BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC LÊ HOÀNG LONG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/AIDS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐẾN TƯ VẤN XÉ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/AIDS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ ĐẾN TƯ VẤN XÉT NGHIỆM TỰ NGUYỆN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUAN HÓA - THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y KHOA
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/AIDS
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ ĐẾN TƯ VẤN XÉT NGHIỆM TỰ NGUYỆN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUAN HÓA - THANH HÓA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tôi luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ Tôi xin chân thành cảm ơn : Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo trong Khoa y tế công cộng, các phòng ban Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên đã trang bị kiến thức , tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn này
Phòng đào tạo , Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên, người thầy đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kin h nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện Luận văn
Tôi xin chân thành biết ơn : Đảng uỷ, Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã tạo điều kiện thuận lợi , giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thanh Hoá , Ban quản lý Dự án “phòng , chống HIV /AIDS ở Việ t Nam” tỉnh Thanh Hoá, Trung tâm Y tế huyện Quan Hoá đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành nghiên cứu tại thực địa
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình , bạn bè, đồng nghiệp đã động viên , chia sẻ và khích lệ tôi cả về thể chất và tinh thần trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2010
Lê Hoàng Long
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Trên Thế Giới 3
1.1.2 Tại Việt Nam 6
1.1.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Thanh Hóa 10
1.1.4 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Quan Hóa 13
1.2 Nguy cơ nhiễm HIV/AIDS 13
1.3 Giới thiệu hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 23
2.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.3.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.3.2 Công cụ thu thập số liệu 25
2.3.3 Chỉ số nghiên cứu 27
2.3.4 Xử lý số liệu 28
2.3.5 Một số khái niệm 28
2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung ở đối tượng đến TVXNTN 30
3.2 Thực trạng nhiễm HIV /AIDS ở đối tượng đến TVXNTN 33
3.3 Một số yếu tố liên quan nhiễm HIV ở đối tượn g TVXNTN 37
Trang 5Chương 4: BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung ở đối tượng đến TVXNTN 43
4.2 Thực trạng nhiễm HIV ở đối t ượng đến TVXNTN 44
4.3 Các yếu tố liên quan đến thực trạng lây nhiễm HIV ở đối tượng nghiên cứu 50
4.3.1 Hành vi sử dụng ma tuý 50
4.3.2 Hành vi quan hệ tình dục 53
KẾT LUẬN 58
KHUYẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
CDC : Center for Disease Control
(Trung tâm Kiểm soát bệnh tật )
ĐTTV : Đối tượng tư vấn
ELISA : Enzyme - Linked Immunsorbent Assay
KQXN : Kết quả xét nghiệm
STDS : Sexually Transmitted Diseases
(Bệnh lây truyền qua đường tình dục)
TTYT : Trung tâm Y tế
TVXNTN : Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
UNAIDS : United Nation Programme on AIDS
(Chương trình AIDS Liên hợp quốc)
VCT : Voluntary Couneslling and Testing
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện 30 Bảng 3.2 Phân bố theo dân tộc của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
31
Bảng 3.3 Phân bố theo trình độ học vấn của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện 31
Bảng 3.4 Phân bố theo nghề nghiệp và nơi cư trú của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện (n = 400) 32
Bảng 3.5 Phân bố theo tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện 32
Bảng 3.6 Phân bố người nhiễm HIV theo nhóm tuổi 33
Bảng 3 7 Phân bố người nhiễm HIV theo giới 34
Bảng 3.8 Phân bố người nhiễm HIV theo dâ n tộc 34
Bảng 3.9 Phân bố người nhiễm HIV theo trình độ học vấn 35
Bảng 3.10 Phân bố người nhiễm HIV theo nghề nghiệp 35
Bảng 3.11 Phân bố người nhiễm HIV theo nhóm cư trú trong vòng 12 tháng qua 36
Bảng 3.12 Phân bố người nhiễm HIV theo tình trạng hôn nhân hiện tại 36
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tiền sử sử dụng ma tuý với nhiễm HIV 37
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sử dụng các loại ma tuý với nhiễm HIV 37
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đ ường dùng ma tuý với nhiễm HIV 38
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma tuý với nhiễm HIV 38
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa cách dùng bơm kim tiêm với nhiễm HIV 39
Trang 8Bảng 3.18 Mối liên quan giƣ̃a số lần tiêm chíc h ma tuý với nhiễm HIV 39 Bảng 3.19 Mối liên quan giƣ̃a QHTD với nhiễm HIV 40 Bảng 3.20 Mối liên quan giƣ̃a QHTD với tiêm chích ma túy trong đối tƣợng
nhiễm HIV 40 Bảng 3.21 Mối liên quan giƣ̃a số bạn tình với nhiễm HIV trong 12 tháng qua 41 Bảng 3.22 Mối liênquan giữa sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục với
nhiễm HIV 41 Bảng 3.23 Mối liên quan giƣ̃a tần xuất sƣ̉ dụng BCS với nhiễm HIV 42
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh dịch HIV/AIDS đã và đang phát triển rất nhanh trên phạm vi toàn cầu, trở thành mối hiểm họa đối với nhân loại, tác động nặng nề đến sự phát triển kinh tế và an toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, đến tương lai nòi giống của mỗi quốc gia, dân tộc [4], [38]
Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS, xác định công tác phòng, chống HIV/AIDS là nhiệm vụ trọng tâm , cấp bách và lâu dài Nhiều chủ trương , chính sách của Đảng , văn bản pháp luật của Nhà nước đã được ban hành cùng với các giải pháp đồng bộ và các hoạt động ưu tiên phù hợp từng giai đoạn Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết quốc tế, tăng cường hợp tác đa phương, song phương, mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới trong phòng, chống HIV/AIDS, tập trung vào các biện pháp phòng, chống lây nhiễm cũng như cách tiếp cận, chăm sóc và điều trị đối với người có HIV/AIDS [4], [6], [34]
Tuy nhiên, ở Việt Nam kể từ khi phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tháng 12/1990 (tại thành phố Hồ Chí Minh), tính đến ngày 31/12/2009 cả nước hiện có 160.019 người nhiễm HIV, trong đó có 35.603 bệnh nhân AIDS, số tử vong do AIDS tích luỹ là 44.540 người [7] Hiện nay, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS vẫn diễn biến phức tạp HIV/AIDS đã lan rộng khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Ngoài các nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao (Tiêm chích ma túy, mại dâm, tình dục đồng giới ), tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở phụ nữ mang thai, trẻ em và thanh thiếu niên cũng đang có xu hướng tăng nhanh [7]
Quan Hóa là một huyện miền núi cao biên giới của tỉnh Thanh Hoá, trường hợp phát hiện đầu tiên nhiễm HIV vào tháng 12/2000, từ đó cho tới nay số nhiễm HIV/AIDS hàng năm vẫn tiếp tục tăng nhanh, không chỉ ở thị trấn mà còn xuất hiện và gia tăng ở các bản vùng sâu, vùng xa nơi mà đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Tính đến ngày 30/6/2010 số người nhiễm HIV /AIDS
Trang 10ở Quan Hóa theo số liệu báo cáo đã lên tới 401 người, trong đó 204 người chuyển sang giai đoạn AIDS , 90 người đã tử vong do AIDS [41], [43] Tuy nhiên, đây mới chỉ là số liệu báo cáo , con số phát hiện chưa phản ánh đúng tình hình thực trạng nhiễm HIV ở Quan Hóa
