1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502

34 413 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 404 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự biểu hiện của cơ thể người tập không chỉ ởmặt hình thái bên ngoài và chức năng hoạt động của các hệ cơ quan mà còn liênquan đến thành phần các chất cấu tạo bên trong cơ thể.. Hàm lượn

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thế kỷ 21 được mệnh danh là kỷ nguyên toàn cầu hoá của văn minh trítuệ Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triểncủa thể dục thể thao (TDTT) Tiếp cận thành tựu khoa học kỹ thuật để nghiêncứu, vận dụng trong lĩnh vực TDTT là xu hướng tất yếu để đưa nền TDTT củaViệt Nam phát triển lên một tầm cao mới Thông qua tập luyện TDTT, thể chấtcủa con người được tăng cường Sự biểu hiện của cơ thể người tập không chỉ ởmặt hình thái bên ngoài và chức năng hoạt động của các hệ cơ quan mà còn liênquan đến thành phần các chất cấu tạo bên trong cơ thể Hàm lượng các chất, tỷ

lệ các thành phần có ý nghĩa quyết định đến tốc độ chuyển hoá, trạng thái chứcnăng và khả năng hoạt động của người tập

Bơi Lội là môn thể thao phù hợp với nhiều đối tượng để rèn luyện thể chất.Khi bơi có sự tham gia của nhiều nhóm cơ, giúp cơ thể nhanh chóng đốt cháynăng lượng, tiêu hao mỡ, phát triển cơ bắp, tăng độ dài xương Do đặc thù củaBơi lội là hoạt động trong môi trường nước, có lực cản lớn nên để có tốc độ dichuyển nhanh ngoài việc tạo được lực kéo và lực đẩy lớn còn cần có độ nổi phùhợp và giảm thiểu lực cản Vấn đề này có liên quan đến hình thái bên ngoàicũng như thành phần cấu tạo bên trong cơ thể người tập

Hiện tại, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cùng với sự ra đời của nhiều

hệ thống trang thiết bị kiểm tra y học hiện đại đã cho phép xác định một cáchchính xác các chỉ số về thành phần cơ thể như trọng lượng cơ, hàm lượng mỡ, tỷ

lệ khoáng xương, trọng lượng protein, tổng lượng nước cơ thể Các chỉ số này

có ý nghĩa thiết thực trong quá trình đánh giá thể trạng cơ thể, điều chỉnh chế độ

ăn uống và tập luyện sao cho hợp lý nhất, vấn đề mà hiện đang được nhiều đốitượng trong xã hội quan tâm, đặc biệt là đối tượng tập luyện TDTT

Việc nghiên cứu thành phần các chất trong cơ thể người tập đã được nhiềutác giả đề cập tới song mới chỉ dừng lại ở mức độ gián tiếp thông qua đánh giáhàm lượng các chất trong các dịch thể dễ được thu nhận như máu, nước tiểu Cóthể liệt kê một số các nghiên cứu như: “Diễn biến một số chỉ số huyết học ở các

Trang 2

bài tập có công suất vận động khác nhau” của TS Vũ Chung Thủy, BS PhạmThị Uyên, Ths Đào Phương Chi, 2005 “Đặc điểm một số chỉ số huyết học sinhhóa máu và sinh hóa nước tiểu VĐV trẻ 14 - 17 tuổi một số môn thể thao trọngđiểm (Bơi lội, Điền kinh, Cử tạ)”, của Ths Nguyễn Hùng Cường, 2000 Cácnghiên cứu về thành phần các chất trong một cơ thể toàn vẹn với sự đo đạc củamáy hiện đại hiện còn rất ít và chưa được triển khai nhiều ở Việt Nam Gần đâynhất có sự công bố kết quả nghiên cứu của Ths Lương Thị Ánh Ngọc, 2009 với

đề tài: “Sử dụng máy Inbody 3.0 phân tích thực trạng một số thành phần cơ thểcủa học sinh ở lứa tuổi 11 tại trường THCS Lê Quý Đôn, quận Thủ Đức, thànhphố Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện thể dục nhịp điệu”

Để tăng cường việc ứng dụng kiểm tra y học trong giảng dạy, học tập vànghiên cứu khoa học trong TDTT, năm 2010 trường Đại học TDTT Bắc Ninh đãđưa vào sử dụng hệ thống máy hiện đại Inbody 520 để phân tích thành phần cơthể một cách khách quan, toàn diện và chính xác Trên cơ sở phân tích lý thuyết

để nhận thấy vai trò quan trọng của việc nghiên cứu các thành phần cấu tạo bêntrong cơ thể người tập luyện TDTT, cùng với mong muốn được tiếp cận và sửdụng có hiệu quả các thiết bị kiểm tra y học hiện đại và trong điều kiện thực tếcho phép của nhà trường, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn và xúc tiến đề tài:

“Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên chuyên sâu

Bơi Lội khoá Đại học 44 Trường Đại học TDTT Bắc Ninh trên máy

INBODY 520”

Mục đích nghiên cứu:

Phân tích, đánh giá thực trạng thành phần cơ thể sinh viên chuyên sâu Bơilội, khoá Đại học 44, trường Đại học TDTT Bắc Ninh trên máy Inbody 520

Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu 1: Phân tích một số chỉ số về thành phần cơ thể của sinh viên chuyên

sâu Bơi lội, khóa Đại học 44, trường Đại học TDTT Bắc Ninh.

- Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên chuyên sâu

Bơi lội, khóa Đại học 44, trường Đại học TDTT Bắc Ninh.

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm một số chỉ số về cấu tạo và thành phần các chất trong cơ thể

1.1.1 Nước trong cơ thể.

Nước chiếm khoảng 60% - 70% trọng lượng cơ thể người trưởng thành.Hàm lượng nước phụ thuộc vào giới tính, lứa tuổi, thể trạng, lượng nước trongtừng cơ quan của mỗi cơ thể cũng rất khác nhau Có thể nói cơ thể sống là một

hệ lỏng linh động, sự sống được bắt nguồn và duy trì trong môi trường nước.Hàm lượng nước trong tổ chức càng cao thì mức độ trao đổi chất diễn ra càngnhanh, càng mạnh Nước trong cơ thể được phân bố làm 2 khu vực chủ yếu:

- Phần dịch ngoài tế bào: Chiếm 20% trọng lượng cơ thể, gồm nước tronghuyết tương (5%) và nước ở dịch ngoại bào (15%), luôn được bao bọc và kếtdính với da hay tổ chức khác trong cơ thể bằng những cấu tạo lập thể Phầnngoại dịch giảm dần cho đến tuổi 30 thì ổn định

- Phần dịch trong tế bào: Chiếm 50% trọng lượng cơ thể, là môi trườngtạo nên sự sống, phần nội dịch luôn giảm rất nhanh và ngày càng ít theo tốc độlão hoá của cơ thể

Nước có vai trò rất quan trọng đối với sự sống Nếu một người vừa nhịn

ăn nhịn uống thì chỉ sống được vài ngày Khi sụt cân 10% đã có những rối loạn

về hệ thần kinh, khi sụt cân đến 20% thì chết Nếu một người chỉ nhịn ăn màvẫn uống nước thì vẫn có thể sống 40 - 50 ngày, khi sụt cân tới 40% mới chết.Tuy không cung cấp năng lượng như chuyển hóa glucid, lipid, protid nhưngnước có ở tất cả các tế bào, tham gia cấu tạo và giữ vai trò là môi trường củamọi sự chuyển hoá Vai trò của nước được thể hiện cụ thể như sau:

- Điều hòa nhiệt độ cơ thể thông qua sự bốc hơi nước.

- Chuyên chở oxi nuôi sống tất cả các tế bào

- Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng

- Giúp chuyển hóa chất dinh dưỡng từ thực phẩm thành năng lượng

- Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ tiết niệu, da, ruột, hơi thở

- Bao bọc các cơ quan trong cơ thể, tránh tổn thương do cọ xát, va chạm

Trang 4

- Bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức vì nước là thành phầnchính của chất nhờn trong dịch ổ khớp, làm cho khớp cử động trơn tru.

- Là thành phần chủ yếu của các bộ phận quan trọng, hàm lượng nước ở các

cơ quan là: não 85%, xương 22%; cơ bắp 75%; máu 92%; dịch dạ dày 95%

Nước trong cơ thể gồm: Nước nội sinh và nước ngoại sinh

- Nước nội sinh là nước được tạo ra trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơtrong tế bào Lượng nước này khoảng 300 ml trong một ngày, cụ thể là:

Oxy hóa 100g glucid tạo ra 55,5g nước

Oxy hóa 100g lipid tạo ra 107,7g nước

Oxy hóa 100g protid tạo ra 41,3g nước

- Nước ngoại sinh từ thức ăn, nước uống, tiêm truyền Lượng nước này thayđổi theo điều kiện môi trường, mức độ vận động, thói quen

Nước được hấp thu ở đường tiêu hóa, chủ yếu là ở ruột non, ruột già, mộtphần nhỏ ở thực quản và dạ dày Sau khi được hấp thu qua nhung mao ruột vàokhoảng gian bào, nước vào mao mạch, theo tĩnh mạch cửa về gan, theo vòngtuần hoàn đến các cơ quan Một phần nhỏ nước đi theo mạch bạch huyết rồi vàotuần hoàn chung

Sự đào thải nước qua thận, theo nước tiểu là con đường quan trọng tham giađiều hòa cân bằng nước Lượng nước tiểu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượngnước đưa vào cơ thể, tình trạng của thận, đặc thù hoạt động và môi trường Mộtphần quan trọng nước đào thải qua da dưới dạng mồ hôi, quá trình này tùy thuộcvào sự chênh lệch nhiệt độ của cơ thể và môi trường, phần nhỏ nước đào thảiqua phổi, theo hơi thở

Trang 5

Người khoẻ mạnh, trong điều kiện bình thường, tổng lượng nước nhập hàngngày bằng tổng lượng nước bài xuất khỏi cơ thể (bilan nước bằng 0).

