DANH MUC CAC BANG DANH MUC CAC BIEU DO TOM TAT LUAN VAN Sơ lược về cấu trúc, chức năng và sự tái tạo xương Các hoc môn tham gia điều hoà tái tạo xương Định nghĩa và phân loại Loãng xư
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO - BO Y TE TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG
LE THI BICH HANG
THUC TRANG LOANG XUONG VA MOT SO YEU TO
LIEN QUAN O NAM GIOI 50 DEN 75 TUOI TẠI PHUONG PHUONG LIEN QUAN DONG DA
NAM 2007
LUAN VAN THAC SY Y TE CONG CONG
MA SO CHUYEN NGANH: 60.72.76
HUONG DAN KHOA HQC
PGS-TS NGUYEN THI LAM
Trang 2tình của các thày cô giáo, đồng ngliệp, bạn 0è 0à gia đình
Truóc liết tôi xịn bày tỏ lồng Kính trọng 0à biết ơn sâu sắc đến cô giáo hudng din ®Œ.S-1S Nguyên Thị Câm đã tận tình giúp tôi hoàn thành luận
tất trả
Toi xin chan thanh cam ơn an Giám liệu, phòng ®ào tạo, phòng
®iều phối, các thẩy giáo, cô giáo trường ®ại học %Y tế Công Cộng đã góp
niiều công sức trong đào tạo, giúp đỗ tôi trong suốt quá trình học tập va nghién citu
Tôi chân thành cảm ơn Trung tam Y tế Du phòng quan Dong Da, Uy ban nhân dân phường Phuong Lién va Tram y té phuong da tao diéu Kiện uà nhiệt tình cộng tác với tôi trong thời gian làm tiệc tại địa phương, đặc biét
trong quá trình thu thập số liệu
Tối chén thanh cam on cdc ban bé dong nghiép trong lớp Cao học 9 đã động tiên, giúp đồ tôi trong qud trinh hoc tap va hodn thanh dé tai nghién cứu
Sau cùng, tôi xin 6ảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân
trong gia đình đã cùng tôi chia sẻ ttững Khó Khăn 0à giành cho tôi những
tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt quá trình học tập tà hoàn thành
ludn van nay
6i thời gian tà trình độ có hạn, luận uăn &hông thể tránh Khởi những Kiếm Rhuyét Rat mong được sự thông cảm uà đóng góp chân tình của thẩy
cô uà bạn 0è dong nghiép
Xin chan thanh cam on!
Ha N61, ngay 20 thang 9 ndm 2007
Tdc gia
Trang 3DANH MUC CAC BANG
DANH MUC CAC BIEU DO
TOM TAT LUAN VAN
Sơ lược về cấu trúc, chức năng và sự tái tạo xương
Các hoc môn tham gia điều hoà tái tạo xương
Định nghĩa và phân loại Loãng xương, triệu chứng lâm sàng của loãng
xương
Các yếu tố ảnh hưởng đến loãng xương
Các phương pháp chân đoán loãng xương và đo mật độ xương
Tình hình nghiên cứu loãng xương trên Thế giới và Việt Nam
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp phân tích số liệu
Các biến số nghiên cứu
Một số khái niệm tiêu sử dụng trong nghiên cứu
Tiêu chuẩn đánh giá
Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
Trang 43.3 Biểu hiện triệu chứng lâm sàng
3.4 Tiền sử sử dụng thuốc và gãy xương
3.5 Chế độ ăn, thói quen ăn uống sinh hoạt
3.6 Tần suất tiêu thụ một số thực phẩm giàu canxi với tinh trang LX
37 Mộtsố yếu t6 liên quan đến tình trang LX
3.7.1 Mối liên quan giữa tình trạng LX với các yếu tố thông tin chung
3.7.2 Mối liên quan giữa LX, GMĐX với tiền sử sử dụng thuốc, biểu hiện lâm
sàng và tiền sử gãy xương
3.7.3 Mối liên quan giữa thói quen sinh hoạt, luyện tập với tinh trang LX
3.7.4 Mối liên quan giữa sở thích và thói quen ăn một số thực phẩm giàu canxi
với tình trạng loãng xương
3.7.5 Mối liên quan giữa tần suất tiêu thụ một số thực phẩm với tình trạng LX
PHU LUC 1: Cay van dé
PHU LUC 2: Mau phiéu phong van
PHỤ LỤC 3: Mẫu phiếu đo nhân trắc và siêu âm
PHỤ LỤC 4: Mẫu phiếu phỏng vấn về tần suất xuất hiện một số thực phẩm giàu
canxi tiêu thụ trong 12 tháng qua
Trang 5: Dai hoc y Ha noi
: Déi tuong nghién ctu
: Giam mat độ xương
: Growth hormon ( Hoc môn tăng trưởng)
: Loang xuong
: Mật độ xương
:_ Peak Bone Mass (Khối lượng xương đỉnh)
: Parathyroid hocmon (Hoc m6n can giáp)
: Quan-titative computed tomography (Do ty trọng chất khoáng xương băng chụp cắt lớp vi tinh)
: Quantitative Ultrasound (Siéu âm định lượng)
: Speed of sound (Téc dé truyền âm)
: Single photon absorptimetry (Do hap thu photon don)
: Single-energy X ray absorptiometry (Do hap thy tia X năng lượng đơn) : Tinh chat nghé nghiép
: Tinh trang hon nhan
: World Health Organization (T6 chitc y tế thé giới)
Trang 6DANH MUC CAC BANG
Những ưu điểm và hạn chế của một số phương pháp đo mật độ xương
Thông tin nghề nghiệp, TTHN, mức thu nhập bình quân Phân bố nhóm tuôi của đối tượng nghiên cứu
Một số đặc điểm thể lực của DTNC Phân bố chiều cao trung bình của các nhóm tuổi
Chiều cao, cân nặng, BMI trung bình ở các nhóm tuôi
Tỉ trọng xương trung bình ở các nhóm tuôi Phân bố tình trạng loãng xương và giảm mật độ xương theo nhóm tuổi
Tỷ lệ ĐTNC có biểu hiện lâm sàng theo nhóm tuổi
Sự khác biệt tỷ lệ chiều cao giảm ở các nhóm tuổi Tần suất sử dụng viên Canxi của ĐTNC
Tiền sử gẫy xương của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ nam giới có bố mẹ/ anh chị em trong gia đình bị
gãy xương
Hoàn cảnh gãy xương
Phân bố tỷ lệ thức ăn ăn kiêng của ĐTNC
Phân bố sở thích và thói quen ăn một số thực phẩm giàu canxi
Tỷ lệ nam giới có thói quen dùng rượu bia, uống trà, cà phê
Tỷ lệ nam giới có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào - Tập
Trang
19
4] 4]
52
53
Trang 7thé duc theo mirc do
Tỷ lệ ĐTNC luyện tập thể dục theo thời gian tập Tần xuất tiêu thụ các loại thực phẩm giầu can xi trong
một năm qua
Liên quan giữa tuổi với tình trạng loãng xương Liên quan giữa TCƠNN với tình trạng GMĐX Liên quan giữa cân nặng với tình trạng LX Liên quan giữa BMI với tình trạng loãng xương Mối liên quan giữa thói quen sinh hoạt, luyện tập với tình trạng LX
Mối liên quan giữa thời gian luyện tập với tình trạng loãng xương
Liên quan về sở thích với tình trạng loãng xương Mối liên quan giữa một số thói quen ăn uống và BMI, tính chất công việc với tình trạng loãng xương
Mối liên quan giữa việc sử dụng một số nhóm thực phẩm với tình trạng loãng xương
Trang 8DANH MUC CAC BIEU DO
Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu Phân bố chiều cao của đối tượng nghiên cứu Phân bố cân nặng của đối tượng nghiên cứu Phân bố ĐTNC theo chỉ số khối cơ thể (BMI) Phân bố tỉ lệ loãng xương của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ sử dụng Corticoid, thuốc nội tiết sinh lý và viên canxi của ĐTNC
Tỷ lệ các loại gẫy xương của ĐTNC và gia đình
Tỷ lệ ăn kiêng của ĐTNC
Phân bố tỷ lệ dùng sữa theo mức độ của ĐTNC
Phân bố tỷ lệ thói quen khi ăn tôm
Tỷ lệ hút thuốc lá, thuốc lào của đối tượng nghiên cứu
Trang 9khung xương, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của số đông người có tuổi Vì vậy việc tiến hành các nghiên cứu dịch tễ học bệnh loãng xương và các yếu tố liên quan là rất cần thiết để đưa ra những giải pháp dự phòng Nghiên cứu được tiến hành từ tháng
3 đến tháng 8 năm 2007 tại phường Phương Liên quận Đống Đa Hà Nội với hai mục tiêu cụ thể là “ Xác định tỷ lệ loãng xương và một số yếu tố liên quan đến loãng xương của nam giới 50 đến 75 tuôi phường Phương Liên quận Đống Đa, Hà Nội tại thời điểm tháng 6 năm 2007”
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 243 nam giới tuổi từ 50-75, không mắc các bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa xương và được chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Các chỉ số chiều cao, cân nặng, BMI được thu thập bằng cân, đo, tỷ trọng xương được đo bằng phương pháp siêu âm định lượng với kỹ thuật đo hấp thụ siêu âm dải rộng (BUA) Chân đoán loãng xương dựa
