Trong những năm gần đây loãng xương (LX ) được xem là một vấn đề sức khỏe y tế công cộng toàn cầu có ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới, đặc biệt là người cao tuổi. Do vậy việc tìm hiểu thực trạng về vấn đề này là rất cần thiết. Mục tiêu: (i) Xác định tình trạng loãng xương và (ii) Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương.
Trang 1Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi xã Tam Thanh,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Đỗ Minh Sinh (*), Nguyễn Thị Minh Thủy (**)
Đặt vấn đề: Trong những năm gần đây loãng xương (LX ) được xem là một vấn đề sức khỏe y tế công cộng toàn cầu có ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới, đặc biệt là người cao tuổi Do vậy việc tìm hiểu thực trạng về vấn đề này là rất cần thiết Mục tiêu: (i) Xác định tình trạng loãng xương và (ii) Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành ngẫu nhiên trên 250 đối tượng là người cao tuổi tại xã Tam Thanh, một xã thuần nông huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ LX là 52,8% và thiểu sản xương là 31,2% Chỉ có 16% người cao tuổi tham gia nghiên cứu có mật độ xương bình thường Phân tích đa biến tìm thấy hai yếu tố liên quan đến tình trạng LX Những người # 70 tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,9 lần so với những người dưới 70 tuổi Những người không có thói quen sử dụng thực phẩm giàu calci có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 13,9 lần so với những người còn lại Khuyến nghị: Người cao tuổi cần được phòng loãng xương trước 70 tuổi và được tư vấn sử dụng những loại thực phẩm giàu calci có sẵn tại địa phương
Từ khóa: loãng xương, calci, người cao tuổi, T-score, hút thuốc
Prevalence of osteoporosis and related factors among elderly people in Tam Thanh commune,
Vu Ban district, Nam Dinh province
Do Minh Sinh (*); Nguyen Thi Minh Thuy (**)
Introduction: In recent years, osteoporosis has been seen as a global public health problem that affected millions of people worldwide, especially among elderly people Therefore, understanding the current status of this problem is much needed Objectives: (i) to determine the prevalence of osteoporosis and (ii) to explore the related factors Methods: Cross-sectional descriptive study was conducted with 250 elderly subjects (=>60 years old) selected at random in Tam Thanh commune,
an agricultural commune, Vu Ban district, Nam Dinh province Result: The results showed that the prevalence of osteoporosis is 52.8% among the elderly population in that commune Multivariate analysis found two factors related to the status of osteoporosis Those who were # 70 years of age
Trang 2were at risk of osteoporosis 2.9 times higher than those who were under 70 years of age Those who did not have the habit of using calcium-rich foods were at risk of osteoporosis 13.9 times higher than the remaining members Recommendation: Elderly people should be prevented from osteoporosis before 70 years of age and consulted to take the calcium-rich foods available locally for their daily meals
Keyword: osteoporosis, calcium, elderly, T-score, smoking
Tác giả:
(*) Ths Đỗ Minh Sinh - Giảng viên bộ môn Y tế Cộng đồng, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Email: minhsinh82@gmail.com (**) PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thủy - Trưởng bộ môn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
- Trường Đại học Y tế Công cộng, 138 Giảng Võ, Hà Nội.
