1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007

112 402 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 49,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hành vi nguy cơ ở người nghiện chích ma tuý Lan truyền HIV trong số NCMT chủ yếu xảy ra do các dụng cụ tiêm chích bị nhiễm máu nhiễm HIV và các dụng cụ này được người NCMT chưa bị nhiễm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

THUC TRANG NHIEM HIV VA MOT SO YEU TO

LIEN QUAN O NAM NGHIEN CHICH MA TUY

TAI TRUNG TAM GIAO DUC - LAO DONG

TINH SON LA NAM 2007

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG

Trang 2

Loi cam on !

Øâi xin bay to long biét on sau sắc đến Ban gidm hitu, phing

đào tạo sau đại học nà các thầu cô giáo trường “Đại học tế công cộug đã tận tình giảng dạu, trang bi kiétn thite va huéng dan téi

trong unhiing nam hoe via qua

“Uới tất cả sự kính trọng ¿âu sắc nhất, tôi xin bày tả lòng biết

gm tới Giốn si Wguyin Oiuankt Đang - người tuâu dé tin tinh hung

dẫn, giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiém va tao moi diéu kién cho téi

hoan thanh ludn van nay

Ởôi xin trân trọng cảm on Ban giám đốc Frung tim phing ching HIO/AIDS va Grung tim Qiáo dụe-Đao ding tinh Son La

da tao diéu kitn cho téi trong sudt qua teinh titn hanh dé tai nghiéin

ciiu tai dia phuong

Jéi xin tran trong cam on ede thay cô đã 06 nhiing ý kiến hét

sức quí báu giúp téi hoan thién ludn oan

Foi xin tran trong cam on Co quan, ding nghiép, ban bé, cée

Féi xin tran trong cam ou!

Fa W6i, ngay O4AShang 11 Wam 2007

Hoang Thi Thuy Fa

Trang 3

DANH MUC CAC TU VIET TAT

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

(Acquired Immunodeficiency Syndrom) Bao cao su

Bơm kim tiêm

Cán bộ y tế

Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục viên đồng đẳng

Gai mai dâm

Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

(Human Immunodeficiency Virus) Nghién chich ma tuy

Phong van sau

Quan hé tinh duc

Tiém chich ma tuy

Trung hoc co sé Trung học phô thông

Thảo luận nhóm Trung tâm giáo dục lao động

Thông tin giáo dục truyền thông Trung tâm y tế

Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

Uỷ ban phòng chống AIDS Liên hợp quốc

Xét nghiệm

Tổ chức Y tế Thế Giới

Trang 4

1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS hiện nay - - 2112 * Shin 5

1.1.1 Tình hình địch HIV/AIDS trên thế giới . -22- 2252 +++x+zvzxsed 5 1.1.2 Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam ¿555cc 6

1.2 Tình hình nhiễm HIV ở người nghiện chích ma tuý - 225252 +szs>s2 7 1.2.1 Hình thái và chiều hướng nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích ma

tuý trên thế giới +: + St 1 212152121511112312121121221211212212112121 1 x6 ỹ

1.2.2 Hình thái và chiều hướng nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại Việt

HH :: 200i 810268 E»gasseaassaEuoagitrS ST Truy tgi81ŸÖUuginnoa kkiietlieieesase G06 nuáx g2 si Ie 9 1.3 Hanh vi nguy cơ ở người nghiện chích ma tuý 2-5 + ‡c<ccssssằ2 10 1.3.1 Hành vi nguy cơ ở người NCMT trên thế giới -:- 2-25: 10

1.3.2 Hanh vi nguy co lay nhiém HIV ở người NCMT tại Việt Nam 13

1.4 Các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trên nhóm nghién ma tuy 18

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU s - 5c ss<csesessesesse 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu - 2+: s+E+E*EEE9E11912121211121112111112121121121111212 2x6 21

21- THIẾPKC HEHÌEHIEHDnroccietonsnoesanangtoitilSnarfSpfo sao sssallesssesaesE.EE LG 21

2.4 Phương pháp chọn mẫu 2: 2 S22 St S391 SE EEEEESE21 5521511231515 3x xe 22

Dk MN Deco xao rdBasemrrsotpoSbSr TT cệsicJ0L56:áeoiese-sS De le 22

DAD OC GCI ei WIR We ec ossten since bare donteiEdssiskesssesssrserBDtisbtgxasWf Ti 22 2.5 Phương pháp thu thập số liệu - - 2-2 E123 3E SE2321212121212221121 21222 a3

c6 0 pñcntcl5S lổu ago 0n gieeceiioeiasdaeaausauroe 24

2.7 Các biến số, khái niệm, thước đo, tiêu chuân đánh ĐH cuc ice ears 24

PE Ea 11160 SE by sojnggfyvtsbemasoerstEAEMEttoteosacmnaree WReg CaN carstea eases 24

Fk NAG BI: PAN dso asics oo vende seen hz pace Pvoenne a <hasasaveweexavicasuuweeun.sweedenssees 24

2.7.3 Đánh giá kiến thức về phòng lây nhiễm HIV của ĐTNC 24

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ¿2 +s S21 2E£E2E2EEE12E55212212122 2x6 24

Chương 3 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU -° o2 o5 se csscssecsesseessssssrssess 26

3.1: MIOE SG Whe ER GUA TING sen ssesseseapodinleddtbsdelkaseaserierdbaent4605038 I 26

3.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV - 5 + E121 E5EEEEE212121517125 1111 xe 29 3.2.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm trong tiêm chích ma túy -. - 29

3.2.2 Hành vi nguy cơ trong tình dục của ĐTNC . - 35

Trang 5

3.5 Tiếp cận với các chương trình can 0): 8 T"““ mẽ 42 3.5.1 Thông tin về cai nghiện của ĐTNC -2- 2S 2 5125551515155 1 55 se 42

3.5.2 Tiếp cận với các thông tin về HIV của ĐTNC -¿ccecsczzcscc2 42

3.5.3 Thông tin về sự trợ giúp phòng, chống lây nhiễm HIV 43 3.6 Một số yếu tô liên quan đến nhiễm HIV . 2S 2195211112551 82555252 s56 47

S612 PRA HH: GAN BIC secs carseat ee enter mcecion is oer se 51

Chương 3 BẢN LUẬN: soacosesseenobgobirgrrrsiiiieessoaokesdliavasuaddtluie 52

4.1 Đặc trưng nhân khẩu học của NCMT 2 ST TSS TS nnnn nhờn 52

4.2 Hành vi nguy cơ nhiễm HIV G11 1 11151111111 1111 111181111188 sa a3

4.2.1 Hành vi nguy co trong sử dụng ma tuy .ccecccccecceesceeesseeseeeeees 53 4.2.2 Hành vi nguy co trong tinh duc 0 cece ccceeeseceeceeeensceseeeseeseeseeees 56

4.2.3 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong trung tâm - - s55: 58

4.4 Kiến thức và nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV của bản thân - 2 59 4.5 Tiếp cận với các chương trình can thiỆp 2 S211 2121512115818) 61

4.6 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV 2 22222225255 552552 63

Chương XI (NT TU ẤN ausaeosnnesnknosnoi C0 asaudbriliniassxadibateu 67

5.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV .- 20 ST n1 1E11 8111111211211 re ng 67

Giới lý lệ HHIỆNH HS 1 ‹gynnitoorisoie SE Hoa scons Aentanant woe of E 67 5.3 Kiến thức và tự nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV 222 TT ng 68

5.4 Tiếp cận với các chương trình can thiệp - - - 1E v12 xx2 68

Phụ lục 6: Tiêu chuẩn đánh giá điểm kiến thức nên 103

Phụ lục 7: Cây vấn đề St HT 2211111151111 Hee 104

Trang 6

iv

DANH MUC CAC BANG

Bảng 1 Một số đặc điểm khác của người ĐTNC 22 2 22 EE2E221222212212 22c 28

Bảng 2 Tuôi bắt đầu sử dụng và hình thức sử dụng ma tuý lần đầu 30

Hãng 3 THÔI Stat CHÍNH Tlla HÚy, co cu g2 k1 1Áx4288086 32 Bảng 4 Loại ma tuý Sử ụng - c1: 22121121121 1511251 211211 11511221 11 H1 HH He 32 Bảng 5 Thông tin về dùng chung BKT và thực hành pha thuốc của ĐTNC 34

Bảng 6 Tỷ lệ ĐTNC nhận/mua BKT tại các địa điểm cung cấp - 52-55 35 Bang 7 Tỷ lệ ĐING, G6 DI L1) csoscaoaooiÔnEsdvoBnonEEELreaxsseriaa ca nianna mien inne 35 Bảng 8 Phân bố ĐTNC có QHTD lần đầu theo lứa tuổi - 22-2 c2 2E 2EE2zZx+zEE 36 Bảng 9 Số lượng bạn tình của ĐTNC trong 12 tháng trước khi vào trung tâm 36

Bảng 10 Sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất với các loại bạn tình 37

Bang 11 Lý do không sử dụng BCS trong QHÏTTD - 22523 *22 22222 vxexszsxe a Bang 12 Phân bố số nhiễm HIV theo tuôi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp 40

Bảng 13 Phân bố ĐTNC theo các lần cai nghiện tại trung tâm - ¿5 5:5 42 Bảng 14 Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS 22-25222222 2EEE2EEx2EEzcee 43 Bảng 15 Thông tin về làm xét nghiệm của ĐTNC . 2 2s 1211221122122 xe 43 Bảng 16 Tỷ lệ ĐTNC đã từng nhận được sự trợ giúp phòng, chống lây nhiễm HIV 44

Bảng 17 Thông tin về người trợ giúp ĐTNC và nội dung trợ giúp 44

Bảng 19 Nội dung thay đổi và lý do thay đôi hành vi - 2: St 2 2E 251551221 46 Bảng 20 Liên quan giữa đặc điểm nhân khâu học của ĐTNC với nhiễm HIV 47

Bảng 21 Liên quan giữa thực hành TCMT với nhiễm HIV 2-2238 +E9EE2 52252522522 48 Bảng 22 Liên quan giữa thực hành QHTD của ĐTNC với nhiễm HIV 49

Bảng 23 Liên quan giữa kiến thức phòng lây nhiễm HIV và nhiễm HIV 50

Bảng 24 Liên quan giữa nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV với nhiễm HIV 50

Bảng 25 Liên quan giữa được nhận hỗ trợ dự phòng với nhiễm HIV - 50

Bảng 26 Mô hình hồi qui đa biến xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV 5 I

