1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường

109 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư công nghệ tiên tiến và tiến hành giao dịch thương mại điện tử với các đối tác trong và ngoài nước, tuy nhiên thành quả thu được còn manh mún và rất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

_

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

_

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số : 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: GS, TS ĐỖ THẾ TÙNG

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11

1.1 Khái niệm và đặc điểm thương mại điện tử 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Đặc điểm và phân loại Thương mại điện tử 13

1.1.3 Những điều kiện để phát triển thương mại điện tử 15

1.2 Vai trò của thương mại điện tử đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 20

1.2.1 Góp phần mở rộng thị trường, rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp, các quốc gia 20

1.2.2 Thương mại điện tử góp phần làm giảm chi phí, tăng hiệu quả lao động xã hội 21

1.2.3 Tạo ra phương thức giao dịch mới, góp phần tăng cường quan hệ thương mại 22

1.2.4 Góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội 23

1.3 Kinh nghiệm phát triển thương mại điện tử ở một số nước 24

1.3.1 Chính phủ đóng vai trò đầu tầu trong việc tuyên truyền và tạo điều kiện phát triển thương mại điện tử, nhất là đào tạo nguồn nhân lực 24

1.3.2 Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế điều chỉnh thương mại điện tử 26

1.3.3 Xây dựng kết cấu hạ tầng cho thương mại điện tử 26

1.3.4 Bảo đảm an toàn cho các giao dịch thương mại điện tử 28

1.3.5 Hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thương mại điện tử 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 32

2.1 Tình hình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về thương mại điện tử 32

2.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về thương mại điện tử 32

Trang 4

2.1.2 Tình hình thực thi thương mại điện tử ở Việt Nam 38

2.2 Một số nhược điểm trong thực thi pháp luật về thương mại điện tử 45

2.2.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thương mại điện tử chưa được chú trọng đúng mức 45

2.2.2 Cơ chế giám sát, chế tài chưa đủ mạnh 46

2.2.3 Thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp 46

2.3 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp 46

2.3.1 Mức độ sẵn sàng cho thương mại điện tử 46

2.3.2 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử 54

2.3.3 Đánh giá của doanh nghiệp về ứng dụng thương mại điện tử 65

2.3.4 Một số lĩnh vực ứng dụng thương mại điện tử nổi bật 69

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 76

3.1 Phương hướng thúc đây sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 76

3.1.1 Coi thương mại điện tử là một biện pháp quan trọng để triển khai thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn mới 76

3.1.2 Xã hội hóa việc ứng dụng thương mại điện tử 77

3.1.3 Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển thương mại điện tử 79

3.1.4 Coi trọng xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại cho thương mại điện tử 81

3.2 Những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 81

3.2.1 Phổ cập kiến thức và mở rộng việc đào tạo nhân lực cho thương mại điện tử 81

3.2.2 Hoàn thiện các dịch vụ công và hành lang pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử 85

Trang 5

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động thanh toán điện tử và nâng cấp kết cấu hạ tầng

công nghệ cho thương mại điện tử 88 3.2.4 Đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế để phát triển thương mại điện tử 91

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 99

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại thế giới

OECD (Organization for Economic Co

- operation and Development):

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

UNCITRAL (United Nations

Commission on International Trade

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

B2B (Business - to - Business): TMĐT giữa DN và DN

B2C (Business - to - Consumer): TMĐT giữa DN và người tiêu dùng B2G (Business - to - Government): TMĐT giữa DN và Chính phủ

C2C (Consumer - to - Consumer): TMĐT giữa các cá nhân

G2C (Government - to - Consumer): TMĐT giữa chính phủ và người tiêu

dùng

Trang 7

mới, đó là Thương mại điện tử (E.commerce)

Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, kinh doanh điện tử: E-Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính Tại đây mọi dịch vụ thương mại trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua internet Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch được sử dụng công nghệ thông tin từ chào hàng, thỏa thuận đến ký hợp đồng

Ở nước ta, Đảng và Chính phủ đã sớm thấy được vai trò quan trọng của CNTT và TMĐT đối với quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, Chỉ thị số 58 - CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là văn kiện quan trọng nhất về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta

Năm 2005 là năm Thương mại điện tử hình thành và được pháp luật chính thức thừa nhận tại Việt Nam Trong năm 2005, các cơ quan Nhà nước

đã chủ động xây dựng môi trường pháp lý và tổ chức các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng Thương mại điện tử

Trang 8

Năm 2006 Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại (sửa đổi), Bộ Luật dân sự (sửa đổi) và Nghị định Thương mại điện tử có hiệu lực Năm 2006 cũng là năm đầu tiên triển khai kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện

tử trong giai đoạn 2006 - 2010 theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ

Môi trường pháp lý cho TMĐT cũng dần được hoàn thiện nhờ một loạt các văn bản hướng dẫn luật giao dịch điện tử và luật công nghệ thông tin được ban hành trong năm 2007, như Nghị định số 26/2007/NĐ-CP; Nghị định

số 27/2007/NĐ-CP; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP; Nghị định số 63/2007/NĐ-CP; Nghị định số 64/2007/NĐ-CP Năm 2008 ra đời Thông tư 09/2008 TT-BCT của Bộ Công thương; Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Mới đây hàng loạt các quyết định phục vụ cho các kế hoạch phát triển CNTT và TMĐT cũng được ban hành như Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg; Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg; Quyết định 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Các doanh nghiệp nước ta cũng bước đầu nhận thức được vai trò quan trọng của TMĐT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, đặc biệt trong quá trình Hội nhập với nền kinh tế thế giới Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư công nghệ tiên tiến và tiến hành giao dịch thương mại điện

tử với các đối tác trong và ngoài nước, tuy nhiên thành quả thu được còn manh mún và rất hạn chế, điều đó được thể hiện trong Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam qua các năm, mà mới đây nhất là Báo cáo Thương mại điện

tử Việt Nam 2009 của Bộ Công thương tháng 02/2010 vừa qua

Trong bối cánh đó, việc nghiên cứu ứng dụng những thành quả của CNTT vào phát triển TMĐT nhằm bắt kịp với xu thế chung của nhân loại là một yêu c bức thiết trong giai đoạn hiện nay

Vì vậy, “Phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế

thị trường” được chọn làm đề tài luận văn này

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam là một vấn đề đang thu hút được nhiều sự quan tâm không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý doanh nghiệp, Chính phủ mà của cả nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Đã có không ít những sách chuyên khảo, luận án, luận văn và

đề tài khoa học, các bài báo viết về vấn đề này, chẳng hạn như:

Mai Anh, “Thương mại điện tử, việc triển khai ở Việt Nam và sự tham

gia của Hội tin học Việt Nam”, Hồ Đức Thắng, “Hạ tầng internet trong việc

phát triển Thương mại điện tử”, được đăng trong kỷ yếu tuần lễ tin học X

diễn ra tại Hà Nội tháng 09/2001 Cũng trong năm 2001, Ban Thương mại

điện tử - Bộ Thương mại có báo cáo dự án quốc gia “Kỹ thuật Thương mại điện tử”; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng tổ chức hội thảo

“Ứng dụng và phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam” Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội cho xuất bản cuốn “Thương mại điện tử cho

doanh nghiệp” của Trịnh Lê Nam và Nguyễn Phúc Trường Sinh Tạp chí

internet và Thương mại điện tử số 03 tháng 11/2001 đã đăng tải bài: “Thương

mại điện tử B2C: Các vấn đề tổng quan” của Phan Mỹ Linh Lê Đức Minh

cũng trong năm này đã có bài “Các khái niệm cơ bản trong Thương mại điện tử”, Nhà xuất bản Thống kê (2001) có “Hỏi đáp về Thương mại điện tử”

Nhìn chung những công trình trên đã có những cách tiếp cận rất mới trên phương diện kỹ thuật về vấn đề này

