường khoảng 20%.Lượng máu tăng chủ yếu là do tăng thể tíchhuyết tương, vì vậy độ nhớt của máu có xu hướng giảm đi

Hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng kết hợp oxy, tức là khảnăng vận chuyển chúng Lượng hemoglobin ở người bình thường trong máukhoảng 700 – 900g, trong khi VĐV tập luyện sức bền là 1000 – 1200g

Axit lactic trong máu tỷ lệ nghịch với thời gian vận động và do các yếu

tố sau đây quyết định

+ Cơ bắp có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng oxy cao.+ Hệ vận chuyển oxy (hô hấp, máu, tuần hoàn ) thích nghi với vậnđộng nhanh hơn

+ Tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát triển

+ Lượng máu tuần hoàn tăng làm pha loãng axit lactic chứa trong máu,

vì vậy axit lactic trong máu giảm xuống

Như vậy là tập luyện sức là tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khảnăng hấp thụ oxy tối đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và

Trang 20

như vậy làm tăng khả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể Đó là mộttrong những cơ chế quan trọng để nâng cao sức bền cảu VĐV.

- Hệ tim – mạch: Tập luyện sức bền lâu dài làm cho tim biến đổi theohai hướng: Giãn buồng tim và phì đại cơ tim Đó là yếu tố quan trọng để tăngthể tích tâm thu khi cần thiết Phì đại cơ tim làm tăng lực co bóp của tim, tức

là làm tăng thể tích tâm thu

Về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm tần số co bóp cảu timkhi yên tĩnh Do đó tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng và có thờigian nghỉ dài hơn Thể tích tâm thu tối đa của VĐV sức bền lên đến 190 –210ml, trong khi người bình thường không quá 130ml

- Hệ cơ: Sức bền của VĐV phụ thuộc một phần đáng kể vào đặc điểmcấu tạo và hóa sinh của cơ

Tỷ lệ các sợi cơ chậm ( nhóm 1) của VĐV sức bền trong cơ rất cao.Giữa tỷ lệ sợi cơ chậm và VO2 Max có mối liên quan chặt chẽ ( tỷ lệ thuận )với nhau Song tập luyện sức bền có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanh II – A vàgiảm tỷ lệ sợi cơ nhanh nhóm II – B

Tập luyện sức bền còn làm cho cơ phì đại theo kiểu phì đại cơ tương

TY lạp thể và số lượng các men trong cơ đều tăng lên Điều đó làm cho khảnăng hấp thụ oxy của cơ cũng tăng lên

Tập luyện sức bền làm tăng số lượng mao mạch trong cơ Vì vậy màkhả năng hoạt động thể lực kéo dài của cơ sẽ tăng lên

Trong quá trình tập luyện sức bền, ở cơ xảy ra hàng loạt biến đổi hóasinh để nâng cao khả năng sử dụng oxy, tức là nâng cao sức bền của cơ thể

+ Tăng hàm lượng và hoạt tính của men trao đổi chất ưu khí

+ Tăng hàm lượng hemoglobin trong cơ ( từ 1,5 đến 2 lần )

+ Tăng hàm lượng các chất chứa năng lượng như glycogen và lipit.+ Tăng khả năng oxy hóa đường và đặc biệt là mỡ của cơ

Với các đặc điểm trên ta thấy tập luyện phát triển sức bền tạo được haihiệu quả cơ bản là nâng cao khả năng ưu khí tối đa của cơ thể và nâng caohiệu quả hoạt động của cơ thể trong vận động

Trang 21

1.4.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh.

Sức nhanh ( tốc độ ) là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thờigian ngắn nhất

Sức nhanh có thể biểu hiện ở dạng đơn giản và ở dạng phức tạp

Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm: Thời gian phản ứng; Thời giancủa một động tác đơn lẻ; Tần số của hoạt động cục bộ

Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thểthao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền Anh, tốc

đọ dẫn bóng trong bóng đá

Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả củasức nhanh ở dạng phức tạp Thời gian phản ứng, thời gian của một động tácriêng lẻ hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạtđộng phức tạp sẽ càng cao Song các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản lạiphát triển tương đối độc lập với nhau Thời gian phản ứng có thể rất tốt,nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số của động tác lại thấp Vì vậy sưcnhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là thời gian phản ứng, thờigian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động

Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh nêu trên là độlinh hoạt của các quá trình thần và tốc độ co cơ

Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanhchóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh Ngoài ra, độlinh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong cácdây thần kinh ở ngoại vi, sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm chocác nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm chođơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần sốcủa động tác

Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơchậm trong bó cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II– A có khả năng tốc độ cao hơn

Trang 22

Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng cao năng ATP và CP.Như đã trình bày ở phần trên, hoạt động tốc độ với thời gian ngắn sử dụngnguồn năng lượng phân giải yếm khí ATP và CP là chủ yếu Vì vậy, khi hàmlượng ATP và CP trong cơ cao thì khả năng co cơ nhanh cũng tăng lên Tậpluyện sức nhanh làm cho hàm lượng ATP và CP trong các sợi cơ, nhất là sợi

cơ nhanh II- A và II- B tăng lên, theo một số tác giả, hàm lượng ATP và CP

có thể tăng thêm 10 – 30% (Kox.I.M) Theo Iacoplep N.N, tốc độ co cơ cònphụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải và tổng hợp ATP và CP Tập luyệntốc độ có thể làm tăng hoạt tính của các men này

Như vậy là sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thầnkinh và tốc độ co cơ Cả hai nhóm các yếu tố ảnh hưởng đó, mặc dù có biếnđổi dưới tác động của tập luyện, nhưng nói chung đều là những yếu tố đượcquyết định bởi các đặc điểm di truyền Do đó trong quá trình tập luyện, sứcnhanh biến đổi chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền Cơ sở sinh lý để pháttriển sức nhanh và tăng cường độ linh hoạt là tốc độ dẫn truyền hưng phấn ởtrung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi

cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Các yêu cầu nêu trên đạt được bằngcách sử dụng các bài tập tần số cao, trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài

1.5 Đặc điểm sức bền tốc độ trong bóng rổ và các nhân tố lượng vận động trong huấn luyện.

1.5.1 Đặc điểm tố chất sức bền tốc độ của bóng rổ.