Bảng 1.1 Bilan xuất nhập nước

Nước uống 1200 ml Nước tiểu 1500 ml

Thức ăn 1000 ml Mồ hôi, hơi thở 800 ml

Nước nội sinh 300 ml Phân 200 ml

Tổng cộng 2500 ml Tổng cộng 2500 ml

Khi lượng nước nhập nhiều hơn nước đào thải, bilan dương thường gặptrong bệnh phù hoặc nhịn đói kéo dài Khi lượng nước nhập thấp hơn nước đàothải, bilan âm thường gặp trong rối loạn chức năng thận, bệnh đái tháo nhạt

Khi lao động nặng, vận động nhiều cơ thể sẽ mất thêm nước.Vì vậy, đểgiữ lượng nước của cơ thể bình thường, cần phải uống lượng nước thay thế phầnmất đi, tối thiểu cần uống thêm 1500ml nước, nếu hoạt động thể thao cần tùythuộc vào từng loại hình vận động, tùy điều kiện thời tiết mà có sự bổ sung saocho phù hợp

Thiếu nước vừa phải đưa tới những biểu hiện sau:

- Cơ thể mệt mỏi, buồn ngủ, da khô, ngứa, tróc rụng

- Nổi mụn trứng cá, chảy máu mũi vì niêm mạc khô

- Ho khan, viêm phế quản vì không khí qua mũi không được làm ẩm

- Nhức đầu, chóng mặt, cơ bắp yếu mềm

- Tái phát nhiễm trùng tiết niệu vì không có nước để loại bỏ các chất hóa học

có hại và vi khuẩn ra ngoài cơ thể qua đường tiểu tiện

Thiếu nước trầm trọng dẫn tới giảm huyết áp, tim đập nhanh, miệng, da,niêm mạc khô không đổ mồ hôi, rất khát nước, tiểu tiện ít, mất định hướng…Khi hoạt động thể lực, sự co cơ liên tục cần tiêu hao nhiều năng lượng, nhiệtsản sinh trong tế bào cũng vì vậy mà tăng lên Phần lớn nhiệt lượng sinh ra sẽtheo máu tới da và thông qua sự ra mồ hôi để điều hoà thân nhiệt Người ta đãtính được cứ 1 kcal năng lượng tiêu thụ thì cần bổ sung 1ml nước vào cơ thể

Trang 6

Lượng mồ hôi sinh ra khi vận động phụ thuộc vào loại hình vận động, diệntích bề mặt da, điều kiện môi trường Với các vận động nhẹ nhàng trong điềukiện mát và khô mỗi giờ có thể tiết 250 ml mồ hôi Khi thực hiện các bài tập cócường độ cao, môi trường nóng bức, lượng mồ hôi có thể tới 2 lít/giờ Mặc dùviệc ra mồ hôi là phản ứng bình thường của cơ thể khi vận động nhưng nếu ra

mồ hôi quá nhiều sẽ dẫn tới giảm lượng nước bên ngoài và bên trong tế bào, gâymất cân bằng nước và chất điện giải

Tăng tiết mồ hôi sẽ gây giảm lượng máu lưu thông Đồng thời sự tăng tiếtaldosteron dẫn tới tăng tái hấp thụ nước và Na+, giảm lượng nước tiểu thậm chí

vô niệu Quá trình điều hoà này có lợi cho việc duy trì lượng dịch ngoài tế bào.Khi vận động, lượng nước nội sinh cũng được tăng cường cùng với việc phângiải cơ chất mang năng lượng (glycogen, acid béo, amino acid) Tuy nhiênlượng nước được tạo ra này thấp hơn nhiều so với lượng nước bốc hơi qua danên mất nước trong hoạt động thể lực là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là các vậnđộng cường độ cao, ngoài trời nắng nóng kéo dài hoặc với các VĐV điều chỉnhgiảm cân khi thi đấu Lúc này việc mất nước không chỉ gây giảm thành tích màcòn không có lợi cho sức khoẻ Biểu hiện ban đầu của sự mất nước thườngkhông rõ ràng, với lượng nước mất đi là 275ml/giờ thì chưa có cảm giác thiếunước Khi cảm thấy khát thì năng lực vận động của cơ thể đã bị ảnh hưởng Mức

độ suy giảm thể lực của VĐV khi mất nước được trình bày ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Biểu hiện của sự mất nước ở VĐV Mức độ Khu vực nước mất Lượng Triệu chứng Sự giảm thể lực

Nhẹ Ngoài tế bào 2%

Tăng áp suất thẩmthấu, khát nước, giảmniệu

10 - 15%

Trung bình

Trong và ngoài tế bào như nhau

4%

Khát khô, mạch nhanh,thân nhiệt tăng, giảmhuyết áp, tăng mệt mỏi

10 - 30%

Nặng Trong tế bàonhiều hơn 6 - 20%

Máu cô đặc, buồn nôn,chuột rút, vụ niệu, truỵtim, hôn mê…

Nguy hại tớisức khoẻ

Trang 7

Trong hoạt động TDTT, sự cung cấp nước và chất điện giải thường khó đượcđáp ứng kịp thời nếu chỉ dựa vào cảm giác khát chủ quan của VĐV Lượng nước

bổ sung bằng 80% lượng mồ hôi thải ra là thích hợp nhất Việc uống tùy ý baogiờ cũng ít hơn lượng nước cần bù cho cơ thể Ngược lại, khi lượng nước bổsung vượt quá lượng nước thải ra sẽ không tốt cho cơ thể, có thể gây bệnh natrihuyết thấp, còn gọi là trúng độc nước

