1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan

82 501 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

41 Bảng 15: Mô hình hồi quy logistics phân tích mối liên quan của các yếu tố cá nhân gia đình với chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN..... x Xét riêng trong nhóm tuổi học đường là n

Trang 1

Ở LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN VIỆT NAM NĂM 2010

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.76

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

Ở LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN VIỆT NAM NĂM 2010

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

MÃ SỐ: 60.72.76

Hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM VIỆT CƯỜNG

HÀ NỘI, 2010

Trang 3

iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CDC : Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ

ĐH : Đại học

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

EAs : Đơn vị mẫu (50 hộ gia đình)

PC 2010 : Điều tra di biến động dân số Việt Nam năm 2010

SAVY 1 : Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 1 SAVY 2 : Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 2 TNTT : Tai nạn thương tích

TBXH : Thương binh xã hội

VTN&TN : Vị thành niên và thanh niên

VNIS 2010 : Điều tra Quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010

YTCC : Y tế Công Cộng

Trang 4

iv

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1 Những khái niệm liên quan 4

1.1 Khái niệm và phân loại chấn thương chung 4

1.2 Khái niệm và phân loại bạo lực: 4

1.3 Khái niệm VTN&TN 5

2 Tình hình bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN trên thế giới và Việt Nam: 6

3 Bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN: Đặc điểm, yếu tố nguy cơ, hậu quả và biện pháp ngăn chặn 8

3.1 Đặc điểm bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN 8

3.2 Các yếu tố nguy cơ dẫn tới bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN 9

3.3 Hậu quả của bạo lực 13

3.4 Có thể làm gì để ngăn chặn bạo lực thanh thiếu niên? 15

4 Các nghiên cứu về bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN đã tiến hành 19

4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 19

4.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 20

5 Điều tra quốc gia tai nạn thương tích năm 2010 (VNIS 2010) 22

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

1 Đối tượng: 23

2 Thời gian và địa điểm: 23

3 Thiết kế nghiên cứu: 23

4 Phương pháp chọn mẫu: 23

5 Kỹ thuật thu thập thông tin: 23

6 Xử lý và phân tích số liệu: 24

7 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu: 25

8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu: 26

Trang 5

v

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 27

2 Tỷ suất chấn thương do bạo lực trong lứa tuổi VTN&TN 30

3 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình với chấn thương do bạo lực 40

Chương 4: BÀN LUẬN 45

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 45

2 Tỷ suất chấn thương do bạo lực trong lứa tuổi VTN&TN 45

3 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình với chấn thương do bạo lực 50

4 Vấn đề về cỡ mẫu và phiên giải kết quả 52

5 Hạn chế của nghiên cứu 53

Chương 5: KẾT LUẬN 55

1 Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN Việt Nam 55

2 Mối liên quan giữa một số yếu tố với chấn thương do bạo lực 56

Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 63

Phụ lục 1: Giới thiệu nghiên cứu VNIS 2010 63

Phụ lục 2: Khung lý thuyết của nghiên cứu 65

Phụ lục 3: Các biến trong nghiên cứu 66

Phụ lục 4: Thiết kế và ước lượng mẫu của VNIS 2010 68

Phụ lục 5: Tóm tắt bộ câu hỏi của VNIS 2010 và câu hỏi của nghiên cứu 71

Trang 6

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo giới tính và nhóm tuổi

tính trên 100.000 VTN&TN 31

Bảng 2: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo khu vực tính trên 100.000 VTN&TN 31

Bảng 3: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo giới tính và khu vực tính trên 100.000 VTN&TN 31

Bảng 4: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo vùng và giới tính tính trên 100.000 VTN&TN 32

Bảng 5 : Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo số nhân khẩu trong gia đình tính trên 100.000 VTN&TN………33

Bảng 6: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo tình trạng hôn nhân tính trên100.000 VTN&TN……… 34

Bảng 7: Tỷ lệ % chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo nhóm tuổi và địa điểm xảy ra TNTT 36

Bảng 8: Tỷ lệ % chấn thương do bạo lựcVTN&TN phân theo nhóm tuổi và hoạt động khi TNTT xảy ra 37

Bảng 9: Phân bố tỷ lệ % nguyên nhân chấn thương do bạo lực theo nhóm tuổi 38

Bảng 10: Tỷ suất chấn thương do bạo lực phân theo nhóm tuổi và mối quan hệ giữa nạn nhân và người gây thương tích tính trên 100.000 VTN&TN 39

Bảng 11: Tỷ lệ % phân theo kết quả điều trị 40

Bảng 12: Mối liên quan giữa đánh nhau/ hành hung và tuổi của ĐTNC 40

Bảng 13: Mối liên quan giữa đánh nhau/ hành hung và giới 41

Bảng 14: Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực và tình trạng hôn nhân của ĐTNC 41

Bảng 15: Mô hình hồi quy logistics phân tích mối liên quan của các yếu tố cá nhân gia đình với chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN 42

Trang 7

vii

Bảng 16: Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực và giới trong nhóm 10-17 tuổi 43 Bảng 17: Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực trong nhóm 10-17 tuổi và nghề nghiệp của cha……… 43 Bảng 18: Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực trong nhóm 10-17 tuổi và

số nhân khẩu trong gia đình……… ……44

Trang 8

viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Phân bố tỷ lệ % theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 27

Biểu đồ 2: Phân bố tỷ lệ % theo giới tính và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 27 Biểu đồ 3: Phân bố tỷ lệ % theo khu vực sống của đối tượng nghiên cứu 28

Biểu đồ 4: Phân bố tỷ lệ % theo vùng điều tra 28

Biểu đồ 5: Phân bố tỷ lệ % theo bậc học cao nhất của đối tượng nghiên cứu 29

Biểu đồ 6 : Phân bố tỷ lệ % nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 29

Biểu đồ 7 : Phân bố tỷ lệ % theo tình trạng hôn của đối tượng nghiên cứu 30

Biểu đồ 8: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo điều kiện kinh tế hộ gia đình tính trên 100.000 VTN&TN 33

Biểu đồ 9 : Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo trình độ học vấn tính trên 100.000 VTN&TN 34

Biểu đồ 10: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo nghề nghiệp tính trên 100.000 VTN&TN 35

Trang 9

ix

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN đang là vấn đề mà hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới phải đối mặt Điều đáng lo ngại là trong khi xã hội ngày càng phát triển tiến bộ, lớp người trẻ tuổi được quan tâm, chăm sóc đầy đủ hơn về vật chất và tinh thần nhưng bạo lực trong nhóm này lại có xu hướng tăng, kéo theo đó là những ảnh hưởng cho cá nhân, gia đình, cộng đồng Và Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu hướng đó, kết quả của một số cuộc điều tra trên toàn quốc cũng như qua các số liệu thống kê cho thấy bạo lực trong lứa tuổi VTN&TN Việt Nam những năm gần đây thật sự đáng báo động Vì vậy để trả lời cho câu hỏi vấn đề bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN như thế nào? các yếu tố liên quan là gì? chúng tôi tiến hành nghiên cứu

về vấn đề chấn thương do bạo lực ở VTN&TN Việt Nam

Nghiên cứu cắt ngang mô tả này là một đề tài nhánh của điều tra Quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010 (VNIS 2010) Số liệu của nghiên cứu được lấy ra từ cấu phần điều tra về TNTT không tử vong (bao gồm 50.000 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên hệ thống) Toàn bộ thông tin về những người trong độ tuổi 10 – 24 tuổi được rút ra và phân tích Các sự kiện chấn thương do bạo lực của các đối tượng VTN&TN trong hộ gia đình, các yếu tố liên quan đến chấn thương do bạo lực ở cấp

độ cá nhân, gia đình, những hậu quả chấn thương do bạo lực được thu thập bằng bộ câu hỏi tại hộ gia đình Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2010 – 6/2011 tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước

Kết quả nghiên cứu: tỷ suất chấn thương do bạo lực chung trong nhóm VTN&TN là 124/100.000 Con số này cao hơn hẳn ở nông thôn so với thành thị, ở nam so với nữ, trong nhóm VTN&TN chưa kết hôn so với nhóm đã lập gia đình Hoạt động phổ biến nhất khi khi TNTT xảy ra là khi đang học tập, chiếm tỷ lệ cao nhất 39,6%

Trong số các vụ đánh nhau/ hành hung xảy ra thì nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là mâu thuẫn trong quan hệ hàng xóm, bạn bè, chiếm 69,3% Hầu hết người gây thương tích cho nạn nhân là người lạ với tỷ suất là 63,5/100.000

Trang 10

x

Xét riêng trong nhóm tuổi học đường là nhóm 10-17 tuổi cho thấy một loạt bằng chứng cho vấn đề chấn thương do bạo lực học đường: địa điểm thường xuyên xảy ra chấn thương do bạo lực là tại trường học với tỷ lệ 34,1%; hoạt động khi chấn thương do bạo lực xảy ra đặc biệt cao là khi đang học tập, chiếm tới hơn một nửa (51,6%); nguyên nhân dẫn đến chấn thương do bạo lực thì có tới 76,8% là do mâu thuẫn trong quan hệ bạn bè; mối quan hệ giữa nạn nhân và người gây thương tích chủ yếu là bạn bè đồng nghiệp với tỷ suất 43/100.000, gần gấp đôi tỷ suất VTN&TN bị người lạ hành hung gây thương tích