Sức bền là chỉ năng lực đấu tranh chống mệt mỏi trong thời gian hoạtđộng kéo dài của cơ thể

Sức bền tốc độ là một dạng sức bền, là năng lực của VĐV nhằm chốnglại mệt mỏi khi thực hiện các nhiệm vụ vận động đòi hỏi tốc độ gần tối đa, tớitối đa trong điều kiện năng lượng được cung cấp chủ yếu thông qua quá trình

ưa khí, yếm khí Trong bóng rổ sức bền tốc độ là khi lặp đi lặp lại các cự lytốc độ với tần số lớn luôn gắn liền với điều kiện tập luyện và thi đấu

Tố chất sức bền tốc độ tốt sẽ có điều kiện nâng cao năng lực đề khángmệt mỏi của cơ thể vận động viên, khiến cho khả năng thay đổi tiết tấu của

Trang 23

quá trình hưng phấn và ức chế của võ đại não nâng cao lên Chức năng của hệthần kinh thực vật cũng được phát triển, năng lực dự trữ năng lượng cho cơthể được nâng cao Tất cả sự biến hóa này về sinh lý và sinh háo sẽ là cơ sởvật chất cần thiết cho sự phát truển các tố chất sức mạnh, tốc độ, linh hoạt,đồng thời từ đó xúc tiến cho các tố chất này phát triển.

Bóng rổ là môn thể thao thi đối kháng trực tiếp đòi hỏi sự vận độngkhông ngừng, với khối lượng và tần suất lớn, các động tác kỹ thuật phức tạp,

có cường độ cao đua tranh quyết liệt trong một phạm vi không gian hẹp mật

độ sự va chạm vô cùng lớn Chính vì vậy trong thi đấu sử dụng thường xuyên

và đa dạng các động tác di chuyển không bóng và có bóng như chạy biến tốc,biến hướng, nhảy dừng nhanh, dẫn bóng tốc độ, đột phá qua người kết thúcném rổ đảm bảo độ chính xác cao với mục đích tạo ưu thế chủ động chomình và đẩy đối phương vào thế bị động, trong khi đó không có nhiều thờigian nghỉ giữa những lần di chuyển đó và hoạt động liên tục trong thời gianmỗi hiệp đấu Do đó muốn trở thành vận động viên bóng rổ giỏi ngoài việc có

kỹ thuật và nhãn quan chiến thuật tốt thì đòi hỏi phải có một nền tảng thể lựcchung và chuyên môn thật sung mãn Bên cạnh các tố chất thể lực chuyênmôn thì tố chất sức bền tốc độ rất quan trọng trong bóng rổ Ngày nay, bóng

rổ hiện đại đạt tới trình độ chuyên nghiệp thì tốc độ trận đấu diễn ra rất nhanhkhi có bóng thì cả đội tham gia tấn công, khi mất bóng thì cả đội phải dichuyển nhanh chóng về phòng thủ trong khi đó tần suất giữa tấn công vàphòng thủ diễn ra liên tục trong suốt hiệp đấu Chính vì điều này đòi hỏi cácvận động viên phải di chuyển liên tục và chạy nước rút nhiều lần để thực hiệncác ý đồ chiến thuật như phối hợp tấn công nhanh, phối hợp tấn cống nhómgiữa hậu vệ - trung phong – tiền phong, trung phong – hậu vệ, trung phong-tiền phong, di chuyển không bóng lôi kéo đối phương, đột phá cá nhân, tăngtốc độ để tranh cướp bóng với đối phương và sử dụng các bước trượt liên tụckhi phòng thủ trong phòng thủ khu vực, đeo bám đối phương khi phòng thủkèm người nửa sân hoặc toàn sân Do đó sức bền tốc độ trong bóng rổ lànăng lực duy trì hoạt động liên tục liên tục trên sân của các vận động viên

Trang 24

trong thời gian thi dài, tức là khi các vận động viên thực hiện một hoạt độngnào đó với cường độ lớn trong thời gian hoạt động mà khả năng duy trì tốc độgiảm đi không nhiều và độ chuẩn xác vẫn cao Để đáp ứng các yêu cầu trênđòi hỏi vận động viên phải có thể lực chuyên môn tốt , đảm bảo được khốilượng và cường độ vận động trong suốt trận đấu Vì thế, tố chất sức bền tốc

độ cần phải được duy trì tốt để thực hiện liên tục các nhiệm vụ nói trên, đồngthời phải xử lý nhanh và chính xác các tình huống trên sân và trong các điềukiện khác nhau Điều này minh chứng rằng sức bền tốc độ trong bóng rổ làthước đo thể lực và là điều kiện cần thiết để nâng cao quả thi đấu và quyếtđịnh chính đến sự thành bại của một đội bóng trong các trận đấu

1.5.2 Các nhân tố lượng vận động trong huấn luyện nâng cao sức bền tốc trong bóng rổ.

Trong các phương pháp huấn luyện nâng cao sức bền của các môn thểthao nói chung và môn bóng rổ nói riêng đều dựa trên sự phối hợp của 5 yếu

tố cơ bản của lượng vận động Đó là: Tốc độ hay cường độ bài tập; thời gianthực hiện bài tập; thời gian nghỉ giữa quãng; tính chất nghỉ ngơi giữa quãng;

số lần lặp lại

- Tốc độ được chia làm 3 loại:

+ Tốc độ dưới hạn: Là tốc độ di chuyển đòi hỏi lượng cung cấp oxy

dưới mức có thể đáp ứng được tức là nhu cầu oxy thấp hơn khả năng hấp thụcủa cơ thể Như chúng ta đã biết lượng oxy đáp ứng yêu cầu oxy do vận độngđòi hỏi thì hoạt động diễn ra trong điều kiện ổn định thực, trong vùng tốc độdưới tới hạn thì nhu cầu oxy tỷ lệ thuận với tốc độ di chuyển

+ Tốc độ tới hạn: Là khi vận động viên di chuyển với tốc độ nhanh thìdần sẽ đạt mức độ tới hạn khi có nhu cầu oxy sẽ đạt tới mức bằng khả năng ưakhí ( khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể)

+ Tốc độ trên tới hạn: Là tốc độ di chuyển có nhu cầu oxy cao hơnnăng lượng hấp thụ oxy tối đa Lúc này hoạt động diễn ra trong điều kiện nợoxy do các nguồn yếm khí, do hiệu suốt của cơ thể cung cấp năng lượng yếm

Trang 25

khí, nên vùng tốc độ tới hạn nhu cầu oxy tăng nhanh hơn nhiều hơn so vớimức tăng của tốc độ di chuyển.