Để bổ sung nước cần biết được cường độ thoát mồ hôi tối đa, thường xácđịnh thông qua hiệu số cân nặng trước và sau vận động Mất một lít mồ hôitương ứng với 2.3% cân nặng sẽ có dấu hiệu thiếu nước Trong một vài trườnghợp trong khi thi đấu VĐV có thể mất nước 2 - 2.5 lít/giờ

Cần bổ sung nước từng lượng nhỏ và nhiều lần, cách nhau 20 - 30 phút, mỗilần uống khoảng 150 - 200ml Ðây là cách giúp dung lượng máu không thay đổiđột ngột, duy trì cân bằng nội môi, không tăng gánh nặng cho hoạt động của tim

và dạ dày Trước lúc ăn cơm không nên uống nước nhiều, bởi nó sẽ làm loãngdịch dạ dày, giảm khả năng tiêu hoá

1.1.2 Khoáng chất trong cơ thể.

Khoáng chất là những phân tử cần thiết cho các chức năng trong cơ thể, từ

hệ thần kinh, cơ bắp tới điều hoà tiêu hoá, hấp thụ dinh dưỡng, duy trì trạng thái

ổn định của chất lỏng trong và ngoài tế bào Mặc dù chỉ cần một số lượng khiêmtốn nhưng thiếu chúng là cơ thể trở nên suy yếu và kém hoạt động

Trong cơ thể, bình thường tổng lượng khoáng chất chỉ chiếm khoảng 4%trọng lượng Khoáng chất rất cần thiết trong sự hấp thụ các loại vitamin, dù rấtquan trọng nhưng vitamin sẽ trở nên vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của khoángchất Khoáng chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể và cần phảiđược cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi ngày Khoáng chất có nhiềutrong thực phẩm như các loại thịt, rau, quả, hạt

Tất cả các tế bào và dịch ngoại bào đều chứa ít hay nhiều một số loạikhoáng chất khác nhau Ở dịch ngoài tế bào Na+ có nồng độ rất lớn so với dịchtrong tế bào cho nên Na+ được gọi là ion của dịch tổ chức Ở dịch trong tế bào có

Trang 8

nồng độ K+ rất lớn so với dịch ngoài tế bào nên gọi K+ là ion của tổ chức Ngoài

ra dịch trong tế bào còn có nồng độ tương đối cao của các ion hóa trị 2 như

Mg2+, SO42-, HPO42- Khoáng chất còn là thành phần cấu tạo của xương và răng.Nói chung, chất khoáng có vai trò quan trọng duy trì tốt tình trạng tinh thầncũng như thể chất của cơ thể:

- Khoáng chất cần cho sự phát triển và vững chắc của xương

- Điều hoà hệ thống tim mạch, tiêu hoá và các phản ứng hoá học

- Là chất cấu tạo và điều hòa hoạt tính enzym

- Liên hợp với các chất glucid, protid, lipid trong các mô, tế bào

- Phối hợp với các vitamin, hormoon trong các hoạt động chuyển hóa

- Giữ thăng bằng các dịch thể lỏng trong cơ thể

Trong cơ thể có khoảng 70 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại đượcxem là cần thiết Theo như khuyến cáo của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa

Kỳ thì chỉ nên giữ mức tiêu thụ 7 loại khoáng chất này hằng ngày trong cơ thểnhư sau: Calci (Ca): 800mg; Phospho (P): 800mg; Magnesium (Mg): 350mg;Sắt (Fe): 10mg; Kẽm (zinc): 15mg; Iod (I): 150µg; Selen (Se): 70µg

Khi thiếu khoáng chất có thể làm tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúmnhiễm trùng; cao huyết áp; trầm cảm, lo âu; đau nhức bắp thịt, chuột rút, đauxương khớp; rối loạn tiêu hoá như ợ chua, táo bón, bồn nôn

Người bình thường ăn nhiều muối rất nguy hiểm, là một trong nhữngnguyên nhân gây cao huyết áp Tuy nhiên, ở VĐV lại có thể bị thiếu hụt Lượngmuối mất qua mồ hôi sẽ làm giảm nồng độ các chất điện giải, dù chỉ thiếu hụtmột lượng nhỏ cũng có thể gây ra sự xáo trộn trong cơ thể ảnh hưởng đến sự dẫntruyền xung động thần kinh và hoạt động của cơ Thiếu nhiều muối có thể cóbiểu hiện chuột rút, đau cơ, uể oải, buồn nôn, hôn mê thường xảy ra khi tậpluyện thể thể lực nặng, trong khí hậu khô nóng, ra quá nhiều mồ hôi hoặc bị tiêuchảy nặng mà không được bù nước và muối hợp lý Nếu bị thiếu muối, cơ thể sẽ

tự thích ứng bằng cách làm giảm đào thải natri qua nước tiểu và mồ hôi Cơ thể

Trang 9

cũng sẽ có cảm giác thèm ăn mặn hơn nên sẽ sớm có được lượng muối cần thiếttrong cơ thể