Tỷ suất nằm viện do chấn thương là 74,3/100.000 Hầu hết các trường hợp nằm viện do chấn thương do bạo lực đều kết thúc điều trị và không để lại di chứng, hoặc di chứng có thể phục hồi được

Tìm hiểu mối liên quan hai biến cũng như đa biến cho thấy các yếu tố: nam giới, độ tuổi 15-24, chưa kết hôn là những yếu tố làm tăng nguy cơ của việc VTN&TN tham gia vào bạo lực Trong nhóm 10-17 tuổi: có mối liên quan giữa nghề nghiệp của cha và việc con có tham gia vào bạo lực, trẻ trong gia đình ít con

có nguy cơ tham gia vào bạo lực cao gấp 8,4 lần so với trẻ trong gia đình nhiều con

Kết quả cho thấy vấn đề chấn thương do bạo lực của VTN&TN ở Việt Nam

là rất cao, đặc biệt là chấn thương do bạo lực học đường Từ đó cũng thấy được sự cần thiết phải có những giải pháp tăng cường giáo dục của nhà trường, gia đình trong việc giảm thiểu chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN Việt Nam trong thời gian tới

Trang 11

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương và bạo lực là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới với mức độ nhanh chóng, ảnh hưởng đến tất cả các lứa tuổi, các dân tộc và tình trạng kinh tế xã hội Theo ước tính mỗi năm có khoảng

5 triệu người tử vong do tất cả các nguyên nhân chấn thương [5] Tuy nhiên con số này vẫn có thể còn thấp hơn so với thực tế, đặc biệt là ở những nước có thu nhập thấp và trung bình nơi các hệ thống giám sát và số liệu còn nhiều hạn chế

Chấn thương bao gồm hai cấu phần: chủ định và không có chủ định Chấn

thương không có chủ định thường được hiểu như một “tai nạn” Trong khi đó, chấn thương chủ định (chấn thương do bạo lực) là những chấn thương có sự chuẩn bị trước, hoặc do chính những nạn nhân chủ định gây ra (tự tử hoặc cố gắng tự tử) hoặc do người khác (đánh nhau, hành hung, hiếp dâm, lạm dụng) Và điều đáng lo ngại là trong những năm gần đây, mặc dù xã hội ngày càng phát triển, nhưng tình trạng bạo lực lại trở thành vấn nạn của nhiều quốc gia Với sự biến động của tình hình kinh tế, những bất ổn trong đời sống xã hội…đã và đang tác động đến tâm sinh

lý của mọi tầng lớp, đặc biệt đối với nhóm đối tượng nhạy cảm là VTN&TN Bạo lực ở nhóm người trẻ tuổi này là vấn đề nổi cộm hiện nay, có thể bắt gặp ở bất kỳ đâu trên khắp thế giới, báo chí và truyền thông đưa tin hàng ngày về vấn đề xung đột giữa các băng nhóm, đánh nhau, hành hung trong trường học, trên đường phố, bạo hành gia đình

Năm 2000, ước tính có khoảng 199.000 vụ giết người trong lứa tuổi VTN&TN xảy ra trên toàn cầu (tỷ suất 9,2/100.000 dân), nói cách khác, trung bình

có khoảng 565 trẻ VTN&TN chết mỗi ngày do bạo lực giữa các cá nhân [11]

Tại Mỹ bạo lực là nguyên nhân đứng thứ hai trong những nguyên nhân gây

tử vong ở nhóm 10 – 24 tuổi Trong năm 2007, có 5.764 người trong độ tuổi 10 –

24 bị giết, tương đương với 16 người/ ngày Thống kê năm 2008, có hơn 650.000 trường hợp được điều trị tại các cơ sở y tế bởi chấn thương do bạo lực trong nhóm

10 – 24 tuổi [10]

Trang 12

2

Tại Việt Nam, theo Điều tra về VTN&TN (SAVY 1) năm 2005 cho thấy trong số 7.584 người được hỏi có tới 8% thanh thiếu niên cho biết đã từng bị người ngoài đánh bị thương tích Có 2,5% số đối tượng được phỏng vấn nói rằng đã từng

tụ tập gây rối [2] Tuy nhiên con số này có thể thấp hơn thực tế liên quan đến những hành vi phi đạo đức và phạm pháp mà mọi người luôn luôn không muốn thừa nhận khi được hỏi

Cũng theo các số liệu mới nhất của SAVY 2 năm 2010, có 1,4% thừa nhận

đã từng đánh người khác, 7,6% thừa nhận đã từng bị chấn thương do người ngoài đánh (trong tổng số 10.044 người trả lời) [3]

Các con số thống kê ở trên đã cho thấy bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN là một cấu phần quan trọng, cần được quan tâm đúng mức, kịp thời do sự lan nhanh và tính ảnh hưởng của nó đến xã hội: giảm chất lượng cuộc sống, giảm năng suất lao động, tăng gánh nặng bệnh tật…, làm xã hội suy yếu vì nhóm VTN&TN là tương lai, tài sản của mỗi một quốc gia

Với mong muốn góp phần đưa ra những cảnh báo cho gia đình, nhà trường

và xã hội về một vấn đề có thể ngăn ngừa được, tuy phức tạp và khó đi tìm câu trả lời thỏa đáng, nghiên cứu này được tiến hành dưới hỗ trợ và giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội với mục đích tìm hiểu thực trạng bạo lực trong lứa tuổi VTN&TN Việt Nam, bên cạnh đó tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng bạo lực và tự tử,

từ đó cung cấp các bằng chứng giúp đạt được hiệu quả trong việc hoạch định chính sách Nghiên cứu này là một đề tài nhánh nằm trong khuôn khổ điều tra quốc gia về tai nạn thương tích ở Việt Nam năm 2010

Trang 13

3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng chấn thương do bạo lực trong lứa tuổi vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2010

2 Xác định một số yếu tố cá nhân và gia đình liên quan đến chấn thương do bạo lực trong lứa tuổi vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2010

Trang 14

4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Những khái niệm liên quan

1.1 Khái niệm và phân loại chấn thương chung

Thuật ngữ chấn thương được dùng để mô tả tổn thương thực thể của cơ thể phải chịu một tác động đột ngột hoặc quá nhanh ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể Nó có thể là tổn thương trên cơ thể do phải chịu một lực tác động vượt quá sức chịu đựng, hoặc rối loạn chức năng do thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống (không khí, nước, nhiệt độ phù hợp) như đuối nước, ngạt hoặc bị lạnh cóng [5]

Chấn thương có thể được phân loại theo nhiều cách Một phương pháp được dùng phổ biến để phân loại chấn thương là dựa vào sự có chủ ý hay không chủ ý của nạn nhân và người khác Theo cách phân loại này, chấn thương được chia làm

1.2 Khái niệm và phân loại bạo lực:

Bạo lực được định nghĩa theo rất nhiều cách, nhưng theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới trong “Báo cáo toàn cầu về bạo lực và sức khỏe” thì bạo lực là:

“Việc cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực đối với bản thân,

Trang 15

- Tự gây bạo lực trong đó thủ phạm và nạn nhân là một người và được chia

thành tự lạm dụng và tự tử

- Bạo lực giữa các cá nhân được chia thành hai nhóm:

Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Thể loại bạo lực này rất phổ biến giữa

các thành viên trong gia đình và với bạn tình Thể loại bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục, hành hạ người cao tuổi

Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ

ruột thịt, họ có thể quen biết nhau hoặc không quen biết nhau trước đây Thể loại bạo lực này bao gồm bạo lực ở giới trẻ, các hành động bạo lực ngẫu hứng, hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở, nhà tù

- Bạo lực tập thể liên quan đến bạo lực có động cơ rõ ràng và có sự cam kết

của các nhóm lớn hoặc một tổ chức và có thể được chia thành bạo lực chính trị, kinh tế và xã hội

Định nghĩa trên cũng công nhận rằng tác hại của bạo lực có thể là về thể chất, tình dục, tâm lý, hoặc liên quan đến sự thiếu thốn, bỏ bê

1.3 Khái niệm VTN&TN

Theo Tổ chức Y tế thế giới “vị thành niên” được định nghĩa là thời kỳ trong

độ tuổi 10-19, “thanh niên” là nhóm tuổi từ 15-24 và khái niệm “thanh thiếu niên” ở đây được hiểu kết hợp trong độ tuổi 10-24

VTN&TN thường được xem là lứa tuổi đang tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi “tôi là ai?” Đây là nhóm luôn là tâm điểm chú ý của các bậc cha mẹ, nhà trường, cộng đồng, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách và