Trang 7

Lý do chuyền từ hút, hít sang chích St t2 8x ExcErrkrrxrez 31

Số lên TCNTT HöHð HỮÂY ko cac 0á 020i ng 880518006186 064112 00/0321186 33

Kết quả xét nghiệm HIIV .- tt SE 1512121511211 exee 39 Kiến thức phòng lây nhiễm HIV 2 SE E1 E1 EEEEEEEExEExzErte2 41

Tự nhận thức về khả năng nhiễm HIV của bản thân 22s 41

Trang 8

VI

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

HIV/AIDS một đại dịch có tính chất hết sức nguy hiểm mà các Quốc gia trên

thế giới đã và đang phải đương đầu Tại Việt Nam kế từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990, tốc độ nhiễm HIV/AIDS ngày càng gia tăng, trong đó tập chung chủ yếu ở nhóm nghiện chích ma tuý và đang có dấu hiệu lan sang cộng đồng

Tại tỉnh Sơn la tỷ lệ nhiễm HIV cũng ngày càng tăng Đặc biệt trong năm

2006, Sơn La là một trong mười tỉnh, thành phố có số phát hiện nhiễm HIV cao

nhất cả nước Trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn la gần đây mỗi năm tiếp nhận trên 1000 lượt học viên từ tất cả các huyện thị trong tỉnh Trong đó chủ yếu là nam giới và hầu hết dùng ma tuý bằng đường tiêm chích Năm 2006 có 128 trường hợp nhiễm HIV trong 413 trường hợp được làm xét nghiệm Đặc biệt những năm

trước đây đối tượng nhiễm HIV chủ yếu là sống ở thị trấn, thị xã thì nay đã xuất

hiện ở cả các xã vùng sâu, vùng xa và ở những dân tộc ít người Câu hỏi đặt ra là tỷ

lệ nhiễm HIV trên các đối tượng nghiện chích ma tuý là bao nhiêu, những yếu tố

nào liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV Đề từ đó đưa ra những khuyến nghị phù hợp

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2007 bằng cách phỏng vấn 249 nam nghiện chích ma tuý với bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn và

10 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm tại trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn la Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả thực trạng nhiễm HIV và một

số yếu tô liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm Giáo dục-lao động tỉnh Sơn La Số liệu phần định lượng được nhập bằng phần mềm Epidata và phân tích

bằng phần mềm SPSS, thông tin phần định tính được mã hoá và phân tích trích dẫn theo chủ đẻ

Kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV của nam NCMT trong TTGD-LD tinh Son

La là 38,6% Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong tiêm chích ma tuý ở nhóm tiêm chích ma tuý rất cao thê hiện: tuổi sử dụng ma tuý rất trẻ Thời gian TCMT dài (tỷ

lệ NCMT có thời gian chích ma tuý trên 5 năm là 43,8%) Tần suất tiêm chích ma

tuý cao, gần 2/3 có thói quen tiêm chích 2-3 lần /ngày, từ 4 lần/ngày là 12,9% Tỷ lệ người NCMT có pha chung ma tuý là 41% và dùng chung BKT là 43% Vẻ hành vi

trong tình dục: 41,4% có 2 bạn tình trở lên và 18,1% có QHTD với gái mại dâm trong vòng một năm trước khi vào trung tâm Tỷ lệ không sử dụng bao cao su khi

Trang 9

kiến thức về HIV đạt yêu cầu là 67,3% Có 36,1% NCMT tự đánh giá mình có nguy

cơ nhiễm HIV Có 39,8 % đã từng đi cai tại các trung tâm cai nghiện Tỷ lệ NCMT

đã từng nhận sự trợ giúp phòng, chống lây nhiễm HIV là 47% Trong đó chủ yếu là nhận được sự trợ giúp từ CBYT 84,6%, từ GDVĐĐ là 9,4% Nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV là dân tộc và thời gian chích Khuyến nghị: Tăng cường truyền thông với hình thức phù hợp, dễ hiểu Tiếp tục duy trì và mở rộng phạm vi triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại

Trang 10

DAT VAN DE

Kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1981, nhan loại luôn đứng trước hiểm họa của đại dịch này vì HIV lây truyền từ người này sang người khác, chưa có thuốc chữa và vắc xin phòng bệnh đặc hiệu Tiêm chích ma túy

và quan hệ tình dục không an toàn là hành vi của con người và đang là những

đường lây chính làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV hiện nay Vì vậy việc khống chế dịch

càng trở nên khó khăn và phức tạp Đại dịch HIV/AIDS không những gây hậu quả nghiêm trọng đối với sức khoẻ cộng đồng mà còn ảnh hưởng nặng nề đến sự phát

triển kinh tế, xã hội, én định an ninh, chính tri va trật tự an toàn xã hội của tất cả các

quốc gia trên thế giới Mặc dù đã có nhiều biện pháp phòng chống tích cực được áp dụng, số người nhiễm HIV vẫn gia tăng với tốc độ đáng sợ Theo báo cáo của

UNAISD, tính đến 31 tháng 12 năm 2005 toàn thế giới còn khoảng 40,3 triệu người nhiễm HIV đang còn sống, có khoảng 3,1 triệu người đã bị chết vì AIDS[38]

Ở Việt Nam tuy việc phòng chống HIV/AIDS đã được đẩy mạnh nhưng

HIV/AIDS không vì thế mà bị đây lùi hoặc bị chặn đứng Từ ca phát hiện đầu tiên

vào tháng 12 năm 1990 Dịch HIV đã tăng nhanh, chủ yếu là người nghiện chích ma túy Cho đến năm 1993, tỷ lệ nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy (NCMT) cao

là ở thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam Nhưng từ năm 1997, có sự

tăng nhanh tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT ở các tỉnh phía Bắc như Lạng Sơn,

Quảng Ninh, Hải Phòng[ 14] Đến hết tháng 12 năm 2006 tổng số trường hợp nhiễm HIV tích lũy đã lên đến 116.565 người trong đó có 20.195 trường hợp tiến triển

thành AIDS và số người tử vong do AIDS là 11.802 HIV đã có mặt ở tất cả các

tỉnh thành trong cả nước, trên 93% số huyện, thị có người nhiễm HIV/AIDS, trên

55 % số xã có người nhiễm HIV Trong số các trường hợp nhiễm HIV được báo

cáo nam giới chiếm 85,19%, đa phần người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi trẻ, trong

đó nhóm tuổi từ 20 đến 39 chiếm tới 78,94% Dịch chủ yếu tập trung ở nhóm người

TCMT 51,68%, nhóm GMD 2,57% Dự báo trong vài năm tới, hàng năm sẽ có khoảng 40.000 người mới nhiễm HIV tại Việt Nam[36]

Trang 11

54%, Kinh 17%, Mông 12%) với 11 huyện thị và 201 xã phường Có đường quốc lộ

6 chạy đọc theo tỉnh nối Hà Nội với Điện Biên (qua 5/11 huyện thị) là tuyến đường

huyết mạch vùng Tây Bắc của Việt Nam Sơn La có 250 Km đường biên giáp với tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng-Nước cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, gần khu vực “Tam giác vàng”, với 2 cửa khâu quốc gia, nhiều đường tiểu ngạch và cũng là vùng trọng điểm về ma tuý của cả nước[34] Cùng với việc xây dựng nhà máy thuỷ

điện Sơn La, hiện tại Sơn La có tốc độ đô thị hoá rất cao thu hút nhiều lao động từ

nông thôn ra thị xã, thị trần và từ các tỉnh khác đến, ngành du lịch và các dịch vụ

phát triển nhanh đặc biệt tại thị xã và các thi tran doc quốc lộ 6 Song song với sự phát triển kinh tế-xã hội những vẫn đề như buôn bán, vận chuyền và sử dụng trái phép chất ma tuý, mại dâm cũng gia tăng Theo báo cáo của Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh, năm 2004 toàn tỉnh có 8.906 người nghiện và đến ngày 20/10/2006

tổng số người nghiện đã là 16.600 người (đứng thứ 3 sau Hà Nội và thành phó Hà

Chí minh), nhưng so số người nghiện trên số dân thì Sơn La đứng đầu trong cả nước, trong đó chủ yếu là nam giới chiếm 96,13%, hình thức được sử dụng nhiều nhất là TCMT (69,9%)[12] Cùng với sự gia tăng của số người nghiện chích ma túy

thì số nhiễm HIV được phát hiện cũng ngày một gia tăng Từ trường hợp nhiễm

HIV dau tiên được phát hiện tại thị xã Sơn La năm 1998, đến tháng 12 năm 2006 tắt

cả các huyện thị trong tỉnh đều có người nhiễm HIV với 5357 trường hợp Trong đó

có 263 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 170 người đã tử vong Đối tượng nhiễm HIV có liên quan đến nghiện chích ma tuý là 93,01% và chủ yếu là nam giới

chiếm 92,86% [35]

Được thành lập từ năm 1996 Trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh có chức năng nhiệm vụ: “Tiếp nhận người nghiện vào cai nghiện cắt cơn, phục hồi sức khoẻ, quản lý, giáo dục dạy nghề và lao động sản xuất” Gần đây mỗi năm trung tâm tiếp

nhận khoảng 1000 lượt học viên từ tất cả các huyện thị trong tỉnh, hiện nay số lượng

học viên tại trung tâm là 995 người trong đó 779 trường hợp sử dụng ma tuý dưới

Trang 12

hình thức tiêm chich Nam gidi chiém 99,8% Theo kết quả giám sát điểm năm

2006 có 413 trường hợp được xét nghiệm HIV thì 128 trường hợp kết quả dương tính (chiếm 31%) Đặc biệt những năm trước đây, tại trung tâm đối tượng nhiễm HIV chủ yếu là sống ở thị trấn, thị xã thì nay đã xuất hiện ở cả các xã vùng sâu, vùng xa và ở những dân tộc ít người [12], [35]

Trước tình hình HIV ngày càng gia tăng, việc tiến hành một nghiên cứu để

tìm hiểu thực trạng nhiễm HIV trên các đối tượng nghiện chích ma tuý là như thế nào, những yếu tố nào liên quan đến tỷ lệ nhiễm HIV trên các đối tượng này là hết

sức cần thiết Từ đó đưa ra những khuyến nghị phù hợp giúp cho việc xây dựng và

củng có các hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS tại địa phương, góp phần làm giảm sự lây truyền HIV trong cộng đồng Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài: “Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tô liên quan ở nam nghiện chích ma túy tại trung tâm Giáo dục- Lao động tinh Son La nam 2007”

Trang 13

1 Muc tiéu chung

Mô tả thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở đối tượng nam nghiện chích ma túy tại trung tâm Giáo dục- Lao động tỉnh Sơn La năm 2007

2 Mục tiêu cụ thể

2.1 Mô tả thực trạng hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở đối tượng nam nghiện chích

ma túy tại trung tâm Giáo dục - Lao động tỉnh Sơn La năm 2007

2.2 Mô tả việc tiếp cận với chương trình can thiệp giảm tác hại của đối tượng nam nghiện chích ma túy tại trung tâm Giáo dục - Lao động tỉnh Sơn La năm 2007 2.3 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng nam nghiện chích ma túy tại trung tâm

Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn La năm 2007

2.4 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV ở đối tượng nam nghiện

chích ma túy tại trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn La năm 2007.