- Thời gian bài tâp:

Sự liên quan với tốc độ di chuyển là thời gian giới hạn cảu một bài tậpluôn luôn tương ứng với một tốc độ di chuyển nào đó Như vậy thời gian củamột buổi tập kéo dài với tốc độ dưới tới hạn đòi hỏi sự hoạt động căng thẳngcủa những hệ thống đảm bảo cung cấp và sử dụng oxy, trước hết là hệ tuầnhoàn và hô hấp Còn thời gian của bài tập với tốc độ trên tới hạn đòi hỏi khảnăng nợ oxy cảu cơ thể

- Thời gian nghỉ giữa quãng :

Trong các bài tập lặp lại có vai trò quan trọng đối với tính chất vàphương hướng hoạt động cảu bài tập đối với cơ thể Trong những bài tập cótốc độ tới hạn, nếu thời gian nghỉ giữa quãng đủ dài cho các hoạt động sinh

lý trở lại mức tương đối bình thường thì ở mỗi lần lặp lại các bài tập tiếp theo,các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra gần giống như lần thực hiện bài tập trước

đó Tức là lúc đầu cơ thể giải phóng năng lượng từ phootspho creatin tiếp đến

là quá trình gluco phân ( ở 1 đến 2 phút tiếp theo) sau đó là các quá trình hôhấp ( quá trình ưa khí mới phát huy tác dụng ở phút thứ 3 đến phút thứ 4)

Trong các bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn và quãng nghỉ khôngđầy đủ để thanh toán nợ oxy thì các lần lặp lại tiếp theo sẽ diễn ra trên nền nợoxy chưa được thanh toán, lượng oxy sẽ tích lũy và tăng lên nhanh chóng saumỗi lần lặp lại bài tập Hoạt động ngày càng mang tính chất yếm khí Các loạibài tập này tuy với số lần lặp lại không lớn nhưng thuộc loại những bài tậpnặng tác động rất mạnh tới cơ thể

- Tính chất nghỉ ngơi:

Nghỉ ngơi giữa quãng có thể là thụ động không tiếp tục bài tập dướimột hình thức nào khác Có thể nghỉ ngơi tích cực là bài tập vẫn tiếp tục hoạtđộng với cường độ thấp hơn ( chạy nhẹ nhàng, thả lỏng ) Nói chung mỗi lầnthực hiện bài tập không nên nghỉ ngơi một cách thụ động ( ngồi, nằm ) cáchình thức nghỉ ngơi tích cực khác được coi là những biện pháp tốt để tránhhiện tượng chuyển đột ngột từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và ngượclại, để duy trì trạng thái cơ thể ở mức hoạt động cần thiết tạo điều kiện thuận

Trang 26

lợi cho việc thực hiện bài tập ở mỗi lần lặp lại bài tập tiếp theo cũng như đểthúc đẩy quá trình hồi phục.

- Số lần lặp lại:

Trong việc huấn luyện và phát triển sức bền các bài tập thường đượclặp lại với rất nhiều kiểu cách và cấu trúc khác nhau Trong các bài tập ưa khíthời gian của mỗi lần thực hiện bài tập tương đối dài thì số lần lặp lại ít.Ngược lại, trong các bài tập yếm khí việc tăng số lần lặp lại phải hết sức thậntrọng và chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định Như vậy, số lần lặp lại làmột trong những yếu tố quy định lượng vận động, tạo nên kết quả tổng hợpcủa bài tập (cường độ và thời gian thực hiện bài tập trong mỗi lần lặp lại;trình độ tập luyện của vận động viên) Trong rất nhiều bài tập hiệu quả chínhcủa bài tập lại phụ thuộc vào một số lần lặp lại cuối cùng Vì vậy, nếu quyđịnh số lần lặp lại không đúng thì hiệu quả của bài tập sẽ giảm đi rất nhiều.Một trong những căn cứ để xác định số lần lặp lại là phải đảm bảo cho tốc độthực hiện bài tập trong những lần lặp lại cuối cùng không bị giảm đi đáng kể

Qua các yếu tố trên ta có thể thấy rằng, việc thay đổi một trong nămthành phần trên của lượng vận động có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ làm thay đổidiễn biến sinh lý trong cơ thể Nó có tác dụng trực tiếp đến việc thay đổithành tích Chính vì vậy, chúng tôi dựa vào 5 yếu tố trên để đưa ra phươngpháp và những bài tập có lượng vận động phù hợp trong quá trình huấn luyện

và giáo dục tố chất sức bền tốc độ cụ thể như sau (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Phương pháp tổ chức tập luyện và lượng vận động trong giáo

dục tố chất sức bền tốc độ cho vđv bóng rổ

TT Phương pháp tổ chức tập luyện Lượng vận động

1 Phương pháp tập luyện Phương pháp giãn cách

2 Cường độ bài tập Từ 80 – 95% tối đa

3 Thời gian bài tập Từ 15 – 120 giây

Trang 27

1.6.1 Cơ sở lý luận của các phương pháp nâng cao khả năng yếm khí trong huấn luyện sức bền tốc độ.

Sức bền tốc độ là khả năng cơ thể chống lại mệt mỏi khi hoạt động vớitốc độ gần như tối đa mà chủ yếu mà chủ yếu là sự tạo thành năng lượng chohoạt động sức bền tốc độ là trong hoạt động yếm khí Điều này có ý nghĩa làtrong các bài tập có chu kỳ, tốc độ động tác đạt được trên các cự ly ngắnkhông giảm đi quá mức thông qua các hiện tượng mệt mỏi và ức chế có ýnghĩa là cơ thể được tiến hành liên tục động tác nhanh mặc dù thời gian thiđấu kéo dài

Vì vậy sức bền tốc độ trong bóng rổ là sức bền không có chu kỳ Nóbao gồm các bài tập có tính chuyên môn cao như các bài tập chạy gấp khúc,

di chuyển không định hướng hay chuyển đột ngột về nhiều hướng khác nhau,các bài tập mang tính đặc trưng cao để phát triển sức bền tốc độ trong cácmôn bóng nói chung và môn bóng rổ nói riêng

Muốn phát triển sức bền tốc độ, làm mất đi hay giảm đến mức tối thiểuhiện tượng mệt mỏi trong hoạt động với cường độ tối đa, xuất phát nhanh domất đi các nguồn dự trữ trong điều kiện hoạt động yếm khí cũng như do quátrình ức chế phát triển trong các trung khu thần kinh vì phải hoạt động mộtcách căng thẳng để đạt được tốc độ tối đa Vì thế giáo dục sức bền tốc độ phảichú ý đến việc hoàn thiện các nhiệm vụ sau:

Khả năng yếm khí là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựavào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí

Nâng cao khả năng ưa khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả năngyếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động yếm khí

Do quá trình trả nợ oxy được diễn ra một phần ngay trong lúc vậnđộng, và nếu có khả năng ưa khí cao thì phần trả nợ oxy trong lúc vận động

đó sẽ lớn hơn và hiệu quả hoạt động của cơ thể sẽ tăng lên

Nâng cao khả năng yếm khí ( với mức đồng đều cả cơ chế phootsphocreatin cũng như cơ chế gluco phân) Vì cơ chế hoạt động cường độ cao tớimức nhu cầu oxy của cơ thể không đáp ứng thường xuyên trong quá trình vận

Trang 28

động và một phần năng lượng phải tạo thành thông qua quá trình yếm khí.Khi tốc độ càng cao thì tỷ lệ huy động yếm khí càng lớn Theo các tài liệu yhọc thể thao thì tỷ lệ này trong thời gian thi đấu 2 phút khoảng 60% và trongthời gian thi đấu 10 phút lên tới 120% Tuy vậy khả năng ưa khí cũng có ýnghĩa quyết định trong thời gian thi đấu trung bình vì sự tạo thành năng lượng