Năm 2002 cũng xuất hiện hàng loạt những tài liệu chuyên khảo, bài viết được đăng trên các kỷ yếu, giáo trình, tạp chí đề cập tới khía cạnh kỹ

thuật của TMĐT Nhà xuất bản Bưu điện Hà Nội cho xuất bản cuốn sách

“Thương mại điện tử” của Trung tâm thông tin Bưu điện - Tổng công ty Bưu

chính viễn thông Việt Nam; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản

cuốn “Giao dịch thương mại điện tử - một số vấn đề cơ bản” của nhóm tác giả

Nguyễn Văn Minh - Trần Hoài Nam; Xuân Hiền với “Hệ thống thanh toán

điện tử” đăng trên Internet và Thương mại điện tử các số 20, 21, 22 và 23

Trang 10

năm 2002; Tác giả Nguyễn Việt Hồng: “Mức độ sẵn sàng ứng dụng Thương

mại điện tử ở các nước” trên tạp chí Internet và Thương mại điện tử số 09 tháng 12/2002; Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Ngoại thương “Cơ sở pháp

lý của Thương mại điện tử - Thực trạng và khả năng thực hiện ở Việt Nam”

của Hoàng Mai Hạnh (2002); Nhà xuất bản Thế giới cũng cho ra đời cuốn

“Bí quyết Thương mại điện tử hướng dẫn xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ”

Trong các năm 2003, 2004 Vụ Thương mại - Bộ Thương mại cũng

đưa ra báo cáo (2003) “Hiện trạng ứng dụng Thương mại điện tử ở Việt Nam”

và “Kiến nghị về thực trạng ứng dụng thương mại điện tử ở một số tổ chức, đơn vị” Đặc biệt trong hai năm nay đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu

TMĐT dưới khía cạnh kỹ thuật như: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có hai

luận văn thạc sỹ: Vũ Thị Minh Hiền với “Giải pháp ứng dụng Thương mại

điện tử cho các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội” và “Những giải pháp Marketting nhằm phát triển quảng cáo trên mạng trong hoạt động

thương mại điện tử ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Toàn Tiếp đó là “Phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới” của Nguyễn Văn

Thụ - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2004 Luận văn

nghiên cứu các vấn đề về hiện trạng và xu hướng phát triển của các hình thức giao dịch TMĐT trên thế giới (B2B &B2C), hiện trạng TMĐT tại Việt Nam

và đưa ra một số giải pháp phát triển TMĐT giúp Việt Nam nhanh chóng hội

nhập với TMĐT trên thế giới Rồi đến luận văn thạc sỹ “Tìm hiểu về kỹ thuật đàm phán quốc tế trong Thương mại điện tử và khả năng áp dụng cho doanh

nghiệp Việt Nam” của Đỗ Thị Hạnh Dung, Trường Đại học Ngoại thương

(2006)

Về tình hình phát triển Thương mại điện tử

Trong năm 2001, xuất hiện một loạt các bài báo, tài liệu chuyên khảo

nghiên cứu về tình hình phát triển TMĐT, có thể kể tới: TS Lê Danh Vĩnh

“Tình hình triển khai chương trình quốc gia về thương mại điện tử” được

Trang 11

đăng trong kỷ yếu tuần lễ tin học X, Hà Nội tháng 09/2001; Lê Hoài An

“Bức tranh toàn cảnh về Thương mại điện tử thế giới 2001” trên tạp chí

Internet và TMĐT số 11 tháng 12/2001; Lan Anh “Phát triển Thương mại

điện tử tại Việt Nam - Rào cản từ chính doanh nghiệp” - Thời báo Kinh tế Sài

Gòn số 28 tháng 7/2001; Phan Minh Hoa “Thương mại điện tử Việt Nam -

Bây giờ hoặc không bao giờ” - Thị trường Tài chính tiền tệ số 17 tháng

09/2001; Trương Minh Hoàng: “Báo cáo của Liên hiệp quốc về Thương

mại điện tử” - Internet và Thương mại điện tử số 8 tháng 12/2001 Cũng trong năm này, Bộ Thương mại đã công bố “Dự thảo đề án phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005”

Trường Đại học Ngoại thương có hai luận văn thạc sỹ là “Giao dịch Thương mại điện tử trong hoạt động ngoại thương Việt Nam - Thực trạng và

giải pháp” của Lê Hữu Cường (2003) và “Thương mại điện tử ở các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của Nguyễn Ngọc

Lân (2004); Th.S Nguyễn Văn Thảo (Phó tổng thư ký Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam, Trưởng ban quản lý sàn giao dịch TMĐT) có bài

viết “Thực trạng và định hướng phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam”

được đăng trên Tạp chí Thương mại số 06/2004, đã xác định những cơ hội, thuận lợi và thách thức cho quá trình phát triển TMĐT ở Việt Nam, bằng việc tổng kết kinh nghiệm phát triển TMĐT của các nước trên thế giới, ông đã đưa

ra những kiến giải nhằm tạo điều kiện cho TMĐT phát triển ở nước ta như: Cần hình thành một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo và quan điểm về thiết lập kết cấu hạ tầng công nghệ, kết hợp với xây dựng một chương trình tổng thể về TMĐT để từng bước triển khai một cách đồng bộ và có hệ thống

Cùng năm 2004, Tạp chí Thương mại số 14 có bài “Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường mua bán theo phương thức thương mại điện tử ở Việt

Nam” của Đinh Thị Nga, cũng đưa ra một số giải pháp tạo điều kiện phát

triển TMĐT trong những năm tiếp đó như: Nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ cho doanh nghiệp triển khai TMĐT, phát triển hạ tầng

Trang 12

công nghệ, phát triển hạ tầng cơ sở thanh toán điện tử Trên tạp chí Internet

và TMĐT tháng 06/2004 cũng có bài “Các nguyên tắc chỉ đạo về Thương mại điện tử ở các nước ASEAN”

Năm 2005 cũng xuất hiện hàng loạt các bài viết: Lan Anh trong mục

Vấn đề quan tâm đã tổng kết tình hình ứng dụng TMĐT ở các doanh nghiệp

qua các năm 2003 và 2004, đưa ra những yêu cầu về mặt pháp lý nhằm cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp phát triển loại hình thương mại mới này

qua bài “Cởi trói cho Thương mại điện tử” được đăng trên Tạp chí Thương mại số 18/2005 Bài “Những gã khổng lồ trong Thương mại điện tử nhắm đến

Trung Quốc” của Cao Anh Đức trên Tạp chí Thương mại số 11/2005, với

những dẫn chứng xác thực về thị trường TMĐT, đã nhấn mạnh TMĐT Trung Quốc ngày càng có sức hút lớn đối với những ông trùm về TMĐT trên thế giới

Hai bài “Thương mại điện tử - Cơ hội và rủi ro” và “Để thương mại điện tử thành hiện thực” trên Tạp chí Thương mại số 18/2005 đã chỉ ra một

thách thức lớn đối với sự phát triển TMĐT ở Việt Nam Đó là tình trạng thiếu nhân lực và hiện tượng các doanh nghiệp, các cá nhân tạo lập website tràn lan, sử dụng không có hiệu quả đã gây nên một sự lãng phí lớn Cũng trong

năm này, luận văn thạc sỹ tại Đại học Ngoại thương Hà Nội “Mô hình phát triển Thương mại điện tử ở một số nước Châu Á và một số giải pháp cho mô

hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam” của Phạm Trung Đà đã đưa

ra một số giải pháp nhằm phát triển TMĐT nước ta sau khi tổng kết kinh nghiệm mô hình của một số nước trong khu vực Châu Á Tới năm 2006, luận

văn thạc sỹ của Phạm Văn Vũ “Giải pháp đẩy mạnh thương mại điện tử

trong doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam” tại Trường Đại học Ngoại

thương một lần nữa cũng lại đề cập tới những vấn đề nêu trên

Đặc biệt, “Báo cáo Thương mại điện tử” của Bộ Công Thương từ năm

2003 đến 2009 đã phản ánh những bước tiến của TMĐT Việt Nam so với các năm trước đó Dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá chính sách và điều tra