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế hiệu quả việc thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS là công tác quản lý, tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng còn nhiều bất cập, chưa được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể quan tâm đúng mức Bên cạnh đó việc tìm hiểu về hành vi, nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ của người nhiễm HIV/AIDS và những người có nguy
cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS ở cộng đồng còn ít được các nghiên cứu đề cập tới Đặc biệt là các nghiên cứu tiến hành đối với người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại địa bàn miền núi cao biên giới như huyện Quan Hóa Theo số liệu của tỉnh hiện nay số trường hợp nhiễm HIV /AIDS ở khu vực miền núi Thanh Hoá, nhất là các dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng, đồng thời đã cảnh báo về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên một số dân tộc thiểu số Đặc thù về trình độ văn hoá, trình độ hiểu biết, hành vi và các biện pháp can thiệp trên người dân tộc thiểu số rất khác người Kinh Cho nên, cần có những nghiên cứu khoa học để tìm ra những thông tin đặc thù cho người dân tộc thiểu số Với mong muốn làm giảm các tác động của đại dịch HIV/AIDS, nâng cao chất lượng tư vấn chăm sóc
và điều trị người nhiễm HIV/AIDS trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Thực trạng nhiễm HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan
ở người dân tộc thiểu số đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại Trung tâm Y
tế Quan Hóa - Thanh Hóa", với các mục tiêu nghiên cứu sau :
1 Mô tả thực trạng nhiễm HIV /AIDS ở những người dân tộc thiểu số đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại Trung tâm Y tế huyện Quan Hóa - Thanh Hóa
2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ nhiễm HIV /AIDS ở người dân tộc thiểu số đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN 1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình trên thế giới và khu vực
Trên thế giới , HIV/AIDS đã trở thành đại dịch , là mối hiểm họa đối với nhân loại Cơ sở của nhận định này là tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Căn cứ theo số liệu của UNAIDS (tổ chức AIDS của Liên hợp quốc ) thì đến cuối năm 2008, số người nhiễm HIV còn sống trên toàn cầu là khoảng 33,4 (31,1 – 35,8) triệu người , tăng 200.000 người so với con số ước tính công bố năm 2007 là 39,2 triệu (30,6 – 36,1 triệu) [49], [65], trong đó phụ nữ là 15,7 triệu (13,9 - 16,6 triệu), trẻ em dưới 15 tuổi 2,1 triệu (2,0 - 2,2 triệu) đang sống chung với HIV/AIDS, HIV phân bố ở khắp các châu lục (trừ châu Nam cực) Có thể nói ở đâu có người cư trú thì ở đó có mặt của HIV Cận Sahara Châu Phi là nơi có người nhiễm cao nhất (22,5 triệu người), tiếp theo là khu vực Nam và Đông Nam Á (4 triệu người) [68] Nam Á - Thái Bình Dương hiện được dự đoán sẽ là nơi lây lan HIV/AIDS nhanh nhất trong những năm tới (vì đại bộ phận các nước ở khu vực này là những quốc gia nghèo; dân số đông; sự định hình trong lối sống chưa bền vững; có nơi sản xuất thuốc phiện nổi tiếng thế
giới, đó là vùng “Tam Giác Vàng” [22], [26]
Châu Phi, cận Sahara Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
trong dịch HIV /AIDS toàn cầu Hơn 2/3 (68%) tổng số người nhiễm HIV đang sống tại khu vực này , trong năm 2008 đã có gần 3/4 (71%) tổng số ca tử vong do AIDS Ước tính khoảng 22,5 triệu (20,9 – 24,3 triệu) người sống chung với HIV
ở vùng cận Sahara châu phi , không giống các khu vực khác đa số người nhiễm HIV cận Sahara châu Phi 61% là phụ nữ Cuối năm 2007 có những quốc gia tỷ lệ nhiễm HIV /AIDS trong dân số lên đến 15 -20%, đặc biệt Botswana và Swaziland tỷ lệ này lên đến trên 35% [26], [55], [56], [57]
Đông Âu và Trung Á , ước tính khoảng 1,6 triệu (1,2 – 2,1 triệu) người đang sống chung với HIV , so với 630.000 trong năm 2001, tăng gấp 150% Đặc biệt gần 90% số ca nhiễm HIV mới tại khu vực này là từ hai quốc gia : cộng hoà Liên
Trang 12bang Nga (66%) và Ucraina (21%) Nguyên nhân chính lây nhiễm tại khu vực
này vẫn là tiêm chích ma tuý (62%) và quan hệ tình dục không an toàn (37%) [54], [68]
Vùng Caribê , ước tính khoảng 230.000 (210.000 – 270.000) người hiện
đang sống chung với HIV Cộng hoà Dominica và Haiti là hai quốc gia có số
người nhiễm cao nhất Dịch ở Caribê chủ yếu là tình dục khác giới tập trung
trong nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm và cũng là đường lây nhiễm HIV trong
cộng đồng [49], [68]
Châu Mỹ La Tinh , khoảng 1,6 triệu (1,4 -1,9 triệu) người đang sống chung
với HIV, dịch tập trung trong nhóm nghiện chích ma tuý và tình dục đồng giới
nam Tình dục đồng giới nam không an toàn là nguyên nhân chính nhiễm HIV
tại Bolivia, Chi-lê, Ecuador và Peru Khoảng 1/3 số người nhiễm tại châu mỹ La
Tinh đang sống tại Brazin [58]
Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu , ước tính có khoảng 2,1 triệu (1,1 – 3,0 triệu) người đang sống chung với HIV Không giống khu vực khác đại đa số người
sống chung với HIV tại những nước này khi cần đã được điều trị bởi thuốc ARV
đúng chuẩn nên vẫn sống khoẻ mạnh và sống lâu hơn so với những nơi khác Báo cáo về dịch tễ cho thấy có sự gia tăng lây nhiễm HIV ở Mỹ , Tây và Trung
Âu Tại Bắc Mỹ ước tính có 1,3 triệu người sống chung với HIV , cao hơn năm
2001 chỉ có 1,1 triệu Hơn nữa, số nhiễm mới trong những năm gần đây là trong
nhóm người Mỹ gốc Phi [59] Tây và Trung Âu có khoảng 760.000 người sống chung với HIV còn năm 2001 là 620.000 [67]
Châu Á, Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất, với nhiều
xu hướng dịch khác nhau tại các nước khác nhau Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm tại
Campuchia , Myanmar và Thái Lan đều có dấu hiệu giảm , thì tại In-đô-nê-xi-a (đặc biệt là tỉnh Papua) và Việt Nam những con số này lại đang tăng Trong năm
2007, ước tính trên toàn Châu Á có 4,9 triệu (3,7 - 6,7 triệu) người đang sống với HIV, trong đó 440.000 (221.000-1triệu) người nhiễm mới Ước tính 300.000 người (250.000 - 470.000) người đã tử vong vì các bệnh liên quan dến AIDS trong năm 2007 [49], [68]
Trang 13Tại Trung Quốc tất cả các tỉnh đều công bố có các ca nhiễm HIV, phần lớn
số người sống với HIV tại nước này được coi là tập trung nhiều nhất tại các tỉnh
Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Tân Cương và Vân Nam (Bộ Y tế Trung Quốc, 2006) Ước tính khoảng một nửa số người đang sống với HIV tại Trung Quốc năm 2006 bị nhiễm qua tiêm chích ma túy [62] Nguyên nhân chính gây dịch vẫn qua đường tiêm chích ma tuý , số liệu gần đây cho thấy xu hướng lây nhiễm qua đường tình dục đồng giới nam tại các thành phố đang tăng và ướ c tính 7% số ca nhiễm là do tình dục không an toàn giữa nam với nam [61]
Ấn Độ hiện được ước tính có số nhiễm HIV cao nhất trong khu vực , UNAIDS và WHO ước tính có khoảng 3,97 triệu người Ấn Độ bị nhiễm HIV vào cuối năm 2001[22] Tuy nhiên, trong năm 2006, ước tính về HIV mới và chính xác hơn cho thấy có khoảng 2,5 triệu (2-3,1 triệu) người tại Ấn Độ đang sống chung với HIV , với tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia là 0,36% [ 60],[66], Vùng Đông Bắc Ấn Độ , mô hình của dịch tập trung ở nhóm ng ười nghiện chích
ma tuý là phổ biến , HIV đang lan qua quan hệ tình dục không an toàn giữa người bán dâm và người mua dâm và những người bạn tình của họ [68]
Tại In-đô-nê-xi-a, là một trong những nước có dịch HIV tăng nhanh nhất Châu Á phần lớn các ca nhiễm HIV là qua dùng chung dụng cụ tiêm chích
―bẩn‖, quan hệ tình dục không an toàn (Bộ Y tế In-đô-nê-xi-a và cơ quan thống
kê In-đô-nê-xi-a,2006) Tại tỉnh Papua (giáp biên giới với Papua New Guinea) dịch còn nghiêm trọng hơn với đường lây nhiễm chính là tình dục không an toàn Trong cuộc điều tra dân số tuyến tỉnh tại Papua năm 2006, tỷ lệ nhiễm HIV người lớn được ước tính 2,4% và tăng lên 3,2% ở vùng cao nguyên và 2,9% ở các vùng đồng bằng xa xôi Trong nhóm tuổi 15-24 tuổi, tỷ lệ nhiễm HIV là 3% [63], [64]
