BO GIAO DUC VA DAO TAG - BỘ Y TẾ TRUONG DAI HOC Y TE CÔNG CỘNG NGUYEN THI NGUYEN ''''THỰC TRANG BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM LỢI VÀ MỘT SỐ YEU TO LIÊN QUAN Ở HỌC SINH LỚP 1 VÀ LỚP 5 TẠI HAI TRƯỜNG T
Trang 1wsP 4131
Vat cH?
BO GIAO DUC VA DAO TAG - BỘ Y TẾ TRUONG DAI HOC Y TE CÔNG CỘNG
NGUYEN THI NGUYEN
'THỰC TRANG BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM LỢI VÀ MỘT SỐ
YEU TO LIÊN QUAN Ở HỌC SINH LỚP 1 VÀ LỚP 5 TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ AN VĨ VÀ HỒNG TIẾN,
HUYỆN KHOÁI CHAU, TINH HUNG YEN NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 607276
HUONG DAN KHOA HOC: TS NGUYEN VAN MAN
TS NGUYEN DUC TRONG
HÀ NỘI - 2005
Trang 2Tôi xin bày tổ lòng biết ơn ehân thành sâu sắc tới:
76: Nguyễn Văn Mạn, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cắm ơn tới Ban giám hiệu, phòng đào tạo nghiên cứu khoa hoc, Phòng điều phối thực địa cùng cáo thầy
06 giáo Trường Đại học y tế công cộng đã nhiệt tình giẳng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình họo tập
chương trình hoc tap va nghiên cứu đề tài
Hà nội, ngay 20 thing 08 nim 2008
Bs Nguyễn Thị Nguyên
Trang 3Community Periodontal Index of treatment Need: Chỉ số
nhu cầu điều trị quanh răng công đồng
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Knowledge Attitude Practice ( Kiến thức, thái độ, hành
Sâu răng vĩnh viễn
Vệ sinh răng miệng World Healh Organization: Té chttc y té thé gidi
Trang 4
1.1 Sâu rang:
1.1.1 Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng,
1.1.2, Tinh hinh bệnh sâu rang ở trẻ em
1.2 Viêm lợi
1.2.1 Nguyên nhân - bệnh sinh - biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm lợi
1:2.2 Tình hình bệnh viêm lợi ở trẻ em
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh răng miệng
1.3.1 Yếu tố nguy co sau rang
1.3.2 Yếu tố nguy cơ bệnh viêm lợi
2 Tính chỉ số
3, Các phương pháp chải răng,
4 Chương trình nha học đường (NHĐ)
u mất trầm, chỉ số đánh gid tinh trạng bệnh viêm lợi
Dat van dé
Mục tiêu nghiên cứu
Chương I: Tổng quan tài liệu
1 Sâu răng và viêm lợi `
Chương 2 Đối tượng - phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
2 Thời gian nghiên cứu
3 Địa bàn nghiên cứu
4, Phương pháp nghiên cứu
5 Mẫu nghiên cứu
6 Phương pháp thu thập số liệu
7 Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu
3 Khác phục sai số
9 Hạn chế của để tài
10 Đạo đức trong nghiên cứu
11 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
1 Thông tin chung
2 Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi
Trang 5
3 Một số yếu tố liên quan
4 Một số mối liên quan
Chương 4 Bàn luận
1.Thông tin chung
2, Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan
3 Một số mối liên quan
Trang 6Biểu đồ 1: Tỷ lệ sâu răng của học sinh
Trang 8Sâu răng, viêm lợi là hai bệnh thường gặp nhất trong các bệnh răng miệng và
số người mắc bệnh này rất lớn, phí tổn chữa rất cao Phòng chống bệnh sâu răng,
viêm lợi, đặc biệt ở trẻ em đang là vấn đề được quan tâm không những ở Việt Nam
mà còn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Chính vì thế, nghiên cứu về bệnh răng
viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tai 2 trường tiểu học
xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005” Với mục
nguy cơ mắc bệnh viêm lợi gấp 2,59 lần học sinh ở xã Hồng Tiến (p = 0.0003)
C6 mối liên quan giữa phương pháp chải răng ở học sinh lớp 5 với sâu răng, viêm lợi: Học sinh nào có phương pháp chải răng đúng sẽ có nguy cơ mắc bệnh sâu răng íL hơn 4,5 lần (1/0,22) và nguy cơ bị viêm lợi ít hơn 16.7 lấn (1/0.006) học sinh có phương pháp chải rang sai (p = 0.03: p = 0,0000001)
Hạn chế của để tài là chỉ nghiên cứu ở 2 khối lớp 1 và lớp 5 của 2 trường nên
không thể suy rộng cho học sinh toàn huyện được
Trang 9DAT VAN DE
Bệnh sâu răng, viêm quanh răng là hai bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng
miệng, gặp ở 90% dân số thế giới bệnh mắc từ rất sớm và tăng dần theo lứa tuổi, phí tổn chữa rất cao Trong 20 năm gần đây, mặc dù có sự giảm tỷ lệ sâu răng một cách đáng kể ở những nước phát triển nhờ những tiến bộ vẻ phòng bệnh nhưng không thấy giảm nhiều ở những nước đang phát triển, mà ở một số nước còn thấy
sự tiến triển của sâu răng tăng lên
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và bệnh quanh răng ở mức cao trên 90% dân
số [1], {3}, (6) và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây, đặc biệt ở
nơi chưa có chương trình nha học đường {3} Trẻ em lứa tuổi đang đi học (6-15 tuổi) có tỷ lệ mắc các bệnh răng miệng cao và được ưu tiên hàng đầu trong cham
sóc sức khoẻ rang miệng ở nước ta
Năm 2001, viên RHM Hà Nội phối hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide
( Austrailia ) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng qui mô toàn quốc và cho
Muốn giảm bớt tỷ lệ mắc bệnh răng miệng thì phải đẩy mạnh việc phòng bệnh
rang miệng trong cộng đồng, đặc biệt là đối với trẻ em Lứa tuổi học đường là thời
kỳ thay răng vĩnh viên và cũng là thời kỳ hay mắc các bệnh về rang miéng, ma chủ yếu là sâu ràng và viêm lợi Vì thế việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng của các em trong giai đoạn này là rất cần thiết [18 ]
Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đang phát triển mọi mặt về kính tế, xã hội, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện Đặc biệt, các hoạt động của ngành Y tế đã có nhiều khởi sắc Riêng công tác nha học đường hấu như không có và chưa có một nghiên cứu cụ thể nào vẻ thực trạng sâu
răng, viêm lợi của học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng và các yếu tố
liên quan đến 2 bệnh sâu răng và viêm lợi tại đây, Theo số liệu liên về bệnh răng
miệng của trung tâm Y tế huyện, công tác nha học đường hoạt động được 2 nam
1997, 1998 tại một số trường tiểu học, trong đó có trường tiểu học xã An Vĩ là
Trang 10sâu răng, viêm lợi, một số yếu tố liên quan và so sánh sự khác nhau giữa 2 trường, tiểu học trên chúng tôi nghiên cứu để tài : “fhực trạng sâu răng, viêm lợi và một
số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp Š tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005”
Kết quả thu được từ nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch triển
khai công tác nha học đường sắp tới và làm tiền để cho những nghiên cứu sâu hơn
về răng miệng tại huyện Khoái Châu.