vào giá trị T- Score < -2,5 ; GMĐX được chẩn đoán khi -2,5 < T- Score < -1 Két quả
nghiên cứu cho thấy : Tỷ lệ loãng xương của nam giới 50 - 75 tuổi là 11,1% thấp hơn
so với một số nghiên cứu khác Tỷ lệ giảm mật độ xương là 50,2% Có sự khác biệt tỷ
lệ loãng xương giữa các nhóm tuổi (P<0,05) Một số mối liên quan tới tỷ lệ loãng xương cao được tìm thấy trong nghiên cứu này là cân nặng càng thấp tỷ lệ loãng xương càng cao, (cân nặng < 50kg tỷ lệ loãng xương > 23%, cân nặng > 60kg tỷ lệ loãng
xương 4,1%, P < 0,05), BMI <18,5 nguy cơ loãng xương gấp 5 lần BMI >=23
OR=5,07 (CI95% :1,45-17,79), hút thuốc lá OR=3,6 (CI95% : 1,137-6,153) Một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ loãng xương thấp là: Uống tra OR = 3,87 (CI95%: 1,52-9,82)
Ăn cá nhỏ thường xuyên OR=3,9 (CI95%:1,592-9,673), hay ăn thực phẩm nhóm tôm, tép OR=3,4 (CI95%:1,11-10,42) Ăn tôm cả vỏ OR = 9,9 (CI 95%3,328 - 9,875) và hay
an ving OR=2,57 (CI95%: 1,124-5,877)
Trang 10Với kết quả thu được, chúng tôi xin có một số khuyến nghị như sau:
Nam giới từ 50 tuổi trở lên cần được kiểm tra mật độ xương định kỳ hàng năm để giúp phòng và điều trị loãng xương, tránh biến chứng gãy xương nhất là những người có cân nặng <50 kg, và chỉ số BMI <18,5 Cần tuyên truyền cho mọi người sử dụng các thực
phẩm tự nhiên giàu canxi như tôm, tép, vừng, cá đặc biệt là cá nhỏ, sữa tăng cường
luyện tập thể dục, thể thao trên 30 phút/ngày, uống trà thường xuyên Không nên hút thuốc, uống rượu, bia để phòng tránh loãng xương
Trang 11được đặc trưng băng sự giảm khối xương, thay đổi vi cấu trúc của mô xương Điều này
là do sự suy giảm các protein và khoáng chất của bộ xương, khiến cho sức chống đỡ và chịu lực của xương giảm đi, xương trở nên mỏng manh, dễ lún, dễ xẹp, nhất là ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống, cỗ xương đùi Hậu quả là làm tăng nguy cơ gãy xương cho dù một sang chắn rất nhẹ [40]
LX liên quan mật thiết với gẫy xương, đặc biệt các gẫy xương ở người già Do
đó, làm tăng nguy cơ tử vong, tàn tật, giảm chất lượng sống và làm tăng gánh nặng về tài chính không chỉ của cá nhân, gia đình người bệnh mà còn cho cả xã hội do tốn phí trong điều trị [41] Năm 1990, trên toàn thế giới có khoảng 1,7 triệu ca gãy cổ xương đùi, 31% số này thuộc các nước châu Á, dự tính đến năm 2050 toàn thế giới có khoảng 6,3 triệu trường hợp gãy cô xương đùi do LX va 51% số này thuộc các nước
châu Á [26] Mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị LX, châu Âu mỗi
giây có một người bị gãy xương do LX Vấn đề về loãng xương đã và đang được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu này đều tập trung trên nữ giới Mặc dù tỉ lệ LX ở nữ giới có xu hướng cao hơn ở nam giới do tác động của việc thiếu hụt hormon buồng trứng trong thời kỳ mãn kinh [59], nhưng phần lớn LX là hậu quả của việc mất xương sinh lý khi tuổi già xảy ra ở cả nam
và nữ [36] Nếu ở phụ nữ cứ 3 người tuổi từ 50 trở lên, có I người bị LX, thi nam giới cùng độ tuổi tỉ lệ này là 1⁄5 Nếu cứ 2 phụ nữ da trắng sống đến 85 tuổi, có 1 người bị gãy xương; thì cứ 3 người đàn ông sống cùng độ tuổi sẽ có I người bị gãy xương [63] Trong khi phần nửa các phụ nữ gẫy xương bị chết trong 7 năm, thì con số này ở nam giới chỉ là 5 năm [42] Các bằng chứng ban đầu này đã gợi ý rằng LX ở nam giới cũng
là một vấn đề cần phải được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, song song với việc nghiên cứu LX trên nữ giới, việc nghiên cứu LX trên nam giới cũng thực sự cấp thiết Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình thường, song
Trang 12duy trì khối xương
Ở nước ta, với xu thế tuổi thọ ngày càng tăng, số lượng người tuổi từ 50 trở lên ước tính tăng từ 7 triệu lên khoảng 25 triệu người trong vòng 40 năm nữa Theo Viện Lão khoa tỷ lệ loãng xương những năm 90 khoảng 13-15% phụ nữ sau mãn kinh Gần đây cho thấy tỷ lệ dao động từ 28-36% [17] Từ trước đến nay có rất ít nghiên cứu về
LX được tiến hành ở Việt nam, các nghiên cứu của Vũ Đình Chính, Vũ Thị Thanh Thuỷ, Vũ Thị Thu Hiền, Trần Thị Tô Châu chủ yếu trên nữ giới, gần đây loãng xương trên nam giới bắt đầu được quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến mật độ xương và mối liên quan của loãng xương đối với tuổi, chiều cao, cân nặng
và thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá Chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thói quen
và tần xuất sử dụng thực phẩm giàu canxi có ảnh hưởng như thế nào đến LX trên nam giới Có thể nói vấn đề LX ở nam giới còn ít được nghiên cứu tại Việt Nam nói chung
và Quận Đống Đa cũng như phường Phương Liên nói riêng
Phương Liên là một phường nghèo của quận Đống Đa với dân số 15.470 người
Số người cao tuổi có 1682, theo báo cáo điều tra của y tế phường tháng 3 năm 2007 có
34 trường hợp đã bị gãy xương ở lứa tuổi trên 50 Từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào về LX tại phường Vậy, thực tế tỉ lệ LX ở đây ra sao và những yếu tố nào liên quan đến tình trạng LX nam giới tại địa bàn này Vì tất cả những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở nam giới 50 đến 75 tuổi tại phường Phương Liên, Quận Đống Đa năm 2007” Góp phần giúp địa phương trong việc phát hiện và tìm phương hướng dự phòng điều trị sớm loãng xương Nhằm nâng cao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống, góp phần nâng cao tuôi thọ cho người dân
Trang 13Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỉ lệ loãng xương của nam giới từ 50 đến 75 tuổi tại phường Phương
Liên Quận Đống Đa tại thời điểm tháng 6 năm 2007
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến loãng xương của nam giới tại phường Phương Liên quận Đống Đa- Hà Nội
Trang 141 So luge vé cau tric, chức năng và sự tái tạo xương
Bộ xương chiếm khoảng 15-17% trọng lượng cơ thể và được coi là ngân hàng khoáng chất của cơ thể Xương là một mô liên kết đặc biệt có ba chức năng:
-_ Chức năng cơ giới và làm chỗ bám của các cơ để vận động
-_ Chức năng bảo vệ các tạng sống và tuỷ
- Chức năng chuyền hoá dự trữ các ion cho toàn bộ cơ thể đặc biệt là canxi và phosphat
Cũng như các mô khác trong cơ thể xương có những thành phần cơ bản bao gồm các tế bào xương, chất khuôn xương (bone matrix) và các chất khoáng
Khuôn xương còn gọi là chất khuôn hữu cơ dai và được làm bền vững thêm nhờ muối canxi lắng đọng trên khuôn hữu cơ này Khuôn hữu cơ chiếm khoảng 30% trọng lượng của xương và 70% là muối Ở xương mới hình thành, tỉ lệ khuôn hữu cơ cao hơn
do đó dai hơn Cấu trúc của khuôn hữu cơ chiếm 90-95% là sợi collagen, phần còn lại
là chất nền Khác với mô liên kết khác khuôn xương có thể trở thành canxi hoá trừ sụn
và cầu tạo răng Mô xương có xương rắn (xương đặc) và xương xốp, xương rắn và xương xốp khác nhau về cấu trúc Sự khác nhau cơ bản mang tính số lượng, 80-90% khối lượng xương rắn bị canxi hoá, 15-25% khối lượng xương xốp bị canxi hoá Do sự khác biệt về cấu trúc của xương rắn và xương xốp nên chức năng hai loại xương cũng khác nhau Xương rắn chủ yếu làm nhiệm vụ cơ giới và bảo vệ Xương xốp giữ chức năng chuyển hoá Tuy nhiên, trong chức năng chuyển hoá cũng có chức năng của xương rắn
Chất nền là sulfat chondroitin và hyaluronicacid Các tinh thể muối được lắng đọng trong khuôn hữu cơ chủ yếu là muối canxi và phosphat, ngoài ra còn có các muối
Mg, Na, K, [12].