Trang 13

rộng rãi các doanh nghiệp trên toàn quốc, báo cáo của từng năm đã đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về môi trường vĩ mô cho TMĐT cũng như tình hình ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp Báo cáo đưa ra những cơ hội và thách thức trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, những kết quả sau khi triển khai luật giao dịch điện tử, sự phát triển vượt bậc của hạ tầng thanh toán và các mô hình ứng dụng TMĐT điển hình trong cộng đồng doanh nghiêp

Về mặt pháp lý

- Chỉ thị số 58 - CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban chấp hành Trung

ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT được xem là văn kiện

quan trọng nhất phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta

- Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/09/2005 của Thủ tướng

Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn

2006 - 2010

- Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về

giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính Nghị định gồm 11 chương và 73

điều; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính gồm 5 chương 22 điều; Nghị định số 35/2007/NĐ-

CP ngày 08/03/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng gồm 5

chương 30 điều; Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của Chính

phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực CNTT gồm 5 chương 36

điều; Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của Chính phủ về ứng

dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan Nhà nước gồm 5 chương 56 điều

- Thông tư 09/2008 TT-BCT ngày 21/07/2008 của Bộ Công thương

hướng dẫn Nghị định TMĐT về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT gồm 5 phần

- Quyết định số 48/2009 QĐ-TTg ngày 31/03/2009 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan

Trang 14

Nhà nước giai đoạn 2009 - 2010; Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg ngày

03/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành “Quy chế quản lý

Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển

công nghiệp nội dung số Việt Nam”; Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày

01/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể

phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

Nhìn chung, Đảng và Chính phủ ta đã sớm thấy được vai trò quan trọng của CNTT và TMĐT đối với quá trình phát triển đất nước Tuy nhiên hệ thống các văn bản pháp lý còn chưa đồng bộ và thiếu tính chặt chẽ

Như vậy TMĐT là vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm, tuy nhiên các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu khía cạnh kỹ thuật và phát triển TMĐT trong từng lĩnh vực chứ chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện vấn đề phát triển TMĐT trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, TMĐT là lĩnh vực biến đổi rất nhanh chóng nên việc theo dõi sự phát triển của TMĐT để

có những biện pháp kịp thời nhằm khắc phục những vấn đề phát sinh, giúp TMĐT phát triển nhanh, mạnh, đúng hướng là việc làm rất cần thiết

Luận văn này kế thừa những kết quả nghiên cứu đã được công bố, nhưng không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh pháp lý của TMĐT,

mà chủ yếu nhấn mạnh vai trò của TMĐT và giải pháp để phát triển TMĐT trong nền kinh tế thị trường hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Luận văn nghiên cứu cở sở lý luận về TMĐT, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường hiện đại; Phân tích hiện trạng và xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy TMĐT phát triển đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế nước ta hiện nay

* Nhiệm vụ

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về TMĐT và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường hiện đại

Trang 15

- Khảo sát hiện trạng phát triển TMĐT ở Việt Nam

- Đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy TMĐT ở Việt Nam phát triển

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò và giải

pháp phát triển của TMĐT ở nước ta hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không đi sâu vào mặt kỹ thuật và

pháp lý của TMĐT mà tập trung nghiên cứu TMĐT ở tầm vĩ mô

Thời gian nghiên cứu từ lúc bắt đầu xuất hiện TMĐT ở nước ta nhưng chủ yếu là những năm gần đây (giai đoạn 2006 - 2010)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị, đặc biệt coi trọng phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp logic với lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp, khái quát

hóa và hệ thống hóa tài liệu

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở phân tích khái niệm, đặc điểm và kinh nghiệm phát triển TMĐT ở một số nước trên thế giới, luận văn đã khẳng định được vai trò tích cực của loại hình thương mại này đối với sự phát triển của kinh tế xã hội

Bằng việc nghiên cứu, phân tích thực trạng TMĐT ở Việt Nam thời gian qua, luận văn đã chỉ ra được những ưu thế và nhược điểm của các DNVN trong quá trình xây dựng và phát triển TMĐT, khẳng định đây là một

xu hướng phát triển tất yếu để các DNVN tạo ra những bứt phá tại thị trường nội địa và nhanh chóng hội nhập, chiếm lĩnh thị trường thế giới Để đạt được điều đó, trước hết cần khắc phục những khó khăn bằng cách thực thi một số giải pháp như: Phổ cập kiến thức và mở rộng việc đào tạo nhân lực cho TMĐT; Hoàn thiện hành lang pháp lý để điều chỉnh các hoạt động TMĐT; Xây dựng và nâng cấp hạ tầng công nghệ; Kiến nghị Nhà nước ban hành và thực thi các chính sách hỗ trợ TMĐT đồng thời trực tiếp tham gia vào các hoạt động TMĐT; Đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế để phát triển TMĐT

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo bao gồm 3 chương:

Chương 1: TMĐT và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng phát triển TMĐT tại Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển TMĐT ở Việt Nam

Trang 17

Chương 1 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Khái niệm và đặc điểm thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm

Có nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT, do nhiều tổ chức quốc tế như

Ủy ban châu Âu, WTO, OECD đưa ra, nhưng định nghĩa sau đây đã được chấp

nhận phổ biến hơn cả: TMĐT là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại; nói chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch [38, tr.12]

Trong định nghĩa trên, chữ “thông tin” không theo nghĩa hẹp là “tin tức”, mà là bất cứ gì có thể chuyển tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư

từ, các tệp văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử, các hình đồ họa, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn,

biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh, Từ “thương mại” trong

“thương mại điện tử” cần được hiểu như cách diễn đạt sau đây của Ủy ban

Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế, đã được ghi trong Đạo luật mẫu

về TMĐT do Ủy ban này thảo ra và đã được Liên hiệp quốc thông qua:

„Thuật ngữ “thương mại” cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù

có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác

Trang 18

về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ” [38, tr.16]

Tóm lại, theo nghĩa rộng thì TMĐT được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử Và TMĐT theo nghĩa hẹp

bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng internet

Các phương tiện kỹ thuật của TMĐT bao gồm: điện thoại, máy điện báo (telex) và máy fax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và liên mạng nội bộ, internet Các hình thái hoạt động của TMĐT gồm thư điện tử (Electronic mail, gọi tắt là e-mail), thanh toán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI); giao gửi số hóa các dung liệu (content), dung liệu là các hàng hóa và cái con người ta cần đến là các nội dung của nó (hay nói cách khác chính nội dung là hàng hóa) chứ không phải bản thân vật mang nội dung, ví dụ như tin tức, sách báo, nhạc, phim, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, các chương trình bán lẻ hàng hóa hữu hình, tức là người bán xây dựng các “cửa hàng ảo” trên mạng, người mua sử dụng mạng internet/web tìm trang web của cửa hàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua, trả tiền bằng hình thức thanh toán điện

tử sau đó cửa hàng giao hàng tới tận nhà

Giao dịch TMĐT (electronic commerce transaction) bao gồm 4 kiểu:

Giữa Người với Người: qua điện thoại, máy fax và e-mail; Người với Máy tính điện tử: một cách trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử (Electronic Form) và qua mạng Internet; Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao

đổi EDI, thẻ thông minh (smart card), các dữ liệu mà gọi là dữ liệu mã vạch;

Máy tính điện tử với Người: qua thư tín do máy tự động sinh ra, máy fax và

Trang 19

thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, chủ yếu là máy tính và internet Tuy nhiên, căn cứ vào các định nghĩa đã có trên thế giới và Việt Nam, xét thực tế và tương lai phát triển của TMĐT thì có thể hiểu TMĐT theo hướng “thương mại” theo nghĩa rộng (tức là thương mại hiện đại)

còn “điện tử” theo nghĩa hẹp Có nghĩa là “Thương mại điện tử là mọi hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng internet và các mạng viễn thông khác” Luận văn cũng dùng khái niệm này để nghiên cứu