Trang 14

Chuong 1

TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Tinh hinh dich HIV/AIDS hién nay

1.1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Kế từ những trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện trên thế

giới vào năm 1981 tại Los Anggeles, đến nay HIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của

25 triệu người và trở thành một trong những vụ dịch toi tệ nhất được ghi nhận trong

lịch sử Vào cuối năm 2005, ƯNAIDS ước tính số hiện nhiễm HIV/AIDS toàn cầu

khoảng 40,3 triệu và 3,1 triệu người đã tử vong do AIDS Trong hai năm trở lại đây,

số người nhiễm HIV gia tăng 6 tat cả các khu vực trên toàn thé giới, tăng mạnh nhất

ở khu vực Đông Âu, Đông Á và Trung Á, với số người nhiễm HIV trong năm 2006

tăng hơn 21% so với năm 2004 [39]

Tại Châu Phi, khu vực Cận Sahara hiện có khoảng 25 triệu người đang song

với HIV, chiếm 63% tổng số người nhiễm HIV trên toàn cầu, trong đó có thêm 3,2 triệu người nhiễm mới và 2,4 triệu người đã tử vong vì các bệnh liên quan đến HIV

trong năm 2006 Đặc biệt dịch dién ra tram trọng ở các khu vực phía Nam Châu Phi

trừ Zimbabwe là nước duy nhất có tỷ lệ hiện nhiễm HIV đang giảm đi Hình thái lây

truyền chủ yếu là quan hệ tình dục khác giới, tuy nhiên một vấn đề mới nổi cộm lên

ở khu vực này là tiêm chích ma tuý đang trở thành một yếu tố tiềm tàng làm dịch gia tăng ở nhiều nước, trong đó đáng chú ý là Kenya, Nigeria va Nam Phi [39]

Chau My la tinh va Caribe la ving chiu anh huong nang né thir 2 trên thế

giới HIV lan truyền nhanh chóng trong nhóm tiêm chích ma tuý và nam quan hệ tình dục đồng giới Tính đến cuối năm 2005 có gần 2 triệu người bị nhiễm

HIV/AIDS sống ở khu vực này [38]

Ngoài ra tốc độ gia tăng HIV cũng đáng quan tâm ở các nước Đông Âu, Trung Á, trong đó nghiêm trọng nhất là Ukraina, là nước có tỷ lệ nhiễm HIV cao

nhất ở Châu Âu hiện nay Hình thức làm lây truyền chủ yếu là việc dùng các dụng

Trang 15

Tại Châu Á, mặc dù dịch HIV/AIDS xuất hiện muộn hơn ở những khu vực

khác trên thế giới nhưng số người nhiễm lại tăng lên một cách nhanh chóng Trường hợp đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan vào năm 1985 Nhưng đến cuối năm 2005

đã có khoảng 8,6 triệu người nhiễm HIV, trong đó số nhiễm mới là khoảng 1 triệu

người Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái khác biệt, tại

Thái Lan và Campuchia chủ yếu lây nhiễm qua quan hệ tình dục khác giới, nhưng ở một số nước khác như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia hình thức lây truyền chủ yếu qua tiêm chích ma tuý và tình trạng lây truyền qua đường tình dục khác ĐIỚI cũng ngày càng gia tăng [37], [39]

1.1.2 Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12 năm 1990, là nữ giới có tiền sử QHTD với khách du lịch người nước ngoài Đến năm 1992 mới chỉ có I1 trường hợp nhiễm HIV được báo cáo nhưng năm 1993 dịch

thực sự bắt đầu bùng nỗ trên những người TCMT ở Thành phố Hồ Chí Minh và

một số tỉnh phía Nam Những năm tiếp theo mỗi năm có khoảng từ 1.500 đến 2.500

trường hợp nhiễm HIV được báo cáo [25]

Từ năm 1998, HIV đã lan tràn trên phạm vi toàn quốc Đến nay, dịch

HIV/AIDS đã xuất hiện ở 64 tỉnh, thành phố với hơn 93% số huyện đã có người

nhiễm HIV/AIDS Một số tỉnh thành đã có 100% số xã, phường có người nhiễm

HIV/AIDS [37] Mười tỉnh, thành phố có số báo cáo nhiễm HIV cao nhất năm 2006

là Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đắc Lắc, Hà Nội, An Giang, Đông Tháp,

Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu và Sơn La [36] Trong vài năm tới, hàng

năm sẽ có khoảng 40.000 người nhiễm HIV nếu không có một chương trình dự phòng toàn diện hơn [37]

Theo báo cáo của Cục phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam: HIV/AIDS vẫn

chủ yếu tập chung trong nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao và đang có dâu

hiệu lan ra cộng đồng, có tới 51,68% số nhiễm HIV là người TCMT, 2,57% là gái

Trang 16

mại dâm va 1,58% là bệnh nhân hoa liễu Hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu là qua TCMT, mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT những năm gần đây có chiều hướng chững lại nhưng vẫn chiếm ưu thế trong tông số các trường hợp nhiễm HIV của cả nước Bên cạnh đó tỷ lệ nhiễm HIV qua quan hệ tình dục tiếp tục tăng từ

0,6% năm 1994 lên 3,6% năm 2005 trong nhóm gái mại dâm, từ 0,5% năm 1994

lên 3,2% năm 2005 trong nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Tỷ lệ nam giới nhiễm HIV cao gấp 6 lần nữ giới, tỷ lệ này ít biến động kể từ năm 1993 trở lại đây Đa phần người nhiễm HIV ở lứa tuổi trẻ, trong đó số nhiễm

HIV/AIDS ở nhóm tuổi từ 20-39 chiếm tới 78,94% trên tổng số người nhiễm

HIV/AIDS được báo cáo [36], [37]

Dự báo vào năm 2010, số người nhiễm HIV ở Việt Nam ước tính là 350.970

trường hợp, trung bình mỗi năm sẽ có thêm khoảng 20.000 - 30.000 người nhiễm

mới [37] Như vậy dé ngăn chặn được đại dịch HIV Việt Nam cần một chương trình

phòng chống HIV/AIDS toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả

1.2 Tình hình nhiễm HIV ở người nghiện chích ma tuý

1.2.1 Hình thái và chiều hướng nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích ma tuý trên thế giới

Mặc dù HIV được phát hiện đầu tiên ở nhóm người đồng tính luyến ái nhưng

đến năm 1993, 52 nước trên thế giới đã công bố có người TCMT bị nhiễm HIV và

đến nay người ta đã thấy sự lan truyền HIV trong những người TCMT đã xuất hiện

ở hầu hết các khu vực trên toàn câu [1], [54], [57] Người ta cũng đã xác định rằng

một khi có HIV dương tính trong cộng đồng người NCMT, tỷ lệ nhiễm (xét nghiệm huyết thanh dương tính) sẽ tăng lên rất nhanh trừ khi có biện pháp phòng ngừa thích hợp được áp dụng ngay lập tức như cung cấp bơm kim tiêm sạch, phân phát bao cao su [61] Ước tính đến năm 2002 có hơn 10 triệu người TCMT trên toàn cầu trong

đó có tới 3,3 triệu người NCMT nhiễm HIV/AIDS, chiếm 5-11% số nhiễm HIV/AIDS toàn cầu [65] Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy HIV bắt đầu xuất hiện

khoảng năm 1976 ở khu vực dân cư New York, trung tâm của các nhóm NCMT ở

phía Bắc nước Mỹ với băng chứng năm 1988 xét nghiệm các mẫu máu được cất giữ

Trang 17

HIV bắt đầu thấy lưu hành vào quân thê NCMT một cách báo động chỉ trong một vài năm Những năm sau đó số hiện mắc HIV trong nhóm NCMT ở New York tăng rất nhanh theo từng khoảng thời gian, từ năm 1981 đến 1983 là 50% và đạt đến một

tỷ lệ kỷ lục chưa từng có vào năm 1984 với tỷ lệ từ 55-60% [42], [43], [73] Ty lệ

nhiễm trong nhóm NCMT thay đổi theo khu vực địa dư và đặc biệt cao ở các khu

đô thị trung tâm Tuy nhiên các nghiên cứu về tý lệ hiện mắc và huyết thanh học từ

năm 1984 đã cho thấy tỷ lệ nhiễm bắt đầu có chiều hướng đi xuống và bình ổn vào thời điểm năm 2000, đây là kết quả của các chương trình can thiệp giảm tác hại hiệu

quả tại các nước này [60], [71] Trong khi tại Mỹ và các nước phát triển tình hình nhiễm HIV trong nhóm NCMT có chiều hướng đi xuống và bình ồn thì tại các nước đang phát triển lại bắt đầu gia tăng Tại khu vực Đông Âu đầu những năm 90, NCMT đã ngày càng phô biến ở Nga, đặc biệt ở các bang mới tách ra như Belarus,

Moldova, Ukraina và Trung Á hơn ở các nước khác trong khu vực Mặc dù ở Nga

HIV mới chỉ xuất hiện năm 1996 nhưng 90% trường hợp nhiễm HIV thuộc nhóm

NCMT và tỷ lệ mới mắc hàng năm tăng gấp đôi trong vòng 4 năm trở lại đây [38] Đối với các nước ở khu vực Trung Đông, một trong những khu vực ít chịu tác động của đại dịch HIV, vẫn thấy tiêm chích ma tuý là phương thức lây truyền đáng kẻ tại một số nước Một báo cáo tại Libya năm 2001 cho thấy NCMT chiếm 91,7% trong

tông số 4.439 trường hợp HIV/AIDS, tỷ lệ này ở Bahrain năm 2000 là 73% [39]