Trang 11MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng bệnh răng miệng và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến huyện Khoái Châu, tính Hưng Yên năm 2005
~ Mõ tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2
trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm
2005
~_ Mô tả một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp l
và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên năm 2005.
Trang 121 Sâu răng và viêm lợi
1.1 Sâu răng:
1.1.1 Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng:
Sâu răng là một quá trình bệnh lý, xuất hiện sau khi răng đã mọc, tổ chức cứng của răng bị phá huỷ và tạo thành một hố gọi là lỗ sâu
Trước năm 1970, người ta còn quan niệm sâu rãng là một thương tổn khong
thể phục hồi Giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi
khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích bệnh cân sâu răng bằng sơ đồ KEY như
Trang 13Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ hơn căn nguyên bệnh sâu răng và giải
thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ KEY (chất đường) bằng
vòng tròn chất nền (Substrate) nhấn mạnh vai trò nước bọt (chất trung hoà - Buffers)
[26] và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite của răng kết hợp thành Fluoroapatit rắn chắc, chống được sự phân huỷ của axit tạo thành thương tổn sâu răng [26], [161]
Trang 14
Các yếu tố gây mất ổ định làm sâu răng
Các yếu tố bảo vệ chống lại sâu rang Mang bám: Ví khuẩn (kiểm soát)
Chế độ ân đường nhiều lần (kiểm
soát)
“Thiếu nước bọt hay nước bọt axit
Axit từ dạy dầy trăn lên miệng
pH<3
Nước bọt (kích thích)
Kha nang khang acide ca men
Fluor c6 ở bề mặt men răng
Trdm bit hé ranh
Độ Ca'* NPO, quanh răng
pH>5.5
Trang 15'Với những nghiên cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu răng là
u chỉ là dấu hiệu của bệnh dang hoat dong [161] Theo Seob 98% những nguy cơ chủ yếu gây sâu răng ở trẻ em là do ăn uống thiếu Fluor, vệ sinh rang
một bệnh, cae I
miệng kém và ăn chất ngọt (đường) mà không kiểm soát được [133]
Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ [43] đã đưa ra khái niệm sâu răng là bệnh
nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sâu rang
bằng sơ đồ với ba vòng tròn của các yếu tố vật chủ (răng: gồm men răng, ngà răng,
xương răng) môi trường (thức an có khả năng lén men chứa carbohydrate) và tác
nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus Mután và Lactobacillus) như sau:
Sơ đồ nguyên nhân sâu răng của hội nha khoa Hoa Kỳ [43], [82]
Cũng từ những hiểu biết mới về căn nguyên của sâu răng, người ta cho rằng,
bất cứ một phương pháp nào có thể ngăn cản được phản ứng sau rang theo chiều tir trái sang phải (mất khoáng) hoặc làm gia tăng chiều từ phải sang trái (tái khoáng) đều
có thể được xem là một biện pháp phòng ngừa sâu răng Có 4 chiến lược được ghỉ
nhận để thay đổi tốc độ tấn công của sâu răng cho cộng đồng Đó là: Vệ sinh răng
miệng, chế độ ăn uống có kiểm soát chất đường và tỉnh bột, trầm bít hỗ rãnh, sử dụng,
Fluor, Cai thiện vệ sinh răng miệng, thay đổi chế độ ăn uống sẽ làm giảm lượng mất
khoáng, trong khi đó, trám bít hố rãnh có thể ngăn ngừa được sự tiếp cận của axiL phân huỷ từ thức ăn tới răng Fluor có cả hai tác dụng làm giảm mất khoáng và làm tang tái khoáng [18] (96) [102] Vac xin phòng sâu răng cũng được nghiên cứu và là
dự phòng sâu răng theo hướng kháng vi khuẩn Trên thí nghiệm ở chuột vae xin này
kích thích hình thành các immunoglobulin A nước bọt (IgA) có khả năng ức chế các
enzym glucosyltransferaze do đó ức chế sự hình thành dextran và máng bám răng
18A ngăn cản 90-99% vi khuẩn bám và men răng Tuy nhiên việc thực nghiệm trên
Trang 16người chưa được thực hiện và ở người cơ chế tác dụng còn phức tạp hơn [48] Nam
2000, Fontan công bố hiệu quả làm giảm phát triển sâu răng trong thực nghiệm của kháng thể đa clôn kháng các protein bể mặt Streptococcus mutans [97]
1.1.2 Tình hình bệnh sâu rang ở trẻ em:
'Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng phụ thuộc vào chỉ
số SMT ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35 - 44 như sau:
Phân chia mức độ sâu răng theo chỉ số SMT của WHO
* Tình hình diễn biến sâu răng trên thế giới:
Theo xác định của ngân hàng dữ liệu sức khoẻ răng miệng của WHO [157]
hiện nay, có hai xu hướng chính của sức khoẻ răng miệng:
~ Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung bình của
trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4, L)
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hoá cao (SMT trung
bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống khoảng 2 - 4) [14]
Các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Canada, Thuy Điển, úc, Mỹ Phần Lan những năm 60 - 70 có tỷ lệ sâu răng cao trên 90% dân số, trung bình mỗi trẻ
em 12 tuổi có chỉ số SMTR từ 7,4 đến 12 và tình hình sâu răng là rất nghiêm trọng Tuy nhiên những năm 80-90 và đến nay chỉ số này đã giảm xuống rất nhiều Nam
1997, tuổi 12 của Canada, Na Uy, Thuy Điển là 12 - 2,6; Mỹ là 1,2 Phan Lan và
Australia < 1,2 [114], [150]
Một số tác giả nghiên cứu và đưa ra nhận định: tình hình sâu răng và chỉ số
SMT tuổi 12 ở các nước công nghiệp hoá cao, nhiều nước ở châu Âu và cả những
nước trong khu vực như Malaixia, Singapore [109] [II L] từ năm 1983 đến năm 2000
Trang 17(1980) Các nước như Lào, Camphuchia Triều Tién, Bruney, Philippines chi sé SMT tuổi 12 từ 2,4 đến 5,5 năm 1994 [80] [81] [92], [93], [95], [99], [119], [124], [129]
[139], [155], [156], [157]
* Tình hình diễn biến sâu răng ở Việt Nam:
'Từ những năm của thập ky 60 đến nay đã có những nghiên cứu tình trạng sâu
răng ở Việt Nam nói chung và ở trẻ em nói riêng Năm 1977, Nguyễn Dương Hồng
thông báo 77% trẻ em 6 tuổi Hà Nội và nông thôn bị sâu răng sữa, 30% trẻ em 13
tuổi sâu răng vĩnh viễn [24] Năm 1978 bộ môn Răng hàm mạt Đại hội Y Hà Nội thông báo tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ em 6 tuổi trở lên khoảng 39%, sâu răng sữa 1-5 tuổi là 31,33% [4], [72] Năm 1981 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở
một số tỉnh Miền Nam là 70,49%, ở Thuận Hải là 72.14% [25] Lê Đình Giáp và
% trẻ 12 tuổi thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mắc sâu
nhiều địa phương, nhiều lứa tuổi và có qui mô rộng hơn Qua đó thấy rằng khi chưa
có công tác nha học đường, tình trạng sâu răng ở trẻ em Việt Nam có chiều hướng, tăng lên, Sâu răng ở miễn Bắc nói chung thấp hơn so với miễn Nam [1], [4], [11], [12], [19], [24] [50], [56], [58], [59] Đặc biệt có những điều tra cơ bản đã công bố
tình trạng sâu rang trên phạm vi toàn quốc Qua điều tra lần 1 năm 1990 thấy tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12 như sau: Miễn Bắc: 43,33%; SMT: 1,15; Miễn Nam: 76,33%
SMT: 2,93 Toàn quốc; 55,69%; SMT: 1,82 [11], [50], [53]
Từ năm 1991 đến 1998 tiếp tục có nhiều nghiên cứu đưa ra tỷ lệ sâu răng trẻ
em và chí số SMT ở một số địa phương như Yên Bái, Hoà Bình, Hà Nội, Nam Định,
Đà Nẵng và thấy tỷ lệ sâu răng giao động trong khoảng 34,54% đến 62%, SMT từ 1.33 đến 4,28 [12], [13], [35] [37], [46], 54] [71]
Trang 18Vien Rang - Ham - Mặt Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu và thong ke sức khoẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong
3 năm 1999 - 2001 thu được các kết quả sau [68]
13 triệu trẻ em chưa được chăm sóc răng miệng [66]
Với mục tiêu phòng bệnh năm 2010 của WHO là 90% trẻ em 5-6 tuổi không
SMT ở tuổi 12 < 1: 100% trẻ em 18 tuổi giữ được toàn bộ răng Việt
và bệnh viêm quanh răng
Ming bám răng hình thành trên bể mặt thân răng ngay sau khi ăn, nó có nguồn gốc từ nước bọt do men Carboxydase hay Neuramidase tác động lên axit Sialic của Muxin trong nước bọt làm cho nó kết tủa trên bé mat rang Sau đó các vi khuẩn
xâm nhập, cố định và phát triển thành mảng bám vi khuẩn sau
Trang 19Vẻ mật cấu trúc mảng bám vi khuẩn tụ tập các loại vi khuẩn sống và chết
trong một chất tựa hữu cơ giầu Polysacharide và Glucopotein tỷ lệ:
+ 70% là vi khuẩn
+ 30% là chất hữu cơ
Chiêu dày của máng bám vi khuẩn thay đổi từ 5 um - 200 um Theo Theilade `
và Loe (1966) thành phần, số lượng của các loại vi khuẩn thay đổi theo thời gian và vị trí của chúng ở các mảng bám răng trên lợi: theo nghiên cứu của Theilade và Loe (1960) lúc mới hình thành mảng bám ít vi khuẩn nhưng có nhiều tế bào bong của niêm mạc rồi sau đó vi khuẩn tích tục dần, có tới 90% là cầu khuẩn và trực khuẩn Grr (+), 10% là cầu khuẩn Gir (-), Các cầu khuẩn và trực khuẩn Gr (-) tăng dần lên, tới
ngày thứ 3, thứ 4 có các loại vi khuẩn hình thoi và hình sợi từ ngày thứ 5 có xoắn
Theo Ritz (1969) khi mang bám vị khuẩn dày lên có nhiều lớp thì vi khuẩn
yếm khí và trực khuẩn Gr (-) tăng lên, lúc này là khởi điểm cho quá trình viêm và thấy rõ trên lâm sàng, Theo các nhà vi khuẩn học: viêm lợi xét vẻ phương diện vi