ưa khí “kinh tế” hơn so với sự tạo thành năng lượng yếm khí

Ngoài ra sự tập trung axi lactic xuất hiện trong hoạt động sẵn sàng sửdụng năng lượng yếm khí Năng lượng yếm khí càng cao thì khả năng ưa khítối đa càng thấp Do đó để nâng cao khả năng yếm khí người ta thường sửdụng các bài tập có những đặc điểm sau đây:

* Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng từphotphocreatin:

- Cường độ hoạt động gần mức tối đa hoặc thấp hơn ( 95% tốc độ tối đa)

- Thời gian mỗi lần hoạt động từ 3 – 8 giây trở lên Sở dĩ như vậy vì dựtrữ photphocreatin trong cơ rất ít, sự phân hủy hợp chất này chỉ diễn ra vàigiây khi bắt đầu vận động

- Khoảng cách nghỉ ngơi từ 2 – 3 phút, đó cũng là thời gian đủ để phụchồi photphocraetin

- Áp dụng các hình thức hoạt động khác nhau lúc nghỉ ngơi ( nghỉ ngơitích cực )

- Số lần lặp lại tùy thuộc trình độ tập luyện, sao cho tốc độ không bị giảm

* Còn cơ chế glucôphân thì sử dụng các bài tập có các đặc điểm sau:

- Cường độ bài tập xác định theo cự ly để chọn tập luyện ( 90 – 95%)tốc độ giới hạn

- Thời gian mỗi lần vận động thường biến đổi trong khoảng thời gian

20 giây – 2 phút

- Khoảng cách nghỉ ngơi được xác định theo sự biến đổi của quá trìnhglucôphân trên cơ sở xác định nồng độ axit lactic trong máu và nên giảm dầnsau mỗi lần lặp lại

Trang 29

- Nghỉ ngơi tránh trạng thái tĩnh hoàn toàn và không cần phải nghỉ ngơitích cực.

- Số lần lặp lại trong hoạt động có quãng nghỉ giảm dần thường khôngquá 3 – 4 lần, vì trạng thái mệt mỏi tăng rất nhanh

* Tăng khả năng hoạt động của các cơ chế điều hòa trong những điềukiện hoạt động đặc biệt với cường độ cao nhất

Có ý nghĩa là tập luyện quá cụ ly thi đấu với tốc độ tới hạn Song đểphát triển tốt sức bền tốc độ đã đạt được phải thay đổi độ dài cự ly và giữ tốc

độ vượt cự ly Nói một cách khác cự ly tập phải dài hơn cự ly thi đấu

Với giáo dục sức bền tốc độ trong hoạt động ở cường độ lớn và cường

độ gần tối đa, ngoài ra hoạt động kéo dài cần phải sử dụng rộng rãi phươngpháp lặp lại nhiều lần các đoạn cự ly dài với tốc độ cao hơn tốc độ ban đầu cóthể vượt qua cự ly ngắn chỉ có tác dụng rất nhỏ lên cơ thể, nên để đạt đượchiệu quả tập luyện trong những buổi tập thì phải lặp lại chúng nhiều lần

Bên cạnh các phương pháp trên để phát triển sức bền tốc độ còn cầnphải sử dụng phương pháp nâng cao khả năng ưa khí thông qua các bài tậpyếm khí Trong quá trình hoạt động yếm khí thực hiện dưới hình thức lặplại nhiều lần trong thời gian ngắn và nghỉ giữa quãng không dài cũng có hiệuquả trong việc phát triển tốt khả năng ưa khí Mặc dù điều này thoạt đầu có sựmâu thuẫn, các sản phẩm phân hóa yếm khí tạo nên khi thực hiện hoạt độngcăng thẳng với thời gian ngắn được sử dụng để kích thích phát triển các quátrình hô hấp trong lúc nghỉ giữa quãng hoặc trong lúc thực hiện các bài tậpcường độ thấp Qua thực nghiệm người ta nhận thấy rằng trong khoảng 10 –

90 giây sau mỗi lần lặp lại bài tập yếm khí thì thông khí phổi và thể tích tâmthu đều tăng lên và do đó mức hấp thụ oxy cũng tăng lên

Khi có mối tương quan hợp lý giữa các hoạt động nghỉ ngơi có thể xuấthiện nhu cầu oxy của cơ thể và mức hấp thụ oxy trong hoạt động Trongtrường hợp này hoạt động lặp lại có thể tiếp tục trong thời gian dài Trongnhững lần lặp lại mức hấp thụ oxy thường xuyên giao động lúc thì đạt mức tớihạn, lúc thì giảm đi đôi chút, có lúc vượt khả năng hấp thụ tối đa đặc trưng

Trang 30

cho vận động viên Hiện tượng này kích thích rất mạnh để nâng cao khả năngkhả năng hô hấp Khi sử dụng các bài tập yếm khí để phát triển khả năng ưakhí thì việc lựa chọn kết hợp giữa hoạt động và nghỉ ngơi là nhiệm vụ cơ bản

có thể nêu lên một số đặc điểm sau:

- Cường độ hoạt động cao hơn mức tới hạn khoảng 75 – 85% tốc độ tối đa

- Độ dài cự ly phải lựa chọn sao cho thời gian thực hiện không quá 1 –1.5 phút Chỉ trong trường hợp này hoạt động mới diễn ra trong điều kiện nợoxy tối đa luc nghỉ ngơi

- Khoảng cách nghỉ ngơi sao cho hoạt động sau được tiến hành trên cơ

sở biến đổi thuận lợi của hoạt động trước đó ( không nên vượt quá 3 – 4phút) Cần xem hoạt động nghỉ ngơi là nên tiếp tục hoạt động với cường độthấp để tránh sự chuyển đột ngột từ trạng thái động sang tĩnh và ngược lại( nghỉ ngơi tích cực)

- Số lần lặp lại cần tính toán sao cho đảm bảo duy trì được trạng thái ổnđịnh trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể, thể hiện ở khả nănghấp thụ oxy ổn định ở mức độ tương đối cao

1.6.2 Đặc điểm sinh lý nâng cao khả năng yếm khí khi tập luyện tố chất sức bền tốc độ trong bóng rổ.