Trang 16

6

quản lý xã hội, bởi vì hiện nay với sự biến đổi xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, VTN&TN có nhiều cơ hội phát triển mới nhưng đồng thời cũng có nhiều nguy cơ phơi nhiễm với những áp lực và hiện tượng chưa từng xảy ra trước đây Trên chặng đường quá độ thành người trưởng thành, vị thành niên phải xây dựng và củng cố một hệ thống giá trị, trở nên độc lập hơn và trải qua hàng loạt những thay đổi về thể chất, tinh thần và xã hội Đây cũng là giai đoạn mà thanh thiếu niên thường tò mò

và thử những hành vi tương đối nguy hại

Tại Việt Nam hiện nay, nhóm VTN&TN đang chiếm một tỷ trọng lớn Theo Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2010 của Tổng cục Thống

kê, năm 2010 dân số nhóm 10-24 tuổi chiếm 26,7% tổng dân số [4]

2 Tình hình bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN trên thế giới và Việt Nam:

Năm 2000, có 199.000 vụ giết người của thanh niên xảy ra trên toàn cầu, ước tính 9,2 vụ/100.000 dân Nói cách khác, có trung bình 565 VTN&TN trong độ tuổi

từ 10-29 chết mỗi ngày do bạo lực giữa các cá nhân Tỷ lệ các vụ giết người có khác nhau đáng kể theo từng khu vực, dao động từ 0,9 vụ/100.000 dân trong các quốc gia thu nhập cao của Châu Âu và các bộ phận của châu Á và Thái Bình Dương, 17,6 vụ/100.000 tại châu Phi và 36,4 vụ/100.000 dân tại Mỹ Latinh [11]

Tại Mỹ, tình trạng bạo lực đang leo thang và trở nên đáng báo động khi nó là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong cho lứa tuổi 10 – 24 Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC), năm 2007, có 5.764 người trong độ tuổi 10-24 đã bị giết, trung bình là 16 người/ ngày Năm 2008, hơn 656.000 ca chấn thương do bạo lực ở thanh thiếu niên đã được điều trị tại các phòng cấp cứu Mỹ [10] Và kết quả cuộc điều tra toàn quốc năm 2009 cho thấy, khoảng 32% số học sinh trung học trả lời đã từng tham gia vào ít nhất một cuộc đánh nhau trong vòng

12 tháng trước thời điểm điều tra [20]

Trong một cuộc khảo sát về an toàn cá nhân được tiến hành tại Australia năm

2005 cho thấy 12% phụ nữ tuổi 18-24 bị tấn công bởi một người đàn ông trong vòng 12 tháng qua, 3% trong số này bị tấn công bởi một người phụ nữ Tỷ lệ nam

độ tuổi 18-24 bị tấn công bởi một người cùng giới là 19% cao gấp gần 5 lần so với

Trang 17

7

nam độ tuổi từ 25 trở lên (4%) Có tới 29% nam giới tuổi từ 18-19 tham gia vào bạo lực, cao hơn hẳn so với tỷ lệ này ở nhóm 20-24 tuổi (15%) [7] Từ năm 1997 đến năm 2007, tỷ lệ vị thành niên tại Australia bị buộc tội hành hung tăng 48% [8], một con số không hề nhỏ

Tại Liên bang Nga Tội phạm bạo lực đã tăng lên đáng kể tại kể từ cuối năm

1980 Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Văn phòng khu vực Châu Âu: Nga có tỷ lệ cao nhất của bạo lực trong giới trẻ ở châu Âu Mười sáu trong số 100.000 người tuổi từ 10 đến 29 bị giết hại ở Nga mỗi năm từ 2004 đến

2007, một con số thống kê gây sốc Albania và Kazakhstan xếp hạng thứ hai và thứ

ba trên danh sách của WHO, với mức tương ứng 11,2 và 10,7 trên 100.000 ca tử vong ở những người trẻ tuổi Phần còn lại của 10 quốc gia cao nhất cũng bao gồm các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ Belarus, Ukraine, Kyrgyzstan, Estonia, Lithuania và Latvia Theo khảo sát, các nước an toàn nhất cho thanh niên ở châu Âu

là Đức, Áo, Cộng hòa Séc, mức độ tội phạm ở tuổi vị thành niên và thanh niên ở Anh và Pháp thấp hơn 34 lần so với Nga [16]

Tại Việt Nam, theo Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên năm

2003 cho thấy, có 8% thanh thiếu niên (trong tổng số 7.584 người) cho biết đã từng

bị người ngoài đánh bị thương, 2,5% số đối tượng được phỏng vấn nói rằng đã từng

tụ tập gây rối [2] Cũng theo số liệu của cuộc điều tra này lần 2 trên tổng số 10.044 VTN&TN, năm 2008, 7,6% thừa nhận đã từng bị chấn thương do người ngoài đánh, 1,4% thừa nhận đã từng đánh người khác đến mức người đó phải đi điều trị [3]

Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy rằng ở bất kỳ nơi đâu tỷ lệ nữ là nạn nhân của bạo lực luôn thấp hơn nam Điều này chứng tỏ rằng nam là nhóm dân số

có các yếu tố nguy cơ cao hơn [1] [28] [31]

Trang 18

8

3 Bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN: Đặc điểm, yếu tố nguy cơ, hậu quả và biện pháp ngăn chặn

3.1 Đặc điểm bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN

Bạo lực được đề cập đến rất nhiều trong vòng 20 năm trở lại đây và được coi như là một vấn đề y tế công cộng trên toàn thế giới Bạo lực xuất hiện dưới nhiều hình thức và tác động đến mọi lĩnh vực của cuộc sống

Ngày nay, bạo lực là một vấn đề lớn phải đối mặt với vị thành niên và thanh niên Một cảnh báo được đưa ra: “Nếu bạn đang trong độ tuổi từ 12 - 24, bạn phải đối mặt với nguy cơ cao nhất là nạn nhân của bạo lực”

Không có lời giải thích duy nhất cho sự gia tăng bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên Nhiều yếu tố khác nhau gây ra hành vi bạo lực Mức độ hiện diện của các yếu tố này càng phổ biến trong đời sống bao nhiêu thì khả năng xảy ra các hành vi bạo lực càng dễ dàng bấy nhiêu

Cũng không bao giờ có câu trả lời đơn giản, xác đáng cho câu hỏi “nguyên nhân của bạo lực là gì?”,”lý do tại sao những người trẻ tuổi tham gia vào bạo lực?”, nhưng các nhà khoa học đã xác định được một số yếu tố liên quan đã khiến trẻ em

và thanh thiếu niên có nguy cơ dẫn đến hành vi bạo lực Yếu tố nguy cơ có thể được tìm thấy trong cá nhân, môi trường, hoặc khả năng của cá nhân để đáp ứng các yêu cầu của môi trường Một số yếu tố xuất hiện khi còn nhỏ hoặc thậm chí trước đó, trong khi số khác không xuất hiện cho đến tuổi vị thành niên Một số liên quan đến gia đình, những người khác, khu phố, trường học, hoặc nhóm đồng đẳng

Hành vi bạo lực thường diễn ra vì một hoặc nhiều điều sau đây:

Thể hiện cảm xúc: Một số người sử dụng bạo lực để giải phóng cảm giác tức

giận hay thất vọng Bế tắc trong việc tìm câu trả lời cho vấn đề của mình, họ sử dụng bạo lực như một cách để thể hiện và kiểm soát cảm xúc

Sự lôi kéo: Bạo lực được sử dụng như là một cách để kiểm soát những người

khác hoặc nhận được cái mà họ muốn

Trả thù: Bạo lực được sử dụng để trả đũa lại những người đã làm tổn thương

họ hoặc những người mà họ quan tâm

Trang 19

9

Bạo lực là một hành vi học được: cũng giống như tất cả các hành vi được học

khác, nó có thể thay đổi, mặc dù không phải dễ dàng Vì không có một nguyên nhân duy nhất nên cũng không có một giải pháp đơn giản để giải quyết bạo lực Việc tốt nhất mà bản thân mỗi người có thể làm là học cách nhận ra những dấu hiệu cảnh báo bạo lực ở bạn bè, những người xung quanh và chính bản thân mình

Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ bạo lực ở thanh thiếu niên, tuy nhiên

sự hiện diện của các yếu tố này không đồng nghĩa với việc thanh thiếu niên đó chắc chắn sẽ có hành động bạo lực

3.2 Các yếu tố nguy cơ dẫn tới bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN

Hành vi bạo lực ở VTN&TN là kết quả tích lũy của sự tương tác của nhiều yếu tố - gia đình, cá nhân, cộng đồng và xã hội Và qua việc tổng kết các nghiên cứu đã được tiến hành, Tổ chức y tế thế giới đã xây dựng nên mô hình sinh thái, thể hiện mối liên quan giữa các yếu tố này tác động đến vấn đề bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN [17]