Trang 15xương) Chức năng của tế bào này là tạo sợi collagen và khởi phát quá trình lắng đọng các tinh thể muối phosphat canxi trên khuôn hữu cơ
+ Huỷ cốt bào (Osteoclast), loại tế bào này thường nằm ở giữa xương, tiết men tiêu protein và làm tiêu sợi collagen (khuôn hữu cơ của xương), tiết acid lactic và acid citric hoà tan muối canxi Vì vậy, chức năng của Osteoclast là tiêu xương giải phóng canxi vào máu
+ Osteocyte: đây là tế bào được hình thành từ Osteoblast có vai trò quan trọng trong
sự trao đổi canxi giữa xương và dịch ngoại bào [12]
Trong cơ thể bình thường luôn luôn có sự cân bằng giữa hai quá trình tạo xương
do các tạo cốt bào đảm nhiệm và huỷ xương do các huỷ cốt bào đảm nhiệm
Khi bị bệnh LX sự cân bằng này không còn nữa mà quá trình tiêu xương do huỷ cốt bào mạnh hơn làm giảm toàn bộ khối lượng xương, làm xương trở nên giòn và xốp
dé dẫn đến gẫy xương có khi chỉ sau một sang chắn nhẹ
Trong quá trình phát triển cơ thể khối lượng xương trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn đầu khối lượng xương tăng dần để đạt đến giá trị tối đa (gọi là khối
lượng xương đỉnh), Peak Bone Mass - PBM PBM được định nghĩa là khối lượng của
mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành Thời điểm đạt được PBM khác nhau giữa nam và nữ Tuy nhiên, đạt mức cao nhất ở tuổi trưởng thành vào khoảng 25 tuổi
và duy trì khoảng 10 năm sau đó Đỉnh của khối xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố trong đó có yếu tố dinh dưỡng
Giai đoạn hai là giai đoạn mắt xương chậm, giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi, nữ
ở tuôi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi
Trang 162 Các hoc môn tham gia điều hoà tái tạo xương
Hoc môn cận giáp (Parathyroid hoemon - PTHỊ): Là một polypeptid với trọng lượng phân tử 9500 PTH có tác dụng kích thích sự huỷ xương nhưng không trực tiếp
vì huỷ cốt bào không có bộ phận cảm thụ với PTH Nó còn có tác dụng phức tạp đối với quá trình tạo xương, nó ức chế sự tổng hợp chất khuôn xương và các sợi collagen của tạo cốt bào [13], [61]
Canxitonin (CT): Là một polypeptid có 3000 acid amin do tế bào cạnh nang giáp bài tiết CT có tác dụng ức chế sự huỷ xương nhưng không làm biến đổi sự tạo Xương [13]
Insulin: Là một polypeptid có trọng lượng phân tử 6000, được tổng hợp từ tế bào
B của tuyến tuy Insulin điều hoà sự huỷ xương nhưng lại kích thích rõ rệt đối với sự tổng hợp khuôn xương và sự tạo sụn Insulin cần thiết cho sự khoáng hoá bình thường của xương Do đó, ở những bệnh nhân đái đường thể phụ thuộc Insulin thì sự tăng trưởng và khoáng hoá xương bị giảm [28],[61]
Hoc môn tăng trưởng (Growth hormon - GH): Là polypeptid của tuyến yên có trọng lượng phân tử 22.005 GH không có tác dụng trực tiếp lên sự huỷ xương và tạo xương, nhưng nó có thể kích thích sự tổng hợp IGFI (Insuline like growth factor I), 1a yếu tố quan trọng trong điều hoà sự tạo xương [13]
Vitamin D (1,25 hydroxy vitamin D3): Là hoc môn được tổng hợp chủ yếu ở thận có chức năng tương tự như PTH 1,25 hydroxy vitamin D3 kích thích sự huỷ xương và ức chế sự tổng hợp collagen hoặc chất khuôn xương Tuy nhiên, vitamin D cân thiết cho sự phát triển và khoáng hóa bình thường của xương, nó không kích thích trực tiếp sự tạo xương nhưng vitamim D lại tăng cường sự tông hợp osteocanxine [38]
Trang 17đến chuyển hoá vitamin D và làm tăng PTH Diéu tri glucocorticoids kéo dai gay tre chế tổng hợp collgen do giảm sự sao chép tiền tạo cốt bào, dẫn đến mắt nhiều tạo cốt bào, gây loãng xương [54]
Hoc môn sinh dục nam và nữ: Ở nam : Hoc môn Testosteron do tế bào kẽ (tế bào Leydig) của tinh hoàn bài tiết Ngoài ra vỏ thượng thận cũng bài tiết một lượng nhỏ không đáng kể Testosteron có bản chất là một steroid có 19 C, có tác dụng kích thích tổng hợp khung protid của xương, kích thích hoạt động tế bào osteoblast, kích
thích sự phát triển xương cả về chiều dài và độ dày Kích thích sự phát triển sụn liên
Lịch sử nghiên cứu về loãng xương đã được nhiều tác giả nói đến, khái niệm về
LX được nhắc đến ở nửa đầu thế kỷ 18 do Jean Georges Chrétien Federic Martin Lostein (1777-1835) nêu lên từ đó những hiểu biết về LX có nhiều thay đổi Năm 1926 Astley Cooper nhận thấy xương của người già mỏng và xốp Năm 1936 William Porter (Ireland) khám thi thể của một phụ nữ gãy cổ xương đùi và thấy rằng toàn bộ xương bị yếu ròn, xương mác mỏng như vỏ trứng Vào những năm 1939-1940 Albright cho rằng
LX là sự canxi hoá không đầy đủ của xương nhưng đến những năm 1960-1971 các
Trang 18đặc trưng bởi mội khối lượng xương thấp tới mức làm cho xương trở nên giòn và dẫn tới gãy xương [11], [29]
+ Loãng xương sau mãn kinh (loãng xương túpIl): Là do sự thiếu hụt estrogen và xảy
ra ở những phụ nữ từ 50-65 tuổi, thường là nguồn gốc của những trường hợp gãy lún đốt sống và gãy xương cô tay Bệnh có thể gặp ở cả nam sau tuổi tắt đục nam tuy hiếm hơn nhiều
+ Loãng xương tuổi già (loãng xương túp 2) hoặc LX thoái triển, xuất hiện ở cả hai giới sau tuổi 75, là nguyên nhân của những trường hợp gãy xương ở khớp hông, gãy khung chậu, xương cánh tay, xương chày
Loãng xương thứ phát được phát hiện ở cả hai giới và thường là hậu quả của một
số tình trạng hoặc bệnh lý, mà người ta biết rất rõ chúng có thể ảnh hưởng đến rối loạn chuyển hoá chất khoáng của xương, chẳng hạn như tình trạng bất động kéo dài, những rỗi loạn về nội tiết (hội chứng Cushing, cường vỏ thượng thận, suy tuyến sinh dục, cường giáp trạng ) Do các bệnh thận, do tác dụng phụ của thuốc lạm dụng steroid, heparin Rối loạn chức năng gan thận [25],[19]
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến loãng xương nguyên phái, loãng xương tuổi già
Trang 19xuất hiện có thể từ từ tự nhiên hoặc sau chấn thương, đôi khi do tình cờ chụp phim X quang mà thấy Các biểu hiện lâm sàng:
¢ Dau xwong
- Vj tri hay gap 6 ving canh chau, ving cdc dét xuong that lung, it gap 6 cdc vi tri khac (cac xuong dai)
- Tinh chat dau: Dau & mirc dé nhiéu cé thé khién bénh nhan phai nam khéng đi lại,
vận động được Đau tăng khi hoạt động, đứng lâu, đi lại, giảm đau khi được nghỉ
©_ Hội chứng kích thích thân kinh
Kèm theo đau có thể thấy các triệu chứng kích thích rễ
- Đau dây thần kinh hông
- - Đau các dây thần kinh liên sườn lan ra phía bụng
-_ Các dấu hiệu kèm theo: Loãng xương thường kết hợp với các rối loạn khác của tuôi
già như: Béo bệu, tăng huyết áp, rối loạn nội tiết, viêm tổ chức dưới da, hư khớp
© Tiến triển
Đau do loãng xương tiến triển từng đợt, đau giảm nhiều khi được nghỉ ngơi, tái
phát khi vận động nhiều, thay đổi thời tiết (khí áp và độ ẩm) Người loãng xương rất dễ
Trang 20bị gãy xương, chỉ cần một chắn thương nhẹ có thể bị gãy cổ xương đùi, gãy 2 xương cổ
tay (Pouteau - Colles), gãy ngành ngồi háng xương chậu hoặc lún đốt sống có di lệch
chèn ép vào các rễ thần kinh của tuy [1], [25]
4 Cac yếu tố ảnh hưởng đến loãng xương
Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình thường trong cơ thể, song có rất nhiều yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh tác động làm cho tình trạng mắt xương ở một số đối tượng trở lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và họ có nguy cơ bị loãng xương và gãy xương cao hơn Những yếu tố đã được nhiều tác giả thừa nhận bao gồm [28]
- Giới: Phụ nữ có nguy cơ xuất hiện loãng xương tiên phát cao hơn nam giới gấp 6-8 lần do khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh hơn sau mãn kinh [28] Sự mất xương ở phụ nữ xuất hiện sớm hơn ở nam giới từ 15-20 năm do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng [57] Ở tuổi 70 có tới 50% phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện mắt xương ở nam giới có 25% có biểu hiện mắt xương ở độ tuổi 80 [32]
-_ Tuổi: Nhiều tác giả cho rằng sự mắt xương bắt đầu vào khoảng tuổi 30-35 ở vị trí bè xương và tuôi 40 ở vị trí vỏ xương [45] Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu chứng tỏ rằng có một sự giảm rõ rệt mật độ xương theo tudi O người già có sự
mắt cân bằng giữa quá trình tạo xương và huỷ xương, đồng thời có sự suy giảm hấp thu canxi ở ruột và sự tái hấp thu canxi ở ống thận và do vậy dễ có khả năng bị loãng xương Nghiên cứu của Thomsen K, Er-Yuan Liao và cộng sự Jacson JA, Kleerekoper cho thấy có mối liên quan giữa tuổi tới tỷ lệ loãng xương [44], [51], [73] Trần Thị Tô Châu, Vũ Thị Thu Hiền, Phạm Thu Hương, Nguyễn Thị Hoài Châu,
Vũ Thị Thanh Thuỷ và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi đặc biệt là tăng nhanh sau tuổi 50 [22], [19], [27], [49] Thời gian sống càng lâu, khối
Trang 21lượng xương mắt càng lớn đồng thời sự hấp thu canxi cũng giảm và do đó dễ có khả
năng LX [28]
-_ Chỉ số khối cơ thể (BMI): Nhiều nghiên cứu cho rằng cùng với cân nặng thì chi số khối cơ thể cũng có ảnh hưởng đến mật độ xương M Boyanov và P Popivanov [33] trong nghiên cứu của mình tác giả nhận thấy là BMI > 25 dường như là yếu tố bảo vệ đối với mật độ xương trong khi ở những người gày hơn với BMI < 22 thì lại tăng nguy
cơ loãng xương Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu cũng cho thấy có mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng loãng xương [9]
- _ Yếu tố chiều cao: Nhiều nghiên cứu cho rằng chiều cao có ảnh hưởng đến mật độ xương Những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương Ở Việt Nam nghiên cứu của Vũ Đình Chính cho thấy số người có triệu chứng
gợi ý loãng xương chiếm 40% ở nhóm có chiều cao <140cm [6] Nghiên cứu của
Vũ Thị Thanh Thuỷ, Trần Thị Tô Châu cũng thấy rằng ngưỡng chiều cao từ 145cm trở
xuống là yếu tố nguy cơ gây giảm mật độ xương [10], [19]
- Yếu tố cân nặng: Có ảnh hưởng tốt trên khối xương, những người béo có mật độ
xương cao hơn so với những người gầy [56], [71] Nam 1986, Viện Quốc gia về sức
khoẻ của Đan Mạch đã thông báo rằng trọng lượng cơ thể thấp là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển của loãng xương [64] Năm 2003 theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/FAO cũng cho thấy rằng cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy
cơ gãy xương do loãng xương cho nam và nữ tuổi trên 50 tuổi [31] Nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước cũng cho thấy rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cân nặng và tình trạng loãng xương như các nghiên cứu của Jacson JA, Vũ Đình Chính [6] [51] nghiên cứu của Trần Thị Tô Châu, Vũ Thị Thanh Thuỷ cân nặng dưới 42 kg
là yếu tố nguy cơ gãy lún đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh [10], [19] Như vậy, cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trang mat xuong thong qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển androgen của tuyến thượng thận thành estron ở
mô mỡ.
Trang 22-_ Yếu tố nội tiết: Ở nam giới hormon Testosteron đã được các nhà lâm sàng chứng minh rằng nó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình tổng hợp và duy trì khối lượng xương cả về chiều dài và độ dày [13], testosteron giảm dần theo tuổi và ảnh hưởng đến mật độ xương [51] Ở nữ Estrogen có vai trò quan trọng trong việc duy trì khối lượng xương Người ta nhận thấy khối lượng xương thấp và tốc độ mất xương nhanh ở những phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng [62] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra răng liệu pháp hormon thay thế sẽ làm giảm sự mắt xương Liệu pháp hormon thay thế được áp dụng trong vòng 5-10 năm sau mãn kinh sẽ làm giảm tới 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương
- Chủng tộc: Tỷ lệ loãng xương thay đổi đáng kể từ nước này đến nước khác Ở Mỹ
phụ nữ da trắng và phụ nữ nguồn gốc Châu Á có tỷ lệ loãng xương cao hơn những phụ
nữ da đen và trên thực tế những phụ nữ da đen này có khối lượng xương cao hơn [28]
- Yếu tố dinh dưỡng: Sự cung cấp canxi và vitamin D đặc biệt quan trong trong su phat triển cơ thể, ở tuổi phát triển chế độ ăn thiếu canxi ảnh hưởng đến sự đạt đỉnh cao của khối xương và mất xương sau này Canxi có thể ngăn ngừa sự mắt xương nhanh sau khi khối xương của cơ thể đã đạt tới đỉnh cao Vitamin D cần thiết cho sự hấp thu canxi Về già, quá trình già hoá và yếu tố dinh dưỡng có liên quan với nhau Một mặt dinh dưỡng được coi là một trong các yếu tố quyết định quá trình già hoá, mặt khác các thay đổi trong cơ thể liên quan đến tuổi ảnh hưởng đến nhu cầu dinh dưỡng Theo bảng nhu cầu dinh dưỡng cho người Việt Nam, những người lao động nhẹ nam giới tuổi trưởng thành (18-30) có nhu cầu năng lượng trung bình là 2300Kcal/ngay thì khi trên
60 tuổi có nhu cầu 1900 Kcal/ ngày Vì vậy ở người cao tuổi do năng lượng khẩu phần giảm nên dễ bị thiếu các vitamin và khoáng chất đặc biệt là vitamin D và canxi [17] Nếu chế độ ăn không đủ canxi, nồng độ canxi huyết sẽ tụt, buộc cơ thể phải điều động canxi từ xương điều này lâu dần sẽ dẫn đến loãng xương Theo khuyến cáo của WHO nhu cầu canxi của người trên 50 tuổi tối thiểu là 1200mg/ngày, vitamin D là 400-800 IV/ngày [52] Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền cho thấy phụ nữ có lượng
Trang 23canxi trong khau phan thấp hơn 500 mg/ngày có nguy cơ bị loãng xương cao hon những phụ nữ có canxi trong khâu phần ăn > 500mg/ngày Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung cũng cho thấy phụ nữ có thói quen ăn những thực phẩm giàu canxi giảm được nguy cơ LX so với nhóm không ăn, những người sử dụng đậu phụ, rau muống, cam quả | tháng /lần có nguy cơ bị LX cao gấp 4-20 lần so với những người sử dụng hàng ngày [11]
- Nghiện rượu và cà phê: Uống nhiều rượu, bia là một yếu tổ nguy cơ của loãng xương [69] Điều này đã được chứng minh qua các nghiên cứu của các tác giả như Silvano Adami và cộng sự
- Chế độ luyện tập: hoạt động thể lực và tập luyện rất quan trọng đối với việc xây dựng và duy trì khối xương Dalsky G.P và cộng sự đã ghi nhận rằng một chương trình luyện tập 40 tuần đã làm tăng đáng kể mật độ xương ở cột sống thắt lưng của những người luyện tập so với những người không luyện tập [43] Trong một nghiên cứu kéo dài 4 năm, Smith E.L và cộng sự đã so sánh 2 nhóm đối tượng, một nhóm có luyện tập