Tại Cam-pu-chia có nhiều bằng chứng cho thấy các nỗ lực dự phòng tập trung và duy trì có thể đẩy lùi dịch Tỷ lệ nhiễm HIV của nước này đã giảm xuống còn ước tính khoảng 0,9 % ở người lớn (15-49 tuổi) Trong năm 2006,
Trang 14giảm mạnh từ đỉnh dịch 2% năm 1998 (Trung tâm Quốc gia về phòng chống HIV/AIDS, bệnh da liễu và bệnh lây qua đường tình dục, 2007)[68]
Tại Thái Lan số các ca nhiễm mới tiếp tục giảm, mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV trong những năm gần đây giảm chậm bởi ngày càng có nhiều người được tiếp cận với thuốc điều trị ARV Con đường lây truyền HIV ở Thái Lan trong thời gian gần đây có nhiều thay đổi, vi rút lan tràn ngày càng nhiều với những nhóm dân số vốn được coi là nguy cơ thấp Khoảng 43% các ca nhiễm mới trong năm
2005 là phụ nữ, phần lớn họ có thể bị nhiễm HIV từ chồng hoặc bạn tình đã bị nhiễm trước đó do quan hệ mại dâm không an toàn do tiêm chích ma túy Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc đẩy lùi dịch HIV ở Thái Lan,
tỷ lệ nhiễm trong nhóm tiêm chích ma túy trong vòng 15 năm qua vẫn cao, từ 30-50% Tương tự, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm đồng tính nam (ví dụ tại Bangkok từ 17% năm 2003 lên 28% năm 2005) [49], [65]
Tại Myanmar dịch HIV cũng đang có dấu hiệu giảm, với tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ nữ có thai tại các cơ sở khám thai đã giảm từ 2,2% năm 2000 xuống 1,5% năm 2006 (chương trình quốc gia phòng chống AIDS Myanmar, 2006) Cho dù tỷ lệ nhiễm HIV nhìn chung đã giảm, vẫn cần chú ý đến tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong các nhóm nguy cơ cao [68]
1.1.2 Tình hình lây nhiễm HIV ở Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở nước ta được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, cho đến nay, dịch HIV/AIDS đã xuất hiện
ở tất cả 63 tỉnh, thành trên cả nước Theo số liệu báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2009 số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống trong cả nước là 160.019 trưòng hợp, trong đó có 35.603 bệnh nhân AIDS hiện còn sống và đã có 44.540 trường hợp tử vong do AIDS [7] Số người nhiễm HIV hiện còn sống tập trung chủ yếu tại các tỉnh thành phố trọng điểm
Trang 15Bảng 1.1 Tình hình nhiễm HIV tại một số tỉnh, thành phố
Nguồn: Bộ Y tế báo cáo tình hình lây nhiễm HIV/AIDS năm 2009
Tỷ xuất nhiễm HIV trên 100.000 dân tính chung trên toàn quốc là 187 người trên 100.000 dân tỷ xuất hiện nhiễm HIV trên 100.000 dân có sự chênh lệch giữa các địa phương, cao nhất là Điện Biên có tỷ xuất 599 người trên 100.000 dân, đứng thứ 2 là thành phố Hồ Chí Minh với 587 người trên 100.000 dân, tiếp theo là khu vực phía Bắc như Thái Nguyên có tỷ xuất 488 người trên 100.000 dân, Sơn La 481/100.000 dân, Yên Bái 385/100.000 dân, Bắc Cạn 395/100.000 dân, Hải phòng 358/100.000 dân, Cao Bằng 335/100.000 dân, Quảng Ninh 304/100.000 dân Các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên là những tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân thấp so với mặt bằng chung của
cả nước với tỷ lệ nhiễm HIV chủ yếu ở mức dưới 100.000 dân [7]
Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có những đặc điểm sau
* Dịch HIV/AIDS tiếp tục có chiều hướng gia tăng
Nếu giai đoạn 1990 – 1995, mỗi năm nước ta có khoảng 1000 trường hợp nhiễm mới và giai đoạn 1996 – 2000 mỗi năm, con số đó là 5.000 [25], [35] thì
từ 2001 đến nay theo báo cáo của Bộ Y tế mỗi năm có từ 1.000 – 1.500 trường hợp nhiễm mới Đó mới chỉ là con số ghi nhận được (hay còn gọi là phần nổi của ―tảng băng nổi’’) còn trên thực tế có thể gấp 2 – 3 lần
Trang 16Giám sát trọng điểm HIV cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tiếp tục gia tăng trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao, đồng thời có biểu hiện gia tăng trong các nhóm đối tượng coi là nguy cơ cao Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam
có liên quan mật thiết với tình trạng tiêm chích ma tuý (TCMT) và mại dâm (MD) [5], [7]
* Hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma tuý
- Tỷ lệ HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) tăng từ 4,9% năm
1996 lên 29,4% năm 2002 [30] và đang có xu hướng chững lại (năm 2004 là 28,6%; năm 2006 là 22,51% và năm 2009 là 18,4%), ở một số địa phương tỷ lệ này tăng cao hơn 50% như Hải Phòng và Quảng Ninh [7], [19], [22], [26], [44],
- Các tỉnh miền Bắc và miền Trung: Lây truyền HIV qua tiêm chích cao hơn khu vực miền Nam [5]
- Nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma tuý ở mức rất cao do: tình trạng NCMT gia tăng, đặc biệt là ở lớp người trẻ tuổi; tình trạng dùng chung bơm kim tiêm (BKT) vẫn còn phổ biến (hơn 40% ở thành phố Hồ Chí Minh); người đã nhiễm HIV tiếp tục tiêm chích ma túy và sử dụng chung BKT với bạn chích (50%); tỷ lệ gái mại dâm (GMD) có TCMT khá cao (điều tra hành vi cho thấy hơn 40% GMD tại Hà Nội có tiêm chích ma túy) [5] Vì vậy, ngăn chặn nhiễm HIV trong nhóm nghiện ma tuý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khống chế sự lan tràn HIV ở Việt Nam
* Đối tượng nhiễm HIV có xu hướng “trẻ hóa’’ ngày càng rõ rệt
- Tỷ lệ nhiễm HIV ở lứa tuổi từ 20 - 29 là 15% vào năm 1993 tăng lên trên 45,4% vào cuối năm 2009 [5], [7], [44]
- Người nhiễm HIV ở lứa tuổi từ 20-39 chiếm 85,1% các trường hợp
nhiễm[7]
* Tỷ lệ nhiễm HIV ở nam giới cao hơn ở nữ : Từ năm 1993 - 2007, tỷ lệ
nam giới cao gấp 6 lần nữ chiếm 85,16% và nữ giới chỉ chiếm 14,5% [24], [35], [44] Theo báo báo cáo tổng kết năm 2009 của Bộ Y tế, tỷ lệ là nam giới vẫn
Trang 17chiếm chủ yếu tỷ lệ 73,16% cao gần gấp 3 lần so với tỷ lệ nhiễm HIV là nữ giới (26,83%) Tuy nhiên, dự báo trong tương lai tỷ lệ nhiễm HIV là nữ giới có xu hướng tăng lên do nguy cơ lây nhiễm HIV từ chồng hoặc bạn tình của họ [7]
* Lây nhiễm HIV qua QHTD có xu hướng gia tăng và giao động
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong GMD tiếp tục gia tăng hàng năm, từ 0,6% năm
1994 lên 6% vào năm 2002, đến năm 2006 còn 3,95% Nhưng cá biệt có một số tỉnh, thành phố tỷ lệ nhiễm cao như: Cần Thơ 29%, Hà Nội 22% [5], [17], [35]
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) trên toàn quốc có xu hướng tăng trong giai đoạn từ 1994
và đạt tỷ lệ cao nhất vào năm 2005 với tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này là 2,51% Tỷ lệ này giảm xuống còn 1,7% vào năm 2009 [5], [7]
- Nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục (QHTD) tiếp tục gia tăng và khả năng lây nhiễm HIV ra cộng đồng là rất lớn do: tỷ lệ NCMT trong nhóm GMD tăng; người NCMT, người nhiễm HIV tiếp tục có quan hệ với GMD và tỷ
lệ sử dụng BCS khi QHTD với GMD thấp Mặt khác, qua các điều tra trong thời gian gần đây cho thấy, tỷ lệ sử dụng BCS trong lớp trẻ chiếm tỷ lệ rất thấp và điều này cảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIV trong lứa tuổi trẻ sẽ tăng cao
* Dịch HIV đã có dấu hiệu lan tràn ra cộng đồng
Mức độ lây lan của dịch từ nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng biểu hiện qua
tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm phụ nữ mang thai và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự tăng tới 0,93% năm 2001, đến năm 2009 còn 0,15% [7], [52]
- Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi mang thai năm 2002 là 0,34%, đến năm 2006
Trang 18chí trong giới công chức cũng đã có người nhiễm HIV Tính đến 31/12/2009, toàn quốc có 70,51% xã/phường/thị trấn, 97,53% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố đã phát hiện có người nhiễm HIV[7] Nhiều tỉnh, thành phố có 100% số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS [5], [17].