1.1.2 Đặc điểm và phân loại Thương mại điện tử

1.1.2.1 Đặc điểm

So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau:

Không cần tiếp xúc trực tiếp trong giao dịch thương mại: Các bên tiến

hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước

Số lượng chủ thể giao dịch tối thiểu là 3 bên: Trong hoạt động giao

dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể, ngoài người bán và người mua còn có bên thứ ba không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực

Mạng thông tin đóng vai trò quyết định trong hoạt động TMĐT: Đối

với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT thì mạng lưới thông tin đóng vai trò quyết định tới thành bại của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại

Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các mô hình TMĐT, như phân loại theo công nghệ kết nối mạng (có dây và không dây), theo hình thức dịch vụ (chính phủ điện tử, giáo dục điện tử, tài chính điện tử ), theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng (thương mại thông tin, thương mại giao dịch, thương mại cộng tác ) Tuy nhiên, người ta thường

Trang 20

hay phân chia theo đối tượng tham gia, hay cụ thể hơn là cách thức giao dịch giữa các chủ thể của TMĐT là: Doanh nghiệp (B), người tiêu dùng (C) và Chính phủ (G) Căn cứ vào đó có thể có các loại sau:

TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B): Là loại hình giao

dịch qua các phương tiện điện tử giữa DN và DN được thực hiện trên các sàn giao dịch mạng

TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): Là loại hình mua

bán qua mạng giữa DN và người tiêu dùng, chủ yếu là mô hình bán lẻ Ở đó, các DN sử dụng các phương tiện điện tử để trưng bày, tiếp thị, bán hàng hóa

và dịch vụ cho người tiêu dùng và ngược lại, người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng Đây chính là hình thái sớm nhất của TMĐT [26]

TMĐT giữa doanh nghiệp và Chính phủ (B2G): Là loại hình giao dịch

điện tử giữa DN và các cơ quan nhà nước Trong đó, cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng, mua bán hàng hóa phục vụ cho các hoạt động công bằng cách mua trực tiếp hoặc tiến hành đấu thầu trên mạng Mặt khác, các cơ quan nhà nước cũng lập các website để cung cấp các dịch vụ công cho các

DN như: hải quan điện tử, thuế điện tử, chứng nhận xuất xứ điện tử

TMĐT giữa các cá nhân (C2C): Là loại hình TMĐT giữa các cá nhân

với nhau Người tiêu dùng có thể tự mình tạo website hoặc thông qua các sàn giao dịch sẵn có (như Napster, Ebay ) để thực hiện mua bán, đấu giá các hàng hóa có nhu cầu

TMĐT giữa chính phủ và người tiêu dùng (G2C): Loại hình này không

phổ biến vì chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính giữa các cơ quan nhà nước và người dân Tuy nhiên nó cũng có thể mang những yếu tố của TMĐT như: hoạt động đóng thuế qua mạng, trả phí đăng kí hồ sơ

Trong các loại hình nói trên thì B2B và B2C là hai loại hình có ý nghĩa nhất vì B2B là loại hình có tỷ trọng giao dịch lớn nhất trong các giao dịchcủa

Trang 21

TMĐT (chiếm khoảng 80%) còn B2C thì lại diễn ra trên diện rộng, thu hút nhiều người tham gia

1.1.3 Những điều kiện để phát triển thương mại điện tử

TMĐT bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội,

hạ tầng của nó là cả một tổng hòa phức hợp: hạ tầng công nghệ; nguồn nhân lực; bảo mật và an toàn; hạ tầng thanh toán tài chính tự động; bảo vệ sở hữu trí tuệ; tác động văn hóa xã hội của internet; lệ thuộc công nghệ Chúng ta không nên nhìn nhận TMĐT đơn thuần chỉ là dùng phương tiện điện tử để thực hiện các hành động buôn bán truyền thống, mà nên hiểu rằng một khi chấp nhận và ứng dụng TMĐT thì toàn bộ hình thái hoạt động của một nước

sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, cả tập quán làm việc, cả quan hệ quốc tế,

TMĐT là tổng thể của hàng chục vấn đề phức tạp đan xen nhau trong một mối quan hệ hữu cơ Để ứng dụng TMĐT thì việc đầu tiên là cần các chính sách và các quy định của Nhà nước về pháp lý (bảo mật an ninh, công nghệ thông tin, truyền thông, sở hữu trí tuệ, sở hữu của người tiêu dùng, cơ quan xác nhận và công chứng) Tham gia vào phần dịch vụ là các tổ chức như ngân hàng, tổ chức tài chính - tín dụng, tổ chức thẻ (các loại thẻ), các công ty bảo hiểm Ngoài ra, còn có thể tạo mối liên hệ trực tuyến với quốc tế, thúc đẩy việc trao đổi và lưu thông hàng hóa với bên ngoài tiến tới toàn cầu hóa Dưới đây sẽ xem xét các điều kiện cần thiết làm tiền đề và môi trường cho hoạt động TMĐT

1.1.3.1 Nguồn nhân lực

TMĐT có mối quan hệ từ người tiêu thụ tới người sản xuất, phân phối, tới các cơ quan Chính phủ, tới cả các nhà công nghệ Việc áp dụng TMĐT tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng, hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hóa nói chung và TMĐT nói riêng (nay đã ở mức đổi

Trang 22

mới hàng tuần), cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hóa, tránh bị động, lệ thuộc hoàn toàn vào nước khác

Áp dụng TMĐT đòi hỏi mỗi người tham gia phải có khả năng trao đổi thông tin một cách thành thạo trên mạng, phải có những hiểu biết cần thiết về kinh tế, thương mại, luật pháp quốc tế, công nghệ thông tin, và ngoại ngữ do vậy nhất thiết phải xây dựng được một đội ngũ chuyên gia giỏi, thường xuyên tiếp cận nhanh chóng và có hiệu quả những công nghệ mới để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển

1.1.3.2 Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, công nghệ điện tử

Để áp dụng và phát triển TMĐT thì hạ tầng công nghệ phải được bảo đảm gồm: công nghệ thông tin; công nghệ viễn thông; công nghệ internet; công nghệ điện tử; công nghệ điện lực; cùng với tổ chức hệ thống đào tạo; tiêu chuẩn công nghệ

TMĐT là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hóa, của công nghệ thông tin Hạ tầng công nghệ thông tin là điều kiện tiên quyết bảo đảm thông tin, nó bao gồm công cụ (phần cứng và phần mềm), và các dịch vụ thích hợp để áp dụng và phát triển TMĐT nhằm mang lại hiệu quả kinh tế

Cùng với hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng công nghệ viễn thông là điều kiện thiết yếu để áp dụng và phát triển TMĐT

Song song với hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng công nghệ internet

là một trong ba yếu tố cần thiết để áp dụng và phát triển TMĐT Hạ tầng công nghệ internet cung cấp thông tin phong phú, đa dạng, nhanh chóng sẽ là điều kiện thúc đẩy lao động sáng tạo, tạo cơ hội thành công trong cạnh tranh và đưa lại hiệu quả tốt cho các hoạt động hợp tác trao đổi

TMĐT muốn áp dụng và phát triển được cần tuân thủ nhiều chuẩn công nghệ của quốc gia và quốc tế cho: thương mại, thanh toán, vận chuyển, hải quan, tài chính, Những hệ thống công nghệ đơn lẻ sẽ không thể trao đổi

Trang 23

được với nhau trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu nếu không tuân thủ những tiêu chuẩn chung về mặt công nghệ Do vậy, mỗi nước ngoài việc xây dựng

và áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia về công nghệ cho mình còn phải nghiên cứu và thừa nhận các tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo sự tương thích cho hội nhập khu vực và toàn cầu

Hạ tầng công nghệ công nghiệp điện tử là những điều kiện quan trọng

và cần thiết để chủ động chế tạo ra các thiết bị điện tử - tin học - viễn thông đáp ứng nhu cầu sử dụng cho nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội trong nước và xuất khẩu Trên cở sở đó sẽ có thể xây dựng được các công nghệ tiên tiến, sử dụng nhiều loại thiết bị hiện đại và thích hợp do trong nước chế tạo được dùng trong TMĐT, tránh lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài

Công nghệ thông tin và TMĐT chỉ có thể hoạt động đáng tin cậy trên nền của một hạ tầng điện lực vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ,

ổn định, giá cả hợp lý và rộng khắp trên phạm vi cả nước (đây là điều kiện khó khăn đối với các nước đang phát triển)

1.1.3.3 Môi trường pháp lý

Vấn đề pháp lý mang tính xuyên suốt và liên quan đến mọi mặt hoạt động khác nhau của TMĐT Cho nên để tạo điều kiện cho các kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ thì các vấn đề pháp lý cần phải quan tâm là:

Khung pháp luật thương mại có tính thống nhất để có thể điều chỉnh cả các hoạt động thương mại (các hợp đồng thương mại được hoạt động thông qua mạng internet) nói chung và các giao dịch nói riêng thông qua các phương tiện công nghệ được sử dụng cho giao dịch Mặt khác, tính thống nhất của khung pháp luật về TMĐT còn phải được thể hiện cả ở trong nước lẫn phạm vi toàn cầu, nghĩa là có luật thừa nhận tính pháp lý của giao dịch TMĐT

Bảo vệ quyền tác giả, bảo hộ các cơ sở dữ liệu, bằng sáng chế, thương hiệu, tên miền, và các vấn đề liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử; bảo vệ bí mật cá nhân; bảo vệ an ninh; an toàn; thừa nhận tính pháp lý của chữ

Trang 24

ký điện tử, chữ ký số hóa, đồng thời có một thể chế pháp lý, các cơ quan pháp

lý thích hợp cho việc xác thực/chứng thực chữ ký điện tử và chữ ký số hóa

Xây dựng một hệ thống pháp lý để bảo vệ mạng thông tin là cần thiết nhằm chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp, như thu thập tin tức mật, thay đổi thông tin trên trang web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virus phá hoại Tới nay từng nước có thể có các luật đơn hành này nhưng điều cần thiết là phải đưa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hóa được thừa nhận trên tầm quốc gia

Trong các quan hệ giao dịch TMĐT, khả năng xảy ra tranh chấp là điều khó tránh khỏi Nhưng các thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp trong thương mại truyền thống không thể áp dụng hữu hiệu cho các tranh chấp trong giao dịch TMĐT Bởi vì với những thuận lợi do phương tiện điện tử mang lại trong giao dịch thương mại thì các tranh chấp sẽ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn và chịu quyền tài phán của nhiều hệ thống luật khác nhau, các tranh chấp xảy ra mang tính không biên giới, đa dạng về chủ thể tham gia cũng như hình thức giao dịch Đồng thời vấn đề thi hành các phán quyết và quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp được thực hiện như thế nào cũng là một trong những khó khăn, thách thức lớn đối với giao dịch TMĐT

1.1.3.4 Sự quản lý của Nhà nước về thương mại điện tử

Đối tượng và phạm vi quản lý Nhà nước về TMĐT là vấn đề rất rộng,

nó bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Trước hết cần xác định, quản lý Nhà nước về TMĐT thuộc loại hình quản lý xã hội và là một bộ phận của quản lý Nhà nước, nhưng không đơn thuần là quản lý kinh tế hay đơn thuần là quản lý văn hóa, xã hội hoặc an ninh quốc gia mà nó là một kiểu quản lý Nhà nước có tính phức hợp, đan xen của cả ba hình thức quản lý nêu trên

Đối tượng của quản lý Nhà nước về TMĐT là toàn bộ các hoạt động TMĐT của tất cả các chủ thể (Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng, công dân) ở mọi hình thức, mọi cấp độ và trên tất cả các lĩnh vực của đời

Trang 25

sống kinh tế - xã hội trong quá trình hình thành, ứng dụng và phát triển TMĐT

Mặt khác, khi nói đến quản lý Nhà nước về TMĐT là nói đến cả hai nội

dung: một là, quản lý bằng chiến lược, luật pháp, chính sách và cơ chế; hai là,

vai trò mở đường thúc đẩy, tổ chức tham gia của Nhà nước bằng những hình thức, phương tiện và công cụ cụ thể Vì thế, về mặt phương pháp luận không thể tách rời vấn đề quản lý nhà nước với vấn đề vai trò của chính phủ trong TMĐT

1.1.3.5 Các vấn đề khác phải quan tâm

Thứ nhất là môi trường quốc gia: Chính phủ từng nước phải quyết định

thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội (cả văn hóa giáo dục) cho nền kinh tế số hóa nói chung và cho TMĐT nói riêng (ví dụ quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế, các dịch vụ khác như thư tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe ) và đưa các nội dung của kinh

tế số hóa vào văn hóa và giáo dục các cấp

Hai là môi trường quốc tế: TMĐT mang tính không có biên giới nên

môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc gia cũng phải thích ứng với môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế Đây chính là khía cạnh làm mất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính cố hữu của ngoại thương truyền thống và dẫn tới những khó khăn về: luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng; thanh toán; thu thuế; khó khăn hơn nữa là đánh thuế các dung liệu, tức là các hàng hóa

“phi vật thể’’ (như âm nhạc, chương trình truyền hình, chương trình phần mềm được giao gửi trực tiếp giữa các đối tác qua mạng); thu thuế trong trường hợp thanh toán vô hình bằng thẻ thông minh; cách kiểm toán các công

ty buôn bán bằng phương thức TMĐT; bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ chính trị

và bảo vệ bí mật riêng tư trong thông tin xuyên quốc gia trên mạng internet giữa các nước có hệ thống luật pháp và hệ thống chính trị khác nhau; pháp luật quốc tế về sử dụng không gian liên quan đến việc phóng và khai thác các

vệ tinh viễn thông

Trang 26

Ba là vấn đề lệ thuộc công nghệ: Phát triển TMĐT đang được các nước

coi là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược Sự du nhập của TMĐT vào các nền kinh tế là không thể tránh được, hơn thế còn là cơ hội đối với các quốc gia; nhưng nếu chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế nhất thời thì không đủ, mà phải có một chiến lược thích hợp để khỏi trở thành quốc gia thứ cấp về công nghệ

Thứ tư là những yếu tố về văn hóa xã hội: Việc ứng dụng CNTT sâu

rộng trong các hoạt động xã hội tạo ra một phương thức lao động mới thuận lợi và hiệu quả hơn so với các phương thức cũ CNTT đã có tác động tích cực làm thay đổi phương thức lao động, tác phong và những tập quán của cả xã hội, chắc chắn sẽ hình thành và phát triển tác phong làm việc của một xã hội văn minh của nền công nghiệp thông tin

Bên cạnh đó tác động của những yếu tố tiêu cực về văn hóa xã hội trên internet cũng là một mối quan tâm quốc tế, và internet đã trở thành một “hòm thư” giao dịch mua bán mại dâm, ma túy, buôn lậu của các lực lượng phản xã hội đưa lên internet, các hoạt động tuyên truyền kích dục có mục đích đối với trẻ em, các hướng dẫn làm bom thư, làm chất nổ phá hoại và các loại tuyên truyền kích động bạo lực; phân biệt chủng tộc; kỳ thị tôn giáo Ở một số nơi (như Trung Quốc và Trung Đông ) Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối sử dụng làm diễn đàn ngôn luận, hoạt động tuyên truyền, kích động lật đổ chính phủ hoặc gây rối loạn trật tự xã hội

1.2 Vai trò của thương mại điện tử đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội

1.2.1 Góp phần mở rộng thị trường, rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp, các quốc gia

TMDT cho phép tất cả mọi người, từ các tập đoàn đa quốc gia tới từng

cá nhân, từ đô thị đến những vùng xa xôi, từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển cùng tham gia TMĐT mang đến cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Nếu như trước kia, khi các phương thức kinh doanh mới ra đời thường tạo nên lợi thế