Để tập luyện nhằm nâng cao tố chất sức bền tốc độ trong bóng rổ thìquan trọng nhất là phải nâng cao năng lực chịu đựng khả năng yếm khí của cơthể ( hệ thống cung cấp năng lượng không có oxy)

Với những yếu tố đã phân tích ở trên, đặc điểm cơ bản của môn bóng

rổ là môn thể thao đòi hỏi sự vận động liên tục ở cường độ cao Trung bình,mỗi trận đấu đòi hỏi lượng VO2 Max xấp xỉ quanh giá trị 80% ( 80% VO2Max – theo Ekblom), tổng lượng vận động và tốc độ phần lớn tham gia vàocác lần chạy biến tốc trong thời gian ngắn Việc đánh giá tốc độ chạy toàn bộ

cự ly không đủ cho chúng ta đánh giá hết được sức bền của vận động viên, màcần phải tính đến khả năng duy trì cự ly đó với tốc độ cao thì mới đánh giáđược sức bền của các vận động viên ( tố chất sức bền tốc độ)

Trang 31

Sức bền tốc độ là chỉ tình huống cơ thể cung cấp không đủ dưỡng khí

do khả năng phân giải CP và ATP, nó là cơ sở nhằm đánh giá sức bền chuyênmôn cho vận động viên bóng rổ

Trình độ về sức bền yếm khí của vận động viên quyết định bởi năng lựctrao đổi yếm khí và năng lực phân giải đường trong điều kiện yếm khí vànăng lực đề kháng axit của các tố chức cơ thể, năng lực tồn trữ năng lượng,gìn giữ công năng của cơ quan trong cơ thể

- Sức bền yếm khí không có axit

Cường độ vận động tương đối lớn, thời gian hoạt động từ 8 – 10 giây,năng lượng sử dụng là do phân giải ATP và CP Sau khi phân giải không sảnsinh ra axit nên gọi là sức bền yếm khí không có axit Cự ly chạy chạy củaVĐV bóng rổ từ 5 – 20m với tốc độ đạt từ 75 – 90%, được gọi là sức bền yếmkhí không có axit tốt

Phát triển sức bền yếm khí không có axit bằng huấn luyện giãn cách làphương pháp huấn luyện chủ yếu Nhìn chung, sử dụng trong vòng từ 5 – 10giây, tổ chức thành nhiều tổ huấn luyện với cường độ từ 90 – 100% Thờigian nghỉ giữa mỗi lần tập từ 2 – 3 phút, còn thời gian nghỉ giữa các tổ tậpluyện là 7 – 10 phút

- Sức bền yếm khí có axit

Sau khi hoạt động quá 10 giây với cường độ cực đại, hàm lượng đườngtrong cơ thể được giải phóng năng lượng dạng yếm khí và sản sinh ra axitđược gọi là sức bền yếm khí có axit Hệ thống cung cấp năng lượng giảiphóng công năng trong 30 – 60 giây, đạt hiệu quả tốc độ cao nhất và có thểduy trì được từ 2 – 3 phút

Cùng với sự hoàn thiện chiến thuật thi đấu phòng thủ và tấn công củatoàn đội trong bóng rổ chính vì lẽ đó càng đòi hỏi trình độ của vận động viêncàng trở nên toàn diện hơn Trong thi đấu, cường độ vận động lớn luôn có xuhướng tăng lên do đó VĐV thường xuyên ở trong trạng thái va chạm, xô đẩy

vì thế sức bền yếm khí có axit rất cần thiết

Trang 32

Dựa vào các dạng vận động đặc trưng của môn bóng rổ, chúng ta thấynăng lượng trước tiên cung cấp cho VĐV duy trì được sức bền tốc độ là dạngnăng lượng dự trữ có sẵn trong tổ chức mô cơ: các AT(adenosintriphotphat)

và CP ( creatin photphat) Đây là con người cung cấp năng lượng yếm khí philactate Tuy nhiên nguồn năng lượng này dự trữ không nhiều và cơ thể nhanhchóng phải huy động năng lượng theo phương thức khác chuyển hóa nănglượng yếm khí lactate – glycolysis và chuyển hóa năng lượng ưa khíoxidation Các ATP và CP nhanh chóng cạn kiệt sau khoảng thời gian 4 – 10giây sử dụng

Khi vận động với tốc độ tối đa hoặc tốc độ lớn lặp đi lặp lại nhiều lần, quátrình chuyển hóa năng lượng sẽ chuyển sang dạng phân hủy yếm khí glucose(anaerobic glycolysis) và tạo ra axit lactic.Chuyển hóa năng lượng yếm khícacbonhydrate sinh lactate là yếu tố quyết định tố chất sức bền tốc độ

Trong quá trình huấn luyện sức bền yếm khí có axit thường sử dụngphương pháp huấn luyện giãn cách với cường độ lớn cực đại, trong đóphương pháp huấn luyện là duy trì lượng axit máu của VĐV ở mức cao 12ml,khiến cho cơ thể trong quá trình huấn luyện chịu đựng được sự kích thích vớithời gian dài từ đó thích ứng và nâng cao năng lực chịu đựng Khi tiến hànhhuấn luyện, cần sử dụng cường độ lớn nhất của bản thân và duy trì chúng từ 1– 2 phút Thời gian giãn cách nên từ 2 – 3 lần thời gian luyện tập

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.

2.1 Đánh giá hiện trạng giảng dạy, huấn luyện sức bền tốc độ của nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội.

2.1.1 Thực trạng công tác giảng dạy - huấn luyện sức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội.

Qua khảo sát thực tiễn công tác giảng dạy - huấn luyện môn Bóng rổ ởTrường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng cho thấy:

- Các sinh viên chuyên ngành sư phạm GDTC đều phải học môn Bóng

rổ theo chương trình đào tạo của nhà trường Các em sinh viên khi học tập

Trang 33

môn Bóng rổ phần lớn chưa biết về môn Bóng rổ, hoặc mới chỉ làm quen vớimôn Bóng rổ, chưa nắm bắt được kỹ thuật cơ bản, chưa có khái niệm thi đấu,chưa được rèn luyện các kỹ năng, năng lực chuyên môn cần thiết, đặc biệt là

tố chất sức bền tốc độ còn nhiều hạn chế

- Các giáo viên, HLV tuy đã xác định được vai trò của giảng dạy - huấnluyện sức bền tốc độ cho sinh viên rất quan trọng, nhưng trong thực tế giảngdạy - huấn luyện nâng cao sức bền tốc độ đã không dành thời gian thích đángcho phát triển tố chất này, mà chỉ tập trung vào giảng dạy - huấn luyện kỹthuật cơ bản

Quan điểm giảng dạy - huấn luyện nâng cao sức bền tốc độ trong mônBóng rổ không rõ định hướng, thiếu tính hệ thống, khoa học và thực tiễn Thờigian giảng dạy kỹ thuật, chiến thuật và thời gian giảng dạy - huấn luyện nângcao sức bền tốc độ chưa phù hợp, sắp xếp các nội dung và thời điểm giảng dạy

- huấn luyện nâng cao sức bền độ còn tuỳ tiện, không có những bài tập đặc thùtrong giảng dạy - huấn luyện phát triển tố chất thể lực chuyên môn, vấn đề phốihợp giữa giảng dạy - huấn luyện kỹ - chiến thuật, các năng lực chuyên môn vàsức bền tốc độ còn chưa phù hợp Số lượng bài tập phân bố không đều, dànhnhiều thời gian cho huấn luyện kỹ thuật cơ bản