Mặc dù chưa có số liệu điều tra đầy đủ, nhưng ước tính có khoảng 20 - 50 trại viên tại các trại 05, 06 nhiễm HIV, trong số đó có nhiều trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và tử vong do AIDS [5], [35]
1.1.3 Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở Thanh Hóa
có đầy đủ các vùng sinh thái, bao gồm 27 huyện, thị, thành phố, trong đó có 11/27 huyện miền núi, dân số của 11 huyện miền núi trên 1,1 triệu người Miền núi Thanh Hoá là nơi sinh sống lâu đời của 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Mông, Giao, Khơ Mú [2]
Thanh Hóa nằm trong ảnh hưởng khung cảnh dịch tễ HIV/AIDS chung của
cả nước, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng đầu tư các khu công nghiệp (Nghi Sơn, Lễ Môn, Sầm Sơn và cửa khẩu Việt - Lào vv ); tỷ lệ người Thanh Hoá đến các tỉnh khác làm ăn vào thời kỳ nông nhàn ngày càng nhiều; các tệ nạn ma tuý, mại dâm diễn biến ngày càng phức tạp dẫn đến tình hình HIV/AIDS trên địa bàn Thanh Hóa ngày một gia tăng
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng chống AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm tỉnh, hiện nay trên địa bàn của tỉnh đã xuất hiện đầy đủ các loại ma tuý có ở Việt Nam và thế giới: Thuốc phiện, Heroin, Hồng phiến và các loại thuốc gây nghiện tổng hợp khác… nhưng chủ yếu là thuốc phiện và Heroin Số người nghiện ma tuý trong những năm qua vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm, tính đến hết tháng 9 năm 2009 toàn tỉnh có gần 2000 người nghi nghiện và 3.427 người nghiện có hồ sơ quản lý (trong đó số đối tượng đang ở cộng đồng dân cư
là 2.595; số đối tượng đang cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục - LĐXH là 663 người; đối tượng đang ở trong tù giam là 169 người) Người nghiện ma tuý có ở 289/634 xã phường, thị trấn của 27/27 huyện, thị, thành phố Người nghiện ma
Trang 19tuý gồm nhiều thành phần: Giáo viên, cán bộ công nhân viên, học sinh, sinh viên, lái xe, lao động tự do, không nghề nghiệp [3]
Cũng theo báo cáo khảo sát của Ban chỉ đạo phòng chống AIDS và tệ nạn
ma tuý, mại dâm tỉnh, tính đến 9 tháng đầu năm 2009 trên địa bàn toàn tỉnh có
có 118 gái mại dâm chuyên nghiệp, 347 nhân viên nữ làm việc tại các cơ sở kinh doanh nghi vấn có hoạt động mại dâm nhưng không thường xuyên Tuy nhiên hoạt động mại dâm tại Thanh Hoá cũng hết sức phức tạp đặc biệt về mùa du lịch Sầm Sơn, số GMD di biến động từ các nơi khác tới khó có thể thống kê và quản
lý [3]
Chiều hướng và diễn biến HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh cũng diễn biến hết sức phức tạp Trường hợp HIV đầu tiên tại Thanh Hóa, được phát hiện vào tháng 11 năm 1995 Trong những năm (1995 - 2000) số trường hợp nhiễm mới hàng năm chỉ dừng lại con số hàng chục [12] Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay
số trường hợp nhiễm mới tăng lên con số hàng trăm, đến ngày 30/6/2010, lũy tích số nhiễm HIV/AIDS của toàn tỉnh lên tới 4.614 người, trong đó có 2.087 bệnh nhân AIDS, tử vong do AIDS là 764 [41]; 474/638 (74,3%) xã, phường, thị trấn và 27/27(100%) các huyện, thị, thành phố có người nhiễm HIV Số trường hợp phát hiện mới không chỉ gia tăng ở khu vực thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng mà còn xuất hiện và gia tăng ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa [42] Theo đánh giá của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh, tình hình HIV đang có xu hướng tăng nhanh trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi như: huyện Quan Hóa, Bá Thước, Mường Lát, Lang Chánh Trong đó, số thanh niên dân tộc thiểu số nhiễm HIV đang ở con số báo động [12], [42], [36] Thực tế, tình trạng nghiện chích ma tuý tại các huyện vùng sâu vùng xa trong tỉnh đang có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS là không nhỏ Hiện nay, kiến thức về lây nhiễm HIV /AIDS của người dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế Khu vực miền núi của tỉnh vốn có nhiều địa hình phức tạp, mạng lưới y tế cơ sở yếu kém, gây khó khăn trong việc triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS Theo thống kê có trên 80%
Trang 20thanh niên dân tộc thiểu số người Thanh Hoá có nghe nói về HIV/AIDS, nhưng tính chất nguy hiểm và cách phòng tránh bệnh thì rất ít người hiểu biết Hơn nữa, tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS ở vùng dân tộc thiểu số còn cao, có hơn 30% người dân tộc thiểu số ít phân biệt đối xử với người nhiễm HIV Tại một số khu vực miền núi vùng cao việc QHTD trước hôn nhân ngày càng tăng, hành vi sử dụng BCS rất thấp, nguy cơ lây nhiễm HIV là rất cao
Kết quả giám sát trọng điểm và thường xuyên năm 2009, tình hình lây nhiễm HIV diễn biến phức tạp Tỷ lệ nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 - 39 tuổi chiếm 88,4%, dưới 13 tuổi 1,71%; 72,26% các trường hợp nhiễm HIV có liên quan đến TCMT, 3,23 % là mại dâm, STDs: 0,53%; nghề nghiệp lao động tự do và không nghề chiếm 67,9%, công nhân chiếm 5,37%, nông dân chiếm 16,7%, lái xe chiếm 4,19%, nhân viên hành chính 1,38%; tỷ lệ nam giới nhiễm HIV/AIDS phổ biến chiếm 84,65%, nữ giới chiếm 15,35% [42]
Bảng 1.2 Diễn biến HIV/AIDS qua các năm
Nguồn: Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thanh Hoá
1.1.4 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Quan Hóa
Quan Hóa là một huyện miền núi cao biên giới của tỉnh Thanh Hoá, được chia tách thành 3 huyện (Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát) vào tháng 11/1996, theo Nghị định 72/CP của Chính phủ, có thể nói Quan Hóa là trung tâm giao lưu về kinh tế chính trị văn hóa - xã hội của 03 huyện (Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát), nơi có quốc lộ 47 và Quốc lộ 15A đi qua, cách cửa khẩu Na Mèo với nước bạn Lào khoảng trên 100km về phía nam, cách tỉnh Sơn La khoảng 60km về phía tây [1], đây là những điểm nóng về ma tuý từ Lào sang Việt Nam Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nhiều
Trang 21chương trình mục tiêu giảm nghèo [47], đời sống nhân dân trong huyện từng bước được nâng lên Song song với sự phát triển kinh tế thì tệ nạn ma tuý, mại dâm diễn biến ngày càng phức tạp; tình hình lây nhiễm HIV/AIDS cũng gia tăng Trường hợp nhiễm HIV phát hiện đầu tiên vào tháng 12 năm 2000, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2010 số lũy tích nhiễm HIV/AIDS đã phát hiện được là: 401 trường hợp, trong đó đã có 204 trường hợp chuyển AIDS và 90 người đã
tử vong do AIDS, có 18/18 xã, thị trấn đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS [43] Kết quả giám sát trọng điểm và thường xuyên năm 2009 cho thấy tình hình diễn biến phức tạp, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS tại Quan Hóa tập trung chủ yếu trong nhóm tiêm chích ma tuý chiếm tỷ lệ 82,3%, mại dâm chiếm tỷ lệ 2,7% ; độ tuổi
từ 20 - 49 chiếm tỷ lệ 82,86% và đã có chiều hướng gia tăng trong nhóm phụ nữ
có thai và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự Thành phần người nghiện rất đa dạng: công nhân, nông dân, giáo viên, bộ đội, học sinh, lao động
Nguồn: Trung tâm Y tế huyện Quan Hoá.