Trang 27

cho các công ty lớn có khả năng tài chính dồi dào thì TMĐT lại đem cơ hội kinh doanh gần như không khác biệt cho tất cả các doanh nghiệp Một DN dù lớn hay nhỏ cũng có thể thông qua mạng internet để mở rộng thị trường của mình ra khắp toàn cầu chứ không chỉ giới hạn trong những thị trường nhỏ hẹp như trước đây Bên cạnh đó, người tiêu dùng ở bất cứ nơi đâu với một máy tính kết nối mạng, nhờ sự trợ giúp của các công cụ tìm kiếm trên internet cũng có thể tìm thấy tất cả các mặt hàng cần thiết từ các nhà cung cấp trên khắp thế giới Việc mở rộng thị trường của cả người bán và người mua trên phạm vi toàn cầu sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng khả năng cạnh tranh giữa các DN, thúc đẩy sản xuất phát triển, đưa nền kinh tế của các nước đến gần nhau hơn

TMĐT còn giúp các nước nghèo, các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận nền kinh tế tiên tiến của các nước phát triển Nó tạo cơ hội rút ngắn khoảng cách giữa các nước trên thế giới nếu các nước đang phát triển như Việt Nam ta biết nắm bắt cơ hội, thực hiện các bước đột phá để tiến kịp các nước phát triển

1.2.2 Thương mại điện tử góp phần làm giảm chi phí, tăng hiệu quả lao động xã hội

TMĐT có tác động rất tích cực tới sự phát triển kinh tế, đó chính là việc làm giảm đáng kể chi phí của cả người bán và người mua trong giao dịch thương mại Đối với người bán, TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ gọn nhẹ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, do đó tiết kiệm được cả nhân lực và vật lực TMĐT còn giúp DN giảm chi phí tiếp thị và bán hàng Bằng phương tiện internet/web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, cataloge điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với cataloge in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời

Trang 28

TMĐT cũng cho phép các DN giảm mức tồn kho cũng như các chi phí quản lý khác Việc giao dịch nhanh chóng và cập nhật thông tin về nhu cầu khách hàng giúp cắt giảm số lượng và thời gian lưu kho cũng như thay đổi phương án sản phẩm nhằm bám sát nhu cầu thị trường Nhờ tính công khai thông tin của tất cả các DN, giá cả hàng hóa trở nên minh bạch Không một

DN nào có thể đẩy giá của mình lên quá cao so với mặt bằng chung, cộng với việc tiết kiệm được các chi phí đầu vào, giá cả hàng hóa sẽ có phần giảm hơn Điều đó mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng và doanh nghiệp Khả năng

phục vụ 24/24h hay nói cách khác là “thương mại không ngừng nghỉ” giúp

cho các giao dịch trở nên hết sức thuận tiện

Như vậy, TMĐT góp phần làm tăng năng suất lao động thương mại, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đem lại lợi ích cho toàn xã hội

1.2.3 Tạo ra phương thức giao dịch mới, góp phần tăng cường quan

hệ thương mại

Thị trường trong thương mại truyền thống đòi hỏi không gian và thời gian cụ thể, còn trong TMĐT thì không cần điều đó, hàng hóa được giao tới tận tay người mua Mặt khác, nếu thương mại truyền thống thường nghiêng

về phía cung với việc sản xuất hàng hóa theo kiểu đại trà phục vụ cho nhiều người cùng một lúc thì TMĐT lại nghiêng về phía cầu với phương châm

“khách hàng hóa quá trình sản xuất” Ở đây, khách hàng là đối tác chứ không

phải là mục tiêu như trong thương mại truyền thống TMĐT cũng làm thay đổi cách thức giao tiếp, từ giao tiếp gặp mặt, trao đổi trực tiếp sang giao tiếp không gặp mặt, từ đó làm tăng khả năng giao tiếp trên thị trường

Thông qua các mạng liên lạc trực tuyến, các nhà sản xuất, các nhà cung cấp, phân phối và các đại lý có thể chia sẻ các thông tin về phát minh hay cải

tiến hàng hóa và dịch vụ của nhau TMĐT còn cho phép “sản xuất mạng”, có

nghĩa là chia nhỏ từng phần quá trình sản xuất với các nhà thầu, những người

Trang 29

xa cách nhau về mặt địa lý nhưng kết nối với nhau qua mạng máy tính Với sản xuất mạng, một công ty có thể phân công nhiệm vụ với các DN thành viên trên thế giới với thời gian nhanh nhất Lợi ích của sản xuất mạng bao gồm: giảm giá thành, tiếp thị chiến lược tập trung hơn và hỗ trợ bán hàng cho các sản phẩm, dịch vụ và hệ thống mới khi cần

1.2.4 Góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội

TMĐT tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cung cấp thông tin về các dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác của Chính phủ với giá ưu đãi và chất lượng cao Trong y tế, cùng với sự ra đời của những trung tâm khám chữa bệnh từ xa, trung tâm tư vấn sức khỏe qua mạng, hoạt động y tế cộng đồng đã có những bước tiến đáng kể, phục vụ và chăm sóc sức khỏe cho đông đảo người Các hình thức giáo dục như giáo dục từ xa, đào tạo trực tuyến có tác dụng đa dạng hóa hoạt động giáo dục, đem đến cơ hội học tập và phát triển cho nhiều người, nhất là những người ở vùng xa xôi Các dịch vụ xã hội khác như báo điện tử, hải quan điện tử, thuế được cung cấp 24/24 giờ với địa điểm không hạn chế sẽ giảm đáng kể chi phí cho cả người sử dụng và Chính phủ Quan hệ quản lý giữa Nhà nước với DN và với người dân thông qua TMĐT sẽ thuận tiện, đơn giản và minh bạch hơn, giảm phiền hà, nhũng nhiễu cho người dân, từ đó từng bước hoàn thiện Chính phủ điện tử

Việc phát triển TMĐT cũng góp phần giải quyết các vấn đề nan giải của xã hội như địa điểm xây dựng, giao thông TMĐT với các văn phòng, cửa hàng và siêu thị trên mạng sẽ làm giảm áp lực về đất đai đối với các

DN Cũng nhờ có mạng máy tính và các phương tiện điện tử hiện đại mà mọi người có thể ở nhà nhưng vẫn làm việc, mua bán, giải trí được Điều đó làm giảm lưu lượng tham gia giao thông, giảm ách tắc và tai nạn giao thông, làm cho xã hội ổn định hơn

Trang 30

Tuy có vai trò, tác dụng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng nó cũng mang lại nhiều rủi ro, gây tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng, như khó đảm bảo độ an toàn của thông tin trên mạng do nạn trộm cắp thông tin trên mạng, nguy cơ lộ

bí mật thông tin giữa hai bên đối tác sẽ rất cao; sự cố kỹ thuật gây gián đoạn hoạt động kinh doanh, mạch bị nghẽn, có khi phá hủy cả website Trong một

số trường hợp, sự gián đoạn kinh doanh có thể làm cho các hợp đồng thương mại quốc tế bị vô hiệu hóa, gây lãng phí nguồn lực, có lúc còn gây ra sự phá sản nhanh chóng các DN điện tử Điều đó đòi hỏi sự quan tâm quản lý của cả phía Nhà nước và DN nhằm giảm bớt những tổn thất về kinh tế và tâm lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển TMĐT

1.3 Kinh nghiệm phát triển thương mại điện tử ở một số nước

Luận văn tìm hiểu kinh nghiệm phát triển TMĐT của hai quốc gia là Singapore và Hàn Quốc, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển TMĐT tại Việt Nam

1.3.1 Chính phủ đóng vai trò đầu tầu trong việc tuyên truyền và tạo điều kiện phát triển thương mại điện tử, nhất là đào tạo nguồn nhân lực