Yếu tố cá nhân

Ở mức độ cá nhân, các yếu tố gây ảnh hưởng tới các hành vi nguy cơ dẫn đến bạo lực bao gồm: sinh học, tâm lý và hành vi tính cách Các yếu tố này có thể đã xuất hiện từ khi còn nhỏ hoặc khi đang dậy thì và mức độ thay đổi phụ thuộc vào môi trường gia đình, bạn bè và các yếu tố văn hóa và xã hội

Yếu tố sinh học:

Một nghiên cứu tại Brazil đưa ra giả thuyết rằng cho con bú có thể bảo vệ chống lại sự phát triển của hành vi bạo lực Giả thuyết này căn cứ trên cơ chế sinh học là trong sữa mẹ có sự hiện diện của các chất góp phần phát triển thần kinh, bên cạnh đó yếu tố hành vi và cảm xúc – sự kết nối tình cảm giữa mẹ và con khi bú - có thể ức chế sự xuất hiện của hành vi phạm tội sau này [19] Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về vấn đề này do vậy chưa có nhiều bằng chứng thuyết phục

Với rất nhiều các nghiên cứu đã tiến hành, thì tuổi được coi là một trong số các yếu tố nguy cơ của bạo lực Ở nhóm VTN&TN, bạo lực giữa các cá nhân thường phổ biến hơn ở lứa tuổi thấp [22] Giải thích được đưa ra là thanh thiếu niên

Trang 20

Mối liên quan giữa giới tính với bạo lực cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu năm 2007 tại 3 trường trung học và 2 trường cao đẳng Nam Delhi Tỷ lệ tham gia vào bạo lực giữa các cá nhân cao hơn đáng kể ở nam giới so với nữ, điều này cũng phù hợp với các kết luận chung trên thế giới cho đến nay, và củng cố lý thuyết cho rằng nam giới có nhiều khả năng tham gia vào bạo lực hơn so với thanh thiếu niên nữ Điều này có thể là do sự khác biệt về tâm sinh lý giữa nam và nữ Trong khi nam giới thường dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn thì nữ lại ít có xu hướng công khai bạo lực thể chất [28]

Yếu tố tâm lý và hành vi cá nhân

Các tính cách cơ bản và các hành vi có tính dự báo khả năng xảy ra bạo lực ở VTN&TN là [10] [13]:

 Lạm dụng rượu, chất gây nghiện

Thanh thiếu niên sử dụng ma túy, hút thuốc hoặc uống rượu thường xuyên thể hiện nhiều hành động bạo lực hơn [30] [32] [33] Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu ở nhóm thanh thiếu niên tại Scotland, thấy rằng sử dụng ma túy có liên quan với hành vi bạo lực gia tăng ở thanh thiếu niên [27]

Nghiên cứu khác trên 7511 học sinh trong lứa tuổi 15 – 19 tuổi ở Bồ Đào Nha cũng cho kết quả tương tự: có mối quan hệ chặt chẽ giữa hành vi hút thuốc,

Trang 21

11

uống rượu với bạo lực Nghiên cứu này cũng cho thấy những đối tượng sử dụng cần

sa thường tham gia vào các hành vi bạo lực nhiều hơn các đối tượng khác [31]

Trí thông minh thấp và kết quả học tập ở trường kém cũng có mối liên quan với bạo lực ở giới trẻ

Các mối quan hệ

Các yếu tố nguy cơ về mặt cá nhân được nêu ở trên không bao giờ tồn tại tách biệt với các yếu tố nguy cơ khác Các yếu tố liên quan tới mối quan hệ của giới trẻ như gia đình, bạn bè, bạn đồng lứa cũng đồng thời ảnh hưởng đến các hành vi bạo lực

và hiếu chiến ở chúng Gia đình luôn có tác động mạnh mẽ nhất trong suốt thời thơ

ấu, trong khi ở tuổi vị thành niên ảnh hưởng của bạn bè và đồng trang lứa lại gia tăng

Ảnh hưởng của gia đình

Hành vi của cha mẹ và môi trường của gia đình là yếu tố trung tâm của việc phát triển các hành vi bạo lực ở giới trẻ Việc giám sát và theo dõi con cái lỏng lẻo của bố mẹ và việc mắng chửi, đánh đập khi giáo dục con cái sẽ báo hiệu các hành động bạo lực khi chúng khi trưởng thành [11]

Theo một nghiên cứu của McCord ở Boston, Mỹ trên 250 trẻ đã thấy rằng, nếu trẻ 10 tuổi thiếu sự giám sát của bố mẹ, bị cha mẹ sử dụng các hình phạt bằng chửi bới, đánh đập sẽ làm gia tăng nguy cơ bị kết án do tham gia bạo lực cho đến năm 45 tuổi [11]

Thu nhập gia đình là đặc trưng kinh tế xã hội có mối liên quan chặt chẽ với bạo lực ở VTN&TN Những trẻ sinh ra trong các gia đình nghèo có khả năng phạm tội cao hơn so với những trẻ sống trong gia đình khá giả [22]

Một nghiên cứu ở Arizona cho thấy rằng các bà mẹ có nhiều con ít có khả năng giám sát con của mình [24] Bên cạnh đó, gia đình đông con thường là những gia đình nghèo, sống ở những nơi có mật độ tội phạm cao, do vậy trẻ có thể tiếp xúc

dễ dàng hơn với vũ khí, ma túy và rượu [18] Các yếu tố này làm tăng nguy cơ phạm tội ở giới trẻ

Ngoài ra, các gia đình có bà mẹ độc thân và không có học thức thường xuyên phải đối mặt với các khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày Điều này đã

Trang 22

12

làm giảm khả năng giáo dục con cái và bà mẹ khó cung cấp các kỹ năng phù hợp để giải quyết tình huống khi con gặp khó khăn, mâu thuẫn Tình trạng này đã được nhấn mạnh như là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với các hành vi bạo lực và phạm tội ở trẻ [23] Nghiên cứu tại Malaysia cũng cho kết quả tương tự: thanh thiếu niên sống cùng bà mẹ độc thân có nhiều khả năng tham gia vào các cuộc đánh nhau hơn so với người ở cùng cả cha và mẹ [25]

Có mối liên quan giữa bạo lực ở con cái với tuổi của bà mẹ Một nghiên cứu tại Brazil cho thấy con gái của bà mẹ vị thành niên có nguy cơ tham gia vào bạo lực

và phạm pháp cao hơn gấp 3 lần so với con gái của bà mẹ trưởng thành [19]

Theo nghiên cứu, điều này là do mối quan hệ nhân quả, bà mẹ vị thành niên là một dấu hiệu của các yếu tố khác dự đoán cho hành vi bạo lực Với phụ nữ trong tuổi vị thành niên, khả năng trở thành mẹ cao hơn ở những người nghèo so với những người khá giả Và khi đó điều kiện kinh tế của những bà mẹ trẻ này cùng với việc thiếu kỹ năng giáo dục con cái đã trở thành yếu tố gián tiếp tác động đến hành

vi bạo lực của trẻ Mặt khác, nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết, là những đứa trẻ sinh ra từ bà mẹ vị thành niên thường là do mang thai ngoài ý muốn, điều này có thể làm cho bà mẹ không yêu thương đứa con của mình, dẫn đến sự trừng phạt về thể chất sau này, từ đó ảnh hưởng đến hành vi của trẻ

Ảnh hưởng của bạn bè

Ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa ở lứa tuổi vị thành niên nói chung được xem xét như các yếu tố khá quan trọng và tích cực trong mối quan hệ cá nhân nhưng bên cạnh đó chúng cũng có các tác động tiêu cực Có bạn bè phạm tội cũng

có liên quan đến bạo lực ở những người trẻ [11]

Nghiên cứu cắt ngang trên 4.500 học sinh tại Malaysia cho thấy khi chơi cùng với những học sinh bỏ học thì nguy cơ tham gia vào các hành vi bạo lực ở thanh thiếu niên tăng lên [26]

Yếu tố cộng đồng

Cộng đồng nơi mà thanh thiếu niên đang sống có ảnh hưởng rất quan trọng tới gia đình họ cũng như các nhóm bạn đồng đẳng của họ Nhìn chung các thanh

Trang 23

tỷ lệ bạo lực ở giới trẻ: ví dụ các hành động và ăn nói cộc cằn, thô lỗ, thiếu niềm tin

và sự quan tâm giữa các thành viên cộng đồng

Có một số bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc với bạo lực trên truyền hình và các trò chơi bạo lực liên quan tới sự gia tăng tính hung hãn ở trẻ em, và sự hung hăng này làm tăng nguy cơ tham gia vào các hành vi bạo lực Điều tra quốc gia trực tuyến tại Mỹ với 1.588 thanh niên đã được tiến hành vào năm 2006 cho thấy mặc dù tiếp xúc với bạo lực trong truyền thông không phải là lý do duy nhất cho bạo lực thanh thiếu niên nhưng nó cũng góp phần làm tăng nguy cơ [34]

Yếu tố xã hội

Một số yếu tố xã hội có thể dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên vi phạm pháp luật liên quan đến bạo lực như: Thay đổi dân số và xã hội, phân hóa giàu nghèo, cơ cấu chính trị, ảnh hưởng của văn hóa…