1 2 Nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
1.2.1 Các hành vi nguy cơ
HIV/AIDS là một căn bệnh, ai cũng có thể mắc phải, kể cả những người được coi là sống lành mạnh nhưng họ vẫn có thể là nạn nhân của căn bệnh thế
kỷ này Thực tế đã cho thấy, một số người nhiễm HIV không phải họ tiêm chích
ma tuý hoặc quan hệ tình dục với GMD, mà do bị lây từ người khác sang một
Trang 22cách ngẫu nhiên (vợ lây từ chồng bị nhiễm, con lây từ mẹ bị nhiễm ) Những người có hành vi không an toàn như: TCMT và QHTD không an toàn thì nguy
cơ lây nhiễm HIV cao Mặc dù HIV lây nhiễm qua nhiều con đường khác nhau như: TCMT mà không dùng BKT riêng, lây nhiễm qua quan hệ với GMD có mầm bệnh HIV, những đứa trẻ bị lây nhiễm từ mẹ mang thai có nhiễm HIV Tuy nhiên, nguy cơ lây nhiễm HIV cao là truyền máu bị nhiễm HIV, mẹ truyền cho con, dùng chung BKT, QHTD không an toàn Lây do tiếp xúc với các vật phẩm có chứa HIV trong quá trình chăm sóc y tế là rất thấp
* Nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma tuý : Nguy cơ lớn nhất trong
việc dùng chung dụng cụ TCMT là dễ lây nhiễm HIV và viêm gan B , như vậy,
ma tuý tạo điều kiện lây truyền và phát triển mạnh dịch HIV/AIDS
Theo nhóm các nhà khoa học do Ts Bradley Mathers (Thuộc trường Đại học Tổng hợp New Sonth Wales, Mỹ) phụ trách và cộng sự (thuộc nhóm công tác năm 2007 của Liên hợp quốc về HIV và tiêm chích ma túy) đã công bố bằng văn bản và trên mạng của 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Thông tin về tiêm chích ma túy có ở 148 quốc gia, trong đó 120 quốc gia đã báo cáo về tình trạng nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy Những phát hiện chính qua việc xem xét trên là: Khoảng 15,9 triệu người trên thế giới tiêm chích ma túy, trong đó quốc gia có người tiêm chích ma túy nhiều nhất là Trung Quốc, Mỹ, Nga Đồng thời các nước này cũng có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm TCMT khá cao, ước tính trung bình là 12%, 16% và 37% Có 5 quốc gia (không nêu tên), có tỷ
lệ hiện nhiễm trong nhóm TCMT từ 20 - 40%; ở 9 quốc gia gồm: Esthonaia, Argentin, Brazil, Kenya, Myanmar, Indonesia, Thái lan, Ukraine và Nepal là trên 40% Tính chung trên thế giới có khoảng 3 triệu người TCMT đã nhiễm HIV, như vậy cứ 5 người TCMT thì có 1 người nhiễm HIV [50], [58], [63] [68] Tại Việt Nam, hành vi nguy cơ (HVNC) trong đối tượng NCMT ở thành phố Hồ Chí Minh dùng chung BKT là 37%, An Giang 33% Bản thân người nhiễm HIV, NCMT dùng chung BKT càng làm cho sự lây lan HIV/AIDS mạnh hơn [17]
Trang 23* Nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục: Lây truyền HIV qua đường
tình dục (chủ yếu là HIV-1 vì HIV-1 lưu hành toàn cầu, còn HIV-2 chủ yếu là một số nước Tây và Nam Phi) [35], [51], [65] chiếm tỷ lệ khá cao ở người lớn
Ở các nước đang phát triển như Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và Châu Á, lây truyền HIV qua QHTD chủ yếu vẫn là tình dục khác giới từ nam sang nữ hay từ
nữ sang nam Trong khi đó các nước đã phát triển ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu
Úc, QHTD đồng giới chiếm ưu thế Lây nhiễm HIV qua QHTD cao hay thấp còn phụ thuộc vào HVNC khi QHTD [52], [68]
Quan hệ tình dục không an toàn là nguy cơ lây nhiễm HIV đặc biệt khi
người NCMT có QHTD với GMD nhưng tỷ lệ dùng BCS thấp Người ta thấy rằng 83% người NCMT ở Rio De Janeiro (Braxin) không sử dụng BCS với bạn tình thường xuyên và 63% không bao giờ dùng với bạn tình không thường xuyên [58] Tại Inđônêxia mặc dù chiến lược dự phòng sớm từ năm 1996, sử dụng BCS ở Jakata vẫn còn thấp 10,3% - 11,7% trong nhóm gái mại dâm [20], [63] Tại Việt Nam, tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS trong nhóm GMD là thấp (Quảng Ninh 37%, Hà Nội 56% (kết quả điều tra hành vi năm 2006 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS)) [17]
* Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con: Lây truyền HIV từ mẹ sang con
thay đổi từ 15% đến 40%, tỷ lệ này thấp nhất là ở Châu Âu và cao nhất là ở Châu Phi [54] Trong số trẻ sinh ra bị nhiễm, khoảng 5% bị nhiễm khi còn ở trong bụng mẹ, 15% lúc sinh và 10% sau sinh mà nguyên nhân chủ yếu là do bú
mẹ [49]
Tại Việt Nam tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con có xu hướng gia tăng, tại các tỉnh thành phố phía Nam như: Trà Vinh (5,4%), Kiên Giang (4,7%), Vĩnh Long
(4,8%), Đồng Tháp (4,1%) [7]
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng lây nhiễm HIV/AIDS
* Sinh học: Bản chất sinh học của nhiễm HIV là dịch bệnh do vi - rút gây ra
nhưng có đặc điểm sinh học rất đặc biệt, đa dạng về đường lây (HIV lây qua đường máu, qua QHTD không an toàn, mẹ truyền cho con) và phương thức lây
Trang 24truyền này liên quan chặt chẽ với các thú vui trong sinh hoạt của con người (ma tuý và tình dục), thời gian ủ bệnh có thể kéo dài đến 15 năm, tính né tránh miễn
dịch của vi - rút, khả năng biến dị lớn Người mắc STDs có khả năng bị nhiễm
HIV cao hơn người bình thường từ 2 - 9 lần Viêm loét do hẹp bao qui đầu dễ bị các bệnh lây truyền đường tình dục và nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn Ngoài
ra, giai đoạn nhiễm HIV cũng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng lây truyền: nguy
cơ lây nhiễm rất cao ngay sau khi bị nhiễm HIV (giai đoạn cửa sổ) và ở giai đoạn AIDS (có khoảng 3.000 vi rút HIV/1ml máu), ở giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng, số lượng HIV chỉ khoảng 20-40 vi rút /1 ml máu) [35]
Sức đề kháng: vi - rút có thể sống vài ngày bên ngoài cơ thể trong điều kiện khô và vài tuần trong dung dịch ở nhiệt độ phòng thí nghiệm Tuy nhiên, vi - rút rất nhạy cảm với nhiệt độ và các chất tẩy uế thông thường , ở nhiệt độ 56 độ C, HIV chết sau 30 phút Vi - rút chết nhanh khi bị đun sôi [10], [35]
* Hành vi: Tệ nạn ma tuý và mại dâm (con đường phổ biến nhất, ngắn nhất
dẫn đến HIV/AIDS) Theo những phân tích tình hình dịch tễ học chúng ta đều nhận thấy hình thái nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma tuý, tỷ lệ GMD có TCMT là khá cao, tỷ lệ sử dụng BCS trong quan hệ tình dục của nhóm đối tượng có nguy cơ cao là khá thấp, mặt khác nam và nữ trong QHTD, lối sống có nhiều bạn tình, phương thức QHTD (miệng, hậu môn ), xăm trổ thẩm mỹ đây cũng là những nguyên nhân chính và trực tiếp làm lan truyền HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay
* Dân số học: Hậu quả về dân số của đại dịch đã được thấy ở vùng Sahara
châu Phi Ở nhiều thành phố miền Tây và Trung Phi, 1/3 số người lớn đang ở độ tuổi hoạt động tình dục bị nhiễm HIV/AIDS Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã tăng một cách đáng kể do chết vì AIDS Đồng thời, tử vong của những người lớn cũng đã tăng gấp ba lần trong một thời gian ngắn là 5 năm Tuổi trẻ (tỷ lệ nhiễm HIV cao ở lứa tuổi 15 - 45), biến động về dân số, sự gia tăng giao lưu thương mại, du lịch trong mỗi nước và giữa các quốc gia trên thế giới
Trang 25* Vấn đề về giới: Phần lớn những người nhiễm HIV/AIDS hiện nay ở Việt
Nam là nam giới Tuy nhiên, so với những năm đầu của dịch thì tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nữ giới đã tăng lên So với nam giới, nữ giới là những người rất dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS do: cấu trúc giải phẫu, niêm mạc sinh dục nữ rộng hơn của nam giới, trong QHTD nữ giới là người nhận tinh dịch nên dễ bị lây nhiễm
Khi phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có thai lại dễ dàng truyền bệnh cho con qua nhau thai, trong khi đẻ và trong khi cho con bú sữa mẹ