1 Đặt vấn đề
LX là bệnh lý được đặc trưng bởi sự giảm mật độ xương và chất lượng xương làm xương trở lên
giòn và dễ gãy thậm chí gãy xương xảy ra chỉ với
một sang chấn nhẹ Đối tượng chịu tác động mạnh
nhất bởi bệnh LX là người cao tuổi Ở độ tuổi 50 chỉ
có khoảng 5% người cao tuổi mắc bệnh tuy nhiên
con số này đã tăng vọt lên 60% ở những người thọ
trên 80 tuổi [6]
Với mức độ nguy hiểm như vậy, trong những năm gần đây LX được xem là một vấn đề sức khỏe
y tế công cộng toàn cầu có ảnh hưởng đến hàng
triệu người trên toàn thế giới Năm 2008 ước tính có
khoảng 75 triệu người ở khắp châu Âu, Mỹ và Nhật
Bản bị tác động bởi loãng xương Tại châu Á, ước
tính tỷ lệ gãy xương đùi có liên quan đến LX sẽ tăng
lên từ 2-3 lần trong vòng 30 năm tới [5], [6]
Tại Việt Nam, năm 2008 theo ước tính có khoảng 2,8 triệu người bị tác động bởi loãng xương,
tuy nhiên con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều
Cho đến nay đã có một số báo cáo về thực trạng LX
và các yếu tố liên quan tại Việt Nam, tuy nhiên các
nghiên cứu mới chỉ tập trung tại các thành phố lớn,
địa bàn nông thôn hiện nay vẫn còn đang bị bỏ ngỏ
Bên cạnh đó các yếu tố có liên quan đến LX cũng
chưa được đề cập đầy đủ [5]
Tam Thanh là một xã thuần nông điển hình thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nên kết quả
nghiên cứu tại đây có thể ngoại suy cho toàn bộ dân
số nông thôn Nam Định Cho đến nay trên địa bàn
xã chưa có một đánh giá nào về thực trạng bệnh LX
ở người cao tuổi Với mục đích cung cấp thông tin cho ngành y tế tỉnh trong việc triển khai các chương trình phòng chống bệnh LX cho người cao tuổi trong cộng đồng, nghiên cứu đã được tiến hành với 2 mục tiêu cụ thể
- Xác định tỷ lệ LX của người cao tuổi tại xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
- Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh LX của người cao tuổi tại xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
2 Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện tại xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định từ 01/2012-06/2012 với đối tượng là 250 người cao tuổi bao gồm cả nam và nữ, được lựa chọn ngẫu nhiên từ quần thể nghiên cứu, có khả năng giao tiếp và không mắc các bệnh có liên quan đến chuyển hóa xương
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập các thông tin về nhân khẩu học và hành vi, lối sống Sử dụng cân và thước đo để thu thập các thông tin về nhân trắc học Sử dụng phương pháp "Hấp thụ siêu âm dải rộng" (BUA) để đo mật độ xương của đối tượng nghiên cứu
Tình trạng LX của đối tượng nghiên cứu được căn cứ theo tiêu chuẩn chẩn đoán LX của WHO dựa vào chỉ số T-score Theo đó một người được chẩn đoán mắc LX nếu có giá trị T-score < -2,5; T-score từ -2,5 đến -1 là thiểu sản xương và T-score > -1 là
Trang 3bình thường [8].
Các biến số chính trong nghiên cứu bao gồm:
tình trạng loãng xương, tuổi, giới, tiền sử sản phụ
khoa, thói quen bổ sung calci bằng thuốc hoặc thực
phẩm chức năng, thói quen uống sữa, uống chè, uống
rượu, uống café, hút thuốc và thói quen tập thể dục
Các số liệu được nhập bằng phần mềm EPI DATA và phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0 Sử
dụng OR và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh
của sự kết hợp Mô hình hồi quy logistic được sử
dụng để phân tích mối liên quan đa biến và kiểm
soát yếu tố nhiễu
3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Các đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu học Mẫu nghiên cứu bao gồm 250 người cao tuổi với tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 72,3 ±