aerobic có chịu tải 45 phútlần, 3 lần/tuần và một nhóm không luyện tập Kết quả là tỷ
lệ mất xương giảm ở nhóm luyện tập so với nhóm không luyện tập [70] Nghiên cứu của Silvano Adami và cộng sự cũng cho thấy những người đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày trên 30 phút sẽ làm tăng mật độ xương so với nhóm không tap [69] Ở Việt Nam nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền, Vũ Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Thị Kim Dung, cho thấy rằng những phụ nữ tập thể dục đều đặn ít nhất 3 lần/tuần sẽ giảm được nguy cơ loãng xương so với nhóm không tập thể dục [11] [22] Như vậy sự vận động của các
cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương, giảm tỷ lệ mắt xương Ngược lại
sự giảm vận động dẫn tới mắt xương nhanh
- Yếu tố di truyền và gia đình: Người ta thấy có những cá thể dễ dàng gãy xương hơn những người khác trong gia đình có bà, mẹ hoặc một người nào khác bị loãng xương thì con cháu họ cũng có nguy cơ bị loãng xương Nghiên cứu của Diaz và cộng sự cho
Trang 24thấy những người có mẹ bị gãy xương thì có nguy cơ bị lún đốt sống do loãng xương cao hơn những người không có mẹ bị loãng xương [28] [40]
- Các yếu tố khác: Sử dụng một số thuốc gây tăng mất xương như: corticoid, thuốc
chống động kinh hút thuốc lá, bị các bệnh nội tiết, thận đều có ảnh hưởng đến loãng
Xương
- Yếu tố chè (trà): Từ hàng trăm năm nay người Châu Âu và Châu Mỹ đã hài lòng với những chén chè buổi sáng tinh sương hay trong các bữa tiệc gia đình am cúng Còn ở Châu Á và các quốc gia Trung Đông chè đã trở thành thứ nước uống truyền thống mà người Việt Nam đặc biệt là nam giới thường hay uống hàng ngày Đã có những công trình nghiên cứu thấy rằng nước chè có chứa một lượng lớn các chất chống ôxy hóa như catchins trong chè xanh và thearuligins trong chè đen giúp con người chống lại bệnh tật Kết quả nghiên cứu của Rianne Leenen và cộng sự cho thấy sau khi uống chè đều đặn mỗi ngày, có sữa hoặc không có sữa thì phạm vi hoạt động của các chất chống ôxy hóa trong huyết thanh của cơ thể họ đều tăng [67] Trên thế giới đã có những nghiên cứu thấy rằng uống chè làm tăng mật độ xương ở cả nam và nữ Vậy, đối với nam giới Việt Nam uống chè có liên quan gì đến loãng xương không ? Trong nghiên cứu này chúng tôi rất muốn tìm hiểu điều đó
5 Các phương pháp chân đoán loãng xương và do mật độ xương
Hiện nay có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong việc thăm dò khối lượng chất khoáng của xương (đo tỉ trọng khoáng xương), để chẩn đoán loãng xương như: Phuong phap do hap thu photon don (Single photon absorptimetry - SPA) Do hap thu photon kép (Dual photon absorptimetry - DPA) Do hap thu tia X nang lugng don va kép (Single - energy X ray absorptiometry - SXA) Do ty trong chất khoáng xương bằng chụp cắt lớp vi tinh (Quan-titative computed tomography - QCT) Sinh hoá, chụp
X quang quy ước, siêu âm, sóng quang phổ cộng hưởng từ Tuy nhiên, mỗi phương pháp đêu có ưu và nhược điêm của nó
Trang 255.1 Phương pháp sinh hoá
Bằng cách định lượng một số chỉ số sinh hoá trong máu và nước tiểu người fa có
thể đánh giá được sự thay đổi quá trình chuyển hoá chất khoáng của xương
- Ưu điểm: Đây là phương pháp không xâm nhập có thể lặp lại nhiều lần, có thể kết
hợp với đo khối xương và đánh giá sự chuyển hoá xương bằng những chỉ số sinh
hoá đặc biệt
- Nhược điểm: độ nhậy và độ đặc hiệu còn thấp
5.2 Các phương pháp đo mật độ xương
Các kỹ thuật đo mật độ khoáng của xương được phát triển từ vài thập kỷ nay, ban đầu chỉ hạn chế ở các xương dài ngoại vi, song những kỹ thuật mới gần đây cho phép đánh giá ở mọi vị trí, với độ chính xác ngày càng cao Các phương pháp đo mật độ xương được phát triển rộng rãi hiện nay là:
5.2.1 Phương pháp chụp X quang quy ước
Năm 1939 Mack là nhà Xquang học đầu tiên đã đo thành phần khoáng của xương trên đậm độ của một của một phim Xquang xương
- Người ta sử dụng một số kỹ thuật X quang để chân đoán loãng xương như:
+ Chụp X quang xương bàn tay tính chỉ số Barnett và Nordin Khi chỉ số này giảm xuống dưới 0,45 thì được coi là loãng Xương
+ Chụp X quang cột sống theo tư thế nghiêng rồi nhận xét hình dạng và cho điểm + Chỉ số Singh: do Singh và cộng sự đưa ra năm 1970 trên cơ sở xác định những nhóm
bè xương chủ yếu ở đầu trên xương đùi Dựa vào số lượng những bè xương này, tác giả phân chia loãng xương thành 6 giai đoạn và cũng là 6 mức độ loãng xương
Ưu điểm: đơn giản, không đắt, có thể thực hiện được ở các cơ sở y tế do đó có giá trị trong các nghiên cứu dịch tễ học về loãng xương
-_ Nhược điểm: Độ nhạy thấp, chân đoán loãng xương muộn khi lượng chất khoáng đã
giảm từ 30-50% [2], [6], [28], [32].
Trang 265.2.2 Do hap thu photon don (SPA - Single Photon Absorptiometry)
- Nguyên lý của phương pháp: Là nghiên cứu các thay đổi của sự giảm tia gamma phát
ra từ nguồn phóng xạ iode 125 (I;zs) qua một vùng định nghiên cứu của xương
- Ưu điểm: Máy gọn nhẹ, liều tỉa xạ thap (5-10mcrem)
- Nhược điểm: Phương pháp này ảnh hưởng bởi tổ chức phần mềm bao quanh nên nó giới hạn trong việc nghiên cứu các xương ở nông, chỉ áp dụng ở những vị trí xương ngoại vi, không đo được xương đùi, xương cột sống Tỉ lệ sai lầm là 4-5% [28], [32] 5.2.3 Do hap thu photon kép (DPA - Dual Photon Absorptiometry)
- Nguyén ly: Sir dung 2 nguén photon cé mtrc nang lugng khac nhau (44 va 100Kev), nguon phat xa 1a Gadolinium 153 (Gd!° *), cho phép đo tỉ trọng khoáng xương ở những
vị trí trung tâm như đầu trên xương đùi, cột sống và tất cả bộ xương của cơ thể Hệ số hấp thụ của xương và mô mềm khác nhau cho phép đánh giá chính xác khối lượng
xương Tỉ lệ sai lầm là 3-6% tuỳ vị trí đo
- Ưu điểm: Cho phép nghiên cứu bắt kỳ vị trí nào của xương
- Nhược điểm: Không thể dùng để nghiên cứu tách biệt giữa phần xương đặc hay
xương xốp Đắt tiền, thời gian thăm dò đài trên 20 phút Có thể bị sai lầm bởi các lồi
xương cạnh khớp Khó thực hiện tại cộng đồng [28], [32] [50]
5.2.4 Đo khối lượng xương bằng chụp cắt lớp vỉ tính (Quantitative computed
tomography — QCT)
QCT là phương pháp đo mật độ xương mới và có nhiều triển vọng
Nguyên lý: Dựa vào đặc tính hấp thu khác nhau của các tổ chức canxi ion hoá với nguồn tia xạ ion hoá, với những lớp cắt 8-10 mm đi qua trung tâm các thân đốt sống từ
L¡ - Lạ Tỷ trọng khoáng của xương được so sánh với một photon đi kèm chứa K;HPO¿
hoặc CaCO; ở các nồng độ khác nhau Kết quả được biểu diễn bằng g/cmỶ Tỉ lệ sai số 35-10% Khả năng tái lập kỹ thuật 4% thời gian thăm dò 15 phút
- Ưu điểm: QCT cho biết tỷ trọng khoáng thực sự 3 chiều của xương, có khả năng
nghiên cứu tách biệt các phân xương bè, vỏ xương và cột sông
Trang 27- Nhược điểm: nguồn tia xạ cao (200-1500 mcrem) tùy từng vị trí, thời gian thăm dò kéo dài (15 phút), giá thành đắt Khó thực hiện tại cộng đồng [28]
5.2.5 Siêu âm định lượng (QUS - Quantitative Ultrasound )
Là phương pháp mới được áp dụng để đánh giá chất lượng xương