Là một đất nước có diện tích rất nhỏ bé nhưng lại là quốc gia phát triển nhất khu vực Đông Nam Á, Singapore là một trung tâm kinh tế, tài chính lớn của khu vực và thế giới Ngay từ khi nhận thấy xu hướng phát triển của TMĐT và lợi ích to lớn của nó đối với nền kinh tế quốc gia, Singapore đã khẩn trương chuẩn bị mọi nhân tố cần thiết để TMĐT hình thành và phát triển, đặc biệt Chính phủ Singapore đã rất chú trọng việc nâng cao nhận thức cho các DN và người tiêu dùng về TMĐT Với vai trò là người hướng dẫn, chỉ đường, Chính phủ đã hướng sự quan tâm của DN và người tiêu dùng vào việc ứng dụng TMĐT bằng cách làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích lợi ích của TMĐT Nhiều tổ chức về TMĐT như Trung tâm công dân điện tử, Trung tâm hỗ trợ DN được mở ra, đã cung cấp thông tin về chính sách

Trang 31

TMĐT và giới thiệu về các hoạt động, chiến lược, kế hoạch tổng thể về TMĐT cho người dân Cạnh đó, Chính phủ còn có nhiều dự án khuyến khích các DN tham gia TMĐT và có chế độ khen thưởng cho các DN tích cực tham gia TMĐT

Cũng như Singapore, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMDT nhanh và ổn định Trong giai đoạn 2000 - 2005, TMDT Hàn Quốc tăng trung bình từ 35 - 45%/năm, trong đó doanh số TMDT năm

2004 đạt 314 tỷ USD, chiếm 20% tổng giao dịch thương mại của nước này TMĐT của Hàn Quốc phát triển khá đồng đều trên nhiều loại hình như B2B, B2C và B2G Ở Hàn Quốc khu vực kinh tế tư nhân rất năng động và là nhân

tố chính triển khai các hoạt động TMDT Tuy nhiên, đóng vai trò đầu tàu cho phát triển TMĐT lại chính là Chính phủ với những cam kết mạnh mẽ và quyết tâm phát triển TMĐT

Để hỗ trợ phát triển nhân lực TMĐT, năm 2000 Chính phủ Hàn Quốc

đưa ra “Kế hoạch phát triển nhân lực TMĐT” và tiếp đó là một loạt chương

trình hỗ trợ chia thành 2 loại Một là, nâng cao hệ thống và mở rộng kết cấu

hạ tầng phát triển nhân lực TMĐT Hai là, hỗ trợ các môn học TMĐT, như hỗ trợ các trường đại học xây dựng giáo trình TMĐT, đào tạo nhân lực TMĐT cho địa phương, xây dựng học viện ảo cho phụ nữ tham gia TMĐT, hỗ trợ học thạc sỹ TMĐT tại Đại học Carnegie Melon (Mỹ) Từ tháng 11/2001, Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 12 tỷ USD nhằm mở rộng tuyển sinh ở các trường đại học và các tổ chức đào tạo trong lĩnh vực CNTT, hỗ trợ việc xây dựng các khoa, trường đào tạo sau đại hoc trong lĩnh vực phần mềm; mở rộng đào tạo trực tuyến trong lĩnh vực tin học; hỗ trợ sinh viên du học ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT Chính phủ cũng đào tạo tin học cho khoảng 13 triệu người nghèo, sinh viên, công chức, quân nhân và người làm việc nhà trong thời gian từ năm 2000 - 2002

Trang 32

1.3.2 Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế điều chỉnh thương mại điện tử

Singapore đặc biệt chú ý việc xây dựng và hoàn thiện bộ luật giao dịch điện tử của mình và kèm theo đó là các luật bổ sung như: chống lạm dụng máy tính, sở hữu trí tuệ, thuế để tạo thành khung pháp luật hoàn chỉnh cho các hoạt động TMĐT quốc gia Từ tháng 7/1998, đạo luật giao dịch điện tử được ban hành như một phần cam kết hướng tới giao dịch điện tử của Chính phủ Singapore Đạo luật này cung cấp cơ sở pháp lý cho các giao dịch điện tử

và chuẩn bị cho những mẫu hợp đồng điện tử Nhờ vậy, Singapore đã trở thành quốc gia có hệ thống văn bản luật pháp về TMĐT đầy đủ và hiệu quả nhất trên thế giới, giúp cho TMĐT phát triển ổn định và nhanh chóng

Chính phủ Hàn Quốc cũng rất coi trọng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý TMĐT bằng cách chỉnh sửa luật hiện hành, ban hành luật mới Các đạo luật chính liên quan đến TMĐT đã được ban hành tại Hàn Quốc bao gồm các Luật liên quan trực tiếp đến TMĐT như: Luật khung về TMĐT (ban hành năm

1999, sửa đổi năm 2000 và 2005); Luật bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT (ban hành năm 2002 và sửa đổi năm 2005); Luật chữ ký điện tử (ban hành năm 1998, sửa đổi năm 2001 và 2005); Luật phát triển ngành đào tạo điện tử (ban hành năm 2004); Luật phát triển ứng dụng mạng CNTT truyền thông và bảo vệ thông tin (ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002, 2004 và 2005) Một

số luật khác liên quan đến TMĐT như: Luật kinh doanh tài chính và tín dụng; Luật hóa đơn điện tử được ban hành đã bao quát gần như toàn bộ các hoạt động của TMĐT Điều đó đã hạn chế được các vấn đề phát sinh trong giao dịch TMĐT, làm cho cả DN và người tiêu dùng yên tâm hơn, giúp cho hoạt động TMĐT được phát triển nhanh và đúng hướng

1.3.3 Xây dựng kết cấu hạ tầng cho thương mại điện tử

Thấy được vai trò của CNTT đối việc việc phát triển TMĐT, Chính phủ Singapore đã có quyết định rất táo bạo là xóa bỏ độc quyền, mở cửa thị

Trang 33

trường hoàn toàn trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng

đã rất quan tâm đến hiện đại hóa CNTT viễn thông Chương trình Singapore One (hệ thống băng thông rộng quốc gia đầu tiên trên thế giới) đã được đầu tư lớn Cơ quan quản lý hệ thống này được thành lập ngay từ ngày đầu và với sự phân công trách nhiệm rõ ràng đến từng bộ phận như: Ban Quản lý viễn thông Singapore (TAS) chịu trách nhiệm về phần cứng, cục tin học quốc gia (NBC) chịu trách nhiệm phát triển ứng dụng mạng, Ban khoa học và kỹ thuật quốc gia (NSTB) lo phần hỗ trợ kỹ thuật Chính điều này đã giúp cho mạng Singapore One hoạt động rất hiệu quả, trở thành hệ thống băng thông rộng quốc gia tiên tiến nhất thế giới, góp phần phổ cập internet trong dân chúng, tạo điều kiện cho TMĐT phát triển

Với tất cả những nỗ lực đó, cho đến nay Singapore đã trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về phát triển CNTT, đặc biệt là TMĐT và đang nỗ lực để trở thành một trung tâm CNTT hàng đầu thế giới

Về phía Hàn Quốc, Chính phủ Hàn Quốc có nhiều chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển CNTT Môi trường CNTT ở Hàn Quốc được đánh giá là đạt tiêu chuẩn quốc tế Từ đầu thập kỷ

80, Hàn Quốc đã có chính sách phát triển ngành CNTT gắn chặt chẽ với việc tin học hóa hành chính Từ năm 1995 - 2005, Hàn Quốc đã đặt kế hoạch xây dựng 3 hệ thống mạng tốc độ cao: mạng quốc gia tốc độ cao, mạng công cộng tốc độ cao và mạng nghiên cứu tốc độ cao Trong đó, mạng quốc gia tốc độ cao là yếu tố then chốt với Chính phủ điện tử của Hàn Quốc Mạng này được xây dựng bằng ngân sách Chính phủ dành cho các cơ quan công quyền, các viện nghiên cứu và các trường học truy cập với mức giá thấp Mạng nghiên cứu tốc độ cao cũng được Chính phủ đầu tư xây dựng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học của các viện, các trung tâm và các trường học Hệ thống mạng công cộng là mạng cáp quang do các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông xây dựng phục vụ cả hoạt động thương mại và phi thương mại Với dự án hạ