khuẩn học chủ yếu là sự gia tăng, nhân lên số lượng vi khuẩn so với lợi bình thường
[57]
Trang 20Theo Đỗ Quang Trung trong viêm lợi có sự gia tăng đặc biệt của 3 lợi trực khuẩn, cầu khuẩn và xoắn khuẩn thì xoắn khuẩn có sự gia tăng đặc biệt từ 40% ở lợi bình thường tăng lên 72,72% ở lợi viêm [43]
Ngoài nguyên nhân gây nên bệnh viêm lợi và viêm quanh răng là mảng bám răng đã nêu ở trên còn phải kể đến các nguyên nhân khác nữa gây nên bệnh viêm lợi
là:
~ Do siêu vi trùng Herpet
- Do thuốc trong điều trị
~ Do hàn răng không đúng kỹ thuật
- Do moc rang
- Do yếu tố có tính chất toàn thân
b Bệnh sinh:
Các vi khuẩn xâm nhập vùng quanh răng tác động gây bệnh có thể bằng cách
trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Tác động trực tiếp: Do vi khuẩn hoạt động và sản sinh ra các men như hyaluronidaza gây phá huỷ tổ chức biểu mô của lợi Collagenaza phá huỷ tổ chức đệm
Ngoài các men, vi khuẩn còn tiết ra các nội độc tố và những sản phẩm đào
thải, chuyển hoá trung gian như NH3, uree, Hydrosunfua
+ Tác động gián tiếp: do tính chất kháng nguyên của vi khuẩn chúng khuếch tán quá biểu mô và khởi động những phản ứng miễn địch tại chỗ cũng như toàn thân
e, Biểu hiện lâm sàng của viêm lợi:
~ Khi lợi bị viêm ở các mức độ khác nhau sẽ có biểu hiện ở sự thay đổi màu
sắc, hình thể, trương lực
~ Vị trí biểu hiện dễ thấy là bẻ mặt lợi có chảy máu, dịch viêm ở khe lợi
- Không có túi lợi bệnh lý (không có sự đi chuyển của biểu mô bám dính không có tiêu xương ổ răng [44]
~ Viêm lợi thường thấy đi đôi với tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt có
nhiều mảng bám răng, cận thức ăn cao răng
1.2.2 Tình hình bệnh viêm lợi ở trẻ em:
- Theo AAP Current Procedural Terminology of Periodentics, 5th Edition
1987: bệnh tổ chức quanh răng bao gồm
Trang 21+ Benh loi
+ Bệnh viêm quanh răng
+ Bệnh teo vùng quanh răng
“Trong bệnh lợi, thể viêm lợi do mảng bám vi khuẩn và các sản phẩm của nó là
thể hay gặp nhất, chiếm đa số trong các trường hợp viêm lợi
- Bệnh quanh răng ở trẻ em thường được biểu hiện là viêm lợi Sự lưu hành viêm lợi khác nhau theo tuổi Năm 1964, Aranjo và Me Donald [17] đã cho thấy sự lưu hành của xoắn khuẩn trong miệng trẻ em từ 3-7 tuổi thấp hơn so với người lớn
Thời kỳ 5-6 tuổi đến 12 tuổi là thời kỳ hàm răng hỗn hợp Năm 1978 WHO [154] thông báo bình quân trên thế giới có 80% trẻ em dưới 12 tuổi và 100% trẻ em
14 tuổi bị viêm lợi mãn
* Tình hình bệnh viêm lợi trên thế giới:
“Theo nghiên cứu của một số tác giả ở các nước thuộc châu Âu châu Mỹ, châu
Á đều cho thấy tỷ lệ trẻ em bị bệnh quanh răng cao ở mức trên 909
'Ở Phần Lan 1981 viêm lợi ở trẻ em các độ tuổi là:
Vẻ số trung bình vùng lục phân có cao răng (CPITN 2) qua thông báo của WHO tir nam 1981 đến năm 1983 tuổi 15 ở các nước đều có giao động từ 0,1 (Pháp) dén 4 (Philippines, Italia) [154].
Trang 22* Tình hình bệnh viêm lợi ở trẻ em Việt Nam:
“Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về bệnh quanh răng và đưa ra nhận xét bệnh quanh răng là bệnh phổ biến, tỷ lệ mắc cao [6], [11], [50] [56] [66] [75] Theo diéu tra nam 1990: trẻ em 12 tuổi ở miễn Nam có 6.36% chảy máu lợi, 91,5%
có cao răng [11], 98,33% trẻ em 12 tuổi toàn quốc bị viêm lợi [50]
Từ năm 199] - 1998 có nhiều tác giả thông báo tình hình bệnh quanh răng ở
lứa tuổi học sinh ở một số tỉnh như Yên Bái, Hải Hưng, Hà Nội Nam Định, Đà Nẵng, Thai Bình trong đó CPITNI giao động từ 4,78% đến 40,40%: CPLTN2 từ 10,52% đến
89,22% [13], [34], [40] [56] [63], [75]
“Theo Trần văn Trường, năm 2001 Viện Răng - Hàm - Mặt phối hợp với trường
đại học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng qui mô
toàn quốc và cho kết quả sau [66], [70]:
Bang 1.5: Tình trạng chảy máy lợi và cao răng ở trẻ em toàn quốc
Qua đó thấy rằng bệnh viêm lợi là bệnh phổ biến Mặc dù nhờ có chương trình
nha học đường tý lệ bệnh rang miệng ở tuổi học sinh đã giảm xuống Nhưng ở những
nơi chưa có chương trình này, tỷ lệ bệnh còn cao, ở mức báo động, đòi hỏi có những giải pháp phòng bệnh và điều trị hữu hiệu và việc tăng cường chương trình chăm sóc răng miệng trẻ em học đường là vô cùng cấp bách [66]
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bénh rang miệng:
13.1, Yéit t6 nguy co’ sdu răng:
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học, người ta biết rằng sâu răng là một dây
chung của những sự kiện động học dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan với nhau như: đặc tính sinh học, hoàn