8,35 tuổi Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu là nam giới
chiếm 41,6% thấp hơn nữ giới chiếm 58,4% Nhìn
chung trình độ học vấn của đối tượng là chưa cao khi
chỉ có 28,8% đối tượng có trình độ từ trung học
chuyên nghiệp trở lên Do có trình độ học vấn chưa
cao kết hợp với sinh sống tại địa bàn nông thôn nên
đa số đối tượng phải làm việc chân tay chiếm tới
73,6% khi ở độ tuổi lao động (≤60)
Hành vi, lối sống hàng ngày của đối tượng Những thói quen tốt cho hệ xương thường được đối tượng thực hiện bao gồm thói quen ăn thực phẩm
giàu calci; thói quen uống trà/chè và thói quen tập
thể dục Thói quen bổ sung calci bằng thuốc hay
thực phẩm chức năng và uống sữa chỉ có dưới 12%
đối tượng nghiên cứu thường xuyên thực hiện
Nhìn chung tỷ lệ đối tượng thường xuyên thực
hành các thói quen có hại cho hệ xương không cao (dưới 29%) Chỉ có 25,2% số đối tượng có thói quen thường xuyên uống rượu; con số này ở những người hay hút thuốc lá/lào là 28,8%; những người hay uống café chỉ chiếm 8,4% tổng số đối tượng nghiên cứu 3.2 Thực trạng loãng xương
Kết quả trên cho thấy mật độ xương trung bình của các đối tượng trong nghiên cứu là -2,4 ± 1,4 T-score, người có chỉ số T-score thấp nhất là -4,9 và cao nhất là 2,6
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương của WHO, tỷ lệ loãng xương của đối tượng nghiên cứu là 52,8%; chỉ có 16% đối tượng có mật độ xương bình thường
3.3 Kết quả phân tích mối liên quan Để kiểm soát các yếu tố nhiễu tiềm tàng trong việc xác định mối liên quan đến thực trạng loãng xương, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic trong đó các biến được đưa vào mô hình dựa trên kết quả phân tích đơn biến và phân tích yếu tố nhiễu Với giả định không có tính khuynh hướng cho các biến phân loại, mô hình sử dụng kiểm định
Biểu đồ 1 Phân bố các thói quen có lợi cho hệ
xương của đối tượng
Biểu đồ 2 Phân bố mật độ xương đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Phân bố tình trạng LX đối tượng nghiên cứu
Trang 4Hosmer và Lemeshow để đánh giá tính phù hợp của
mô hình Các biến số được đưa vào mô hình để tìm
mối liên quan với thực trạng về bệnh loãng xương
của người cao tuổi trong nghiên cứu gồm 17 biến số
bao gồm 4 biến số về đặc điểm sinh học và xã hội
(tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn), 3 biến về tình
trạng dinh dưỡng (chiều cao, cân nặng, BMI), 9 biến
về thói quen ăn uống và hành vi lối sống (ăn/uống
thực phẩm giàu can xi, tập thể dục và sử dụng các
chất kích thích như rượu, cafe, thuốc lá ) và 2 biến
kiến thức và thực hành Kiểm định Hosmer và
Lemeshow của mô hình cuối cùng có giá trị p = 0,17
cho thấy mô hình là hoàn toàn phù hợp Kết quả mô
hình hồi quy rút gọn cho thấy có 2 yếu tố liên quan
đến tình trạng loãng xương đó là tuổi và thói quen
sử dụng thực phẩm giàu calci trong bữa ăn
4 Bàn luận 4.1 Thực trạng loãng xương đối tượng nghiên cứu
Loãng xương là kết quả của một quá trình tác động bởi một loạt các yếu tố như: tuổi, giới, tình trạng
dinh dưỡng, chế độ ăn uống và luyện tập… Vì vậy
việc tìm hiểu vai trò của các yếu tố tác động đến
loãng xương là một điều rất cần thiết cho việc đề xuất
các giải pháp thích hợp giúp cộng đồng kiểm soát
được vấn đề sức khỏe tiềm ẩn nhiều nguy cơ này
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ LX của đối tượng nghiên cứu là 52,8% Kết quả này cao hơn kết
quả nghiên cứu của Thái Phương Oanh [4] (32,5%)
và cao hơn rất nhiều so với các nghiên cứu được tiến