Nguyên lý của phương pháp này là: phát chùm tia siêu âm qua vị trí xương gót, bánh chè hoặc xương căng tay để đánh giá chất lượng xương Khi xương bị xốp do loãng xương khả năng dẫn truyền tia siêu âm qua xương sẽ kém đi và khả năng hấp thụ tia siêu âm cũng giảm đi QUS sử dụng 2 đầu dò, một đầu dò truyền xung siêu âm và một đầu dò nhận xung siêu âm ở bên đối diện của xương Trong quá trình truyền xung siêu âm, đầu dò sẽ di chuyển đọc theo xương của bệnh nhân và truyền xung siêu âm có tần số từ 160-600 KHz xuyên qua mô Bằng cách tính toán tốc độ truyền của những xung siêu âm và những biến đổi của xung sau khi đã qua mô người ta đánh giá được thực trạng của xương QUS có thể được đánh giá qua nhiều vị trí khác nhau của xương nhưng do tính dễ khả thi và do cấu tạo, xương gót vẫn thường được dùng để đánh giá tình trạng của những xương ở ngoại biên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra răng QUS có thể được nghiên cứu sàng lọc loãng xương trên cộng đồng và có thể tiên lượng trước gãy
cổ xương đùi [58]
QU5 có 2 kỹ thuật chính là đo tốc độ truyền âm và hấp thụ siêu âm dải rộng
+ Hấp thụ siêu âm dải rộng (Broadband Ultrasound Attennuation - BUA): các xung siêu âm với các tần số khác nhau bị hấp thụ bởi mật độ và cấu trúc xương Căn cứ vào kết quả tính toán những xung siêu âm đã bị hấp thụ người ta có thể đưa ra chi sé BUA BUA được áp dụng để đánh giá mật độ xương gót Kết quả được tính bang db/MHz
+ Do téc d6 truyén 4m (Speed of sound - SOS): tốc độ âm được tính bằng tỷ lệ giữa
thời gian dẫn truyền xung siêu âm qua xương và đường kính của xương SOS được áp dụng để đánh giá chất lượng xương đùi, gót, quay và xương bánh chè Kết quả được tinh bang m/s
Trang 28
- Ưu điểm: không liên quan tới tia xạ, chỉ phí thấp, thể tích máy gọn nhẹ do đó có giá trị trong các nghiên cứu điều tra sàng lọc loãng xương tại cộng đồng
- Nhược điểm: độ chính xác bị ảnh hưởng bởi phần mềm bao quanh
5.2.6 Do hap thụ tia X năng lượng don (SXA - Single Xray Absorptiometry)
Từ năm 1994 phương pháp này đã được Kelly và cộng sự đưa vào sử dụng cho những vị trí ngoại vi Đây là một kỹ thuật mới có thể đo được ở những vị trí tránh dùng phóng xạ [28] [44] [Š 1]
5.2.7 Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA - Dual Energy Xray Absorptiometry) Nguyên lý: Tương tự như DPA nhưng nguồn tia gamma phat ra tir Gadonilium
153 được thay thế bằng nguồn phát tia X
- Ưu điểm: độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia thấp (2-4 mcrem), đánh giá tách biệt giữa xương bè và xương vỏ Rất có giá trị trong thử nghiệm lâm sàng
- Nhược điểm: bị hạn chế khi đánh giá nếu gặp các gai xương và canxi hoá động mạch Chi phi cao, phải thực hiện tại cơ sở y tế chuyên khoa [28], [32] [48], [65]
5.2.8 Lựa chọn phương pháp
Còn rất nhiều phương pháp thăm dò khối lượng xương khác như đồng vị phóng
xạ, cộng hưởng từ Song thực tế chúng cũng ít được sử dụng hoặc do liều tia xạ quá
cao hoặc còn đang nghiên cứu Sự lựa chọn một phương pháp đòi hỏi cân nhắc nhiều
yếu tố như: Độ chính xác, chỉ phí, khả năng sẵn có và những tính năng khác Chúng tôi
có thể tóm tắt những ưu điểm và hạn chế của một số phương pháp trong (bảng 1.1)
Phương pháp siêu âm định lượng đã được sử dụng khá nhiều đặc biệt là các
nghiên cứu điều tra cộng đồng [9], [10], [11] Máy Sahara của hãng Hologic có thể tích gọn nhẹ, giá thành thấp, độ chính xác cao, kết quả tương đương với kết quả đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA [35] đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán LX hiện nay Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp siêu âm định lượng với kỹ thuật đo là BUS, kết quả được tính bằng db/MHz, sử dụng máy Sahara.
Trang 29Bảng 1.1 : Những ưu điểm và hạn chế của một số phương pháp đo mật độ xương
Do hap thu - Không đắt - Kém liên quan với khôi lượng photon đơn - Liều tia xạ thấp xương cột sống
biệt với phần mềm xung quanh
Do hap thu |- Đo được khôi lượng xương _ | - Đắt tiền, thời gian thăm dò dài photon kép cột sống - Có thể sai lầm bởi các lồi xương (DPA) - Liên quan chặt chẽ với gãy cạnh khớp
xương cột sống
Đo hap thu - Độ chính xác cao, thời gian | - Bị hạn chế bởi các gai xuong,
tia X nang thăm dò ngăn, liều tia thap | canxi hoá động mạch
lượng kép 2-4 mrem - Giá thành đắt, phải thực hiện ở (DEXA) - Có thể đo mật độ xương ở tất | tuyến chuyên khoa
cả các vị trí và toàn cơ thể
Chụp căt lớp | - Có khả năng nghiên cứu tách | - Đắt tiên, thời g1an thăm dò dài
vi tính (QCT) | biệt xương bè và xương vỏ - Nguồn tia xạ cao 200-1500
- Biết tỉ trọng khoáng thực sự 3 chiêu của xương
lượng (QUS)_ | - Chỉ phí thấp, dễ sử dụng mềm bao quanh
- Phụ thuộc máy đo
quang quy - Không đắt khi tỷ lệ khoáng giảm nhiều (30-
Trang 306 Tình hình nghiên cứu loãng xương trên Thế giới và Việt Nam
6.1 Thế giới
Loãng xương ngày càng trở thành một vấn đề lớn đối với sức khoẻ cộng đồng và
xã hội Mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương, ở châu Âu cứ mỗi giây có một người bị sấy xương do loãng xương Nhưng chưa tới 50% số những người bị loãng xương được điều trị [20] Ở Pháp số phụ nữ bị LX sau mãn kinh ước tính khoảng 4,5 triệu người trong đó 10% bị tàn phế, giá tiền chi trả cho y tế là 350 triệu Francs hàng năm Ở Hồng Kông Peck W.A thống kê có 200 trường hợp gãy cổ xương đùi do LX trên 100.000 nam giới và con số này ở phụ nữ là 380/100.000 phụ nữ [3] Ở Mỹ, có khoảng hơn 10 triệu người bị loãng xương, trong đó ước tính 8 triệu là phụ nữ, 2 triệu là nam giới và chỉ từ 15% đến 20% trường hợp được chấn đoán và điều trị Dự đoán trong 20 năm tới nước Mỹ sẽ có 350.000 bệnh nhân gãy cô xương đùi hàng năm và chỉ phí cho bệnh này khoảng 31 đến 62 tỷ USD Loãng xương đang tăng nhanh trên toàn cầu và trở thành một trong những vấn đề sức khoẻ lớn của thế kỷ 21 Tuổi thọ trung bình của con người đang tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới Theo báo cáo của WHO tuổi thọ trung bình của con người đã tăng từ 65 tuổi vào
năm 1996 lên 68 tuổi vào năm 1998 và ước tính sẽ tăng lên 73 tuổi vào năm 2025
Điều này dự báo rằng số những người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 380 triệu người vào
năm 1996 lên 800 triệu vào năm 2025 [75] Tuổi thọ của con người tăng dự báo tỷ lệ
loãng xương và gãy xương tự phát sẽ tăng theo [76]
Những thập kỷ trước đây, loãng xương được coi là bệnh của các nước châu Âu cũng như các nước phát triển Nhưng cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế một cách nhanh chóng của các quốc gia châu Á thì loãng xương lại đang trở thành một thách thức lớn đối với các quốc gia này [58] Dự tính đến năm 2050 toàn thế giới có khoảng 6,3 triệu trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương, và 51% số này thuộc các nước châu Á Trong thế kỷ 21, 50% gãy xương tự phát trên thế giới sẽ xay ra Ở Châu Á và những nước kém phát triển [33] Mặc dù vậy cho đến nay các nghiên cứu về
Trang 31loãng xương chủ yếu tập trung trên nữ giới: Năm 1997 một nghiên cứu ở Đông Nam
Á cho thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 25% [60], ở phụ nữ Nhật Bản độ tuổi từ 60-