ảnh xã hội, hành vi, tâm lý và mức sống của đối tượng Càng ngày, càng có nhiều yếu tố nguy cơ được biết liên quan đến sâu răng
Trang 2322
[31], [36], [85], [105] [108], [115] [L17], [127] [163] Tuy nhiên từ kinh nghiệm
lâm sàng của nha sy về sự hiện diện số lượng và độ trầm trọng của sâu răng sữa sự
hiện điện và số lượng sâu rãng ở mặt bên răng vĩnh viễn người ta đã đánh giá được
những yếu tố nguy cơ sâu răng nổi trội gồm:
- Vi khuẩn: Do không chải răng hoặc chải răng không đúng phương pháp sau
khi an, đặc biệt sau khi ăn đồ ngọt
- Dinh dưỡng: Nguồn cung cấp Fluor không đủ, vd: nồng độ Fluor trong, nguồn nước sinh hoạt thấp
- Sức để kháng của răng: Chất lượng men răng
- Nước bọt: Độ pH của nước bọt
Messer LB [117] đã nghiên cứu những nguy cơ gây sâu răng ở trẻ em Úc 2
g sâu răng phụ thuộc vào tuổi và điều kiện sống
ho thay tinh tra
thập kỷ qu
Đánh giá nguy cơ sâu răng ở trẻ em là một phần trong việc đánh giá sức khoẻ
toàn thân, đặc biệt là thói quen vệ sinh răng miệng [28]
1.3.2 Yếu tổ nạuy cơ bệnh viêm lợi:
Những yếu tố nguy cơ của viêm lợi là những yếu tố tại chỗ và toàn thân gây
ảnh hưởng đến việc tích tụ mảng bám răng hoặc làm biến đổi sự đáp ứng của tổ chức
quanh răng đối với mảng bám răng [1 12], như:
- Không chải răng thường xuyên sau ăn hoặc chải răng không đúng phương
Mang bam rang không được lấy đi sẽ kết hợp với những chất khác trở nên
cứng và khô ráp xốp và lắng đọng lại gọi là cao răng Cao răng có ở trên bề mặt răng trên đường viền lợi, có thể không gây ra bệnh quanh rang Nhung cao rãng dưới lợi
chân răng sẽ tạo điều kiện cho những mảng bám rãng và vi khuẩn bám
nhiều hơn và khó lấy đi hơn
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tích tụ mảng bám rãng là không chải răng hoặc chải răng không đúng cách Ở trẻ em, nếu không được hướng dẫn và
nhắc nhở, sẽ không tạo được cho các em thói quen cẩn thiết chải răng hàng ngày Đó
Trang 24là việc quan trọng trong thói quen vệ sinh răng miệng Nếu tạo được thói quen chải răng đều đăng hàng ngày và được hướng dẫn vệ sinh răng miệng một cách đầy đủ sẽ làm sạch vi khuẩn và mảng bám răng, góp phần ngăn ngừa viêm lợi
2 Tính chỉ số sâu mất trám, chỉ số đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi
2.1 Tính chỉ số sâu mất trám
- Sau (S) được tính theo 2 mã số:
Ma so 1: Sau rang nguyen phat
Mã số 2: Răng đã trầm có sâu lại
- Mat (M) được tính theo 2 mã số:
Mã số 4: Mất do sâu răng
Mã số 5: Mất vì lý do khác
~ Trám (T) được tính theo 1 mã số:
Mã số 3: Đã trám và không có sâu lại
Số trung bình rang sâu-mất-trám là tỷ lệ tổng số rằng mã số 1+2+3+4/tổng số người khám
2.2 Các chỉ xố đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi:
Nhiều tác giả đã nghiên cứu các chỉ số để đánh giá tỉnh trạng viêm lợi như: + Chỉ số loi (GI) cita Loe va Silness
+ Chỉ số chảy máu rãnh lợi (SBI) của Muhleman 1971
+ Chỉ số chảy máy lợi (GBI) của Carter và Barner 1974
+ Chỉ số nhú lợi bờ lợi, lợi dính (PMA) của Schour và Massler 1967
+ Năm 1982 Ainamo đưa ra chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cho cộng đồng (CPITN) và đưa được tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sử dụng để đánh giá tình trạng
bệnh của tổ chức quanh răng và nhu cầu điều trị tròng cộng đồng
*Các chỉ số đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi áp dung trong để tài:
a Chi s6 tinh trạng tổ chức quanh răng
Trang 25+ Chỉ tính răng 8 khi nó thế chỗ chức năng răng 7
Trẻ em và thiếu niên (trên 7 tuổi)
+ Khi răng chi định không còn thì vùng đó không được tính
- Dụng cụ khám: Trâm thăm dò nha chu của tổ chức y tế thế giới
+ Đầu tròn đường kính 0,5 mm
+ Có các vạch đánh dấu các khoảng 3.5; 2.0: 3,0 và 3.0 mm (tổng cộng 11,5
- Sử dụng trâm khám:
+ Xác định độ sâu túi lợi, chảy máu và cao răng,
+ Đưa nhẹ đầu trâm khám vào rãnh lợi giữ tiếp xúc với bể mặt răng để phát
hiện cao răng
+ Dùng lực 15 - 25 gr tránh gây khó chịu cho bệnh nhân
+ Nhàn vào cột màu nhận biết túi sâu _ < 3,5 mm
3.5 - 5.5 mm
và > 5,5 mm
~ Tiêu chuẩn đánh giá:
MA so 0: tổ chức quanh răng bình thường
Ma sé 1: chảy máy nhẹ sau thăm khám
Mã số 2: có cao răng trên hay dưới lợi
Mã số 3: túi lợi sâu 4 - 5 mm
Mã số 4: túi lợi bệnh lý > 6 mm
- Ghi chép:
Trang 26
+ Sử dụng đồ hình quanh răng cho mỗi người
+ Gạch chéo vùng mất răng
+ Đánh dấu rang đại diện cho vùng có mã số cao nhất
+ Không khám những răng còn lại sau khi đã phát hiện răng có mã số 4