Đối với các nước ở Châu My la tinh, TCMT là phương thức lây truyền HIV chính tại Argentina, người NCMT chiếm 41% trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV/AIDS Tại Uruguay NCMT chiếm 33% trong tổng số các trường hợp HIV/AIDS [38], [39] Còn tại Brazin, do chương trình can thiệp cho NCMTT có hiệu

quả nên tỷ lệ NCMT nhiễm HIV trong tổng số HIV/AIDS giảm đều đặn hàng năm

từ 26% năm 1991 đến 12% năm 2000 [38] Với các nước trong khu vực Châu Á, nhiễm HIV trong những người NCMT gia tăng nhanh trong thời gian ngăn Nhóm NCMT đã chiếm phần rất lớn trong tổng số nhiễm HIV của từng quốc gia trong khu

Trang 18

vực Tại Myanmar, ước tính có khoảng 150.000 đến 250.000 NCMT, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này là 63% năm 2000 trong khi đó tỷ lệ này năm 1997 là 54% [68] Một nghiên cứu tại tỉnh Yunnan, miền Tây Nam Trung Quốc năm 1994 cho

biết tỷ lệ nhiễm HIV ở NCMT là 49% [72] Tại Án Độ, tý lệ nhiễm HIV trong

nhóm NCMT trong giám sát trọng điểm năm 2000 ở Chennai là 26% thì tới thời

điểm năm 2003 đã là 64% Tại Indonesia, theo một điều tra tại Jakarta năm 2003

cho thay ctr 2 NCMT thì có I NCMT nhiễm HIV và tỷ lỆ này còn cao hơn nữa ở miền Tây Indonesia là 70% trong số NCMT được yêu cầu xét nghiệm HIV [68] Tại

Băng Cốc-Thái Lan tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT tăng từ 2-40% trong thời gian

chưa đến 2 năm [45] Còn tại Chiang Mai-Thái Lan năm 1995, tỷ lệ này là 57,3% [44]

Như vậy có thể nói tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT khá thay đổi theo khu

vực Những nước phát triển ở Châu Âu và ở Mỹ mặc dù việc xuất hiện HIV ở người NCMT được ghi nhận sớm hơn nhưng có tý lệ nhiễm thấp hơn và khá ồn

định so với các nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt các nước thuộc Đông

Nam Á

1.2.2 Hình thái và chiều hướng nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại Việt Nam

Theo thống kê của Tổ chức phòng chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), hiện nay cả nước có khoảng 160.700 người NCMT Theo ước tính thực tế thì con số này đã là 200.000-240.000 người [70] Dịch HIV trong nhóm NCMT bắt đầu bùng nỗ năm 1993 tại Nha Trang và thành phố Hồ Chí Minh sau 3 năm phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên Chương trình giám sát trọng điểm và giám sát hành vi được triển khai ngày càng mở rộng đã cho các

số liệu đáng tin cậy về số nhiễm HIV trên toàn quốc Tính đến ngày 31/12/2006 tong số trường hợp nhiễm HIV trên toàn quốc là 116.565 trong đó tích luỹ số trường hợp AIDS là 20.195 và số bệnh nhân tử vong do AIDS la 11.802 [36]

Theo thống kê của cục phòng, chống AIDS Việt Nam về tình hình nhiễm HIV/AIDS cho thấy hình thái lây truyền HIV chủ yếu qua TCMT Tỷ lệ nhiễm

HIV của nhóm NCMT có chiều hướng gia tăng từ năm 1997 đến năm 2001

(13,4% lên 29,4%) và những năm gần đây có chiều hướng chững lại, năm 2004

Trang 19

là 28,6%, nam 2005 la 25,5% va nam 2006 là 22 51%, Nhưng cá biệt có tỉnh,

thành phô tỷ lệ nhiễm rất cao: Hai Phong 66%, Quang Ninh 59% [8], [36]

Son La 1a tinh mién nui phia Bac, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát

hiện năm 1998 tại thị xã Những năm sau, mỗi năm phát hiện thêm trên 20 trường

hợp nhiễm HIV Từ năm 2000, số báo cáo nhiễm HIV tăng lên rất nhanh Nỏi lên

trong năm 2006 Sơn La là một trong 10 tỉnh, thành phố trọng điểm có số phát hiện tuyệt đối cao nhất toàn quốc, nâng tổng số báo cáo nhiễm HIV ở Sơn La lên 5.357

trường hợp vào ngày 31/12/2006 92,86% số người nhiễm HIV là nam giới, chủ yếu

ở nhóm tuôi 20-39 (83,6%) Theo điều tra giám sát năm 2006, tỷ lệ nhiễm HIV

trong nhóm nguy cơ tiêm chích là 31% HIV không chỉ có chiều hướng tăng lên trong nhóm NCMT mà còn tăng lên trong các nhóm nguy cơ khác như nhóm mại

dâm, bệnh nhân Lao, tân binh khám nghĩa vụ quân su [35]

1.3 Hành vi nguy cơ ở người nghiện chích ma tuý

Lan truyền HIV trong số NCMT chủ yếu xảy ra do các dụng cụ tiêm chích bị

nhiễm máu nhiễm HIV và các dụng cụ này được người NCMT chưa bị nhiễm HIV

sử dụng lại Tất cả các hành vi làm tăng khả năng, tần xuất và qui mô phơi nhiễm với máu bị nhiễm HIV sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HIV

1.3.1 Hành vi nguy cơ ở người NCMT trên thế giới

1.3.1.1 Hanh vi nguy cơ trong sử dung ma tuy

Khi mới được phát hiện, nhiễm HIV được xếp vào nhóm bệnh lây nhiễm qua đường tình dục nhưng sau đó người ta đã xác định rằng việc sử dụng ma tuý bằng đường tiêm chích đã nhanh chóng trở thành một trong những phương thức lây truyền HIV có ý nghĩa nhất [48], [49] Tìm hiểu các yếu tổ nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm HIV ở người NCMT đã được các nhà nghiên cứu đầu tư khá nhiều Các nghiên cứu ở Mỹ cũng như ở Châu Âu cho thấy thời gian tiêm chích, tần số tiêm chích ma tuý, tần số dùng chung dụng cụ tiêm chích, tần số các hành vi tình dục có nguy cơ cao và số lần tiêm chích trong ngày là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa về mặt

thống kê Một nghiên cứu ở thời kỳ đầu tại New York cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở những người không chích là 21%, tỷ lệ này là 31% ở những người tiêm chích từ I

Trang 20

II

đến 5 lần trong tháng và là 47% ở những người tiêm chích 6-45 lần một tháng và là

61% ở những người tiêm chích trên 45 lần một tháng [46] Trong số các yếu tố nguy cơ do tiêm chích ma tuý thì dùng chung dụng cụ tiêm chích là hiện tượng phô biến ở những người nghiện chích ma túy trên toàn thế giới Mặc dù một số nhà

nghiên cứu nhân mạnh rằng giá trị văn hoá và xã hội quyết định hành vi dùng chung

trong các cộng đồng người NCMT [53] nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dùng

chung bơm kim tiêm bị chi phối phần lớn bởi yếu tố pháp luật và kinh tế Tai hau

hết các bang ở Mỹ, việc tàng trữ các dụng cụ tiêm chích trong người được xem là phạm pháp Vì vậy để tránh sự bắt bớ khi mang dụng cụ tiêm chích trong người,

nhiều người NCMT đã lựa chọn việc dùng chung dụng cụ tiêm chích [53] Ty 1é

nhiễm HIV tương quan với số lần dùng chung bơm kim tiêm Người ta đã chứng minh được nguy cơ nhiễm HIV qua hành vi dùng chung BKT Bằng cách sử dụng

mô hình toán học dựa vào tỷ lệ hiện mắc ở New Haven và tỷ lệ nhiễm HIV ở các

BKT dùng rồi được thu thập lại trong chương trình trao đổi BKT, Kaplan và Heimer đã ước tính nguy cơ trung bình nhiễm HIV từ một dụng cụ nhiễm bắn là 1/150 Nguy cơ một NCMT chưa bị nhiễm HIV mà luôn dùng lại BKT của một

người đã nhiễm HIV là 49% trong 100 lần tiêm chích đầu tiên [58]

Davies va Peters, trong mot mau nghiên cứu 346 đối tượng nghiện chích tại

thanh phé Edinburgh, Scottland cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở những người NCMT

không dùng chung BKT là 30% so với 56% ở những người có một vài lần tiêm chích chung và 75% ở những người thường xuyên dùng chung, đồng thời những người nghiện chích sớm, không có nghề nghiệp ồn định, có tiền sử bị giam ĐIỮ, có nguy cơ mắc cao hơn những người khác [47] Trong số 1.363 người NCMT ở Italia,

tỷ lệ nhiễm HIV là 22% ở những người không dùng chung BKT so với 67% ở

những người luôn luôn dùng chung [66] Dùng chung với nhiều bạn chích cũng là yếu tổ nguy cơ, dùng chung dụng cụ tiêm chích với từ 2 bạn chích trở lên trong

vòng 6 tháng là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa trong nhiễm HIV tại Bangkok [45]

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tiêm chích tại tụ điểm tiêm chích là yếu tố nguy cơ

của nhiễm HIV Tại các tụ điểm này ma tuý được bán và các dụng cụ tiêm chích

Trang 21

được chuẩn bị sẵn để cho thuê hoặc để dùng chung Hàng chục, hàng trăm người NCMT có thể sẽ đến các tụ điểm tiêm chích như vậy trong một ngày và dùng chung

một số lượng nhất định các dụng cụ tiêm chích[46], [S3] Một nghiên cứu ở

Longdao, tinh Yunnan mién Tay Nam Trung Quốc trên 182 đối tượng nghiện chích cho thấy người thường xuyên dùng BKT được luộc có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn những người khác [72] Trong một nghiên cứu thuần tập, nhằm xác định tỷ lệ mới nhiễm HIV và phân tích các yếu tố nguy cơ trên 579 người NCMT tại Valencia, Tây Ban Nha từ năm 1987 đến 1992 cho thấy yếu tố nguy cơ nhiễm HIV là người

có mượn BKT của người khác, người trên 20 tuôi[41]

Những hành vi dùng chung dụng cụ tiêm chích gián tiếp khác cũng làm tăng nguy cơ nhiễm HIV Cách chia thuốc theo đường phía trước là một cách mà người