69 tuôi là 23,2% [72] Hàn Quốc 34,2% phụ nữ trên 50 tuổi bị giảm mật độ xương và 11,8% bị loãng xương [55] Tại Hồng Kông, tỷ lệ loãng xương cũng được nhận thấy là 10% và 45% ở nhóm tuổi 50-59 và 60-69 Loãng xương không những xảy ra ở người già mà người trẻ tuổi cũng có thể bị loãng xương, điều tra ở đối tượng phụ nữ Thái Lan
từ 20 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ loãng xương là 18,5% [66] Gần đây loãng xương ở nam giới đã được quan tâm Theo tổ chức loãng xương thế giới 1/5 nam giới trên 50 tuổi bị loãng xương Theo E.Seemen nhận xét thấy 30% nam giới trên 65 tuổi bị xẹp lún đốt sống do loãng xương và 30% gay cé xương đùi xảy ra trên nam giới [46]
6.2 Ở Việt Nam
Theo thống kê của Viện Lão khoa tỷ lệ loãng xương vào những năm 90 khoảng
13-15% phụ nữ sau mãn kinh Gần đây cho thấy tỷ lệ dao động từ 28-36 % [24] Nếu
như trước đây chúng ta quan tâm nhiều đến những căn bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người như các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng, bệnh do chất độc màu da cam, bệnh liên quan đến sức khoẻ sinh sản thì những năm gần đây đã có một vài nghiên cứu về loãng xương, gấy lún đốt sống, tìm hiểu mật độ xương của các lứa tuổi tuy nhiên do điều kiện kinh tế và phương tiện chân đoán còn gặp nhiều khó khăn
do đó các nghiên cứu đều ở qui mô nhỏ và hầu như trên nữ giới Tuy nhiên, kết quả những nghiên cứu này cho thấy loãng xương đang là vấn đề cần được quan tâm tại Việt Nam
Năm 1996, Vũ Đình Chính bằng phương pháp chụp Xquang qui ước, sinh hoá cho 200 phụ nữ mãn kinh thuộc huyện Cẩm Bình Tỉnh Hải Hưng, kết quả cho thấy tỷ
lệ LX chiếm 19%, tỷ lệ này tăng theo tuổi và thời gian mãn kinh Tốc độ mắt xương cao nhất ở độ tuổi 50-65 [6]
Cũng năm 1996 Vũ Thị Thanh Thuỷ với nghiên cứu một số yếu tố gãy lún đốt sống do LX sau mãn kinh trên 270 phụ nữ sau mãn kinh ở 4 quận nội thành bằng
Trang 32phương pháp chụp X quang cột sống và xét nghiệm sinh hoá Nghiên cứu cho thấy tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI có liên quan đến gẫy lún đốt sống do loãng xương Những phụ nữ có chiều cao < 145 cm, cân nặng < 4lkg là yếu tế làm tăng nguy cơ gãy
lún đốt sống do LX [19] Năm 2001, Vũ Thị Thanh Thuỷ và cộng sự tiến hành đánh
giá mật độ xương của 245 phụ nữ tuổi từ 22-85 đến điều trị tại khoa khớp bệnh viện Bạch Mai bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép Kết quả cũng cho thấy yếu
tố tuổi, chiều cao, cân nặng, tuổi mãn kinh, thời gian mãn kinh, số lần sinh con có liên
quan rõ rệt với mật độ xương gót Tần xuất loãng xương ở những bệnh nhân có biểu hiện đau dọc xương dài, đau lưng thắt lưng là cao (55,9% tại xương gót) [21]
Cũng bằng phương pháp này năm 2001 Nguyễn Thị Thanh Phượng đã bước đầu nghiên cứu mật độ xương gót và xương cắng tay ở 100 phụ nữ tuổi từ 20 đến 39 đang sống, làm việc và học tập tại Hà Nội thấy rằng tuổi bắt đầu có kinh hầu như không có liên quan đến mật độ Xương gót và xương cẳng tay Yếu tố tuổi và thường xuyên uống sữa, luyện tập thể dục, thể thao có ảnh hưởng tốt đến mật độ xương gót và xương cắng tay [18] Với phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép được thực hiện trên máy
PIXI- Lunar, Phạm Văn Tú, Trần Ngọc Ân, Vũ Thị Thanh Thuỷ đã nhận xét mật độ
xương của l 10 nam giới khoẻ mạnh đang sống tại Hà Nội Nghiên cứu cho thấy mật độ xương gót liên quan đến tuổi, chiều cao, cân nặng, hút thuốc lá Chưa thấy có mối liên quan đến uống rượu, bia và luyện tập [23]
Năm 2002, Tran Thị Tô Châu với đề tài nghiên cứu một số biểu hiện lâm sàng về
cơ - xương - khớp và đo mật độ xương gót bằng phương pháp siêu âm định lượng với
cỡ mẫu nghiên cứu 650 phụ nữ mãn kinh chia thành 3 nhóm (mãn kinh dưới 5 năm, mãn kinh trên 5-10 năm và mãn kinh trên 10 năm, đo mật độ xương cho 173 phụ nữ
mãn kinh được lấy ngẫu nhiên trong 650 đối tượng trên Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương là 39,6% Tỷ lệ LX tăng dân theo tuổi, tuổi và cân nặng là 2 yếu tố liên quan đến BUA [10].
Trang 33Năm 2003, Vũ Thị Thu Hiền tiến hành khảo sát tình hình loãng xương và các yếu
tố nguy cơ ở 2232 phụ nữ trưởng thành từ 20 tuổi trở lên tại địa bàn Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương tăng dần theo nhóm tuổi và tăng cao rất nhanh
từ nhóm tuổi 50-59 trở lên, đó là giai đoạn sau mãn kinh 5-10 năm trở lên [15] [49] Năm 2004 Vũ Thị Thanh Thuỷ đã nghiên cứu mật độ xương gót và xương căng tay ở nam giới 50 tuổi trở lên bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép Thấy rằng mật độ xương gót tăng theo chiều cao, cân nặng, tập luyện, giảm theo tuổi
hút thuốc lá Chưa tìm thấy mối liên quan với uống rượu bia [22]
Năm 2005, Nguyễn Thị Hoài Châu và cộng sự đã bước đầu khảo sát tìm hiểu những yếu tố liên quan đến mật độ xương của 178 người đàn ông 50 tuổi trở lên đang
sống tại thành phó Hồ Chí Minh Sử dụng kỹ thuật siêu âm định lượng với kỹ thuật
BUA Kết quả cho thấy tỷ lệ LX chung là 19%, thiếu xương là 34,83%, bình thường 46% Tỷ lệ LX có liên quan đến tuổi, BMI, tập thể thao, và hút thuốc lá [9] Cũng trong năm 2005 Nguyễn Thị Kim Dung đã nghiên cứu mối liên quan đến tình trạng LX ở
phụ nữ huyện Gia Lâm Kết quả cho thấy nhóm tuổi, tình trạng kinh nguyệt, chế độ
luyện tập và thói quen sử dụng thực phẩm giàu canxi có liên quan tình trạng loãng xương Những phụ nữ có cân nặng < 40 Kg có nguy cơ tăng loãng xương [11]
Nhu vậy hầu hết các nghiên cứu về loãng xương chủ yếu tập chung trên nữ giới
có ít nghiên cứu trên nam giới, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại phường Phương Liên Hơn nữa việc xác định mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với các yếu tố ảnh hưởng đặc biệt là mối liên quan với chế độ ăn đặc thù theo từng cộng đồng vẫn chưa được làm rõ, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến các thói quen và sở thích sử dụng các loại thực phẩm giàu canxi có ảnh hưởng đến tình trạng xương như thế nào Vì vậy việc nghiên cứu tình trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan luôn
là vấn đề rất cần thiết của mỗi địa phương nhằm giúp địa phương xây dựng kế hoạch can thiệp phòng bệnh loãng xương tại cộng đồng mình trong tương lai
Trang 34Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đôi tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuân chọn đổi tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nam giới tuôi từ 50 đến 75 có hộ khẩu và đang sóng tại phường Phương Liên quận Đống Đa thành phố Hà Nội Sở dĩ chúng tôi lựa chọn đối tượng này vì đây là lứa tuổi mà các nghiên cứu dịch tế học cho thấy 3-6%% nam giới trên 52 tuổi tỷ lệ khối Xương giảm hàng năm từ 0.5 dén 2% [23] quá trình mắt xương đáng kề từ tuôi 70 trở lên Dong thoi voi do tudi này việc trả lời phỏng vấn sẽ chính xác hơn khi ĐTNC ở tuôi quá cao, hơn nữa nếu phát hiện loãng xương ở độ tuôi này việc điều trị dự phòng gầy xương sẽ rất cần thiết và hiệu qua
2.1.2 Tiêu chuân loại trừ
Các đối tượng sau được loại trừ ra khỏi nghiên cứu:
Những người mắc các bệnh liên quan đến rối loạn chuyền hoá và hấp thu canxi