Đôi khi thiếu muối cũng có thể do uống quá nhiều nước mà không kèmtheo muối, làm loãng nồng độ natri trong máu Bình thường nhu cầu muối hàngngày dao động từ 6-10g, khi vận động nặng cần nhiều hơn, thường phải tới12,5g NaCl (chứa 40% natri, tức khoảng 5g natri/ngày) Nhiều nghiên cứu đãcho thấy VĐV có thể mất 2g muối/1 lít mồ hôi hoặc nhiều hơn, song các thức ănthông thường đã đem lại khoảng một nửa số muối NaCl cần thiết

Nếu có khẩu phần ăn cân đối, đầy đủ thì các loại muối khoáng đa dạngtheo đó cũng được cung cấp cho VĐV Nhu cầu bù muối natri và kali là hai chấtđiện giải quan trọng nhất sẽ được đáp ứng tốt hơn qua chế độ ăn Một chế độ ăn

ít kali và nhiều natri là một trong những yếu tố gây cao huyết áp, do đó tốt nhất

là nên có sự cân bằng giữa lượng natri và kali trong khẩu phần ăn hàng ngày

Nhu cầu kali ở người bình thường là 1,6-3,0 g/ngày, riêng với VĐV khitập nặng, kéo dài, có thể cần tới 6,0g Trong 40 phút chạy dưới nhiệt độ bóngrâm 21ºC, có thể mất khoảng 0,435g kali/giờ Vì vậy để tránh mất kali và natricần thường xuyên bổ sung lượng thiếu hụt trong suốt thời gian tập luyện, thi đấunếu hoạt động với cường độ cao, kéo dài trên 1 giờ Có thể bổ sung ngay từtrước vận động, trong chế độ ăn hàng ngày Ngoài ra, bằng cách tự cân trước vàsau khi tập nặng, vào cùng một thời điểm mỗi ngày, VĐV sẽ biết được chínhxác mình cần bù bao nhiêu nước và đã mất bao nhiêu natri, kali qua mồ hôi

1.1.3 Protein trong cơ thể.

Protein là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân màđơn phân là các amin acid, chúng liên kết với nhau thành chuỗi polypeptid

Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất cấu tạo nên các bộ phậncủa cơ thể, chúng có mặt trong các thành phần của tế bào Quá trình sống là sựtổng hợp và thoái hóa thường xuyên của protein Vai trò của protein đối với cơ

thể có thể nhận thấy ở mọi hoạt động chức năng:

- Hình thành, duy trì và thay thế các tế bào trong cơ thể

Trang 10

- Protein chiếm tới 50% khối lượng khô của tế bào và là vật liệu cấu trúc

tế bào Thiếu protein dẫn đến chậm lớn suy ding dưỡng, giảm miễn dịch ảnhhưởng xấu đến chức năng của các cơ quan trong cơ thể

- Tham gia cấu tạo cơ bắp, máu, bạch huyết, hormon, kháng thể, các dịchthể vì vậy protein có liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể như tuầnhoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu hóa bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần…

- Cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất ding dưỡng khác Đặcbiệt là vitamin và chất khoáng Khi thiếu protein, nhiều vitamin không phát huyđầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng

- Là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể, thường cung cấp 10% - 15%năng lượng của khẩu phần

- Protein kích thích sự thèm ăn vì thế nó giữ vai trò chính tiếp nhận cácchế độ ăn khác nhau Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong cơ thểnhư ngừng lớn, chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động nhiều tuyến nộitiết, thay đổi thành phần protein máu, giảm khả năng miễn dịch của cơ thể vớicác bệnh nhiễm khuẩn

Thực phẩm có nguồn gốc động vật (thịt, cá, trứng, sữa) là nguồnprotein quý, nhiều về số lượng cân đối hơn về thành phần và hàm lượng aminacid cần thiết cao Hàm lượng các amin acid cần thiết trong thực phẩm nguồngốc thực vật không cao (trừ đậu nành), nhưng cơ thể vẫn phải bổ sung cân đốicác loại này Vì vậy biết phối hợp các nguồn protein thức ăn hợp lý sẽ tạo nêngiá trị dinh dưỡng cao của khẩu phần ăn Cần bổ sung protein hằng ngày vì cơthể chúng ta hầu như không có khả năng dự trữ protein

Theo ý kiến các chuyên gia dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn hằng ngàynên có sự góp mặt của 15% protein, cụ thể là:

+ Nam giới nên bổ sung 55,5g protein/ngày

+ Phụ nữ nên bổ sung 45g protein/ngày

Theo Lemon (1991) đối với VĐV thì nhu cầu thì nhu cầu protein còntùy theo loại hình vận động:

+ VĐV cần tốc độ nhanh thì nhu cầu protein là 1,2 - 1,7g/kg/ngày + VĐV cần nhiều sức bền thì nhu cầu từ 1,2 - 1,4g/kg/ngày

Trang 11

1.1.4 Trọng lượng chất béo.

Lượng chất béo trong cơ thể bao gồm sự tích tụ chất béo trong mô mỡ,phần lớn ở lớp mỡ dưới da, một phần trong đó bảo vệ cơ quan nội tạng trongngực và bụng Tỷ lệ chất béo là phần trăm trọng lượng chất béo so với tổngtrọng lượng, bình thường là 10 - 20% Phần còn lại là trọng lượng gầy, gồmtrọng lượng của hệ xương, các cơ quan nội tạng và da Ở nam tỉ lệ chất béotrong cơ thể tương đối ổn định trong suốt quá trình trưởng thành và phát dục.Còn ở nữ có tỉ lệ cao hơn so với nam cùng tuổi