NCMT sử dụng một BKT để pha thuốc và đo lường lượng thuốc chia cho một bạn

chích sau đó đây thuốc trực tiếp vào đầu bơm tiêm của người đó Việc dùng chung cũng có thể xảy ra trong khâu chuẩn bị thuốc để chích như dung dịch nước hoà tan thuốc hoặc bông lọc vì HIV có thể lây truyền qua các dụng cụ này mà không cứ phải dùng chung bơm hoặc kim tiêm Một nghiên cứu ở Denver của Koester và cộng sự cho thấy 72% người NCMT có hành vi dùng chung các dụng cụ này trong vòng 30 ngày trở lại Tỷ lệ dùng chung dụng cụ tiêm chích gián tiếp cao gấp đôi tỷ

lệ dùng chung trực tiếp BKT [59] Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng nguy co tiêm ân lây nhiễm HIV qua dùng chung gián tiếp chưa được những người NCMT

nhận thức ra

1.3.1.2 Hành vi nguy cơ trong quan hệ tình dục

Lây truyền qua đường tình dục trong nhóm NCMT hoặc từ nhóm NCMT là

một đường lây quan trọng trong nhiễm HIV Các nhà khoa học đã có chung một nhận xét rằng ở những nơi mà ma tuý phát triển và có quan niệm dễ dàng trong

quan hệ tình dục, lúc đầu số nhiễm HIV sẽ tập trung ở những người NCMT mà chủ

yếu là nam giới Sau đó việc quan hệ của những người này với gái mại dâm (GMD)

mà không sử dụng bao cao su dẫn đến nhiém HIV 6 GMD, tiép dén sé lay sang cac doi tượng là khách làng chơi mà có một tý lệ không nhỏ trong số này là nam

Trang 22

13

NCMT, tir d6 sẽ lan rộng ra khắp cộng đồng Người ta thấy tỷ lệ chuyên đổi huyết thanh sẽ cao hơn 4 lần ở người ở NCMT có bạn tình nhiễm HIV khi đã kiểm soát được việc dùng chung BKT [63] Nam giới NCMT có quan hệ tình dục đồng giới

hoặc lưỡng giới thì đặc biệt có nguy cơ cao nhiễm HIV vì không chỉ nhiễm HIV

qua đường tình dục mà còn nhiễm theo đường tiêm chích vì tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm dùng chung BKT Một nghiên cứu tại bệnh viện Sydney-Úc trên 1.245 đối tượng NCMT cho thấy nữ giới có nguy cơ lây nhiễm cao hon do có khuynh hướng dùng chung BKT nhiều hơn, dễ có khuynh hướng hoạt động mại dâm, nhiều ban tinh và thường bạn tình của họ cũng là những người NCMT[S1] Một nghiên cứu của Lyma, Friedman và cộng sự tiễn hành trên 123 đối tượng NCMT tại Rio de janeiro cho thấy một trong các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng lây nhiễm là nam giới có hoạt động tình dục đồng giới trong vòng 5 năm trước đó và chưa chủ định

áp dụng các biện pháp tự bảo vệ phòng chống HIV/AIDS, đồng thời cũng nhận định những nam giới NCMT và có hoạt động tình dục đồng giới là nhịp cầu lan truyền HIV sang những người tiêm chích ma tuý khác [61] Kết quả của một nghiên cứu khác cũng cho thấy, các yếu tố nguy cơ làm lây nhiễm HIV là QHTD với gái mại dâm không sử dụng BCS, Có từ 2 bạn tình trở lên [41]

1.3.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người NCMT tại Việt Nam

Từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm1990 tại thành phố

Hồ Chí Minh, việc xét nghiệm phát hiện HIV đã được tiến hành tích cực ở một số

địa bàn được coi là trọng điểm nhưng cho đến hết năm 1992 chỉ có 11 trường hợp

được báo cáo Năm 1993 đánh dấu sự bùng nỗ nhiễm HIV trong nhóm NCMT và từ

đó việc nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV cũng như các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng

lây nhiễm trong nhóm người NCMT tại các địa phương ở Việt Nam được đặc biệt

Trang 23

cứu này chỉ ra rằng, lứa tuôi 15-18 rất dễ bị rủ rê, lôi kéo vào con đường nghiện ngập ma tuý và nguyên nhân chủ yếu khiến người nghiện chuyển từ hút, hít sang tiêm chích là do chích rẻ hơn và có cảm giác phê hơn Những hành vi nguy cơ của người NCMT trong nghiên cứu này là: hầu hết đã và đang sử dụng chung BKT và việc sử dụng chung BKT chủ yếu diễn ra trong nhóm bạn chích, đa số không có thói quen làm sạch BKT mà nguyên nhân là: thiếu dụng cụ, tiêm khi lên cơn nghiện không kịp làm sạch, tiêm trong tình trạng vội vàng, lén lút Khi so sánh phân tích giữa kiến thức và hành vi, có một khoảng cách lớn giữa việc nhận thức nguy cơ và hành vi tiêm chích 70% đối tượng nghiên cứu cho rằng dùng BKT sạch sẽ tránh

được lây nhiễm HIV nhưng trên thực tế chỉ có 30% số người sử dụng BKT sạch

Đặc biệt tác giả đã phân tích khá sâu về mặt xã hội, trong đó nhấn mạnh vai trò

quan tâm của gia đình và ảnh hưởng của các đoàn thê xã hội trong việc tác động tới

quá trình thay đổi hành vi giảm nguy cơ ở người NCMT Tác giả cho biết có tới một

nửa số người được hỏi cho rằng tại thời điểm nghiên cứu họ vẫn phải tiêm lén lút để

khỏi bị gia đình phát hiện Điều đó chứng tỏ việc xác định và quản lý người nghiện chích ma tuý trong cộng đồng không phải là đễ dàng [20]

Một nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh về yếu tố nguy cơ nhiễm HIV và dùng chung BKT ở người nghiện chích ma tuý trên một mẫu gồm 1.519

đối tượng trong thời gian 1995, 1997, 1998 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 44% Người

NCMT độc thân hay da li di, tiêm chích trên 5 năm, tiêm chích tại tụ điểm hay trên đường phô và luôn luôn dùng chung BKT trong quá khứ có nguy cơ lây nhiễm cao hơn những người NCMT sống cùng gia đình, tiêm chích dưới 5 năm, không dùng chung BKT, tiêm ma tuý tại nhà hay tự tiêm lấy Dựa trên kết quả thu thập được các tác giả đã nhận định: trong chương trình dự phòng ngoài việc lôi kéo những người NCMT cần phải lôi kéo cả những chủ trích dé họ chấp nhận việc làm sạch và sử dụng BKT sạch

Đồng thời cần tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ cho việc thay đổi hành vi cũng như tính

tiếp cận với BKT sạch Bên cạnh đó, các tác giả của nghiên cứu này cũng nhận định có nguy cơ tiềm tàng làm lây truyền HIV từ nhóm người NCMT sang các quân thê khác

Trang 24

15

qua đường tình dục Vì vậy các can thiệp dự phòng HIV cho người NCMT cần phải bao gồm cả việc giảm hành vi nguy cơ trong tiêm chích lẫn trong tình dục [23]

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Anh Tuấn được tiến hành tại Hải Phòng

đầu năm 1999, trên 520 đối tượng nghiện ma tuý dưới 30 tuổi, trong đó có 319 người NCMT Kết quả, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 74% Việc sử dụng chung BKT là khá phô biến với tỷ lệ 69% và họ vẫn tiếp tục hành vi này ngay cả khi nhận thức được răng có thể mình bị HIV qua việc dùng chung BKT Những yếu

tô có liên quan đến sự có mặt của kháng thể kháng HIV là: dùng chung BKT (OR=

4,12), tiêm nhiều hơn 31 lần một tháng (OR=2,37) Các yếu tố khác như: QHTD với

GMID, tiền sử cai nghiện, các hình thức làm sạch BKT cũng được các tác giả đưa

vào xem xét, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê [32]

Trong nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở người nghiện chích ma tuý tại thị xã Câm Phả và thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh của

Vũ Văn Tâm cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV là 31,9%, tỷ lệ sử dụng chung BKT là khá cao 58,9%, việc sử dụng chung BKT chủ yếu diễn ra trong nhóm bạn chích Có tới 75% sô đôi tượng đã từng có QHTD với GMD nhưng chỉ có 47,8% có sử dụng BCS Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV là thời gian thực hành TCMT, số lần tiêm chích trong ngày, số mũi tiêm bình quân trong tháng, dùng chung BKT, tiền sử cai nghiện và QHTD với GMD [251,

Trong nghiên cứu điều tra cộng đồng phòng chống AIDS tại 5 tỉnh Lai Châu, Quảng trị, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp cho thấy nhóm người nhiễm HIV là nhóm có nguy cơ lây truyền rất cao cho những người khác thông qua con đường tình dục và sử dụng chung BKT Nguy cơ lây nhiễm ở Lai Châu chủ yếu qua đường

tiêm chích, ở An Giang là vừa do tiêm chích lại vừa do QHTD không an toàn

Những người nhiễm HIV có TCMT của Lai Châu, Kiên Giang và Đồng Tháp vẫn

tiếp tục tiêm chích ma tuý với tỷ lệ dùng chung BKT rất cao tương ứng 55%, 66%, 61% Không những thế lại có tỷ lệ rất lớn những người nhiễm HIV có QHTD với GMD, với tỷ lệ dùng BCS rất thấp (20-40%) [33].