như: loét dạ dày, cất da dày, ung thu da dày, bệnh roi loạn tiêu hoá mạn tỉnh suy thận
đái tháo đường bệnh giáp trạng u xơ tiền liệt tuyển)
Những người đã sử dụng (điều trị) các thuốc ảnh hướng đến chuyên hoá Xương như sử dụng corticoid kéo dài (> 30 ngày)
Những người bị di tật cột sống bẩm sinh
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời øtan nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiền hành từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2007
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại phường Phương Liên - Quận Đống Đa - Hà Nội Đây là một phường nghèo của quận dân số toàn phường là 14.570 người với 4000 hộ
Trang 35gia đình Số người cao tuổi là 1682, số nam giới từ 50 đến 75 tuổi trong phường có I26I người chiêm tỷ lệ 8.7% dân số Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 3% mô hình nghê nghiệp của người dân rât đa dạng nhưng chủ yếu là buôn bán nhỏ và công chức nhà nước 2.3 Thiêt kê nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cát ngang có phân tích
Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
Ap dung công thức tính cỡ mẫu theo nghiên cứu cắt ngang
Trong đó: n: Số nam giới cần điều tra
p: là tý lệ loãng xương của nghiên cứu trước (P = 0.19) [9]
a: là mức ý nghĩa thông kê, lấy œ= 5%
Z) 2 =1,96 (ing voi dé tin cay 95%)
d: sai số mong muốn = 0.05
Thay vào công thức ta tính được n = 240 Dự tính 10% từ chối phong vấn loại trừ
và làm tròn sô đồi tượng cần điều tra là 270 nguol
2.4.2 Phuong phdép chon mau
Mau duge chon theo phuong phap ngau nhiên hệ thống và được tiến hành các bước như sau:
Bước 1: Lập khung mẫu: khung mẫu bao gồm danh sách toàn bo 1261 nam gidi tuôi từ 50 đến 75 của từng hộ gia đình có hộ khẩu tại phường Phương Liên dựa vào danh sách điều tra chung của từng hộ gia đình (Danh sách điều tra chung này được
Trang 36từng tổ dân phố điều tra từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2007 đề lập danh sách cử tri phục
vụ bầu cử)
Tính khoảng cách mẫu: Khoảng cách mẫu (k) được tính băng:
k = N/n trong đó (N là sô nam giới từ 50 đến 75 tuổi của phường n là cỡ mầu nghiên cứu) Khoảng cách mẫu k trong nghiên cứu được xác định băng 5 (k = 5)
Bước 2: Chọn dối tượng: Người đầu tiên được chọn là người được lấy ngẫu nhiên
có số thứ tự nằm trong khoảng cách mẫu từ 1 đến 5 Người thứ hai là người có số thứ
tự của người thứ nhất cộng 5 Người thứ ba là người có số thứ tự của người thứ hai cộng 5 Cứ lây như vậy đên khi đủ cỡ mẫu 270 người
2.5.Phương pháp thu thập sô liệu
Việc tiền hành thu thập số liệu có sự kết hợp với Ủýỷ bạn nhân dân phường Trạm
y tế phường và Hội người cao tuôi Tât cả các hoạt động được lập kế hoạch chỉ tiết và thong nhất dé sé liệu thu được đạt kết quả tot nhat Qua trinh thu thap SỐ liệu thực hiện
2.5.1.Đo lường chỉ số nhân trắc
Chiều cao và cân nặng sau khi cân, đo được ghi vào phiếu điều tra tình trạng loằng xương
+ Đo chiều cao: băng thước do chuyên dụng Martin có chia vạch tới centimet kết qua đo được ghi theo centimet
Trang 37Kỹ thuật do: Đối tượng do đứng ở tư thế đứng thăng Khi do đối tượng chạm gói mông lưng, châm vào thước
+ Cân nặng: Được cân bằng cân Health Ometer Birdgeview llinois sản xuất tại Mỹ
độ chính xác là 100 gram Kết quả được ghi theo kilogam với một số lẻ
+ Kết quả đo chiều cao và cân nang thu được tính ra BMI (chi số khối cơ thé) 2.5.2 Do mat do xwong:
Thiét bi do su dung may Sahara của hãng Halogic được sản xuất tại Mỹ
Kỹ thuật đo: Đối tượng được hướng dẫn tỉ mỉ các bước đo, cách thức tiến hành
đo, bác sĩ đo sẽ làm mẫu trước khi đo đề giúp đối tượng làm đúng kỹ thuậi
Mật độ xương dược đo băng phương pháp hấp thụ siêu âm dải rộng BUA Kết quả BUA dược tính băng decibel/megahertz (db/MHz) Đối tượng nghiên cứu được hướng dẫn để chân vào vị trí thích hợp của máy sau đó chân được có định bởi thiết bị chuyên dụng Khi đo có hai đầu dò ép vào vùng gót chân Trong thời gian đo tín hiệu siêu âm chiều qua gót chân và quét qua một vùng có diện tích là lem” gọi là vùng quan
tam (region of interest) Sau d6 tin hiéu di ra được máy phản tích và tính thành trị sỐ BUA, tiếp theo máy sẽ tự chuyền đồi sang trị số T - Seore cua cá nhân đó sau khi so
với trị số Z - Score của người bình thường Căn cứ vào giá trị T - Seore để xác định loãng xương hay giảm mật xương, hay bình thường dựa vào tiêu chuân chân đoán lodng xuong cua WHO:
T- Score > -1 : Bình thường
-2,3 < T- Score < -Ï : Giảm mật độ xương
T- Score < -2,5_ : Loãng xương
2.3.3 Các thông tín liên guan đến tình trạng loãng xương và tiêu thụ một số loại
thực phẩm của đối tượng được phỏng van băng bộ câu hỏi được thiết kê sẵn
2.5.4 Cong cu thu thap sO liệu
- Can: Su dung cén Health Ometer Birdgeview llinois sản xuất tại Mỹ
Trang 38- Thước đo chiều cao: Bằng thước do chuyên dụng Martin có chia vạch tới centimet
- May siêu âm do tỉ trọng xương gót chân: Là máy Sahara của hang Halogic san xuất tại Mỹ Kết qua siêu âm trén may Sahara tương đương với két quả do tỉ trọng xương băng phương pháp DEXA tai vị trí xương gót với (R=0.85) [35] Thời gian do | phut/lan
- BO cau hdi duge thiết kế sẵn phiếu hỏi về tần xuất xuất hiện một số loại thực
phẩm giàu canxi trong 1 năm qua, phiếu ghi kết quả cân đo và siêu âm Tất cả các
phiếu này đều được đánh mã từng trang để tránh bị thất lạc hoặc mắt những tờ bên
trong của bộ phiếu
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Tat cả các số liệu sau khi thu thập sẽ dược mã hoá và nhập vào máy tinh bang phản mẻm EpiData 3.1 để làm sạch và quan lý Số liệu nhập xong được sử dụng phần mém SPSS 13.0 dé phan tich
- Thuc hign cdc phuong pháp thống kê mô tả xây dựng bảng phân bố tần số
- Chúng tôi sư dụng kiểm định x2 xác dịnh sự khác biệt 2 tỷ lệ và xác định mối
liên quan giữa biến phân loại Kiểm định Anova so sánh các giá trị trung bình
- Sau khi phân tích 2 biến chúng tôi sẽ sử dụng mô hình hồi qui logic (Logistic regression) dé xac dinh mdi liên quan giữa tần suất sử dụng các nhóm thực phâm với
tình trạng loãng xương.
Trang 392.7 Các biên sô nghiên cứu
Phương pháp thu thập sô liệu
I Thong tin chung
a Tuổi của đối tượng điều tra (tính theo Định lượng | Phỏng van
me nam sinh duong lich) liên tục ( Phụ lục 2)
Minis Công việc việc làm của đổi tượng nghiên | Định danh | Phỏng vấn
Hi cứu mang lại thu nhập chính
Trung cấp / Cao dang Dai hoc/ Trén dai hoc 4.Mue thu | Mire thu nhập bình quan dau ngwoi / 1\ Thứ bậc Phong van
nhap binh_ | thang
quan
5.Tinh trang | Viée két hon giữa nam giới và nữ giới: Nhị Phân | Phỏng vấn
Trang 40
hon nhan
Dang co vo Khơng cĩ vợ ( gồm Ly di, Ly than, Goa,
T- Score > -1 : Binh thuong
-2,5 < T- Score < -1: Giam mat độ xương T-score = =2.5- Lộng xương
nhân trắc !s Cân nặng: Tì rong lwong co thé cua doi
tượng nghiên cứu được tính bằng Kg BMI la chi tiéu sw dung đề đánh giá tình |: Định danh Tinh
2 Chi sé
khéi co thé
(BMI)
trang thiéu năng lượng trường diễn va
thưa cân béo phì ở người lớn
BMI được tính bằng can nặng chia cho chiều cao bình phương
BMI < 18,5 : Gay 18,5 < BMI < 23
BMI >23 : Thừa cân, béo phi