Với mục đích tìm hiểu thực trạng công tác giảng dạy - huấn luyện nângcao sức bền tốc độ trong Bóng rổ cho sinh viên chuyên sâu năm thứ nhấttrường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, đề tài tiến hành tìm hiểu, phân tíchchương trình, kế hoạch giảng dạy - huấn luyện môn học chuyên sâu Bóng rổcho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, kết quả thu được nhưtrình bày ở các bảng 1.2 và 1.3

Trang 34

Bảng 1.2: Tỷ lệ thời gian giảng dạy các nội dung thực hành môn học chuyên sâu bóng rổ cho sinh viên trường đại học sư phạm TDTT hà nội

Từ kết quả thu được ở các bảng 1.2 và 1.3 cho thấy:

- Tổng số giờ giảng dạy môn Bóng rổ cho sinh viên năm thứ nhấttrường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội là 150 tiết được chia làm 2 học phần

và 10 ĐVHT Tổng số thời gian giảng dạy thực hành là 120 tiết, trong đó cácnội dung kỹ thuật cơ bản, nâng cao và chiến thuật là 75/120 giờ, chiếm tỷ lệ

Trang 35

62.49%; các nội dung về thể lực là 32/120 giờ, chiếm tỷ lệ 26.66%, nội dungthi đấu là 13/120 giờ, chiếm tỷ lệ 10.85% Mỗi tuần có 02 buổi, mỗi buổi 2tiết với thời gian là 90 - 105 phút Theo chương trình này, tỷ lệ giảng dạy -huấn luyện kỹ - chiến thuật, chiến lược là 75 tiết (bao gồm kỹ thuật cơ bản, kỹthuật nâng cao, chiến thuật thi đấu) chiếm tỷ lệ 62.49%; tỷ lệ giảng dạy - huấnluyện tố chất thể lực chung và chuyên môn chiếm tỷ lệ 26.66%, so với các nộidung kỹ chiến thuật thì chiếm khoảng trên 50% Điều đó cho thấy, tỷ lệ thờigian giành cho giảng dạy kỹ - chiến thuật, thể lực và các năng lực chuyênmôn chưa đồng đều, các giáo viên còn chưa chú trọng đến giảng dạy - huấnluyện phát triển các tố chất thể lực (chỉ chiếm tỷ lệ 26.66%, trong đó thể lựcchung là 14.16%, thể lực chuyên môn là 12.50%).

- Khi xem xét đến thời gian giảng dạy - huấn luyện tố chất thể lựcchung và chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu cho thấy, thời gian dành chocác nội dung thực hành nâng cao thể lực là tương đối đồng đều nhau (chiếm

tỷ lệ từ 12.50% đến 14.16%), số tiết dành cho huấn luyện sức nhanh và sứcmạnh là 11 tiết chiếm tỷ lệ 34.40% sức bền chung và sức bền chuyên môn là

11 tiết chiếm tỷ lệ 34.40 %.Khả năng mềm dẻo và phối hợp vận động là 7 tiếtchiếm tỷ lệ 21.79% Sức bền tốc độ là 3 tiết chiếm 9.41% Qua đó cho thấyrằng thời gian dành cho phát triển tố chất sức bền tốc độ còn quá ít chưa phùhợp với mức độ quan trọng của nó trong môn bóng rổ

2.1.2 Quan sát thực trạng tố chất sức bền tôc độ của sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.

Trường đại học sư phạm thể dục thể thao Hà Nội là nơi đào tạo giáoviên giáo dục thể chất cho phổ thông các cấp Sinh viên các chuyên sâu nóichung và bóng rổ nói chung đều theo học chương trình chuyên ngành từ nămthứ 2 sau khi qua đợt kiểm tra tuyển chọn Những sinh viên theo học chuyênsâu bóng rổ là những em có bộc lộ năng khiếu môn bóng rổ, chủ yếu là chơibóng theo thói quen và ngẫu hứng chưa được tập các kỹ thuật, thể lực cũngnhư chiến thuật một cách cơ bản, chưa có khái niệm thi đấu rõ rệt Do vậyphần lớn nhiều em sinh viên khi bước vào tập luyện một cách bài bản thì bộc

Trang 36

lộ những yếu kém về kỹ thuật, thể lực nên ảnh hưởng lớn đến hiệu quá trìnhtập luyện và thi đấu Thực tế giảng dạy và huấn luyện cho thấy, khi tố chấtsức bền đặc biệt là sức bền tốc độ của sinh viên còn yếu sẽ gây cản trở rất lớntrong việc tiếp thu và thực hiện các kỹ - chiến thuật nói chung và trong thi đấunói riêng.

Tố chất sức bền tốc độ là một tố chất thể lực chuyên môn quan trọngtrong tập luyện và thi đấu bống rổ Nhờ đó VĐV giải quyết được hoàn hảocác hành vi kỹ - chiến thuật cho tới cuối cuộc đấu, giúp VĐV vượt qua đượckhối lượng vận động lớn, đồng thời nó là một yếu tố tạo nên thắng lợi trongcác trận thi đấu

Với sinh viên chuyên sâu bóng rổ của trường Đại học Sư phạm TDTT

Hà Nội trình độ tố chất sức bền tốc độ đang là một thực trạng bức thiết trongnhững năm qua Mặc dù sinh viên có thể hình, trình độ kỹ - chiến thuật tươngđối tốt, có tinh thần, có ý chí khát khao giành chiến thắng Nhưng khi thamgia thi đấu những biểu hiện giảm sút về thể lực, xuống sức một cách rõ rệtlàm ảnh hưởng rất lớn đến các tình huống phối hợp với đồng đội, độ chínhxác trong các pha chuyền bóng và ném rổ cũng mất đi đặc biệt là vào nhữngthời điểm cuối của trận đấu Điều này cho thấy một điều rằng tố chất sức bềnchung cũng như chuyên môn bị giảm sút làm ảnh hưởng đến kết quả thi đấu

Dựa trên cơ sở các test kiểm tra sức bền tốc độ thu được, chúng tôinhận thấy có test chạy con thoi 5 lần x 28m là trùng với test đánh giá trình độtập luyện của nam VĐV đội tuyển quốc gia và ở những trung tâm huấn luyệnlớn trong cả nước Chúng tôi nhận thấy chỉ số trung bình của chuyên sâu bóng

rổ tại trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội đạt mức từ 4.5 – 5.5 điểm Điềunày cho thấy các em sinh viên có trình độ sức bền tốc độ ở mức trung bình,yếu hay các em sinh viên chưa chú trọng và nhận thức được nội dung tậpluyện này

Để đánh giá thực trạng tố chất sức bền tốc độ của nam sinh viênchuyên sâu bóng rổ trong những năm qua, chúng tôi đã tiến hành quan sátsinh viên qua các giải thi đấu trong và ngoài trường, các trận thi đấu giao hữu,