Trang 25

Trong nghiên cứu của Lưu Thị Minh Châu và cộng sự báo cáo về tỷ lệ hiện

nhiễm và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Hải Phòng va Hà Nội năm

2004 cho thấy: tuổi trung bình của ĐTNC là 31, tỷ lệ thất nghiệp cao, 90% đối

tượng đều đang sống độc thân Phần lớn đối tượng có thời gian tiêm chích từ 2-5

năm Có 67,3% đối tượng ở Hải Phòng và 63,4% đối tượng ở Hà Nội nhiễm HIV

(bang OraQuick™) Tuy nhiên chỉ có 13,9% người NCMT nhiễm HIV tại Hải

Phòng và 1,5% tại Hà Nội biết đúng tình trạng nhiễm HIV của mình Mặc dù các

đối tượng ít dùng chung BKT (2,4% tại Hải Phòng và 2,5% tại Hà Nội) nhưng tỷ lệ pha chung dung dịch ma tuý lại khá cao (12,3% ở Hải Phòng và 45,1% ở Hà Nội)

Tý lệ đối tượng có QHTD trong 6 tháng qua thấp (22,7% ở Hải Phòng và 40% ở Hà

Nội) nhưng tý lệ luôn luôn sử dụng BCS khi QHTD là rất thấp [11]

Nguyễn Trần Hiển, Nguyễn Thu Anh và cộng sự trong một nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trên 1.622 người NCMT tại 7

tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình phước, Bình Dương, Long An và Sóc

Trăng nhằm xác định tý lệ nhiễm HIV và xác định những hành vi có nguy cơ cao đã

kết luận: tý lệ nhiễm HIV ở nhóm người NCMT là từ 18,8%-40,6% Tỷ lệ dùng lại BKT trong một tháng qua là 18,7%-37,6% Có tỷ lệ khá cao người NCMT có QHTD với GMD trong 12 tháng qua (59,4% ở Hà Tĩnh) với tỷ lệ su dung BCS thường xuyên thấp, làm cho điễn biến của dịch HIV càng trở nên phức tạp và điễn biến của nó là không thể lường trước được Tại một số tỉnh, gần 2/3 người NCMT hiểu sai về cách phòng tránh lây nhiễm HIV Số đối tượng đã từng được xét nghiệm

HIV tương đối thấp (dưới 30%), trong đó chỉ một số ít được tư vấn đầy đủ [21]

Do việc tiếp cận với các đối tượng nghiên cứu trong cộng đồng, nhìn chung vẫn còn là vấn đề không đơn giản, một số nghiên cứu đã được tiến hành trên những người NCMT đang được điều trị tại các trung tâm cai nghiện là nơi tập trung rất nhiều người nghiện ma tuý cùng học tập, sinh hoạt và lao động Hơn nữa trong các

trung tâm cai nghiện, có một tỷ lệ không nhỏ người nghiện đã bị nhiễm HIV Vì vậy, ngoài việc tìm hiểu những hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trước khi vào trung

Trang 26

17

tâm, các nghiên cứu này còn tìm hiểu thêm những hành vi nguy cơ có thê có trong

quá trình học viên sinh hoạt và lao động tại các trung tâm

Trong nghiên cứu của Đào Văn Dũng, Trần Xuân Sắc và cộng sự thực hiện trên 423 người nghiện ma tuý mới vào trung tâm cai nghiện cho thấy hầu hết ĐTNC (87,9%) có dùng chung BKT với bạn nghiện, trong đó 40% đối tượng thường xuyên

dùng chung BKT khi TCMT và có một tỷ lệ đáng kế (33%) đã có ít nhất một lần

QHTTD không an toàn với GMD, trong đó có 22,5% đã quan hệ 3 lần trở lên trước khi vào trung tam [14]

Kết quả nghiên cứu tìm hiểu những yếu tố tác động đến nguy cơ lây nhiễm

HIV tại Trung tâm 05, 06-Thành phố Hà Nội của Nguyễn Thành Quang và Hà Thế

Tấn năm 2002 cho thay hầu hết học viên có độ tuổi trên 20, trình độ học van con

thấp, hành vi nguy cơ trước khi vào trung tâm cũng như một số nghiên cứu khác là: dùng chung BKT và QHTD với gái mại dâm và bạn tình không sử dụng BCS Ngoài ra còn có một số hành vi nguy cơ khi ở trong trung tâm là dùng chung đao cạo râu, tiếp xúc với máu của người nhiễm HIV, xăm mình, đánh nhau gây thương

tích với các tỷ lệ tương ứng là: 25,8%, 12,6%, 11,6%, 11,2% [27]

Lê Anh Tuấn và cộng sự trong báo cáo kết quả nghiên cứu hành vi nguy cơ

lây nhiễm HIV tại trung tâm 05, 06-thành phố Hà Nội năm 2002 kết luận: tỷ lệ

nhiễm HIV là 21%, không có trường hợp nào chuyển dạng huyết thanh từ HIV (-)

sang HIV (+) sau 6 tháng Nghiên cứu cũng cho thấy mặc dù không phát hiện ra trường hợp nào có TCMT hay QHTD trong trung tâm nhưng vẫn còn tôn tại hiện tượng dùng chung dao cạo râu, xăm mình, đánh nhau gây thương tích có chảy máu [30]

Một nghiên cứu khác của Đào Văn Dũng và cộng sự tiến hành trên 378 học

viên của trung tâm Giáo dục lao động xã hội X, thành phố Hà Nội năm 2004 cho

thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 30,42% Các yếu tô liên quan đến tình trạng nhiễm HIV là

dung lai BKT (OR=1,79), QHTD với GMD (OR=1,79), khéng dùng BCS khi

QHTD với GMD (OR=2,84), xăm trô trên đa (OR=1,69) [13]

as aera | Mi: DHY TE CONG Ct 16 ||

_ ` |

| THU VIER

| l) Vân |ề

Trang 27

1.4 Các can thiệp dự phòng lây nhiém HIV trén nhóm nghiện ma tuý

Sau khi tìm hiểu các lý do dẫn đến việc mượn lại hoặc sử dụng BKT, biện

pháp cung cấp BKT sạch thông qua chương trình trao đổi BKT đã trở thành phương

thức chủ yếu để giảm việc lây nhiễm HIV cho người NCMT ở phần lớn các nước

phát triển Australia được coi là quốc gia có nhiều kinh nghiệm thành công trong việc áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT Can thiệp giảm tác hại được thông qua một chính sách quốc gia từ tháng 4 năm 1985 Chương trình giáo dục đồng đẳng trong nhóm ma tuý được áp dụng từ

cuối những năm 1980, chương trình này được kết hợp với chương trình trao đổi

BKT Kết quả là đã khống chế được nhiễm HIV trong nhóm nghiện ma tuý, còn

khoảng 1-2% Tỷ lệ mắc AIDS hàng năm ở mức rất thấp 1,2/100.000 dân [68]

Des Jarlais và cộng sự trong một nghiên cứu năm 1996 đã kết luận những người NCMT không tham gia chương trình trao đôi BKT một cách đều dặn và liên tục có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn 3,35 lần những người có tham gia Các tác giả của nghiên cứu này đã kết hợp sử dụng số liệu của các nghiên cứu khác đã tiến hành tại Úc, Đan Mạch, Scôtlen và khẳng định rằng, từ khi công khai cung cấp

dịch vụ tiêm chích cho người NCMT, chưa có một chứng cớ nào chứng tỏ việc

cung cấp BKT lại làm tăng số người sử dụng ma tuý bất hợp pháp Trái lại, chính việc tham gia vào chương trình này đã giúp họ giảm bớt các hành vi nguy cơ khi thực hành tiêm chích ma tuý [50]

Hurley và cộng sự tiến hành so sánh tỷ lệ lưu hành HIV được ghi nhận hàng

năm tại các thành phố và quốc gia qua 214 bài báo hoặc các tài liệu được công bố Trong đó, 81 thành phố của các nước Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á và các nước

thuộc Nam Thái Bình Dương có các cuộc điều tra hàng năm về tỷ lệ lưu hành HIV kèm theo các thông tin về chương trình trao đổi BKT và đưa ra kết quả: ở 52 thành phố không có chương trình trao đổi BKT, tỷ lệ HIV dương tính được ghi

nhận tăng lên trung bình 5,9% mỗi năm Trong khi đó, ở 29 thành phố còn lại có

chương trình trao đổi BKT thì tỷ lệ hiện mắc được ghi nhận hàng năm giảm trung

bình 5,8% [56]

Trang 28

19

Một số tác giả khác đã đi sâu phân tích khía cạnh về mặt xã hội cũng như về

chủ trương đường lối của một số quốc gia trong việc phòng ngừa sự lây lan HIV từ nhóm ma tuý ra cộng đồng Lurie và Drucker tiến hành phân tích các số liệu nhiễm HIV hàng năm tại Mỹ, sau khi xem xét và loại ra các nguy cơ khác dẫn đến tình

trạng lây nhiễm HIV ở các đối tượng, các tác giả kết luận: lây nhiễm HIV có liên

quan đến việc nước Mỹ đã thiếu một chương trình toàn quốc về trao đổi BKT [62]

Tại Việt Nam trước thực trạng đại dịch HIV/AIDS hiện nay, Chính phủ đã

phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010

va tam nhìn 2020” trong đó xác định các ưu tiên từ nay đến 2010 bao gồm: (1)

Thông tin, giáo dục, truyền thông: (2) can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV; (3) chăm sóc, điều trị; (4) Tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế Chính phủ cũng xác định can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV là biện pháp ưu tiên cấp bách trong hoàn cảnh hiện nay

Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới giảm tác hại là các chính sách và

chương trình nhằm làm giảm các hậu quả về sức khoẻ, xã hội và kinh tế đối với cá

nhân, người sử dụng ma tuý, gia đình và cộng đồng của họ do việc sử dụng các chất làm thay đổi trạng thái Chương trình can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý sẽ tạo một môi trường thuận lợi cho những người

NCMT tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ về y tế và xã hội Điều này góp phần làm giảm

sự kỳ thị và phân biệt đối xử với những người NCMT bị nhiễm HIV

Một chương trình can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV trong nhóm

nghiện chích ma tuý được đánh giá là có hiệu quả nếu chương trình được cấu thành với 4 nội dung[9]: tổ chức chương trình giáo dục đồng đẳng (GDĐĐ), tiếp cận đối

tượng đích; Giáo dục sức khoẻ về HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho những người nghiện chích ma tuý; Chương trình BKT sạch; Tổ chức điều trị/cai nghiện thay thế bằng Methadon uống

Người ta thấy tiếp cận thông qua nhóm đồng đẳng được coi là một chiến lược có hiệu quả nhằm tiếp cận đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV Giáo dục đồng đăng tuy không đưa thông tin cho một số lượng lớn người nhưng lại có tác dụng đi

Trang 29

sâu và hữu ích cho những người khó tiếp cận Tiếp cận can thiệp giảm tác hại làm giảm các hành vi nguy cơ và tăng các hành vi phòng vệ trong nhóm NCMT

Một trong các chương trình của can thiệp giảm tác hại là tư vấn, xét nghiệm

tự nguyện HIV: tư vấn, xét nghiệm nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm HIV hoặc lây nhiễm HIV thông qua việc cung cấp thông tin và tư vấn dự phòng Chương trình tư vấn, xét nghiệm tự nguyện HIV đảm bảo cho những người nhiễm HIV và những người có nguy cơ cao nhiễm HIV được xét nghiệm HIV để có thể biết sớm tình

trạng nhiễm HIV của bản thân Nhận được tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV có chất

lượng nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm hoặc lây truyền HIV và tiếp cận được với các

dịch vụ y tế, dự phòng và hỗ trợ tâm lý thích hợp

Tại Việt Nam chương trình can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV

được tiến hành từ năm 1993 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tổ chức phân

phát BKT sạch và BCS đã được thực hiện thông qua nhóm GDVĐĐ Tại Sơn La

mô hình GDVĐĐ đã được triển khai từ năm 2004 cho nhóm NCMT của dự án Lif-

Gap Năm 2005 tiếp tục triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại do ngân hàng

thé giới tài trợ

Mặc dù phòng chống HIV đã có nhiều chương trình can thiệp, nhưng tình hình tiêm chích ma tuý vẫn gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT và lây nhiễm ra cộng đồng vẫn còn tồn tại Vì vậy việc nghiên cứu để tìm hiểu các hành vi nguy cơ cũng như những yếu tố

có liên quan đến tình trạng nhiễm HIV là hết sức cần thiết

Trang 30

pa

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nam giới nghiện chích ma túy đang được điều trị và học tập tại trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn La (TTGDLĐ) có tiêm chích ma tuý trong 1 tháng trước khi vào trung tâm

- Cán bộ phụ trách y tế và cán bộ quản lý học viên

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn La từ

tháng 3 đến tháng 10 năm 2007

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính

s* Nghiên cứu định lượng: mô tả cắt ngang có phân tích

s Nghiên cứu định tính:

- Người NCMT: được thực hiện bằng các kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu nhằm giải thích, minh họa cho những kết quả dự kiến từ nghiên cứu định lượng Các chủ để phân tích xoay quanh các nội dung sau:

+ Các hành vi nguy cơ trước khi vào trung tâm (TT): nguyên nhân ĐTNC có

các hành vi nguy cơ, nhận thức của đối tượng về các hành vi nguy cơ và hậu quả

cua no

+ Các hành vi nguy cơ trong TT: mức độ phổ biến, lý do tổn tại các hành vi nguy co

+ Các khó khăn, rào cản ngăn trở đối tượng có hành vi an toàn

+ Tìm hiểu việc tiếp cận với các chương trình can thiệp giảm tác hại của ĐTNC, những yếu té gi lam can trở ĐTNC tiếp cận với các chương trình này

+ Mối quan tâm của ĐTNC về các vấn đề nêu trên để giúp định hướng cho các chiên lược can thiệp

Trang 31

- Cán bộ chủ chốt: phỏng vấn sâu về công tác thông tin tuyên truyền phòng chống HIV trong TT, sự tồn tại những hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở trong TT, những biện pháp khắc phục, những khó khăn gặp phải

2.4 Phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

s* Nghiên cứu định lượng

Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Ï=ø72 đ?

n: là số đối tượng cần điều tra

Z:ứng với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96

ơ: là mức ý nghĩa thống kê, lấy œ = 5%

p: 0,3 tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng nghiện ma túy (theo kết quả giám sát điểm tỉnh Sơn La năm 2006)

d: sai số mong muốn = 0,06 Thay số vào công thức trên ta có n = 224

Dự kiến 10% số trường hợp từ chối ->n = 250

% Nghiên cứu định tính: Lẫy mẫu theo chủ đích

- 10 cuộc phỏng vấn sâu người NCMT, 2 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ

- 2 cuộc thảo luận nhóm người NCMT: mỗi nhóm 6-8 người

2.4.2 Cách chọn mẫu

s» Nghiên cứu định lượng:

- Chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Khoảng cách

mẫu k được tính bằng tổng số học viên trong trung tâm/số người cần chọn Ta có

Trang 32

23

+ Chọn 10 học viên theo phương pháp thuận tiện thông qua sự giới thiệu của cán bộ quản lý học viên của Trung tâm

+ Một cán bộ phụ trách y tế và một cán bộ quản lý học viên

- Đối với thảo luận nhóm tập trung: lựa chọn 2 nhóm học viên (mỗi nhóm 8

người) theo địa bàn cư trú trước khi đến Trung tâm

- Tiêu chí lựa chọn học viên tham gia phỏng vấn và thảo luận nhóm: chọn

những người có tính cách cởi mở, dễ tiếp cận và có tinh thần hợp tác

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

s* Nghiên cứu định lượng

- Công cụ thu thập số liệu

+ Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (đã tham khảo mẫu phiếu điều tra hành

vi ở người nghiện ma túy của cục phòng chống HIV/AIDS) Đã kiểm tra trên thực

tế, có chỉnh sửa sau khi điều tra thử (Phụ lục 1)

+ Kết quả xét nghiệm HIV: 250 trường hợp đã chọn vào mẫu được Trung tâm

phòng chống HIV/AIDS tỉnh làm xét nghiệm HIV Kháng thể HIV được xác định

thông qua việc áp dụng chiến lược 3 của Tổ chức y tế thế ĐIỚI

- Kỹ thuật thu thập số liệu

+ Phỏng vấn trực tiếp các ĐTNC Việc tiến hành phỏng van được tiến hành

hoàn toàn theo nguyên tắc vô danh ĐTNC được giới thiệu mục đích của nghiên

cứu, đảm bảo bí mật không lưu tên đối tượng

Danh sách học viên được mã từ 001 đên 250 Khi thu thập sô liéu DTV ghi mã

sô cá nhân của học viên vào phiêu điều tra

+ Kêt quả xét nghiệm HIV: bảng danh sách học viên tham gia nghiên cứu được gửi cho trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khi lây máu xét nghiệm cán bộ y tế

sẽ điện đúng mã sô theo danh sách vào ống máu của từng học viên Nghiên cứu viên

sẽ ghép mã kết quả xét nghiệm với mã ghi ở phiếu điều tra để tìm thông tin về những người bị nhiêm HIV/AIDS Như vậy, việc xác định học viên bị nhiễm HIV/AIDS đã được bảo mật hoàn toàn mà ngay cả nghiên cứu viên cũng không biết

được danh tính của họ

s* Nghiên cứu định tính

- Công cụ thu thập là bán hướng dẫn PVS, hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục 2, 3)

Trang 33

- Kỹ thuật thu thập: Ghi chép va thu băng các cuộc phỏng vấn, thảo luận Nơi phỏng vấn do đối tượng nghiên cứu tự chọn trong phạm vi trung tâm đề có thể khai thác được các thông tin riêng tư, nhạy cảm

- Nghiên cứu viên đã đảm trách 10 cuộc PVS, 2 cuộc thảo luận nhóm, có ghi

chép và ghi âm các cuộc phỏng vấn

$ Điều tra viên, giám sát viên

- Diéu tra viên là nghiên cứu viên và 4 giáo viên trường TH y tế Sơn La đã

được tập huấn kỹ về nội dung điều tra, các kỹ năng tiếp cận và kỹ năng phỏng vấn

đề đảm bảo độ chính xác cao

- Giám sát viên là nghiên cứu viên

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

s%* Nghiên cứu định lượng:

- Sau khi thu thập số liệu làm sạch bộ số liệu trước khi nhập vào máy, nhập

số liệu bằng phần mềm Epidata, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

- Sử dụng các thuật toán thống kê: test y’ cho so sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ

lệ, tính tỷ số chênh (OR) để xác định độ mạnh của mối tương quan, sau khi phân

tích 2 biến tiến hành phân tích đa biến để khống chế yếu tố nhiễu

s* Nghiên cứu định tính:

Gỡ băng, ghi chép mã hóa thông tin, phân tích trích dẫn dưới dạng văn bản

theo chủ đề Các ghi chép và băng ghi âm sau khi xử lý số liệu được hủy một cách

an toàn để đảm bảo tính bí mật của thông tin

2.7 Các biến số, khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Các biến số (phụ lục4)

2.7.2 Các khái niệm (Phụ lục 5)

2.7.3 Đánh giá kiến thức về phòng lây nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu

(Phụ lục 6)

2.8 Vẫn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học y

tế Công cộng Nghiên cứu được tiến hành khi sau đã được Hội đồng đạo đức

chấp thuận

- Nghiên cứu được sự chấp thuận của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và Trung tâm Giáo dục-Lao động tỉnh Sơn La

Trang 34

25

- Viéc tién hanh phỏng vấn được tiến hành hoàn toàn theo nguyên tắc vô danh và tự nguyện Mọi thông tin liên quan đến danh tính cá nhân được điều tra viên và nghiên cứu viên giữ bí mật hoàn toàn Băng ghi âm và ghi chép các cuộc

phỏng vấn sâu được hủy một cách an toàn cho đối tượng Phiếu điều tra được mã

hoá, kết quả xét nghiệm HIV được lây tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS của

tỉnh dưới dạng mã sỐ

- Kết quả thu được và các khuyến nghị sẽ được để xuất với các cơ quan chức

năng của địa phương, góp phần trong việc lập kế hoạch can thiệp cho nhóm NCMT

và hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại địa phương có hiệu quả hơn, không phục

vụ cho mục đích nào khác.