Xã hội bất bình đẳng đóng một vai trò quan trọng trong các căn nguyên của bạo lực [21] [27] Tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng cao, nghèo đói và sự không chắc chắn

về tương lai được cho là có liên quan với việc làm tăng nguy cơ của bạo lực [21] Trên đây là các yếu tố liên quan đến bạo lực ở VTN&TN đã được nhiều nghiên cứu chứng minh và đã được WHO thiết kế thành một khung lý thuyết cho mọi nghiên cứu về bạo lực ở giới trẻ (Phụ lục 2) Nghiên cứu này chỉ phân tích các yếu tố liên quan ở cấp độ cá nhân và gia đình và một yếu tố xã hội (vùng sinh thái) đến vấn đề bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN

3.3 Hậu quả của bạo lực

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên kéo dài trong độ tuổi từ 10 đến 24, nhưng các

mô hình dẫn đến bạo lực có thể bắt đầu từ sớm hơn rất nhiều, trong thời thơ ấu Có rất nhiều hậu quả của bạo lực thanh thiếu niên - đối với thủ phạm, các nạn nhân và

Trang 24

đô la phí tổn cho chăm sóc sức khỏe do hậu quả của bạo lực hàng năm trên thế giới, ngoài ra còn hàng tỷ đô la khác do thiệt hại về kinh tế của các quốc gia do mất ngày công lao động, thiệt hại sức lao động và cơ hội đầu tư

Hành vi bạo lực là tốn kém, cả về con người và kinh tế Trong năm 2005, có khoảng 308.200 ca nhập viện liên quan đến bạo lực tại Hoa Kỳ, với tổng giá trị 2,3

tỷ USD chi phí bệnh viện Nạn nhân là nam giới chiếm 82,4% số ca nhập viện, hệ quả là từ các cuộc tấn công, trong khi đó trẻ em gái và phụ nữ chiếm 63,9% liên quan đến ngược đãi và 58,5 % do tự gây ra bạo lực cho bản thân [15]

Thống kê trong năm 2009 của CDC cho thấy gần 700.000 thanh niên trong độ tuổi từ 10 và 24 được điều trị tại phòng cấp cứu mỗi năm cho các thương tích bị gây

ra bởi bạo lực ở giới trẻ liên quan đến các cuộc tấn công Trong một cuộc khảo sát toàn quốc của học sinh trung học, khoảng 6% cho biết không đi học vào một hoặc nhiều ngày trong 30 ngày trước cuộc điều tra bởi vì họ cảm thấy không an toàn ở trường hoặc trên đường đến trường và về nhà [10]

Các chi phí kinh tế của bạo lực bao gồm các chi phí trực tiếp của y tế, lập chính sách và dịch vụ pháp lý, và các chi phí gián tiếp của thu nhập và năng suất bị mất, bị mất đầu tư vào con người, vốn, chi phí bảo hiểm cuộc sống và chất lượng cuộc sống giảm Ước tính chi phí giữa các nước rất khác nhau do sử dụng các phương pháp tính toán khác nhau Bạo lực ước tính chi phí của Mỹ tương đương gần 3,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trong năm 2005, 51.173 ca tử vong liên quan đến bạo lực (giết người, tự sát và các biện pháp can thiệp của pháp luật) dẫn đến 47 triệu USD trong chi phí tổng cộng [9] Các chi phí của bạo lực ở Anh và xứ

Trang 25

15

Wales đã được ước tính 40,2 tỷ USD (khoảng 20 tỷ franc) hàng năm Còn theo báo cáo của Viện tội phạm Australia, tại nước này: tội phạm chi phí hết khoảng 36 triệu USD, chi phí của các vụ giết người là 950 nghìn USD mỗi năm Các số liệu này bao gồm chi phí y tế, sản lượng bị mất, và chi phí vô hình như đau và đau khổ và sợ hãi [14]

Ngoài các hậu quả trực tiếp về thể chất là tử vong hoặc thương tích, các hậu quả gián tiếp cho nền kinh tế do bạo lực gây ra, phải đề cập đến cấu phần quan trọng là hậu quả về tinh thần, đặc biệt đối với trẻ em, những ảnh hưởng tâm lý có thể là: trầm cảm, sợ hãi, stress, cảm giác tội lỗi, mặc cảm, trốn tránh cuộc sống, mất khả năng hội nhập xã hội … Những trẻ em và vị thành niên sống và lớn lên trong một môi trường có nhiều hành vi bạo lực: lời nói, hành động, bạo lực tinh thần, tình cảm hay bạo lực thể xác, sẽ làm cho tâm hồn các em bị tổn thương nặng nề, những tổn thương này dần dần ăn sâu vào tiềm thức Vì thế các em lớn lên mà không ý thức được sự tổn thương đã ảnh hưởng đến hành vi và cách ứng xử của bản thân Các đối tượng này có khuynh hướng từ chối cho là mình bạo lực, hoặc không muốn nhớ đến các cảm xúc bị tổn thương trước đây, hoặc sẽ dần dần chai sạn mất cảm xúc với hành vi bạo lực, do đó các em ứng xử bạo lực vói người khác mà không có một cảm nhận gì đối với người bị bạo lực, dẫu cho nạn nhận năn nỉ hay khóc lóc, hoặc dửng dưng khi nhìn một hành vi bạo lực mà không nhận ra đó là hành vi sai trái

Sự tổn thương của tuổi ấu thơ hoặc vị thành niên do hành vi bạo lực gây ra nếu không được điều trị, chúng nằm im trong tiềm thức và sẽ tìm nơi để bộc phát

3.4 Có thể làm gì để ngăn chặn bạo lực thanh thiếu niên?

Bạo lực ở VTN&TN là một vấn đề phức tạp, đa chiều Thanh thiếu niên thường có những suy nghĩ, việc làm bồng bột, manh động, không lường trước hậu quả Bên cạnh đó, ngày nay, VTN&TN đang sống trong một môi trường với nhiều ảnh hưởng của các loại sách báo độc hại, phim ảnh ngoài luồng, thông tin, hình ảnh trên mạng internet, khiến nhiều thanh niên, thiếu niên, học sinh nhiễm thói hung bạo Một chương trình để ngăn chặn bạo lực ở giới trẻ đòi hỏi phải có sự tham gia

Trang 26

16

của nhiều bên liên quan: sự nỗ lực của bản thân VTN&TN, hỗ trợ của gia đình, nhà trường, các chính sách pháp luật đúng đắn của mỗi quốc gia

Mục tiêu phòng chống bạo lực thanh thiếu niên của WHO là [17]:

- Nâng cao nhận thức về hậu quả sức khỏe trước mắt và lâu dài của bạo lực thanh thiếu niên

- Làm nổi bật khả năng có thể ngăn ngừa được của nó

- Ưu tiên phòng chống bạo lực thanh thiếu niên trong các chương trình y tế quốc gia và quốc tế và các chương trình phát triển

- Giảm bạo lực thanh thiếu niên bằng cách hỗ trợ các nước để tăng khả năng

và thiết lập các chính sách phòng chống bạo lực trẻ và các chương trình

- Mở rộng cơ sở bằng chứng toàn cầu bao phủ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình

Sheryl A Hemphill và Rachel Smith đã tổng kết các biện pháp ngăn ngừa bạo lực đã được áp dụng và từ đó đưa ra các chiến lược phòng chống bạo lực theo các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [12]

+ Phương pháp tiếp cận cá nhân:

- Phát triển các kỹ năng xã hội: Chương trình phát triển kỹ năng xã hội nhằm mục tiêu giảm bạo lực và các hành vi chống đối xã hội ở mức độ cá nhân bằng các cải thiện năng lực và kỹ năng xã hội của mỗi cá nhân và thúc đẩy các hành vi tích cực Các chương trình này có thể hướng tới tất cả các học sinh hoặc chỉ tập trung vào nhóm thanh thiếu niên có nguy cơ cao Các chương trình thường tập trung vào:

 Quản lý sự tức giận

 Thay đổi hành vi có hại

 Nâng cao đạo đức

 Xây dựng các kỹ năng xã hội

 Giải quyết các vấn đề xã hội và giải quyết xung đột

- Chương trình phòng chống bạo lực: Thường được triển khai tại các trường học với đối tượng là tất cả các học sinh chứ không chỉ dừng lại ở nhóm có nguy cơ cao Chương trình cung cấp cho học sinh thông tin về các yếu tố nguy cơ của bạo lực và

Trang 27

17

các kỹ năng để phòng tránh nguy cơ đó Các chương trình giảng dạy về phòng chống bạo lực thường tập trung vào:

 Củng cố quan điểm rằng bạo lực có thể ngăn ngừa được

 Giảng dạy cho học sinh rằng sự tức giận là là một điều bình thường trong cuộc sống, và sự tức giận có thể được thể hiện theo nhiều cách tích cực khác chứ không nhất thiết phải thể hiện bằng bạo lực