Trang 37

giải trẻ, giải sinh viên khu vực, sinh viên toàn quốc…đã cho thấy thể lực suygiảm nhanh khi cuối hiệp đấu và đặc biệt lúc cuối trận đấu Các biểu hiện rabên ngoài cụ thể là:

- Mất mồ hôi nhiều: Thông thuờng nếu sinh viên có trình độ thể lực tốt

thì sau những trận đấu căng thẳng lượng mồ hôi mất đi không nhiều, trọnglượng cơ thể giảm đi khoảng 0.5-1.0 kg Nhưng do sức bền chuyên môn kémnên trọng lượng của sinh viên giảm rõ rệt khoảng (1- 2 kg), đó chính là dolượng mồ hôi đã mất đi

- Da tái: Bình thường ở giữa trận đấu, các vòng đấu loại sắc mặt của

các em hơi đỏ, nhưng càng vào cuối trận hoặc khi vào cuối giải thì sắc mặt đãdần chuyển sang tái Đó là biểu hiện của sự suy giảm sức bền chung cũng nhưsức bền chuyên môn

- Khả năng tập trung chú ý giảm: Các em thường bị phân tán tư tưởng

trong cuối những trận đấu căng thẳng, đôi khi tổ chức tấn công cũng như khi

bị đối phương tấn công không chủ động được bản thân và luôn ở tình trạng bịđộng, không bám sát được các tình huống…

- Khả năng phối hợp vận động giảm: Biểu hiện của sự phối hợp vận

động chuẩn xác là phải thỏa mãn 3 hình thái chính là:

+ Sự chuẩn xác động tác về không gian

+ Khả năng giải quyết nhanh chóng và đúng những tình huống xuấthiện bất ngờ trong hoạt động

+ Sự chuẩn xác động tác khi thời gian thực hiện động tác bị hạn chế.Căn cứ vào cơ sở trên thì thấy rằng sinh viên chuyên sâu bóng đá khi đisâu vào giải đấu biểu hiện sự chuẩn xác về phán đoán bóng, kiểm soát bónggiảm; khả năng giải quyết nhanh những tình huống phản công hoặc tấn côngcủa đối phương rất chậm và kém hiệu quả

- Kỹ, chiến thuật bị phá vỡ: Biểu hiện ở chỗ trước khi vào trận sinh

viên thường bám sát các tình huống, xử lý bóng tốt, thực hiện đấu pháp vàchiến thuật một cách hợp lý Nhưng khi vào cuối trận thì hoàn toàn trái ngượcvới đấu pháp và chiến thuật đề ra và thường bị thất bại

Trang 38

Bên cạnh những biểu hiện bên ngoài, chúng tôi cũng nắm bắt được một

số biểu hiện bên trong như: Bị rối loạn quá độ tần số nhịp tim và tần số hôhấp Bình thường với các VĐV có trình độ thể lực tốt thì sau những trận đấucăng thẳng tần số nhịp tim khoảng 170-180 lần/phút và hồi phục sau khoảng 5– 6 phút nghỉ ngơi Nhưng sinh viên chuyên sâu bóng rổ của trường khả nănghồi phục sau những trận đấu như vậy là chậm khoảng 10 – 15 phút, trong khi

đó đối với những sinh viên có thể lực tốt thì chỉ cần 5 – 6 phút để hồi phục

Kết quả quan sát các biểu hiện bên ngoài của 25 nam sinh viên thamgia giải bóng rổ nghiệp vụ sư phạm năm 2010 tại trường Đại học sư phạmTDTT Hà Nội được thể hiện ở bảng 1.4

Bảng 1.4: Thực trạng tố chất sức bền tôc độ của sinh viên trong giải bóng

rổ nghiệp vụ sư phạm năm 2010 tại trường đại học sư phạm TDTT Hà

Nội (N = 25)

Qua kết quả của bảng 1.4 chúng tôi đi đến nhận xét sau:

Hầu hết các sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường Đại học Sư phạm TDTT

Hà Nội sau những trận đấu căng thẳng các em thường bị mất mồ hôi nhiều 75%;tiếp theo là kỹ - chiến thuật bị phá vỡ 65%; rồi tiếp đến khả năng tập trung chú ý

và phối hợp vận động giảm 60% và cuối cùng là biểu hiện da tái 45%

Qua những biểu hiện bên ngoài ( biểu hiện của lượng vận động), từ đó

có thể nhận thấy tố chất sức bền chung và chuyên môn ( sức bền tốc độ) củasinh viên chuyên sâu bóng rổ trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội cònyếu, vì vậy đã ảnh hưởng đến thành tích và kết quả học tập của các em trongmột số năm vừa qua

Trang 39

2.2 Thực trạng việc ứng dụng hệ thống các bài tập nâng cao sức bền tốc

độ cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất Trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội.

Để thấy rõ về thực trạng của công tác giảng dạy - huấn luyện nâng caosức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ trường Đại học sư phạmTDTT Hà Nội, đề tài tiến hành đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tậpchuyên môn ứng dụng trong giảng dạy - huấn luyện nhằm nâng cao sức bềntốc độ trong Bóng rổ cho sinh viên chuyên sâu năm thứ nhất trường Đại học

sư phạm TDTT Hà Nội thông qua việc tham khảo chương trình, kế hoạchgiảng dạy - huấn luyện môn học Bóng rổ cho sinh viên chuyên sâu các khoáđại học (Đại học 44 đến Đại học 45 tại thời điểm năm thứ nhất) của nhàtrường

Căn cứ vào chương trình, kế hoạch, tiến trình, giáo án giảng dạy - huấnluyện môn học Bóng rổ trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm GDTC,

đề tài tiến hành khảo sát việc sử dụng các bài tập chuyên môn nâng cao sứcbền tốc độ cho đối tượng nghiên cứu thuộc các nhóm bài tập sau:

- Nhóm 1: Bài tập phát triển sức bền tốc độ không bóng

6 Chạy biến tốc 10 – 20m theo hiêu lệnh trong 2 phút

7 Chạy con thoi 25m bật với rổ x 5 lần

8 Chạy 200m với quãng nghỉ ngắn dần

9 Chạy con thoi 90 lần x 28m

Trang 40

4 Di chuyển chuyền bắt bóng 2 người kết hợp ném rổ

4.Thi đấu 1 – 1 nửa sân

5 Thi đấu 5 người toàn sân

Kết quả thu được như trình bày ở bảng 1.5

Bảng 1.5: Thực trạng sử dụng các bài tập giảng dạy - huấn luyện sức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học sư

Từ kết quả thu được ở bảng 1.5 cho thấy:

- Các bài tập chuyên môn giảng dạy - huấn luyện nâng cao sức bền tốc

độ thuộc các nhóm bài tập như đã trình bày ở trên đã được hầu hết các giáoviên sử dụng trong quá trình giảng dạy - huấn luyện nâng cao sức bền tốc độtrong Bóng rổ cho sinh viên chuyên sâu năm thứ nhất các khoá Đại học củanhà trường