+ Chí dùng mã số 0; 1 và 2 cho bệnh nhân 7 đến 11 tuổi
b, Tính toán CPITN cho nhóm:
Mã số nhóm có thể theo những phương pháp tính
~ Tỷ lệ bệnh toàn bộ người có mô nha chu lành mạnh và bị bệnh
- Số trung bình vùng lục phân lành mạnh và có bệnh nha chu/ mỗi người
~ Nhu cầu điều trị của cả nhóm
3 Các phương pháp chải răng:
Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các phương pháp chải răng khác
nhau, nhìn chung có thể thấy một số phương pháp tiêu biểu đã được miêu tả [60]
3.1 Phương pháp chải ngang:
Bàn chải được giữ ngang, tay ấn để các lông của bàn chải áp sát và vuông góc với bề mặt thân răng Động tác chải là chuyển động ngang theo chiều trước sau ở mọi
vị trí của cung răng, vì thể kiểu chải này không làm sạch mảng bám và cặn thức ăn
bám nhất là ở khe kẽ của răng đồng thời gây mòn cổ răng nhiều
Trang 2726
Phương pháp này gây đâu lợi nhiều, khó thực hiện động tác xoay trục của bàn chải
3⁄4 Phương pháp Charter:
Bàn chải được giữ ngang để các lông bàn chải tiếp xúc với men răng và lợi,
các lồng bàn chải tạo với trục răng một góc 900 Động tác chải là chuyển động ấn và
rung chiều trước sau để vừa chải vừa xoa nắn lợi
Phương pháp này khó thực hiện vì động tác không thoải mái
3.5 Phương pháp Siylman (1940, 1948):
Bàn chải được giữ và đặt tương tự như phương pháp chải xoay trục khi chải ở
thân răng, Động tác chải là chải ấn vào và thả ra nhanh nhẹ nhàng
3⁄6 Phương pháp Bass (1940 - 1948):
Bàn chải được giữ ngang, đặt các lông bàn chải hướng lên phần cổ răng áp vào
lợi và mặt than rang, các lông bàn chải tạo với trục răng một góc 450 Động tác chai
là chuyển động rung nhẹ chiều trước sau đồng thời xoay tròn tỉnh tiến
Phương pháp này được Bass được cải tiến năm 1948, động tác chải là chuyển động rung nhẹ chiều trước sau và tịnh tiến từ phía lợi về phía mặt nhai Phương pháp này được các nước Bắc Âu và nhiều nước trên thế giới áp dụng vì nó làm sạch MBR
và cặn thức ăn hơn, đặc biệt là ở rãnh giữa 2 rang
Động tác đơn thuần dễ thực hiện và đễ hướng dẫn áp dụng cho cộng đồng
“Theo Ngõ Đồng Khanh và cộng sự (1990) phương páhp này phù hợp với trẻ
em hơn các phương pháp khác [49]
3⁄7 Phương pháp chải răng được áp dụng trong chương trình NHĐ:
Phương pháp Bass cải tiến được lựa chọn để hướng dẫn cho học sinh chải rang,
được chỉ tiết hoá để hướng din cho các em thực hiện và được Vụ tiểu học, Vụ Giáo
dục mầm non của Bộ giáo dục và đào tạo tập huấn cho các cán bộ giảng dạy vệ sinh
răng miệng của các trường [15]
3.7.1 Phân chia vùng chải răng
Chia mỗi cung hàm thành 5 - 6 đoạn, mỗi đoạn gồm 2 - 3 răng mỗi đoạn đó
được chải từ 6 đến 10 lân
3.7.2 Chải răng có thứ tự:
Chải thứ tự để tránh bỏ sót và dễ thực hiện hướng dẫn kiểm soát động tác của
các em, khi chải răng tập thể theo hiệu lệnh trống, nhạc
Trang 28“Thứ tự chải: chải hàm trên trước, chai hàm dưới sau chải từ trái sang phải, chải mật ngoài sau đó đến mật trong và cuối cùng là chải mặt nhai
3.7.3 Động tác chải:
* Chải mật ngoài:
Đặt bàn chải nằm ngang, phần lông bàn chải hướng lên phía lợi và cổ răng Các lông bàn chải tạo với mặt ngoài của thân răng một gốc 450 ép nhẹ lông bàn chải một phân lên lợi một phần lên cổ răng để lông bàn chải ép vào rãnh lợi và khe giữa 2
răng
Lầm động tác rung nhẹ tại chỗ theo chiều trước sau Luôn giữ cho lông bàn
chải tiếp xúc với mặt răng và di chuyển dần dân theo hướng từ cổ răng đến mặt nhai
Lap di lặp lại từ 6 - 10 lần cho một đoạn 2 - 3 rang Sau đó nhích dân bàn chi
4 Chương trình nha học đường (NHĐ)
4.1 Cơ sở của chương trình NHĐ
u,
Chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng trẻ em từ 6 - 15 tuổi tại trường, học được gọi là chương trình nha học đường (NHĐ) Đây là chiến lược của ngành y
tế trong việc bảo vệ sức khoẻ răng miệng cho ca cộng đồng trong tương lai - Trẻ em
là tương lai của đất nước, tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1984 đã nêu lên khẩu hiệu “Sức khoẻ cho trẻ em hóm nay, giàu có cho ngày mai” Lứa tuổi đang đi học là lứa tuổi được ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ răng miệng ở Việt Nam vì
dân số nước ta khoảng 80 triệu người, trong đó lứa tuổi này khoảng 14 triệu - tỷ lệ mắc bệnh răng miệng rất cao, việc điều trị đòi hỏi sự tốn kém rất lớn Hơn nữa chúng
ta lại đang rất nghèo nên phải xác định chiến lược khống chế đản tỷ lệ bệnh rãng
miệng, tiến tới thanh toán dần từng bệnh Hiện nay số học sinh được chăm sóc răng.