Tỉ lệ chất béo cao thường phản ánh chế độ dinh dưỡng quá mức Tỉ lệ chấtbéo thấp chứng tỏ dinh dưỡng không đủ, qua đó qua trình trưởng thành và phátdục sẽ chậm lại Nói chung, tỉ lệ chất béo cần được khống chế ở mức lành mạnh

sẽ có lợi cho sự trưởng thành và phát triển sau này Cần hiểu rằng giảm cânkhông phải luôn luôn là giảm lượng chất béo trong người Mặc dù không aimuốn có nhiều chất béo trong người nhưng sự thật là chất béo có lợi và hết sứccần thiết cho cơ thể, với điều kiện trong một tỷ lệ nhất định Chất béo giúp thânnhiệt ổn định, tạo các đường cong cho ngoại hình, bảo vệ các cơ quan nội tạng

và giúp duy trì năng lượng và chức năng sinh sản

Chất béo cần thiết là lượng chất béo bắt buộc phải có trong cơ thể, chiếm3% - 5% ở nam giới, và 8% - 12% ở phụ nữ Hiểu biết rõ về tỷ lệ chất béo trong

cơ thể giúp xác định được tình trạng sức khoẻ và theo đó có kế hoạch tập luyện,dinh dưỡng sao cho phù hợp

Người ta đã xác định được mối tương quan dương tính giữa trọng lượnggầy của VĐV ưu tú và thành tích thể thao Trình độ tập luyện càng cao, trọnglượng gầy và tỷ lệ trọng lượng gầy so với trọng lượng cũng sẽ lớn Trọng lượng

mỡ của cơ thể là đại lượng có độ di truyền cao và là một chỉ tiêu quan trọng đểđánh giá tuyển chọn tài năng thể thao

Thông thường mức độ béo, gầy được đánh giá thông qua bề dày lớp mỡdưới da, được đo trực tiếp bằng compa chuyên dùng Loại thường dùng là

Trang 12

compa Harpenden, các vị trí thường đo là nếp gấp da ở cơ tam đầu, nếp gấp da ở

cơ nhị đầu, nếp gấp da ở dưới xương bả vai, nếp gấp da ở mạng sườn

1.1.5 Chỉ số khối của cơ thể (Body Mass Index - BMI).

Hiện nay Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” để đánhgiá tình trạng dinh dưỡng cho đối tượng nghiên cứu (trước đây còn gọi là chỉ sốQuetelet) Chỉ số khối của cơ thể là thông số được dùng để đánh giá mức độ gầyhay béo của một người nhưng không phân biệt được sự thừa cân do béo trệ, nởnang cơ bắp hay do phù nước

Cách tính: Gọi W là trọng lượng của một người (kg) và H là chiều cao(m) thì chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức:

BMI (kg/m2) = W / H2Các ngưỡng sau đây được dùng để phân loại béo, gầy dựa vào chỉ số BMI:

- Bình thường: 18,5 - 24,99

- Thừa cân độ 1: 25,0 - 29,99

- Thừa cân độ 2: 30,0 - 39,99

- Thừa cân độ 3: > 40

- Tình trạng gầy (thiếu năng lượng trường diễn) độ 1: 17,0 - 18,49 (gầy nhẹ)

- Tình trạng gầy độ 2: 16,0 - 16,99 (gầy vừa)

- Tình trạng gầy độ 3: < 16,0 (quá gầy)

1.1.6 Tỉ lệ eo - hông.

Đây là thang chỉ số đánh giá mức độ cân đối của cơ thể được đo ở vị trívòng thắt lưng và vòng hông Thông thường có thể dùng thước dây để đo vòng

eo và vòng hông, sau đó lấy số đo vòng eo chia cho số đo vòng hông sẽ có tỷ lệ

eo - hông Đối với nữ giới, tỷ lệ eo - hông lý tưởng nằm trong khoảng từ 0,80 Nếu là nam giới thì tỷ lệ này nằm trong khoảng 0,85 - 0,95

0,67Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Cambridghe (Anh) đã đưa ra tỉ lệ eo hông lý tưởng cho cơ thể là:

+ Đối với nam là: 0.9

+ Đối với nữ là: 0.7

Trang 13

Những người có tỷ lệ eo - hông lớn gặp nhiều nguy hiểm về sức khỏe hơn sovới những người tỷ lệ eo - hông nhỏ Nguyên nhân là vì vóc dáng cơ thể và mối

đe dọa sức khỏe có mối liên hệ mật thiết với nhau Những người phần eo có quánhiều mỡ thừa thì khả năng mắc bệnh về tim mạch và tiểu đường sẽ cao hơnnhững người có phần mỡ tập trung chủ yếu ở xung quanh vòng hông

1.1.7 Cân bằng cơ thể

Được đánh giá bằng sự cân đối giữa các chỉ số về trọng lượng, kích thước

đo được ở các phần đối xứng của cơ thể, gồm các hướng: phải - trái; trên - dưới;trước - sau Trong hoạt động TDTT, sự cân bằng cơ thể cho biết mức độ hoạtđộng của các bộ phận khác nhau trên cơ thể Các chỉ số thường dùng để đánh giá

sự cân đối của cơ thể là:

- Chiều cao ngồi / chiều cao đứng

- Chiều dài tay phải / chiều dài tay trái

- Vòng cánh tay phải / vòng cánh tay trái

- Chiều dài chân phải / chiều dài chân trái

- Vòng đùi phải / vòng đùi trái

- Dài sải tay / chiều cao đứng

1.2 Tính năng tác dụng của máy InBody 520.

Trước đây người ta thường sử dụng bàn cân để đo lường sự tiến bộ của

cơ thể trong quá trình tập luyện TDTT Trong thực tế một chiếc bàn cân thôngthường chỉ có thể đo cân nặng của cơ thể và kết quả đó không phản ánh chínhxác thể trạng cơ thể Cơ thể con người bao gồm nước, protein, khoáng chất vàchất béo Trạng thái mất cân bằng trong cơ thể luôn có mối liên quan chặt chẽđến nguy cơ mắc bệnh béo phì, phù, suy dinh dưỡng và loãng xương Do vậy,giữ các thành phần này trong một trạng thái cân bằng thích hợp là chìa khóa đểcho cơ thể một vóc dáng khoẻ mạnh và cân đối

Máy InBody là công cụ được các nhà khoa học Mỹ đã phát minh ra cótác dụng hỗ trợ giúp những người tập TDTT có thể kiểm tra, lưu trữ các dữ liệucần thiết, chính xác về thành phần cơ thể, từ đó có thể theo dõi sức khỏe, điều

Trang 14

chỉnh việc tập luyện sao cho phù hợp Ưu điểm nổi trội của thiết bị này là chokết quả toàn diện và giải thích kết quả đơn giản, dễ vận hành, thời gian kiểm tranhanh, dễ dàng chuyển dữ liệu qua thiết bị lưu trữ USB

Hình 2.1 Máy y học phân tích thành phần cơ thể InBody 520

Máy InBody giúp VĐV và HLV có thể theo dõi tiến độ thay đổi củacác thành phần trong cơ thể, điều này những chiếc cân bình thường không thểlàm được Trong vòng một phút, InBody có thể đo lường và tính toán mức độtập thể dục thích hợp cho cơ thể của người sử dụng Khi bước lên chiếc máynày, một dòng năng lượng điện an toàn được truyền qua cơ thể Sau đó, mức độphản kháng của cơ thể với dòng năng lượng này sẽ cho phép chiếc máy tínhtoán được các thành phần trong cơ thể của bạn Đây cũng là cách mà các nhà địachất sử dụng dòng điện để xác định vị trí khoáng sản dưới lòng đất và trầm tíchdầu mỏ Kết quả là một phân tích chi tiết sẽ được in ra để thông báo các thànhphần trong cơ thể Máy có thể dự báo chính xác lượng các chất cần có trong cơthể, và sẽ so sánh chỉ tiêu này với mức độ thực tế, sau đó sẽ cung cấp thông tinchính xác giúp biết được khoảng cách giữa hiện tại và mức độ hoàn hảo màngười tập cần hướng đến

Một trong những tính năng quan trọng nhất của chiếc máy phân tích cơthể InBody là chức năng thông báo dấu hiệu sức khỏe của xương Bằng cáchtính toán lượng chất khoáng trong cơ thể, máy có thể phát hiện mật độ xương

Trang 15

Hiện tượng loãng xương hiện đang là một vấn đề phổ biến cho người dân châu

Á, vì chúng ta thường có một chế độ ăn ít calci Phát hiện sớm các nguy cơ này

là vấn đề rất quan trọng, có thể giúp mọi người đặc biệt là VĐV cải thiện mật độkhoáng xương ngay từ khi còn trẻ

Khi kiểm tra lượng mỡ tích trữ trong cơ thể, những phân tích từ chiếcmáy InBody không những xác định được lượng mỡ và cho biết tỷ lệ phần trăm

mỡ lý tưởng nhất cho cơ thể bạn, chiếc máy còn có thể phân biệt rõ ràng các loạichất béo được lưu trữ trong cơ thể là vị trí mỡ nằm dưới da hay mỡ dự trữ xungquanh các cơ quan nội tạng bên trong

Toàn bộ kết quả về các thành phần trong cơ thể được tự động in ra bằngthiết bị chuyên dụng được kết nối trực tiếp với máy đo Các chuyên gia vềTDTT, chuyên gia dinh dưỡng và y học TDTT sẽ đưa ra những lời khuyên chitiết và tư vấn những cách để có thể cải thiện sức khỏe, bổ sung dinh dưỡng vàmức độ tập luyện phù hợp cho từng đối tượng cụ thể

1.3 Đặc điểm tập luyện và thi đấu môn Bơi lội.