Trang 35

Chương 3

KET QUA NGHIEN CUU

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 250 đối tượng, trong đó có 1 trường hợp từ

chối không tham gia vào nghiên cứu, sau khi tông hợp không có phiếu nào bị loại Kết quả được phân tích dựa trên 249 phiếu phỏng vấn của người NCMT trong nghiên cứu định lượng và 10 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm trong

15-24 tuôi 25-29 tuôi > 30 tuôi

Biểu đồ I Phân bố ĐTINC theo nhóm tuổi (n=249)

Tuôi trung bình của người NCMT là 31,9 Người có tuổi thấp nhất là 17 va

cao nhat 1a 51 Trong đó tập trung chủ yếu là độ tuổi trên 30 (63%)

Trang 36

Zi

36.1%

| Mù chữ Tiêu học THCS THPT TH, CĐ,

ĐH

Biểu đồ 2 Phân bố ĐTÌNC theo trình độ học vấn (n=249)

Mặc dù tuổi trung bình khá cao nhưng trình độ văn hoá của các ĐTNC nhìn

chung là thấp Tý lệ người có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên là 6,1%,

trung học phổ thông là 25,7% Hầu hết người NCMT có trình độ từ trung học cơ sở

trở xuống Một trong những lý do khiến người NCMT có trình độ học vấn thấp là

do nghiện ma tuý Một NCMT nói “Em bắt đâu sử dụng ma tuý từ năm học lớp 6,

hàng ngày vẫn ra khỏi nhà, nhưng bọn em rủ nhau bỏ tiết suốt Cuối năm không được lên lớp, em cũng bỏ học luôn” (MS 15-25tuỗi)

| That nghiép Nông dân Lái xe Cán bộ

Biểu đồ 3 Phân bỗ ĐTNC theo nghề nghiệp (n=249)

Nghề nghiệp của NCMT trước khi vào trung tâm: chủ yếu là nông dân

58,2%, thất nghiệp chiếm tỷ lệ 28,6%, theo kết quả PVS thì trước khi nghiện họ

Trang 37

cũng có một nghề nào đó để kiếm sông nhưng sau khi cơ quan hoặc người chủ biết

họ đã bị đuôi việc “Ƒm sử dụng từ khi còn đang học chuyên nghiệp, sau này ra

trường dạy được 2 năm thì nhà trường phát hiện ra và em bị đuổi, hiện nay em

không có việc gì đề kiếm sống cả ”( MS44-35 tuôi)

Bảng 1 Một số đặc điểm khác của người ĐTNC

Biến Chỉ số Tần số Tỷ lệ %

Kinh 99 39,8 Thái 129 51,8

Bảng trên cho thấy đa số ĐTNC là người dân tộc thái chiếm 51,8%, các dân

tộc khác chiếm tỷ lệ rất thấp Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã lập gia đình là cao nhất

55,8% Hầu hết các đối tượng trước khi vào trung tâm là sống cùng gia đình, người thân, số còn lại sống một mình hoặc lang thang cùng bạn bè mà tình trạng NCMT

và nhiễm HIV là một nguyên nhan: “Minh nghiện đến nay là 17 năm rôi, từ khi phái hiện bị bệnh (nhiễm HIV) đến giờ gia đình coi mình như người đã chết, vợ nó

đòi l¡ đị luôn ” (MS 105- 40 tuổi),

Trang 38

29

3.2 Hanh vi nguy cơ lây nhiễm HIV

3.2.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm trong tiêm chích ma túy

3.2.1.1 Thông tin về sử dụng ma túy lần đầu của ĐTNC

rê cho biết buồn

Biểu đồ 4 Lý do sử dung ma tuy (n=249)

Lý do sử dụng ma tuý chủ yếu đo bạn bè rủ rê chiếm 83,2%, tiếp theo là do

tò mò, thử cho biết 51% và do một số nguyên nhân khác

Kết quả này cũng phù hợp với kết quả PVS và TLN Các lý do dẫn đến

nghiện ma tuý rất đa dạng Nhiều trường hợp nói rằng bạn bè rủ rê dùng thử rồi

nghiện lúc nào không biết “Em có mot thang ban thân nghiện, có lần đi chơi với

nhau nó bảo hít thử xem sao Em tò mò dùng thử rồi sử dụng thêm một vài lần wữa và nghiện lúc nào cũng không biết nữa "(MS72-20tuôi) “Ngày mới lớn bạn

bè rủ rê thử một tý cho biết, hồi ấy chưa có Heroin như bây giờ mà chỉ có đen thôi (thuốc phiện) Hút vài lần rồi chẳng nghĩ 8ì nữa Sau đó bạn lại rủ nó bảo có nghiện được đâu va em lai hit tiếp, dùng được khoảng một tháng thì không có thuốc không thể chịu được, khi ấy thì biết mình nghiện rồi nhưng cứ phải theo lao

thôi” (MS41-22 tuôi)

Một lý do nữa được nhiều người NCMT biện minh cho việc sử dụng ma tuý

của mình là do sự săn có của ma tuý “Ngày dy tôi làm cán bộ đi công tác ở vùng

Trang 39

Mèo, người ta hút thường xuyên Thằng bạn rủ mình hút nhiều lần, lúc đâu cũng chối nhưng mình ở xa nhà buồn nên cũng thử một vài lan va thấy đỡ buôn hơn Mà cũng tại ngày xưa thuốc sẵn quá, vào Mèo người ta còn mời mình như mời ăn cơm

ấy chứ” (MS78-43 tuổi),

Có người nghiện ma tuý vì thiếu sự quan tâm của gia đình để bạn bè lôi kéo

“Bo me em chi biét cho em tiền còn chẳng quan tâm gì cả, em làm 8ì học hành như thể nào cũng không biết Em trốn học được gân 1 năm bố mẹ mới biết Bạn bè bảo

em có tiên tội gì không chơi cho sướng” (MS15-20 tuôi)

Cũng có trường hợp nghiện ma tuý trong hoàn cảnh rất đặc biệt, trong gia đình có nhiều thế hệ dùng, lâu dần cũng dùng và nghiện “Nhà em cả ông nội và bố

em đều hút thuốc phiện Em thường xuyên phải chuẩn bị thuốc và châm cho Ông em hút Rồi ông bảo em hút và đến năm em 15 tuổi thì em bắt đâu nghiện "` (MS100- 33 tuổi)

Bảng 2 Tuổi bắt đầu sử dụng và hình thức sử dụng ma tuý lần đầu

Bảng trên cho thấy, người NCMT bắt đầu sử dụng từ khi còn rất trẻ, trên một

nửa bắt đầu sử dụng khi tuổi dưới 25 Hình thức sử dụng đầu tiên chủ yếu là hút

Trang 40

31

hoặc hít, chỉ có 6 trường hợp là bắt đầu bằng chích Kết quả thảo luận nhóm cho

thấy, những người nghiện ma tuý đã lâu, hầu hết hình thức sử dụng lúc đầu là hút

thuốc phiện Còn những người mới nghiện trong thời gian gần đây có xu hướng chích ngay

Rẻ hơn Hiệu quả Bạnbè Tòmò Hiếm Tiện hơn

hơn rủ rê thuốc

phiện

Biểu đồ 5 Lý do chuyễn từ hút, hít sang chích (n=243)

Có tới 60,5% lựa chọn lý do rẻ hơn, tiếp theo là hiệu quả hơn 46,5% Còn

khoảng 10% cho rằng vì hiếm thuốc phiện và khi chích thì tiện hơn Kết quả này

cũng phù hợp với kết quả nghiện cứu định tính

Một đặc điểm của những người nghiện ma tuý là phải dùng tăng liều dần để

có cảm giác sảng khoái, vì vậy hiệu quả hơn và rẻ hơn là lý do được NCMT lựa chọn nhiều nhất “Ngày trước mới nghiện thì còn đầy đủ, tôi còn buôn bán được cũng rất là đàng hoàng Sau đến hết tiền rồi tiêu pha, rồi cờ bạc, rồi có lúc phải chạy từng tép một Ngày trước có nhiều dùng nhiều thành ra liều cứ phải tăng lên

mới phê được ” (MS162- 45 tuôi) “Khi chích nó phê được ngay và nó lâu hết thuốc Hút thì phải hàng trăm mới đủ phê mới lại đủ cái lượng trong người mình chịu đựng Còn chích thì mình chỉ cần bỏ ra 50 nghìn một cái là mình cảm thấy như phê,

thậm chí còn phê hơn cả hú? (MS41- 22 tuôi)

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.  Một  số  đặc  điểm  khác  của  người  ĐTNC - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 1. Một số đặc điểm khác của người ĐTNC (Trang 37)
Bảng  2.  Tuổi  bắt  đầu  sử  dụng  và  hình  thức  sử  dụng  ma  tuý  lần  đầu - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 2. Tuổi bắt đầu sử dụng và hình thức sử dụng ma tuý lần đầu (Trang 39)
Bảng  3.  Thời  gian  chích  ma  túy - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 3. Thời gian chích ma túy (Trang 41)
Bảng  5.  Thông  tin  về  dùng  chung  BKT  và  thực  hành  pha  thuốc  của  ĐTNC - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 5. Thông tin về dùng chung BKT và thực hành pha thuốc của ĐTNC (Trang 43)
Bảng  8.  Phân  bỗ  ĐTNC  có  QHTD  lần  đầu  theo  lứa  tuổi - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 8. Phân bỗ ĐTNC có QHTD lần đầu theo lứa tuổi (Trang 45)
Bảng  10.  Sử  dụng  BCS  trong  lần  QHTD  gần  đây  nhất  với  các  loại  bạn  tình - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 10. Sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất với các loại bạn tình (Trang 46)
Bảng  12.  Phân  bố  số  nhiễm  HIV theo  tuổi,  dân  tộc,  trình  độ  học  vẫn,  nghề  nghiệp - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 12. Phân bố số nhiễm HIV theo tuổi, dân tộc, trình độ học vẫn, nghề nghiệp (Trang 49)
Bảng  13.  Phân  bố  ĐTNC  theo  các  lần  cai  nghiện  tại  trung  tâm - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 13. Phân bố ĐTNC theo các lần cai nghiện tại trung tâm (Trang 51)
Bảng  15.  Thông  tin  về  làm  xét  nghiệm  của  ĐTNC - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 15. Thông tin về làm xét nghiệm của ĐTNC (Trang 52)
Bảng  19.  Nội  dung  thay  đổi  và  lý  do  thay  đổi  hành  vi  (n=91) - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 19. Nội dung thay đổi và lý do thay đổi hành vi (n=91) (Trang 55)
Bảng  20.  Liên  quan  giữa  đặc  điểm  nhân  khẩu  học  của  ĐTNC  với  nhiễm  HIV - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 20. Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC với nhiễm HIV (Trang 56)
Bảng  23.  Liên  quan  giữa  kiến  thức  phòng  lây  nhiễm  HIV  và  nhiễm  HIV  (n=249) - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 23. Liên quan giữa kiến thức phòng lây nhiễm HIV và nhiễm HIV (n=249) (Trang 59)
Bảng  26.  Mô  hình  hôi  qui  đa  biến  xác  định  một  số  yếu  tô  liên  quan  đến  tình  trạng  nhiễm  HIV  (n=249) - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
ng 26. Mô hình hôi qui đa biến xác định một số yếu tô liên quan đến tình trạng nhiễm HIV (n=249) (Trang 60)
B3  Hình  thức  sử  dụng  ma  túy  lân  đầu  1.  Hút,  hít - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
3 Hình thức sử dụng ma túy lân đầu 1. Hút, hít (Trang 86)
23  Hình  thức  làm - Thực trạng nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan ở nam nghiện chích ma tuý tại trung tâm giáo dục - lao động tỉnh Sơn La năm 2007
23 Hình thức làm (Trang 103)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w