hành trên các đối tượng trẻ hơn, như của: Lê Thị
Bích Hằng [1] (tỷ lệ LX ở nam giới từ 50-75 tuổi là
11,1%); Nguyễn Thị Kim Dung [2] (tỷ lệ LX ở nữ
giới từ 40-60 tuổi là 7,7%); Phạm Thị Hương [3] (tỷ
lệ LX ở phụ nữ trưởng thành từ 20 tuổi trở lên là
9%); Chan và cộng sự [9] (tỷ lệ LX của người từ
17-89 tuổi là 25,5%) và của Kanis [7] (tỷ lệ LX của nữ
giới từ 50-80 tuổi là 21,2%; nam giới là 6,3%) Sự khác biệt về tỷ lệ này có thể được giải thích thông qua một số nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất độ tuổi trung bình của các đối tượng trong nghiên cứu này cao hơn các nghiên cứu đã đề cập ở trên Thứ hai là sự khác biệt về tình trạng dinh dưỡng của các đối tượng trong mỗi nghiên cứu Theo kết quả phân tích, trong nghiên cứu này tỷ lệ đối tượng có tình trạng dinh dưỡng nhẹ cân là 24,4% Kết quả này cao hơn nhiều so với nghiên cứu Lê Thị Bích Hằng (chỉ là 17,4%) và của Nguyễn Thị Kim Dung (chỉ có 12,3%) Thứ ba là sự khác biệt về thực hành các thói quen có lợi cho hệ xương của các đối tượng nghiên cứu Trong nghiên cứu này chỉ có 4,8% số đối tượng có thói quen bổ sung calci thông qua thuốc hoặc thực phẩm chức năng; con số này ở thói quen uống sữa cũng chỉ là 11,6% Những tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Dương Thị Hải Ngọc (23,6% và 78,8%) và của Lê Thị Bích Hằng (tỷ lệ đối tượng có uống sữa là 26,7%) Thứ tư là sự khác biệt trong phương pháp chẩn đoán LX của mỗi nghiên cứu Trong khi nghiên cứu này sử dụng phương pháp
"Hấp thụ siêu âm dải rộng" để chẩn đoán loãng xương Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu của các tác giả quốc tế lại sử dụng phương pháp "Đo hấp thụ tia X năng lượng kép" để chẩn đoán LX
4.2 Các yếu tố liên quan đến loãng xương Sau khi phân tích đa biến kiểm soát các yếu tố nhiễu, nghiên cứu này chỉ tìm thấy 2 yếu tố có liên quan đến tình trạng LX của đối tượng nghiên cứu đó là tuổi của đối tượng nghiên cứu và thói quen sử dụng thực phẩm giàu calci Tuổi có mối quan hệ thuận chiều với tình trạng loãng xương, tức là tỷ lệ
LX tăng theo độ tuổi Tuy nhiên thói quen sử dụng thực phẩm giàu calci lại có mối quan hệ ngược chiều với tình trạng loãng xương, những người có thói quen thường xuyên sử dụng thực phẩm giàu calci có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn những người hiếm sử dụng thực phẩm giàu calci
Do cách đánh giá khác nhau nên mặc dù cùng tìm thấy mối liên quan giữa thói quen sử dụng thực phẩm giàu calci với tình trạng loãng xương, tuy nhiên kết quả trong nghiên cứu này có một số điểm khác biệt so với một số kết quả đã được công bố Kết quả trong nghiên cứu này chỉ kết luận những người không có thói quen ăn thực phẩm giàu calci có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp 13,9 lần so với Bảng 2 Mô hình hồi quy logistic kiểm soát các yếu
tố nhiễu (rút gọn)
Trang 5những người có thói quen hay ăn thực phẩm giàu
calci Trong khi đó hai tác giả Nguyễn Thị Kim
Dung [2] kết luận rằng những người chỉ có thói quen
ăn rau muống hàng tháng có nguy cơ mắc bệnh cao
hơn gấp 27 lần so với những người có thói quen ăn
rau muống hàng ngày; những người có thói quen chỉ
ăn đậu phụ từ 1- 4 lần/tháng có nguy cơ mắc bệnh
cao hơn gấp 76 lần so với những người ăn hàng
ngày Bên cạnh đó Lê Thị Bích Hằng [1] cũng chỉ
ra rằng những người có thói quen hiếm ăn tôm/tép
có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp 1,2 lần so với
những người hay ăn loại thực phẩm này
Một điều hiển nhiên là không chỉ có một loại thực phẩm duy nhất giàu calci, bên cạnh đó mỗi loại