* Kinh tế, văn hoá và xã hội: Hậu quả của nền kinh tế thị trường là sự phân
hóa giàu nghèo, thất nghiệp dẫn đến kinh phí đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS thiếu so với yêu cầu Dân trí thấp dẫn đến nhận thức về HIV rất hạn chế, giá trị đạo đức, lối sống bị ảnh hưởng nhất là trong tình yêu, tình dục, hôn nhân Yếu tố chính trị như thái độ của xã hội, luật pháp với ma tuý, nhóm nguy
cơ cao là những yếu tố góp phần làm lây lan dịch HIV/AIDS, đồng thời cũng gây khó khăn trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
* Về phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số:
Phần lớn khu vực dân tộc ít người sinh sống lại có nhiều nguy cơ tiềm tàng làm lây lan HIV/AIDS như trồng và sử dụng cây thuốc phiện, buôn bán và vận chuyển ma tuý Tình hình nghiện chích ma tuý trong nhóm đồng bào dân tộc ít người nhất là vùng sâu vùng xa và biên giới tăng nhanh trong những năm gần đây [51]
Theo tác giả Hoàng Sỹ Điền khi nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi tại 4 xã biên giới tỉnh Thanh Hoá cho thấy:
Có tới 81,6% ý kiến cho rằ ng tại khu vực miền núi, biên giới vai trò của người có uy tín rất quan trọng (già làng, trưởng bản ), đồng bào dân tộc chất phác, ít tiếp cận và giao lưu xã hội, do vậy cần giữ chữ tín khi triển khai chương trình Phụ nữ dân tộc kí n đáo, e ngại và ít tiếp xúc xã hội, hay xấu hổ nên việc cấp phát bao cao su và hướng dẫn sử dụng cần tế nhị Việc quan hệ tình dục
Trang 26trước hôn nhân, hủ tục ngủ thăm và tình trạng tảo hôn ở một số nơi được xem là
bình thường có tác động và ảnh hưởng đến chương trình
Phần lớn đồng bào dân tộc không theo tôn giáo, chủ yếu là thờ tổ tiên,
nhưng lại mê tín và hay cúng bái, tổ chức cưới xin và ma chay dài ngày, hay tụ
tập ăn uống, rượu chè và dễ xả y ra các tệ nạn xã hội Một số người dân còn lén
lút tái trồng cây thuốc phiện nên khó phát hiện và xử lý (ý kiến của Mặ t trận Tổ
quốc huyện Quan Hoá)
Huyện Quan hoá là khu vực miền núi giáp biên giới địa hình phức tạp,
giao thông và kinh tế khó khăn, dân cư thưa, dân trí thấp, có nhiều dân tộc sinh
sống, nhiều phong tục còn lạc hậu, giao lưu khu vực biên giới luôn xả y ra và dễ
phát sinh các tệ nạn xã hội (ý kiến của ông Chủ tịch xã Hiền Kiệt huyện Quan Hoá)
Lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích MT và QHTD không an toàn,
trong khi diễn biến của tệ nạn MT và MD rất phức tạp Một số quan niệm và hủ
tục lạc hậu (QHTD trước hôn nhân, tảo hôn, mê tín vv ) ở một số khu vực xem
là bình thường, phần lớn phụ nữ ít tham gia và tiếp cận các hoạt động xã hội, vì
vậy họ thường thụ động xã hội , và họ thường thụ động trong việc áp dụng các
biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, phần nào làm hưởng và gia tăng lây nhiễm
HIV qua QHTD (ý kiến huyện đoàn và phụ nữ huyện Quan Hoá) [21]
1.3 Giới thiệu hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV
1.3.1 Khái niệm
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV (TVXNTN) là một quá trình mà thân
chủ sau khi được tư vấn sẽ đưa ra sự lựa chọn về quyết định xét nghiệm (XN)
HIV Quyết định này hoàn toàn là sự lựa chọn của thân chủ và quá trình
TVXNTN được đảm bảo giữ bí mật [8]
Tư vấn trong TVXNTN đây được coi là chủ chốt của mọi hoạt động dự
phòng và điều trị TVXNTN ở đây ngoài việc tư vấn trước và sau XN, vấn đề
chính là tự thay đổi hành vi và tư vấn tuân thủ điều trị sao cho người bệnh cảm
thấy thoải mái và yên tâm để tham gia quá trình điều trị lâu dài suốt đời
Trang 2713.2 Mục đích của tư vấn xét nghiệm tự nguyện
* Hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội
- Bao gồm hỗ trợ về mặt tình cảm, tâm lý cho người bị nhiễm HIV cũng như của những người bị ảnh hưởng bởi HIV
- Hỗ trợ về tinh thần cho những người cân nhắc về XN HIV, ngay cả việc giúp đỡ họ tự quyết định có XN HIV hay không, và tạo điều kiện thuận lợi để họ được XN dễ dàng
- Giúp đối tượng tư vấn (ĐTTV) xác định và bày tỏ tình cảm của họ: đây là bước rất quan trọng trong tiến trình hỗ trợ, giúp họ ổn định và củng cố tinh thần để vượt qua mọi khủng hoảng
- Giúp ĐTTV tiếp cận được những dịch vụ y tế và xã hội khi có yêu cầu, nhất là về y tế
- Giúp ĐTTV vượt qua được kỳ thị, xa lánh của cộng đồng
- Thông tin về các quyền mà họ được hưởng
- Giúp cho ĐTTV tự quyết và tự tin trong cuộc sống
* Ngăn chặn lan truyền HIV
Ngăn chặn lan truyền HIV và hỗ trợ tâm lý có quan hệ chặt chẽ với nhau trong tư vấn HIV Người TV giúp cho ĐTTV hiểu được đâu là những HVNC cao (tình dục không an toàn hoặc sử dụng chung bơm kim tiêm, ) và giúp cho ĐTTV quyết định thay đổi hành vi theo chiều hướng tích cực (ví dụ như rèn luyện cho gái mại dâm kỹ năng thương thuyết với nam giới sử dụng BCS, dùng BKT một lần ) chỉ có thay đổi HVNC mới có thể tránh được lây nhiễm HIV [9] Mức độ mà mỗi cá nhân có thể làm được nhằm thay đổi các hành vi có lợi
phụ thuộc vào các yếu tố như tính tự chủ, việc uống rượu, nhu cầu tình dục
1.3.3 Trên Thế giới
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV đóng một vai trò vừa dự phòng, vừa chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới và được chứng minh là loại hình can thiệp chi phí thấp, hiệu quả cao trong phòng lây nhiễm HIV Thực hiện tốt công tác TVXNTN sẽ giúp cho người ta hiểu
Trang 28rõ hơn về căn bệnh, về các hành vi nguy cơ lây nhiễm cho chính mình và những người thân trong gia đình Tư vấn tốt sẽ giúp cho người có HVNC và người đã nhiễm HIV/AIDS thay đổi được HVNC, tăng cường áp dụng các biện pháp dự phòng như luôn sử dụng BCS trong QHTD, luôn sử dụng BKT sạch làm hạn chế
sự lây tràn của bệnh dịch Tư vấn tốt cũng tạo cho những người nhiễm HIV/AIDS
và gia đình họ có điều kiện để tiếp cận các dịch vụ y tế và xã hội, họ ổn định tâm lý
và kéo dài cuộc sống hữu ích Tư vấn tốt sẽ làm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV có nhiều lợi ích ở các mức độ cộng đồng, gia đình, cá nhân Tổ chức y tế Thế giới (WHO), Chương trình AIDS Liên hợp quốc (UNAIDS), Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) là những tổ chức hàng đầu trên thế giới đưa ra những hướng dẫn, tổ chức và phát triển hoạt động này trên thế giới TVXNTN được áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau như chương trình dự phòng nhiễm HIV/AIDS, các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục, kế hoạch hoá gia đình, bệnh lao [65]
Trung tâm kiểm soát bệnh tật thông qua UNAIDS, Chương trình phòng chống AIDS toàn cầu (GAP) và các tổ chức, chương trình hợp tác quốc tế đã tiến hành nhiều chương trình huấn luyện TVXNTN cho nhiều Quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, về cách tổ chức, thực hiện và lượng giá hoạt động như ở Uganda, Malawi, Zimbabuwe, Nam Phi, Kenia, Zambia, Thailan Kết quả cho thấy hoạt động TVXNTN có hiệu quả rất rõ rệt về nhận thức, hiểu biết và thay đổi hành vi nguy cơ đặc biệt trên những đối tượng nguy cơ cao như NCMT, GMD, [55], [57], [68] Kết quả TVXNTN tại Uganda qua 2505 đối tượng TVXNTN được theo dõi việc sử dụng BCS trong 6 tháng sau XN HIV cho thấy tỉ lệ sử dụng BCS tăng
từ 10% tới 89% với bạn tình thường xuyên và 100% với bạn tình không thường xuyên Ở nam nhiễm HIV tỉ lệ luôn sử dụng BCS tăng từ 34% tới 93% và từ 16% đến 38% với bạn tình thường xuyên Ở nữ nhiễm HIV tỷ lệ luôn sử dụng BCS với bạn tình không thường xuyên tăng từ 15% đến 34% [51], [65]
Trang 291.3.4 Tại Việt Nam