Trang 2928
miệng tại trường khoảng 3 triệu (miền Bắc 2 triệu, miền Nam 1 triệu) Với tổng số
1105 điểm NHÐ ở phía Bắc và 451 điểm ở phía Nam Về sinh lý đây là lứa tuổi rang
vĩnh viễn đang bát đâu mọc, đang ở giai đoạn ngấm vôi, dùng Fluo rất hiệu quả Bệnh của tổ chức quanh răng chủ yếu là viêm lợi nếu được chăm sóc sẽ rất hiệu quả Về tâm lý học sinh: giai đoạn này cần được uốn nắn, chỉ bảo cụ thể trong học tập, sinh hoạt và dé hình thành các thói quen tốt nói chung và về vệ sinh răng miệng nói riêng
Môi trường tốt nhất để tiến hành là nhà trường; dễ tổ chức phối hợp giữa ngành y tế
và giáo dục để đạt kết quả tốt Nhà trường sẽ là môi trường giáo dục sức khoẻ răng miệng rất cẩn thiết và khả thi, vì các em hiện đang sống trong môi trường gia đình ở
nông thôn có thực trạng kiến thức, thái độ hành động về phòng bệnh răng miệng kém Nam 1990 theo kết quá nghiên cứu của Ngô Đồng Khanh và cộng sự thấy: [29]
- 70 - 80% số người bị viêm lợi, có cao răng thậm chí cả đã mất răng lẻ tẻ
Chưa bao giờ đi khám răng miệng
~ 50% số người nhận thức thấy tình trạng răng lợi khoẻ mạnh là quan trọng
~ 10% biết hướng dẫn con cháu chải răng
~ 72% số người ở nông thôn không có bàn chải
~ 90% học sinh tiểu học không chải răng thường xuyên
4.2 Nội dung chương trình nha học đường:
Có 4 nội dung chính:
+ Giáo dục nha khoa
+ Xúc miệng dung dịch Fluo 0,2% mỗi tuần 1 lần
+ Tổ chức khám chữa rãng tại trường
+ Trám bít hố rãnh trên mạt nhai răng vĩnh viễn
“Thực tế hiện nay việc triển khai các nội dung này còn gặp nhiều khó khăn do
nguồn kinh phí nghèo nàn Chương trình nha học đường toàn quốc đã hoạt động tích
cực và đạt được kết quả rất khả quan là triển khai được mạng lưới nha học đường rong khắp và hoạt động chủ yếu với 2 nội dung Giáo dục nha khoa và khám chữa
răng tại trường
1
Tuyên truyền giáo dục, giảng dạy cho học sinh các biện pháp giữ gìn vệ sinh
Nội dung và vai trò của giáo dục nha khoa:
răng miệng, ngăn ngừa các thói quen xấu có hại, biết được các kiến thức cơ bản về
phòng bệnh để các em tự chăm sóc răng miệng.
Trang 30“Thực tế hiện nay việc giảng dạy về vệ sinh rang miệng cho học sinh tiểu học
đã được đưa vào chương trình chính khoá, nhưng đang được tiến hành ở mức độ: một
số giờ lý thuyết it ỏi mà không có thực hành, nhất là học vẻ cách chải răng Theo các nhà tâm lý học, học sinh tiểu học đang hình thành những thói quen, sự tự giác còn rất
hạn chế nên việc học cần phải đi đôi với thực hành Hoạt động của các em sau khi
được giảng dạy là các hành động có ý chí, các hành động có ý chí này cần phải có
hành động hỗ trợ đó là hành động tự động hoá
Hành động tự động hoá lúc đầu là hành động có ý thức, ý chí và do được lặp di lặp lại, rèn luyện mà trở thành tự động, nghĩa là khi đó không cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà vẫn hoạt động có kết quả Thói quen được hình thành sẽ có
tính bên vững hơn kỹ xảo [48] Chính vì vậy các em học sinh tiểu học sau khi được
học các kiến thức cơ bản và các biện pháp giữ gìn vệ sinh rang miệng, ngăn ngừa thói
quen xấu có hại để phòng bệnh răng miệng, các em sẽ có ý thức trong việc chải răng
biết chải răng đúng Nếu được thực hành chải rang 6 trường dưới sự kiểm soát, uốn
nắn của thây cô giáo và cán bộ nha học đường một cách đều đạn thì sẽ đạt được kỹ xảo chải răng Lúc đó các em mưới có thể chải ăng đúng và dần dan mới trở thành thói quen của sinh hoạt hàng ngày Khi đó việc giữ gìn vệ sinh răng miệng, phòng
bệnh sâu răng, viêm lợi bằng biện pháp chải răng sẽ có kết quả tốt và được duy trì
bn vững trong cuộc sống, Để đạt được kết quả giáo dục nha khoa cần phải có môi
trường giáo dục mà trước hết chương trình nha học đường phải tạo ra môi trường giáo
dục nha khoa tại nhà trường, giảng dạy các kiến thức vệ sinh răng miệng cơ bản cùng với cán bộ NHĐ hướng dẫn kiểm tra, giám sát việc chải răng của các em tại trường
để đạt được kết quá tốt: không ai có thể làm việc đó tốt hơn các thầy cô giáo của các
em.