- Hệ thống các bài tập nâng cao sức bền tốc độ trong môn Bóng rổđược sử dụng trong giảng dạy - huấn luyện cho sinh viên tại nhà trường chưa

Ngày đăng: 06/11/2015, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic I. V (1982), Đánh giá trình độ tập luyện thể thao, Dịch: Phạm Ngọc Trâm, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ tập luyện thể thao
Tác giả: Aulic I. V
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1982
2. Baigunop I.A, Kosmatop I.I, Domanhin P.V (1983), Chương trình chuẩn bị kỹ thuật cho vận động viên trẻ, Nxb TDTT, Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình chuẩn bị kỹ thuật cho vận động viên trẻ
Tác giả: Baigunop I.A, Kosmatop I.I, Domanhin P.V
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1983
3. Bandarevski I. A (1970), Độ tin cậy của các test thực nghiệm trong thể thao, Nxb TDTT, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ tin cậy của các test thực nghiệm trong thể thao
Tác giả: Bandarevski I. A
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1970
4. Bansevich (1980), Các nguyên tắc về phương pháp trong thử nghiệm sư phạm nhằm tuyển chọn và dự báo trong thể dục thể thao, Nxb TDTT, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc về phương pháp trong thử nghiệm sư phạm nhằm tuyển chọn và dự báo trong thể dục thể thao
Tác giả: Bansevich
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1980
6. Dương Nghiệp Chí (1983), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1983
7. Dương Nghiệp Chí, Trần Đức Dũng, Tạ Hữu Hiếu, Nguyễn Đức Văn (2004), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Trần Đức Dũng, Tạ Hữu Hiếu, Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2004
8. Daxiorơxki V.M (1978), Các tố chất thể lực của VĐV, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của VĐV
Tác giả: Daxiorơxki V.M
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1978
9. Diatrocop V. (1963), Rèn luyện thể lực của vận động viên, Dịch: Nguyễn Trình, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện thể lực của vận động viên
Tác giả: Diatrocop V
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1963
10. Đặng Văn Giáp (1997), Phân tích dữ liệu khoa học bằng chương trình MS - EXCEL, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu khoa học bằng chương trình MS - EXCEL
Tác giả: Đặng Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Đào Hữu Hồ (1981), Xác suất thống kê, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác suất thống kê
Tác giả: Đào Hữu Hồ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
12. Đỗ Quốc Hùng (2002), Nghiên cứu hệ thống bài tập thể lực chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nam trường Đại học Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học TDTT I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống bài tập thể lực chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nam trường Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Đỗ Quốc Hùng
Năm: 2002
13. Đồng Văn Triệu, Lê Anh Thơ (2000), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học, Nxb TDTT, Hà Nội, tr. 37 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học
Tác giả: Đồng Văn Triệu, Lê Anh Thơ
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
15. Goikhơman P.N (1978), Các tố chất thể lực của VĐV, Dịch: Nguyễn Quang Hưng, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của VĐV
Tác giả: Goikhơman P.N
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1978
16. Gotovsen P.I, Dulerovxiki V.I (1983), Hồi phục sức khoẻ cho vận động viên, Dịch: Đào Duy Thư, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi phục sức khoẻ cho vận động viên
Tác giả: Gotovsen P.I, Dulerovxiki V.I
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1983
20. Hebbeline.M (1992), “Nhận biết sự phát triển các tài năng trong thể thao”, Thông tin khoa học TDTT,(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận biết sự phát triển các tài năng trong thể thao
Tác giả: Hebbeline.M
Năm: 1992
21. Ivanôv V.X (1996), Những cơ sở của toán học thống kê, Dịch: Trần Đức Dũng, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của toán học thống kê
Tác giả: Ivanôv V.X
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
22. Kharitơnôva L.G (1998), “Nghiên cứu tổng thể quá trình thích nghi của cơ thể thiếu niên với các lượng vận động thể chất”, Thông tin khoa học kỹ thuật TDTT, (2), tr. 31 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng thể quá trình thích nghi của cơ thể thiếu niên với các lượng vận động thể chất”, "Thông tin khoa học kỹ thuật TDTT
Tác giả: Kharitơnôva L.G
Năm: 1998
24. Kirlôp. A.A (1998), “Huấn luyện tốc độ chạy cho các cầu thủ trẻ”, Thông tin khoa học TDTT,(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện tốc độ chạy cho các cầu thủ trẻ
Tác giả: Kirlôp. A.A
Năm: 1998
25. Mensicov V.V, Volcov. N.I (1997), Sinh hoá học TDTT, Dịch: Lê Quý Phượng, Vũ Chung Thuỷ, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoá học TDTT
Tác giả: Mensicov V.V, Volcov. N.I
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1997
26. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (1995), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Tỷ lệ thời gian giảng dạy các nội dung thực hành môn học  chuyên sâu bóng rổ cho sinh viên trường đại học sư phạm TDTT hà nội - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 1.2 Tỷ lệ thời gian giảng dạy các nội dung thực hành môn học chuyên sâu bóng rổ cho sinh viên trường đại học sư phạm TDTT hà nội (Trang 34)
Bảng 1.5: Thực trạng sử dụng các bài tập giảng dạy - huấn luyện sức bền  tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học sư - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 1.5 Thực trạng sử dụng các bài tập giảng dạy - huấn luyện sức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học sư (Trang 40)
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho  nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học sư phạm - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học sư phạm (Trang 59)
Bảng 3.2:  Kết quả xác định tính thông báo của các test đánh giá sức bền - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.2 Kết quả xác định tính thông báo của các test đánh giá sức bền (Trang 60)
Bảng 3.4: kết quả phỏng vấn về lựa chọn hệ thống các bài tập huấn luyện  sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ (n = 30). - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.4 kết quả phỏng vấn về lựa chọn hệ thống các bài tập huấn luyện sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ (n = 30) (Trang 66)
Bảng 3.5:  Kết quả kiểm tra các test đánh giá sức bền tốc độ của đối - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra các test đánh giá sức bền tốc độ của đối (Trang 69)
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra các test đánh giá sức bền tốc độ của đối - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra các test đánh giá sức bền tốc độ của đối (Trang 70)
Bảng 3.8:  Kết quả so sánh tự đối chiếu tố chất sức bền tốc độ của 2 nhóm - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.8 Kết quả so sánh tự đối chiếu tố chất sức bền tốc độ của 2 nhóm (Trang 71)
Bảng 3.9: Nhịp độ tăng trưởng của các test đánh giá tố chất sứcbền tốc - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.9 Nhịp độ tăng trưởng của các test đánh giá tố chất sứcbền tốc (Trang 71)
Bảng 3.10: Nhịp độ tăng trưởng của các test đánh giá tố chất sức bền tốc - Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội
Bảng 3.10 Nhịp độ tăng trưởng của các test đánh giá tố chất sức bền tốc (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w