 Giúp học sinh hiểu rằng việc kiểm soát sự giận dữ và bạo lực là chứng

tỏ sự trưởng thành

 Đưa ra các biện pháp tích cực để bày tỏ sự tức giận cho học sinh

 Giúp học sinh suy nghĩ và vận dụng hành vi tích cực thay thế cho hành vi bạo lực trong các cuộc xung đột

- Tăng cường giám sát hành vi: Chương trình bao gồm việc tăng cường giám sát các hành vi của học sinh tại trường học và tăng cường thông tin liên lạc giữa giáo viên với phụ huynh về hành vi của học sinh ở trường và ở nhà

+ Phương pháp tiếp cận ở cấp độ gia đình:

- Liệu pháp gia đình: Tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên có nguy cơ cao và nhằm mục đích giảm các hành vi nguy cơ ở đối tượng thanh thiếu niên thông qua việc cải thiện mối quan hệ trong gia đình Thông thường, việc trị liệu thường do một bác sỹ tâm lý tiếp xúc với vị thành niên và một hoặc nhiều thành viên trong gia đình

- Tập huấn cho cha mẹ: Chương trình nhằm mục tiêu giảm các hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên thông qua việc nâng cao kỹ năng nuôi dạy con cái của cha mẹ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng, dạy bảo con cái đồng thời thiết lập các quy tắc, kỷ luật thích hợp trong gia đình

+ Phương pháp tiếp cận ở cấp độ mối quan hệ (với những người ngoài gia đình):

Phương pháp nhằm thúc đẩy những ảnh hưởng tích cực trong mối quan hệ giữa thanh thiếu niên và những người khác – những người có ý nghĩa to lớn trong cuộc sống của họ (không phải thành viên gia đình)

+ Phương pháp tiếp cận ở cấp độ trường học:

Trang 28

18

- Đào tạo giáo viên trong quản lý hành vi: Chương trình này thường tập trung vào đối tượng là giáo viên và chiến lược chính của chương trình là:

 Xây dựng mối quan hệ tích cực giữa giáo viên với học sinh

 Giúp giáo viên sử dụng hiệu quả khả năng gây chú ý

 Tăng cường sự khuyến khích và khen ngợi của giáo viên với học sinh

 Sử dụng phương pháp giảng dạy chủ động, bao gồm cả việc học hỏi

về sự đồng cảm, kỹ năng giải quyết các vấn đề trong lớp học của giáo viên

- Cải cách trường học: Chương trình bao gồm một loạt các chiến lược mang tính hệ thống để đạt được các kết quả có hiệu quả trong học tập cũng như trong việc ngăn chặn các hành vi nguy cơ ở học sinh, tạo ra một môi trường học tập, sinh hoạt lành mạnh

+ Phương pháp tiếp cận ở cấp độ cộng đồng:

Phương pháp này nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết hiệu quả các vấn đề trong thanh thiếu niên, đồng thời cũng tạo mối quan hệ vững chắc giữa gia đình, trường học, cộng đồng để ngăn ngừa và giảm thiểu hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên

Ngoài ra còn có các chương trình, hoạt động ngoại khóa bổ ích cho thanh thiếu niên tham gia (chương trình không chỉ đơn giản là cung cấp chỗ chơi) Các chương trình này cung cấp cơ hội để thanh thiếu niên có ”nguy cơ” cao được gặp

gỡ, tiếp xúc và có được những ảnh hưởng tích cực từ bạn bè tốt

Ở cấp độ này còn có một phương pháp được rất nhiều quốc gia áp dụng và cho thấy có hiệu quả đó là giảm sự sẵn có của rượu Nhiều nghiên cứu đã cho thấy ở những cá nhân: tuổi khi bắt đầu uống rượu càng nhỏ, mức độ uống thường xuyên, lượng rượu uống nhiều thì có nguy cơ tham gia vào bạo lực cao hơn hẳn các đối tượng khác Do vậy những nỗ lực của cộng đồng, xã hội để làm giảm sự sẵn có của rượu là rất quan trọng trong chiến lược phòng ngừa bạo lực

+ Phương pháp tiếp cận ở cấp độ xã hội (cấp vĩ mô):

- Làm giảm môi trường (phương tiện) bạo lực

- Chính sách giảm thiểu mức độ nghèo đói ở một số khu vực tại đô thị

- Thay đổi quy tắc (chuẩn mực) văn hóa về các hành vi bạo lực

Trang 29

19

4 Các nghiên cứu về bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN đã tiến hành

4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Bạo lực VTN&TN không phải là vấn đề mới, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Các nghiên cứu hầu hết được tiến hành từ khá lâu (cách đây hàng chục năm), và Tổ chức Y tế Thế giới đã tổng hợp kết quả của các nghiên cứu đó cũng như sử dụng các số liệu báo cáo khác nhau trong cuốn sách

“World report on violence and health” xuất bản năm 2002

Trong 10 năm trở lại đây, vẫn tiếp tục có nhiều các nghiên cứu về vấn đề bạo lực VTN&TN Các nghiên cứu hầu như đều nhằm mục tiêu xác định tần số cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan đến vấn đề bạo lực VTN&TN, như nghiên cứu của Lai-Kah Lee và cộng sự được tiến hành từ tháng 6 – 8/2001 tại Negeri Sembilan (Malaysia) với mục tiêu xác định sự phổ biến của hành vi bạo lực trong thanh thiếu niên và các yếu tố liên quan [26], nghiên cứu của Rahul Sharma và cộng

sự tìm hiểu hành vi nguy cơ của bạo lực giữa các cá nhân và các tương quan dịch tễ học của nó [28] Các mối liên quan được tìm hiểu ở đây chủ yếu tập trung vào yếu

tố cá nhân (tuổi, giới, chủng tộc…) và gia đình (tình trạng hôn nhân của cha mẹ, sống cùng cha mẹ, kinh tế hộ gia đình…), mà ít đề cập đến vấn đề xã hội, có lẽ bởi đây là yếu tố rộng, phức tạp, khó có thể tìm hiểu và đưa ra kết luận bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang như vậy

Các nghiên cứu hầu hết đều áp dụng phương pháp cắt ngang và chỉ dừng lại

ở khuôn khổ hạn chế (trong một vài trường học, một khu vực nhỏ…) với cỡ mẫu không lớn Nhóm đối tượng thiên về vị thành niên, tầm 12-19 tuổi hoặc thấp hơn, vì

có thể đây là nhóm có nhiều biến động về tâm tư, tình cảm, nhóm dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài, và chủ yếu nhất vẫn tập trung vào nhóm học sinh, sinh viên, đây là nhóm dễ quản lý, thuận lợi cho việc chọn mẫu cũng như thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi tự điền [26] [28], một số nghiên cứu sử dụng các số liệu sẵn có của cuộc điều tra trước như nghiên cứu của Eleanor Smith-Khuri và cộng sự [29] Phương pháp chọn mẫu thường được sử dụng là ngẫu nhiên hoặc kết hợp phân tầng

và chọn ngẫu nhiên: chọn mẫu ngẫu nhiên trường, lớp học rồi chọn toàn bộ học sinh

Trang 30

Vì phương pháp nghiên cứu là tương đối giống nhau nên hầu như các nghiên cứu đều có chung hạn chế: chỉ nghiên cứu trong nhóm học sinh vẫn còn đi học, không quan tâm đến đối tượng đã bỏ học (nhóm có nguy cơ cao hơn tham gia vào bạo lực); là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ tìm được yếu tố liên quan và không có cơ

sở kết luận mối quan hệ nhân quả

4.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tuy vấn đề bạo lực VTN&TN gần đây được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông song không có nhiều những nghiên cứu tập trung về vấn đề này Cho đến thời điểm hiện tại đã có hai cuộc nghiên cứu cắt ngang quy mô và toàn diện nhất về thanh thiếu niên Việt Nam là Điều tra Quốc gia

về VTN&TN Việt Nam lần 1 (năm 2003) và lần 2 (năm 2008) hay còn gọi tắt là SAVY 1 và SAVY 2 Nghiên cứu tìm hiểu các thông tin chi tiết về các mặt trong đời sống, tâm tư tình cảm của VTN&TN như: gia đình, giáo dục, lao động việc làm, sức khỏe tình dục, HIV/AIDS, sử dụng các chất gây nghiện, các hành vi có hại cho sức khỏe, tai nạn thương tích và bệnh tật, ước muốn và hoài bão…Vấn đề bạo lực

Trang 31

21

chỉ là một cấu phần nhỏ trong nghiên cứu này SAVY được thực hiện trên cơ sở chọn mẫu đại diện cho toàn bộ VTN&TN từ 14-25 tuổi sống trong hộ gia đình trong toàn quốc Đây là mẫu hệ thống được chọn từ dàn mẫu 45.000 hộ trong cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tổng cục Thống kê Mẫu SAVY là mẫu ngẫu nhiên phân tầng, được chọn nhiều bước và chọn theo cụm đủ để đại diện ở cấp