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện được thực hiện từ năm 1994 nhưng chưa chú trọng đến yếu tố tư vấn xét nghiệm tự nguyện, tuy nhiên đã thiết lập và củng cố được hệ thống phòng xét nghiệm ở tuyến Trung ương và địa phương đảm bảo tính thuận lợi, sẵn sàng và chất lượng xét nghiệm Đến nay, xét nghiệm vẫn mang tính bắt buộc, phần lớn gắn với giám sát dịch tễ học Năm 1999, một cuộc đánh giá về dịch vụ tư vấn về HIV/AIDS đã được tiến hành cho thấy lãnh đạo các cấp chính quyền, bệnh viện, cơ sở y tế chưa thực sự hiểu đầy đủ tầm quan trọng của tư vấn trong dự phòng HIV/AIDS Một số nơi chưa thực sự quan tâm hoặc thiếu kinh nghiệm tổ chức hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS Năm 2000, chương trình
―Củng cố dịch vụ tư vấn tại 20 Tỉnh và Thành phố‖ được tiến hành với mục đích phát triển mô hình thử nghiệm về tư vấn để triển khai toàn quốc Đến 12/2000 đã
có văn bản hướng dẫn thành lập hệ thống tư vấn và triển khai hoạt động tư vấn tại cấp Tỉnh với nhiều cơ quan thực hiện như: Trung tâm Y tế Dự phòng (TTYTDP), Trung tâm Da liễu, Trung tâm Bảo vệ bà mẹ trẻ em/kế hoạch hoá gia đình, khoa huyết học bệnh viện tỉnh, các khoa truyền nhiễm, Trung tâm 05, 06 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, các trại giam, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, qua điện thoại 1080, cơ sở tư vấn tại những huyện có số người nhiễm HIV cao, giáo dục viên đồng đẳng (GDVĐĐ) Tuy nhiên, việc thiếu kinh phí triển khai đã ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức, chất lượng và việc duy trì hoạt động này [17], [18]
Kết quả hoạt động TVXNTN: trong những năm qua, các dự án (Quỹ toàn cầu, dự án Life - Gap, dự án Ngân hàng thế giới) đã xây dựng được hơn 244 phòng TVXNTN, tại tuyến tỉnh và huyện Trong 6 tháng đầu năm 2009 đã TVXN cho tổng số 61.466 người, số người được xét nghiệm HIV là 58.713 phát hiện được 5.364 trường hợp HIV dương tính (chiếm 9,1% Số người được xét nghiệm) Trong
đó có tới 52.982 người quay lại nhận kết quả xét [18]; tỷ lệ nhiễm HIV được hỗ trợ
từ phía cộng đồng chủ yếu là tư vấn (85,5%) [28]
Việc đánh giá hoạt động TVXNTN còn gặp nhiều khó khăn do chưa có hệ thống các chỉ số đánh giá cụ thể mặc dù các hoạt động TVXNTN ở Việt Nam đã
Trang 30được triển khai và hoàn thiện ở các mức độ khác nhau Đây chính là một trong những công tác cần thiết
1.3.5 Tại Thanh Hóa
Thanh Hoá là tỉnh có nhiều tiềm năng lợi thế để giao lưu và phát triển
kinh tế, nhưng cũng từ đó mà các tệ nạn xã hội và dịch bệnh dễ xâm nhập, trong
đó có đại dịch HIV/AIDS
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV tại Thanh Hóa được bắt đầu triển khai
từ năm 2000, do các dự án Quỹ toàn cầu, dự án Life - Gap, dự án Ngân hàng thế giới tài trợ, đến nay đã xây dựng được 20 phòng TVXNTN tại 17 huyện trọng điểm và 02 đơn vị y tế tuyến tỉnh Trong năm 2009 đã nhận và tư vấn cho 15.783 đối tượng có nguy cơ, trong đó 14.949 đối tượng xét nghiệm HIV, đối
tượng dương tính với HIV là 1.432 người [42]
1.3.6 Tại Quan Hóa
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV tại Quan Hóa được bắt đầu triển khai
từ năm 2006 nhưng đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, địa bàn rộng, nhiều xã vùng sâu, vùng xa, đặc biệt có xã giáp nước bạn Lào , số lượng đối tượng tư vấn đến chưa nhiều vì còn sợ bị kỳ thị, mặt khác các dịch vụ hỗ trợ cho đối tượng tư vấn
còn nghèo nàn, thuốc điều trị ARV đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ
Vấn đề đặt ra hiện nay là tiến hành nghiên cứu tại Quan Hoá để tìm hiểu hành vi nguy cơ và tỷ lệ nhiễm HIV của người đến tư vấn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch vào cộng đồng đạt hiệu quả tốt hơn
Trang 31
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là người dân tộc thiểu số đến khám và tư vấn tại phòng tư vấn xét
nghiệm tự nguyện HIV của Trung tâm y tế huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa 2.1.2 Địa điểm
Huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hóa
Phòng Tư vấn Xét nghiệm
Tự nguyện HIV
Trang 32Quan Hóa là một huyện miền núi vùng cao biên giới (độ cao trung bình của huyện 700m so với mặt nước biển Trong đó, trên 60% diện tích đất toàn huyện có độ cao trên 800m) của tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 145 km về phía tây, theo đường quốc lộ 47, phía bắc giáp tỉnh Sơn La và Hòa Bình; Nam giáp huyện Quan Sơn; Đông giáp huyện Bá Thước; Tây giáp huyện Mường Lát, tỉnh Sơn La và nước bạn Lào Diện tích tự nhiên 104.350,89 ha Huyện gồm 17 xã và 01 thị trấn Quan Hóa [1] Dân số là 43.486 người Nam là 21.308 người (48,99%), nữ 22.178 người (51%) Quan Hóa có cộng đồng các dân tộc sống được phân bố như sau: dân tộc Thái: 29.271 người, chiếm (67,31%); dân tộc Mường: 10.448 chiếm (24,026%); dân tộc Kinh: 3.285 người chiếm (7,55%); dân tộc HMông 402 người, chiếm (0,92%); dân tộc Hoa 58 người, chiếm (0,133%); các dân tộc khác chiếm (0,050%) [16] Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua đời sống kinh
tế của nhân dân trong huyện đã được nâng lên một bước Tuy nhiên, huyện Quan Hóa còn gặp nhiều khó khăn, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tính năng động thị trường còn thấp Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo (từ sơ cấp trở lên tới 95,51% tổng số lao động) Cơ sở hạ tầng kém phát triển, tỷ lệ số xã có điện là 66,11% và tỷ lệ hộ dùng điện là 68% Thu nhập bình quân đầu người 550.000đ/người/tháng, nguồn thu nhập chính vẫn là khai thác lâm sản, trồng nương rẫy Hiện nay trong toàn huyện còn 18 xã nghèo và đặc biệt khó khăn
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 36% [27] Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển kinh tế và hoà nhập nền kinh tế thị trường của tỉnh Thanh Hóa nói chung và của huyện Quan Hóa nói riêng thì các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm cũng gia tăng, chính từ đây căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS xâm nhập và phát triển gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, kinh tế, tinh thần và sức khoẻ
của người dân trong huyện
2.2 Thời gian
Từ tháng 10/2009 đến 9/2010
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 332.3.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
*Cỡ mẫu:
Tính theo công thức n = 2
2 2 1
d
q p
Z
Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu; lấy Z(1- /2) = 1,96 Hệ số tin cậy với ý nghĩa ở mức = 0,05; d là độ chính xác tương đối d = 0,05; p là tỷ lệ nhiễm HIV của người đến phòng TVXNTN , chọn p = 0,5 (tỷ lệ nhiễm HIV của đối tượng
TVXNTN theo nghiên của Nguyễn Đăng Tùng [46]); q = 1- p = 0,5 Khi thay các giá trị vào công thức trên ta tính được n = 384 Để giảm sai số trong quá
trình nghiên cứu chúng tôi lấy cỡ mẫu là 400
* Cách chọn mẫu: Chọn tất cả các đối tượng là người dân tộc thiểu số
đến phòng TVXNTN của Trung tâm y tế huyện Quan Hóa , tỉnh Thanh Hóa từ 1/1/2010 – 30/6/2010
- Tiêu chuẩn lựa chọ n:
+ Các đối tượng tự nguyện đến phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV của Trung tâm y tế huyện Quan Hoá
+ Là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú tại huyện Quan Hoá
+ Đối tượng đến tư vấn không bị câm, điếc vì đây là cuộc điều tra bằng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
+ Đối tượng phải đảm bảo về năng lực hành vi của mình
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Các đối tượng bắt buộc đến phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV
+ Là người Kinh và những đối tượng khác không có hộ khẩu thường trú tại huyện Quan Hoá
+ Các đối tượng là người câm, điếc
+ Đối tượng không đảm bảo về năng lực hành vi của mình
+ Các đối tượng mắc bệnh về máu
2.3.2.Công cụ thu thập số liệu
Phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu này là phỏng vấn các đối tượng bằng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn và xét nghiệm máu để xác định thực trạng nhiễm HIV
Trang 34* Thiết kế bộ câu hỏi điều tra
Bộ câu hỏi bao gồm 68 câu, được thiết kế, chỉnh lý cho phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của địa phương điều tra Bộ câu hỏi gồm 3 phần:
Phần 1 Thông tin cá nhân
Phần 2 Hành vi tiêm chích ma tuý
Phần 3 Quan hệ tình dục với các loại bạn tình
+ Quan hệ tình dục với vợ/chồng, người yêu
+ Quan hệ với bạn tình bất chợt không trả tiền
+ Quan hệ với bạn tình ngoài hôn nhân, không chung sống
+ Quan hệ tình dục với gái mại dâm
+ Quan hệ tình dục với khách làng chơi
* Tập huấn điều tra viên và thử nghiệm bộ câu hỏi
Điều tra viên là cán bộ y tế của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh và Trung tâm Y tế huyện Trước khi thu thập số liệu:
- Tập huấn điều tra viên để thống nhất phương pháp phỏng vấn và cách ghi mẫu phiếu
- Tổ chức điều tra thử bộ câu hỏi và chỉnh sửa , hoàn thiện bộ câu hỏi
* Xác định nhiễm HIV
- Kỹ thuật lấy máu: Lấy 05 ml máu tĩnh mạch ở khuỷ tay của đối tượng,
không chống đông, ly tâm lấy huyết thanh làm xét nghiệm Tất cả các mẫu máu được thử Test nhanh tại Trung tâm y tế huyện Quan Hoá để chẩn đoán, nếu tets nào dương tính được gửi về Labo chuẩn thức Quốc gia (khoa xét nghiệm của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh) để thẩm định lại
Trang 35* Vật liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu bao gồm:
- Phương tiện phòng hộ cho nhân viên xét nghiệm gồm: áo choàng, mũ, khẩu trang, găng tay tiệt trùng, xà phòng, các dung dịch sát trùng Hypoclorit 1%, cloraminB 5%
- Bông cồn, bơm kim tiêm vô trùng loại 5ml dùng 1 lần
- Đồng hồ đo thời gian
- Dàn ELISA gồm có các máy: máy lắc Serodia, máy đọc, máy ủ, máy rửa, máy in
- Đồ đựng chất thải riêng biệt
- Hộp an toàn
2.3.3 Chỉ số nghiên cứu
* Đặc điểm chung của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện:
- Phân bố theo tuổi;
- Phân bố theo giới ;
- Phân bố theo dân tộc;
- Phân bố theo trình độ học vấn ;
- Phân bố theo nghề nghiệp và nơi cư trú ;
- Phân bố theo tình trạng hôn nhân
* Thực trạng nhiễm HIV /AIDS của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
- Kết quả xét nghiệm HIV của đối tượng nghiên cứu ;
- Phân bố người nhiễm theo tuổi ;
- Phân bố người nhiễm theo giới ;
- Phân bố người nhiễm theo dân tộc ;
- Phân bố người nhiễm theo trình độ học vấn ;
- Phân bố người nhiễm theo nghề nghiệp ;
Trang 36- Phân bố người nhiễm theo nhóm cư trú ;
- Phân bố người nhiễm theo tình trạng hôn nhân
* Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV:
- Sử dụng ma túy;
- Loại ma túy sử dụng ;
- Tiêm chích ma tuý;
- Thời gian bắt đầu tiêm chích;
- Cách dùng bơm kim tiêm ;
- Số lần tiêm chích ;
- Quan hệ tình dục;
- Quan hệ tình dục và sử dụng ma tuý ;
- Số bạn tình;
- Sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ;
- Tần xuất sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục
2.3.4 Xử lý số liệu
- Số liệu được phân tích và xử lý trên phần mềm EpiData 3.0 và SPSS 16.0
- Thông kê mô tả được sử dụng để mô tả đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, sử dụng Chi square test để xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV
2.3.5 Một số khái niệm
Quan hệ tình dục : là hành vi quan hệ thông qua đường âm đạo , miệng, hậu môn nhằm thoả mãn nhu cầu của hai hay nhiều người [21]
Vợ/chồng/người yêu /bồ: là người có quan hệ tình dục thường xuyên
không trả tiền (người mà anh /chị có thể kết hôn hoặc chung sống suốt đời )[21]
Bạn tình bất chợt : là những bạn tình gặp bất chợt , không chủ định trước ,
mục đích quan hệ tình dục không phải để trả tiền [21]
Bạn tình ngoài hôn nhân không chung sốn g: là người có quan hệ tình
dục thường xuyên không trả tiền , không kết hôn hoặc không chung sống [21]
Gái mại dâm : là phụ nữ quan hệ tình dục với khách làng chơi để
kiếm tiền[21]
Khách làng chơi : là nam giới khi qua n hệ tình dục với gái mại dâm có trả
tiền, hay tặng quà để thoả mãn nhu cầu tình dục của bản thân [21]
Trang 37Hành vi nguy cơ : là những hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh
nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục từ ng ười này sang người khác : Nghiện chích ma tuý , dùng chung bơm kim tiêm , không sử dụng bao cao su , sử dụng bao cao su không đúng cách trong quan hệ tình dục [21]
Đối tượng nguy cơ : là nhóm người nghiện chích ma tuý , gái mại dâm , đồng tính nam , đó là các nhóm có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất Việt Nam hiện nay[21]
2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
+ Lĩnh vực nghiên cứu không vi phạm pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Đề cương nghiên cứu và bộ câu hỏi được Hội đồng nghiên cứu phê duyệt + Sự tham gia của tất cả các đối tượng vào nghiên cứu hoàn toàn mang tính
tự nguyện, tuyệt đối giữ bí mật các thông tin về người tham gia nghiên cứu
+ Đây là nghiên cứu vô danh Không có tên đặc điểm nhận dạng cá nhân nào được thu thập Tất cả các câu hỏi và các mẫu bệnh phẩm sinh học được dán mã số nghiên cứu riêng
+ Người phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu trong khi phỏng vấn Đảm bảo không có sự can thiệp của các cơ quan chức năng trong thời gian phỏng vấn + Đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong thời gian phỏng vấn
Trang 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Nhận xét: Đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện ở nhóm tuổi từ
20-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (51,25%), sau đó đến nhóm tuổi từ 30 – 39 (36,25%), đối tượng 50 tuổi thấp nhất (0,25%)
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Nhận xét : Đối tượng nữ giới đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện chiếm tỷ
lệ cao hơn nam giới (nữ 56,50% và nam 43,50%)
43,50%
Trang 39Bảng 3.2 Phân bố theo dân tộc của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Nhận xét: Đa số đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện là người dân
tộc Thái chiếm tỷ (87,75%), sau đó đến dân tộc Mường (9,25%) và các dân tộc còn lại chỉ chiếm (3,00%)
Bảng 3.3 Phân bố theo trình độ học vấn của đối tượng đến tư vấn xét
Nhận xét : Đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện có trình độ học
vấn trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao (62,25%), sau đó đến đối tượng trung học phổ thông (19,25%), tiếp theo đến đối tượng tiểu học (16,75%), đối tượng mù chữ, biết đọc biết viết tỷ lệ (0%)
Trang 40B¶ng 3.4 Phân bố theo nghề nghiệp và nơi cư trú của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện (n=400)
Sinh sống liên tục tại địa phương 297 74,25
Nhận xét : Hầu hết các đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện là
nông dân chiếm tỷ lệ (91,25%) Công chức , viên chức và nghề khác chiếm tỷ lệ thấp (<1%)
Đối tượng sinh sống liên tục tại địa phương chiếm tỷ lệ cao hơn đối tượng
đi xa nhà hơn 1 tháng (74,25% và 25,75%)
Bảng 3.5 Phân bố theo tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện
Tình trạng hô n nhân Số lượng Tỷ lệ (%)