thực phẩm sẽ chỉ có theo mùa Việc lựa chọn thực
phẩm nào trong khẩu phần ăn hàng ngày còn tùy
thuộc vào sở thích và khẩu vị của từng người Vì vậy
nghiên cứu này không tìm hiểu mối liên quan giữa
tình trạng LX với từng loại thực phẩm cụ thể Tuy
vậy, bằng chứng về mối liên quan giữa việc ăn uống
các thực phẩm giàu calci với LX cũng đã được
chứng minh
Tóm lại, tỷ lệ LX trong cộng đồng nghiên cứu
là tương đối cao khi có đến 52,8% số đối tượng đã
bị loãng xương Mật độ xương trung bình của các đối tượng đạt -2,42 T-score; chỉ số thấp nhất là - 4,9 T-score và cao nhất đạt 2,6 T-score Chỉ số T-score tập trung nhiều nhất trong khoảng từ -3 T-score đến -2 T-score
Những người ở độ tuổi trên 70 có nguy cơ mắc bệnh LX cao gấp 2,9 lần so với những người dưới
70 tuổi Những người không có thói quen sử dụng các thực phẩm giàu calci có nguy cơ mắc bệnh LX gấp 13,9 lần so với những người có thói quen hay ăn các thực phẩm giàu cacli
Chúng tôi khuyến khích cần tăng cường công tác phòng chống LX cho người cao tuổi, đặc biệt cần tiến hành công tác này cho người dưới 70 tuổi Nội dung phòng chống có thể là tư vấn cho người cao tuổi và gia đình họ về những loại thực phẩm giàu calci có sẵn tại địa phương với giá cả hợp lý Chế biến và khuyến khích người cao tuổi sử dụng thực phẩm giàu calci trong bữa ăn hàng ngày Hỗ trợ người cao tuổi thực hành, duy trì các thói quen có lợi cho hệ xương và từ bỏ các thói quen có hại cho hệ xương
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1 Lê Thị Bích Hằng (2007), Thực trạng LX và một số yếu
tố liên quan ở nam giới 50-75 tuổi tại phường Phương Liên,
quận Đống Đa năm 2007, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công cộng,
Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
2 Nguyễn Thị Kim Dung (2005), Thực trạng và một số yếu
tố liên quan tình trạng LX ở phụ nữ 40-60 tuổi huyện Gia
Lâm, Hà Hội năm 2005, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng,
Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
3 Phạm Thị Hương (2003), Khảo sát bệnh LX ở phụ nữ
trưởng thành Hà nội năm 2003 truy cập từ,
http://viendinhduong.vn/news/vi/128/12/0/a/khaosatbenhl o a n g x u o n g o p h u n u t r u o n g t h a n h h a n o i n a m
-2003.aspx ngày 21/2/2012
4 Thái Phương Oanh (2011), Thực trạng LX và một số yếu
tố liên quan ở người cao tuổi tại phường Láng Hạ, quận
Đống Đa, Hà Nội năm 2011, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công
cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
Tiếng Anh
5 International Osteoporosis Foundation (2009), The Asian audit epidemiology, costs and burden of osteoporosis in Asia 2009, avalaible at http://www.iofbonehealth.org/download/osteofound/filem
anager/publications/pdf/Asian-audit-09/2009-Asian_Audit.pdf accessed by 16/2/2012.
6 International Osteoporosis Foundation (2008), Invest in your bones: stand tall, speak out, avalaible at http://www.iofbonehealth.org/download/osteofound/filema nager/publications/pdf/stand-tall-thematic-report-08-english.pdf accessed by 16/22012.
7 J A Kanis et al (2008), "European guidance for the diagnosis and management of osteoporosis in postmenopausal women".
8 World Health Organization (2003), Prevention and management of osteoporosis, chủ biên, http://libdoc.who.int/trs/WHO_TRS_921.pdf download 21/2/2012.
9 W.P Chan, J.F Liu & W.L Chi (2004), "Evaluation of bone mineral density of the lumbar spine and proximal femur in population-based routine health examinations of healthy asians", Acta Radiol(45), pp 59-64.