độ quốc gia cũng như khu vực thành thị/nông thôn SAVY 1 đã phỏng vấn thành công 7.584 VTN&TN trong độ tuổi 14-25 tuổi, SAVY 2 thu thập được thông tin của 10.044 VTN&TN Với cỡ mẫu và cách chọn mẫu như vậy, đảm bảo có thể đưa

ra được các kết quả sát với thực tế và khách quan

Do chỉ là một cấu phần nhỏ của nghiên cứu, bên cạnh đó vì hạn chế của nghiên cứu lớn trên quy mô rộng không cho phép bộ câu hỏi quá dài, phức tạp nên các thông tin thu thập được về vấn đề bạo lực VTN&TN không nhiều, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến vấn đề này Kết quả của cả hai cuộc điều tra chỉ cung cấp các con số mô tả cho độ lớn của vấn đề chứ không xác định các yếu tố liên quan SAVY 1 cho thấy: có 8% thanh thiếu niên cho biết đã từng bị người ngoài đánh gây thương tích, tỷ lệ này là khá cao ở nhóm nam giới; chỉ có 2,5% số đối tượng được phỏng vấn nói rằng đã từng tụ tập gây rối trong đó nam thanh thiếu niên là chủ yếu, con số này tăng đến 8% với nam thành thị 18-21 tuổi [2] Kết quả của SAVY 2 nói đến nhiều hơn về vấn đề bạo lực trong gia đình: trong 1678 trường hợp đã từng kết hôn có 4,1% trả lời đã từng bị vợ/ chồng đánh đập; có 1,4% thừa nhận đã từng đánh người khác đến mức người đó phải đi điều trị với lứa tuổi nhiều nhất là 18-21 và xảy ra nhiều hơn ở khu vực đô thị; có 7,6% thừa nhận đã từng bị chấn thương do người ngoài đánh, nhóm tuổi 18-21 và những thanh niên sống ở khu vực đô thị có tỷ

lệ cao hơn từng bị người ngoài gia đình đánh chấn thương [3]

Với cỡ mẫu lớn và trải rộng khắp cả nước, tuy nhiên, hạn chế của điều tra này là chỉ phỏng vấn những VTN&TN sống trong hộ gia đình mà bỏ qua nhóm thanh niên sống trong các cơ sở tập trung: doanh trại quân đội, trại giam, các trung tâm bảo trợ xã hội, ký túc xá sinh viên, thanh niên di cư, nhóm sống trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương như các nhóm sống trong hoàn cảnh nghèo, nhóm chưa bao

Trang 32

22

giờ đến trường, nhóm trẻ em đường phố … Bên cạnh đó điều tra chỉ dừng lại ở mức

độ mô tả chứ chưa đi tìm hiểu mối liên quan để kết luận các yếu tố nguy cơ

Ngoài hai cuộc điều tra trên còn có báo cáo chuyên đề về bệnh tật, chấn thương và bạo lực ở thanh thiếu niên Việt Nam của TS Lê Cự Linh thuộc khuôn khổ SAVY 2003, trong đó tác giả đã phân tích sâu hơn dữ liệu của SAVY nhằm tìm hiểu kỹ hơn thực trạng chấn thương có chủ định ở giới trẻ, đặc biệt là bạo lực giữa các cá nhân đồng thời phân tích các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ có liên quan Báo cáo sử dụng số liệu sẵn có của SAVY 1 Trong báo cáo này, vấn đề bạo lực VTN&TN không chỉ dừng lại ở mức độ mô tả bằng các con số mà tác giả đã phân tích được một số mối liên quan, cho thấy: đối tượng thanh thiếu niên dễ gây thương tích cho người khác là: nam giới, người đã từng bị say rượu, người đã từng bị người khác gây thương tích có chủ định, người tham gia băng nhóm và mang theo vũ khí [1]

5 Điều tra quốc gia tai nạn thương tích năm 2010 (VNIS 2010) (phụ lục 1)

Mục tiêu của cuộc khảo sát này nhằm triển khai thu thập số liệu với cỡ mẫu đại diện quốc gia để ước lượng các nguyên nhân tử vong, TNTT hàng đầu và các yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi và môi trường dẫn đến các nguyên nhân hàng đầu gây TNTT ở Việt Nam

VNIS 2010 được thiết kế với hai cấu phần: tử vong và TNTT dựa trên khung mẫu của Điều tra di biến động dân số Việt Nam năm 2010 (PC 2010) Đối tượng đích bao gồm người dân Việt Nam sống tại Việt nam trong thời điểm điều tra

Trang 33

23

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3 Thiết kế nghiên cứu:

Cắt ngang mô tả, định lượng

- Chọn nhóm 10-17 tuổi vì theo quy định về độ tuổi đi học của Bộ Giáo dục

và Đào tạo thì nhóm 10-17 tuổi là nhóm đang học THCS hoặc PTTH; tìm hiểu các vấn đề về chấn thương do bạo lực trong nhóm này để có thể xác định mức độ của vấn đề bạo lực học đường

5 Kỹ thuật thu thập thông tin:

- Phương pháp thu thập: Phỏng vấn

Người cung cấp thông tin: Chủ hộ gia đình

Trang 34

24

Trường hợp chủ hộ đi vắng hoặc không có khả năng cung cấp thông tin của các thành viên trong hộ (quá già, ốm yếu.), thì có thể gặp một thành viên là người lớn của hộ để phỏng vấn (tốt nhất là phụ nữ)

Nếu người đại diện của hộ không nhớ chính xác về mục nào đó của một thành viên trong hộ, thì phải gặp để hỏi trực tiếp thành viên đó

Trường hợp hộ không có một thành viên nào là người lớn ở nhà thì hẹn quay lại hộ vào thời gian khác

- Công cụ: Bộ câu hỏi định lượng Bộ câu hỏi này được trích lọc từ bộ câu hỏi của

VNIS 2010 (phụ lục 5)

6 Xử lý và phân tích số liệu:

- Các số liệu điều tra không tử vong sau khi thu thập sẽ được làm sạch và nhập liệu bằng công nghệ nhận dạng ký tự thông minh (công nghệ dùng máy quét) của Tổng cục Thống kê Bộ số liệu cho nghiên cứu về bạo lực sẽ được trích ra từ bộ

số liệu chung với tiêu chí: toàn bộ những người từ 10 – 24 tuổi nằm trong khung mẫu của nghiên cứu VNIS Thêm vào đó, trong phần phân tích mối liên quan giữa các yếu tố gia đình với bạo lực ở nhóm 10-17 tuổi, để có thể kết nối được thông tin của cha mẹ và con, nghiên cứu đã chọn ra toàn bộ gia đình hạt nhân có trẻ từ 10-17 tuổi

- Sử dụng phần mềm Stata 11 để lọc, làm sạch và phân tích số liệu

- Bộ số liệu sẽ được gắn trọng số (weight) Trọng số này đã được các chuyên gia tính toán và sử dụng trong nghiên cứu VNIS 2010 (phụ lục 4)

- Tất cả các giá trị tỷ suất, tỷ lệ đều được tính toán dựa trên phương pháp ước tính tỷ suất suy rộng quần thể Các giá trị sai số chuẩn được tính toán theo phương pháp ước lượng phương sai tuyến tính Taylor Việc tính toán đều được thực hiện trên hệ lệnh SVY cho cách chọn mẫu phức tạp của phần mềm Stata11

- Thông tin về điều kiện kinh tế hộ gia đình: Nghiên cứu căn cứ vào các loại vật dụng lâu bền có trong hộ gia đình để đánh giá điều kiện kinh tế Danh mục các vật dụng lâu bền sử dụng danh mục của Nghiên cứu đánh giá mức sống dân cư năm

2010 Kết quả được phân tích dựa trên phương pháp Phân tích cấu phần chính

Trang 35

25

(Principle Component Analysis) để xây dựng chỉ số đo lường điều kiện kinh tế Chỉ

số này sau đó được phân tích thành các nhóm điều kiện kinh tế theo các mức độ (quintile): nghèo, trung bình, trung bình khá, khá và giàu

- Lập các bảng tần số và tỷ lệ, tỷ suất để mô tả và phân tích thực trạng bạo lực ở lứa tuổi VTN&TN Việt Nam năm 2010 Các kết quả của nghiên cứu được trình bày kết hợp giữa kết quả suy rộng và kết quả phân tích trên mẫu của nghiên cứu

- Mô tả và phân tích một số yếu tố cá nhân và gia đình liên quan tới tình trạng bạo lực ở VTN&TN Sử dụng test 2 để so sánh có sự khác biệt giữa các tỷ lệ và sử dụng

OR và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh của sự kết hợp

- Sử dụng phương pháp logistic để phân tích đa biến

7 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu (Phụ lục 3):

Nghiên cứu bao gồm hai nhóm biến chính:

+ Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:

- Thông tin cá nhân: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

- Thông tin gia đình: trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha, mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, số nhân khẩu, điều kiện kinh tế hộ gia đình