Trang 3130 CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoe sinh tiểu học lớp J và lớp 5 không phân biệt nam nữ đang học ở 2 trường tiểu
học xã An Vĩ và Hồng Tiến huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên
Chúng tôi chỉ chọn 2 khối lớp 1 và lớp 5 để xác định tỉ lệ sâu răng sữa và răng vĩnh viễn: Học sinh lớp 1 tương đương 6 tuổi đang ở thời kỳ răng sữa bất đầu thay rang vĩnh viễn và lứa tuổi 10 tuổi(lớp 5) răng sữa được thay thế gần hết, răng vĩnh viễn
mắc bệnh viêm lợi
đang mọc và ở thời kỳ ngấm vôi rất quan trọng, lứa tuổi có tỷ
cao Chọn 2 trường tiểu học trên vì trường tiểu học xã An Vĩ là trường nằm ngay
trung tâm thị trấn Khoái Châu, trường tiểu học xã Hồng Tiến nằm ngoài thị trấn
2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/ 2005 — 8/ 2005
3 Địa điểm nghiên cứu:
Tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
4 Phương pháp nghiên cứu :
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
5 Mau nghiên cứu
6.1 Công cụ thu thập xố liệu
a Phiếu phỏng vấn học sinh có cấu trúc Bộ câu hỏi dành cho học sinh lớp 1 bao gồm
9 câu, bộ câu hỏi dành cho học sinh lớp 5 gồm 11 câu (Xem chỉ tiết ở phụ lục 1)
Trang 32b Khám lâm sàng bao gồm: phiếu khám lâm sàng, dụng cụ khám (Đèn pin, gương thám trâm, đề lưỡi cây thăm dò nha chu, kẹp gắp dụng cụ để khử khuẩn, chậu rửa, khan vai, gạc, giấy lau tay)
thực hành chải răng: Phiếu quan sát, bàn chải đánh răng
c Quan
6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp học sinh bằng phiếu phỏng vấn
có cấu trúc, khám lâm sàng, quan sát thực hành chải răng
6.3 Điều tra viên uà giám sát viên
6.3.1 Điều tra viên:
Là các cán bộ của Trung tâm y tế huyện Khoái Châu, các bác sỹ chuyên khoa RHM,
cử nhân YTCC học viên cao học trường Đại học YTCC
6.3 2 Giám sát viên
Gồm tác giả (nghiên cứu viên) và 01 Bác sỹ chuyên khoa RHM Hai giám sát viên này đã trực tiếp tập huấn cho các điều tra viên trong thời gian 1 ngày về các nội dung: mục tiêu của cuộc điều tra, thống nhất cách điển phiếu khám, phiếu quan sát,
cách điền phiếu phỏng vấn, các kỹ năng phỏng vấn, nội dung và ý nghĩa của từng câu
6.3.3 Tiến hành điều tra
- Liên hệ với chính quyền địa phương và nhà trường để họ biết và tạo điều kiện cho
làm sạch số liệu
việc thu thập số liệu
- Tap huấn cán bộ điều tra:
Tập huấn tổ khám, tổ phỏng vấn và tổ giám sat:
'Tập huấn để thống nhất cách hỏi, khám, giám sát tránh sai số Thời gian: 1 ngày
- Nghiên cứu thử và hoàn chỉnh bộ câu hồi
Thời gian: Ì ngày
~ Tiến hành khám phỏng vấn, quan sát chải răng tại nhà trường theo lich da thống nhất với nhà trường điều tra viên sẽ chia làm 3 tổ:
+Tổ khám: Gồm các bác sỹ chuyên khoa RHM
+ Tổ quan sát va tổ phỏng vấn: Bao gồm các cán bộ của Trung tâm y tế huyện Khoái Châu, cử nhân YTCC, nhóm học viên cao học trường Đại học YTCC
Trang 3332
~ Nơi khám phải đảm bảo đủ bàn ghế, ánh sáng, khám đến đâu ghi chép vào phiếu khám đến đó Nơi quan sát chai rang phải có đầy đủ ánh sáng nguồn nước sử dụng nơi thoát nước, mỗi em 1 bàn ch:
riêng biệt, ca dung nước
7 Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập từ thực địa vẻ được làm sạch trước khi nhập vào máy
để phân tích Nhập toàn bộ số liệu vào máy tính bằng chương trình Epi-Info 6.04
Tinh toan thống kê: tính tỷ lê, tỷ suất chênh (OR)
8 Hạn chế của để tài
~ Do thời gian, kinh phí và nguồn lực hạn chế nên nghiên cứu chỉ tiến hành ở học sinh
lớp 1 và lớp 5 của 2 trường, không bao phủ toàn bộ các trường trong huyện
~ Nghiên cứu chưa đẻ cập một số yếu tố liên quan như môi trường: chất lượng nước
trong sinh hoat , điều kiện sống
9.6: ố, cách khắc phục sai số
- Các sai số nhớ lại trong phỏng vấn hồi cứu một số yếu tố nghiên cứu sẽ được giảm thiểu bằng những câu hỏi kiểm tra chéo;
- Các sai số quan sát sẽ được hạn chế bằng tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên
10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu tuân thủ qui trình của hội đồng đạo đức nhà trường qui định và chỉ tiến hành khi hội đồng đạo đức cho phép
Đây là điều tra cát ngang, khám răng miệng và quan sát hành thực hành chải răng Điều tra này không trực tiếp can thiệp, điều trị cho học sinh
Qua điều tra, chúng tôi tư vấn, hướng dẫn học sinh cách đánh răng, ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ, giúp cho học sinh biết cách bảo vệ răng miệng tốt hơn
Cho rằng nguyên nhân sâu răng là do:
~ Ấn nhiều bánh keo, nước ngọt
-Không chải răng sau khi ăn
* Hiểu biết đúng về cách phòng sâu răng: Cho rằng phòng bệnh sâu răng bằng cách:
~ Chải răng đúng cách với kem chải răng,
- Chải răng ngày 3 lần sau bữa ăn
~ Thay bàn chải sau mỗi 3 tháng
~ Hạn chế ãn đồ ngot, an vat
Trang 34CHUONG II: KET QUA NGHIEN CUU
1 Thong tin chung vé hoc sinh
Bang 1: Phan b6 gidi tinh của học sinh
Trang 35
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sâu răng của học sinh
Nhận xét: Tỷ lệ sâu răng của học sinh lớp 1 là 74.8%, lớp 5 là 47.3%
Bảng 3: Tình trạng sâu răng theo giới
Nhận xét: Lớp 1 có tỷ lệ sâu răng ở nam là 78,7%, nữ 71,2%, lớp 5: 52% va 43.3%
‘TY lệ sâu răng của nam cao hơn nữ, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê.
Trang 36Bang 4: Tinh trang sau rang va chỉ số sâu-mất-trám theo địa dư
Nhận xét: Tỷ lệ sâu răng của học sinh lớp 1 ở xã An Vĩ là 78,9%, xã Hồng Tiến 72.3
Tỷ lệ sâu răng ở học sinh lớp 5 của xã An Vĩ 50,4%, xã Hồng Tiến 44.7% Chỉ số Smt/hs ở học sinh lớp 1 của xã An Vĩ là 4,06; xã Hồng Tiến 3.41 Chỉ số SMT lớp 5