Bơi lội là môn thể thao dưới nước, do tác dụng của vận động toàn thân,đặc biệt là sự vận động của chân, tay người bơi, có thể vượt qua nhũng khoảngđường dưới nước với những tốc độ nhất định Nhờ những yếu tố cơ bản củanước như lực đẩy từ dưới lên (lực nổi), lực cản, lực nâng Nên người bơi có thểvận động trên mặt nước để tiến về phía trước bằng nhiều kiểu, cách bơi khácnhau Vận động trong nước là vận động trong môi trường đặc biệt, khi bơi thânngười nằm ngang bằng trên mặt nước nên bơi lội khác rất nhiều so với các mônthể thao ở trên cạn

Tính chất cơ bản của bơi lội là loại vận động có chu kỳ (trừ xuất phát, vàquay vòng), còn lại trên toàn cự ly người bơi thực hiện lặp lại động tác tạo lựctiến đưa cơ thể tíên về phía trước

Bơi lội hình thành và phát sinh từ nguồn gốc lao động của con người, doyêu cầu bức thiết của lao động sản xuất, chống thiên tai, bảo vệ cuộc sống màcon người phải biết bơi, từ đó bơi lội là phương tiện hữu ích cho cuộc sống con

Trang 16

người Trải qua quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, ở mỗithời đại, giai cấp, con người sử dụng bơi lội với mục đích khác nhau Giai cấpbóc lột dùng thể thao bơi lội để vui chơi, giải trí trong cảnh giàu sang, hoặc mưu

đồ lôi cuốn tầng lớp thanh niên và các tổ chức bơi lội để tạo mục đích chính trị,

Bơi lội là môn thể thao thi đấu thành tích có sự tác động mạnh về thể chất.Khi tập luyện và thi đấu đòi hỏi người tập đồng thời phải đáp ứng được nhiềuyếu tố, đáng chú ý là:

- Khả năng vận động (mức độ thực hiện kỹ thuật động tác, và các khả năng phốihợp toàn bộ kỹ thuật)

- Mức độ phù hợp về sinh lý (trạng thái, chức năng hoạt động của các cơ quannhư tuần hoàn, hô hấp, mức độ phát triển của hệ vận động )

- Mức độ thích hợp về tâm lý (lòng yêu thích, ham mê, độ bên vững tâm lý )

- Yếu tố thể hình (chiều cao, cân nặng, chiều dài thân, chiều dài cánh tay)

Trang 17

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu.

Để giải quyết các nhiệm vụ, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu khoa học sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tham khảo và tổng hợp 18 tàiliệu liên quan Thông qua quá trình tham khảo các tài liệu y sinh học TDTT để

hệ thống hoá các kiến thức liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, định hướng trongnghiên cứu và hình thành cơ sở lý luận về đánh giá thành phần cơ thể của sinhviên bơi lội trên thiết bị InBody 520 Đồng thời, việc sử dụng phương phápnghiên cứu này cũng cho phép thu thập thêm các số liệu để kiểm chứng và sosánh với những số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu Các tài liệutrên là các tư liệu nghiên cứu của thư viện và tài liệu hướng dẫn sử dụng thiết bịcủa trung tâm khoa học trường Đại học TDTT Bắc Ninh, tư liệu trên mạngthông tin internet và các tư liệu cá nhân mà chúng tôi thu thập được Danh mụccác tài liệu trên được chúng tôi trình bày ở phần “Danh mục các tài liệu thamkhảo”

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm.

Là phương pháp được chúng tôi sử dụng để điều tra thực trạng tậpluyện của sinh viên và tìm hiểu phương pháp đánh giá thành phần cơ thể chosinh viên chuyên sâu bơi lội khoá Đại học 44 cũng như phân tích các kết quảkiểm tra thu được trên thiết bị InBody 520 Đối tượng phỏng vấn là các sinhviên, giáo viên, HLV, chuyên viên đang học tập, giảng dạy, công tác tại trường

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm.

Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứunhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin về việc sử dụng thiết bị và

tổ chức nghiên cứu Các nội dung quan sát mà chúng tôi quan tâm là: Hình tháibên ngoài của đối tượng nghiên cứu, các thao tác cơ bản khi sử dụng thiết bị, tư

Ngày đăng: 04/09/2015, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Bilan xuất nhập nước - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 1.1 Bilan xuất nhập nước (Trang 5)
Bảng 1.2 Biểu hiện của sự mất nước ở VĐV - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 1.2 Biểu hiện của sự mất nước ở VĐV (Trang 6)
Hình 2.1. Máy y học phân tích thành phần cơ thể InBody 520 - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Hình 2.1. Máy y học phân tích thành phần cơ thể InBody 520 (Trang 14)
Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của sinh viên Bơi lội khóa - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của sinh viên Bơi lội khóa (Trang 21)
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra thành phần cơ thể của sinh viên Bơi lội khóa Đại - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra thành phần cơ thể của sinh viên Bơi lội khóa Đại (Trang 22)
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra thành phần cơ thể của sinh viên Bơi lội khóa Đại - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra thành phần cơ thể của sinh viên Bơi lội khóa Đại (Trang 23)
Bảng 3.5 Đánh giá tình trạng cơ thể của sinh viên Bơi lội, khóa Đại học 44, - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 3.5 Đánh giá tình trạng cơ thể của sinh viên Bơi lội, khóa Đại học 44, (Trang 27)
Bảng 3.6 So sánh tình trạng cơ thể của sinh viên Bơi lội khoa SPTD và - Đánh giá thực trạng thành phần cơ thể của sinh viên bơi lội khóa đại học 44 trường đh TDTT bắc ninh trên máy INBODY 502
Bảng 3.6 So sánh tình trạng cơ thể của sinh viên Bơi lội khoa SPTD và (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w