- Thông tin về môi trường xã hội: khu vực sống

+ Thông tin về hoàn cảnh, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực: nơi xảy ra, hoạt động

khi xảy ra bạo lực, mối quan hệ giữa nạn nhân và đối tượng gây bạo lực, thông tin

về nằm viện, kết quả điều trị

*Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

+ Một trường hợp chấn thương do bạo lực: phải đáp ứng được một trong các tiêu

chí sau:

- Mất ít nhất một ngày làm việc

- Mất ít nhất một ngày đi học

- Cần có sự chăm sóc y tế của bệnh viện/chuyên gia y tế

- Không có khả năng tham gia vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày ít nhất

là 1 ngày Hoạt động sinh hoạt thường ngày được định nghĩa là những hoạt động mà

Trang 36

26

người đó phải thực hiện để sống như bình thường, nó bao gồm các hoạt động vệ sinh cá nhân (tắm), tự mặc quần áo và làm những việc vặt hàng ngày trong nhà như

là một phần của cuộc sống hàng ngày (quét nhà, giặt quần áo, lau dọn, đi chợ,.v.v )

Bên cạnh đó, người bị người khác đánh, hành hung hoặc người đánh, hành hung người khác đều được coi là một trường hợp chấn thương do bạo lực

+ Gia đình hạt nhân: còn gọi là gia đình hai thế hệ Loại gia đình này chỉ gồm

cha/mẹ và con cái Có gia đình hạt nhân đầy đủ: gồm cả cha mẹ, con cái và gia đình hạt nhân không đầy đủ: chỉ có cha (hoặc mẹ) và con cái

8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:

- Nghiên cứu được sự đồng ý của Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, là một trong số

cơ quan quản lý số liệu của VNIS 2010

- Mọi thông tin, số liệu được lấy từ VNIS 2010 sẽ được sử dụng chỉ với mục đích nghiên cứu

Trang 37

27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Trong số 49.967 hộ gia đình thuộc cấu phần TNTT không tử vong của VNIS

2010, nghiên cứu đã tách lọc ra thông tin của 38.444 hộ gia đình có người thuộc nhóm 10-24 tuổi Trong đó, tổng số đối tượng thuộc nhóm 10-24 là: 50.461 người.

10-17 18-24

54%

46%

Biểu đồ 1: Phân bố tỷ lệ % theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Nhóm 10-17 tuổi, chiếm tỷ lệ lớn hơn 54% trong tổng số VTN&TN Việt Nam Nhóm 18-24 tuổi, là nhóm bắt đầu đến tuổi lập gia đình, chiếm tỷ lệ ít hơn tương ứng 46%

%

Biểu đồ 2: Phân bố tỷ lệ % theo giới tính và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Trang 38

28

Trong mỗi nhóm tuổi, sự chênh lệch giữa nam và nữ không nhiều Nhóm

10-17 tuổi, tỷ lệ nam cao hơn nữ, tương ứng là 54,8% và 52,9 Ở nhóm 18-24 tuổi thì ngược lại nữ chiếm 47,1%, trong khi nam là 45,2%

26.3%

73.7%

Thành thịNông thôn

Biểu đồ 3: Phân bố tỷ lệ % theo khu vực sống của đối tượng nghiên cứu

Có tới 73,7% số đối tượng nghiên cứu sống tại nông thôn, con số này gấp gần 3 lần so với nhóm 10-24 tuổi sống tại thành thị

Trung du miền núi phía Bắc

Bắc Trung bộ

Tây Nguyên Đông Nam

bộ

Đồng bằng SCL

%

Biểu đồ 4: Phân bố tỷ lệ % theo vùng điều tra

Tỷ lệ nhóm 10-24 tuổi có sự chênh lệch rõ ràng giữa các vùng Vùng Bắc Trung bộ có tỷ lệ VTN&TN cao nhất là 24%, tiếp theo là vùng Trung du miền núi phía Bắc với 21% Tại đồng bằng sông Hồng, mặc dù dân số đông, nhưng nhóm 10-

24 chỉ chiếm 12,8%, gần thấp nhất trong 6 vùng điều tra Tây Nguyên có tỷ lệ VTN&TN thấp nhất trong số các vùng với 7%

Trang 39

29

0.1 4.2

33.4 33.3 0.3

19.6 2.3

2.0 1.9 1.3 1.5

Cao đẳng

Đại học trở lên

Mù chữ Khác

Biểu đồ 5: Phân bố tỷ lệ % theo bậc học cao nhất của đối tượng nghiên cứu

Nhóm tiểu học và THCS chiếm tỷ lệ lớn tương ứng là 33,4 và 33,3% Số đối tượng đã tốt nghiệp PTTH chiếm 19,6%, cao thứ hai Con số chưa đi học chiếm một

tỷ lệ rất nhỏ, 0,1%, tuy nhiên, số mù chữ lại cao hơn với 1,3% Nhóm trên PTTH chỉ chiếm một số lượng nhỏ: trung cấp 2,3%, cao đẳng 2%, đại học trở lên 1,9% Tỷ

lệ VTN&TN học nghề rất nhỏ, chỉ chiếm 0,3%

Tỷ lệ %

0.6 1.4 3.5 4.3

82.1 0.9

0.5 6.1 0.4

Cơ quan nhà nước

Cơ quan tư nhân

Trang 40

30

Hầu hết các đối tượng nghiên cứu vẫn còn đang đi học, học sinh/sinh viên chiếm tỷ lệ lớn với 82,1%, số đối tượng còn nhỏ chiếm 6,1% Trong số nhóm đối tượng đã đi làm thì tỷ lệ làm nông/lâm/ngư nghiệp cao nhất (4,3%), 3,5% số đối tượng làm tự do, 0,9% làm nội trợ Số đối tượng làm cho cơ quan nhà nước, cơ quan tư nhân – công việc được cho là mang tính chất ổn định hơn các nhóm nghề khác – chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, tương ứng với 0,6% và 1,4% Tỷ lệ thất nghiệp là 0,5%

Biểu đồ 7 : Phân bố tỷ lệ % theo tình trạng hôn của đối tượng nghiên cứu

Số người chưa vợ/chồng chiếm một tỷ lệ lớn 90,3%, điều này cũng phù hợp với độ tuổi của nhóm VTN&TN Nhóm có vợ/chồng đứng thứ hai với 9,5% Số người ly hôn chiếm tỷ lệ rất nhỏ 0,1% Tuy vẫn có trường hợp góa, ly thân, song vì

số lượng quá nhỏ nên không biểu hiện trên tỷ lệ %

2 Tỷ suất chấn thương do bạo lực trong lứa tuổi VTN&TN

Theo kết quả của nghiên cứu VNIS 2010, bạo lực (đánh nhau/ hành hung) là nguyên nhân đứng thứ 6 trong tổng số 13 nguyên nhân gây TNTT không tử vong

Và trong nhóm 10-24 tuổi, VNIS 2010 đã xác định được 46 trường hợp có đánh nhau/ hành hung

2.1 Tỷ suất chấn thương do bạo lực phân theo các yếu tố cá nhân và gia đình

Tỷ suất chấn thương do bạo lực chung trong nhóm VTN&TN là 124/100.000 VTN&TN Với sai số chuẩn SE = 28,5, 95%CI (68,0 ; 180,1)

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo giới tính và nhóm - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 1 Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo giới tính và nhóm (Trang 41)
Bảng 6: Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo tình trạng hôn - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 6 Tỷ suất chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo tình trạng hôn (Trang 44)
Bảng 7: Tỷ lệ %  chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo nhóm tuổi và  địa - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 7 Tỷ lệ % chấn thương do bạo lực VTN&TN phân theo nhóm tuổi và địa (Trang 46)
Bảng 8: Tỷ lệ % chấn thương do bạo lựcVTN&TN  phân theo nhóm tuổi và hoạt - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 8 Tỷ lệ % chấn thương do bạo lựcVTN&TN phân theo nhóm tuổi và hoạt (Trang 47)
Bảng 10: Tỷ suất chấn thương do bạo lực phân theo nhóm tuổi và  mối quan hệ  giữa nạn nhân và người gây thương tích tính trên 100.000 VTN&TN - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 10 Tỷ suất chấn thương do bạo lực phân theo nhóm tuổi và mối quan hệ giữa nạn nhân và người gây thương tích tính trên 100.000 VTN&TN (Trang 49)
Bảng 11: Tỷ lệ % phân theo kết quả điều trị - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 11 Tỷ lệ % phân theo kết quả điều trị (Trang 50)
Bảng 13: Mối liên quan giữa đánh nhau/ hành hung và giới - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 13 Mối liên quan giữa đánh nhau/ hành hung và giới (Trang 51)
Bảng 15:  Mô hình hồi quy logistics phân tích mối liên quan của các yếu tố cá - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 15 Mô hình hồi quy logistics phân tích mối liên quan của các yếu tố cá (Trang 52)
Bảng 16: Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực và giới trong nhóm 10-17 tuổi - Thực trạng chấn thương do bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên Việt Nam năm 2010 và một số yếu tố liên quan
Bảng 16 Mối liên quan giữa chấn thương do bạo lực và giới trong nhóm 10-17 tuổi (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w