Trang 34

tầng mạng quốc gia tốc độ cao, Chính phủ Hàn Quốc trả trước cho các công

ty viễn thông toàn bộ chi phí Sau đó, Chính phủ thu lại bằng cách cho các cơ quan công quyền và các tổ chức phi lợi nhuận sử dụng với giá cước rất thấp Nhờ thế mà các cơ quan công quyền có điều kiện tiếp cận hạ tầng mạng tốc

độ cao để cung cấp các dịch vụ công Tháng 12/2000, Hàn Quốc đã xây dựng xong mạng lưới Internet băng rộng kết nối 144 khu vực trên toàn đất nước Đến nay, tỷ lệ người dùng internet băng thông rộng của Hàn Quốc đứng hàng đầu trong các nước thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chiếm 88% tổng số người dùng Internet

1.3.4 Bảo đảm an toàn cho các giao dịch thương mại điện tử

Tháng 6/1998, Singapore đã thử nghiệm thành công phương thức kiểm tra chéo giữa Chính phủ với Chính phủ (cross- identification of Government - Government) cho phép các doanh nhân Singapore và Canada có thể nhận dạng trực tuyến Hệ thống an ninh cơ bản này được xây dựng như một điểm mốc quan trọng cho Singapore đạt được mục tiêu chính về TMĐT

Tháng 2/1999, Cục tin học Quốc gia đã ban hành các quy định CA Licence nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và tổ chức thương mại, tạo lòng tin của công chúng đối với giao dịch điện tử và để thúc đẩy việc phát triển TMDT Theo đó, Chính phủ quy định chữ ký điện tử an toàn có giá trị tương tự như chữ ký ở tòa án

Ngoài ra, Chính phủ cũng đã làm việc với ngành CNTT để phát triển các dịch vụ kết cấu hạ tầng như hệ thống an ninh, ủy thác, dịch vụ hướng dẫn,

hệ thống thanh toán trực tuyến và các dịch vụ TMĐT trung gian khác

Các DN Hàn Quốc cũng là những người đầu tiên nhận ra rằng, để đạt được thành công phải bắt đầu với hệ thống trả tiền linh hoạt Các biện pháp thanh toán linh hoạt sẽ giúp người tiêu dùng thoải mái hơn trong chi tiêu trên Internet Và khi đó, họ sẽ sẵn lòng mua những mặt hàng lớn và đắt hơn trên mạng Những thanh toán bằng thẻ tín dụng và chuyển tiền đơn giản rất không

Trang 35

thuận tiện Do vậy, các công ty điện thoại di động đã cho phép khách hàng được thanh toán vào tài khoản điện thoại di động cho hoạt động mua hàng trên mạng Thay cho những thể thức mua hàng phức tạp thì người mua hàng chỉ việc lựa chọn các mặt hàng cần thiết và gọi điện đến nhà cung ứng, mọi chi phí sẽ được trừ trong tài khoản điện thoại của người tiêu dùng Không dừng lại ở đó, các công ty Hàn Quốc tiếp tục phát triển hình thức thanh toán này bằng cách sử dụng các dịch vụ thanh toán toàn phần, cho phép người tiêu dùng có thể thanh toán mọi khoản mua từ nhỏ cho đến những khoản chi tiêu rất lớn Việc cải tiến hình thức thanh toán giúp người tiêu dùng cảm thấy thuận tiện và an toàn hơn Tới cuối năm 2003, các công ty điện thoại di động không còn độc quyền trong lĩnh vực này, nhiều tập đoàn điện thoại cố định truyền thống như Korea Telekom và Dacom đang tiến vào lĩnh vực dịch vụ thanh toán Các công ty đều tạo ra các trang web thanh toán dịch vụ toàn phần, cho phép khách hàng trả tiền cho mọi thứ từ các khoản mua sắm trên mạng cho tới phí bảo dưỡng căn hộ hay tiến hành chuyển tiền chỉ bằng cách đăng ký trên mạng

Các ngân hàng cũng không đứng ngoài cuộc trong việc phát triển hệ thống thanh toán điện tử Các ngân hàng như Shinhan, Choheung, Han, Korea Exchange và Ngân hàng công nghiệp Hàn Quốc đều đã phát triển và đưa ra các sản phẩm phù hợp với các khách hàng, cho phép các khách hàng thực hiện việc thanh toán trực tuyến thông qua các hợp đồng giao dịch dạng B2B Hơn nữa, hệ thống còn có thể chuyển hóa đơn từ DN này đến DN khác, giữa

8 ngân hàng với nhau bao gồm Hàn Quốc Exchange, Choheung và Woori dưới sáng kiến của Korea Financial Telecommunications & Clearings Institute Hệ thống này ra đời vào tháng 03/2002, tính đến nay hầu như tất cả các ngân hàng đều đã và đang thực hiện kết nối vào hệ thống này

Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc cũng luôn coi trọng công tác an ninh, an toàn trong giao dịch TMĐT nhằm bảo vệ khách hàng, giải quyết

Trang 36

tranh chấp liên quan đến TMĐT Để giải quyết vấn đề này, Hàn Quốc đã lập

ra Ủy ban điều đình TMĐT nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong giao dịch TMĐT Với tốc độ tăng trưởng của TMĐT, các con số về vấn đề tranh chấp được gửi đến Ủy ban điều đình về TMĐT ngày càng tăng và tỷ lệ giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp đã tăng đến 95,8% Mặt khác, để giải quyết các tranh chấp thường xuyên về tên miền, Chính phủ Hàn quốc đã lập

ra văn phòng giải quyết các tranh chấp tên miền vào tháng 08/2001 Văn phòng này đã tiến hành phân xử các vụ tranh chấp từ tháng 10/2001 và là

trung gian xử lý các vụ tranh chấp tên miền có đuôi kr và hồi phục tên miền

Chính phủ Hàn Quốc cũng rất quan tâm đến tính xác thực của các tài liệu điện tử Trong luật cơ bản về TMĐT, Chính phủ Hàn Quốc cũng đã đưa

ra các quy định cụ thể trong việc trao đổi tài liệu điện tử trong TMĐT Chữ ký điện tử được chấp nhận chính thức kể từ tháng 02/1999, nó được công nhận như một phương tiện bảo đảm tính xác thực tài liệu điện tử Cả hai hoạt động TMĐT và chữ ký điện tử đều được đưa vào chính thức hoạt động từ ngày 01/07/1999 Số lượng người dùng được cấp chứng chỉ ngày càng tăng chứng

tỏ việc sử dụng chữ ký điện tử ngày càng trở nên quan trọng Trung tâm cấp chứng nhận Hàn Quốc (Korea Certification Authority Central) là nơi chỉ đạo việc quản lý chứng chỉ chữ ký điện tử trong việc sử dụng

1.3.5 Hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thương mại điện tử

Chính phủ Singapore ngay từ đầu cũng đã có những hoạt động hữu hiệu nhằm hỗ trợ các DN ở quốc gia này có những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển TMĐT Ngay từ đầu những năm 80, công cuộc tin học hóa đã được tiến hành ở đây với khá nhiều dự án như: Dự án Tin học hóa Quốc gia (tin học hóa tất cả các ngành công nghiệp, phát triển CNTT một cách rộng rãi để giúp mọi người dân bước đầu làm quen với CNTT, xây dựng kết cấu hạ tầng mới) được thực hiện năm 1981; Dự án CNTT quốc gia năm 1986 Tháng 11/1998, Cục tin học Quốc gia mở rộng “Dự án Tin học hóa DN địa phương”,

Trang 37

chi 9 triệu USD để hỗ trợ cho 500 DNVVN áp dụng TMĐT Mỗi DN có thể nhận tối đa 2.000 USD từ nguồn hỗ trợ này Nhờ có các chương trình này mà trình độ tin học của người dân và DN được nâng cao, tạo tiền đề cho các ứng dụng TMĐT

Ở Hàn Quốc, hoạt động TMĐT chủ yếu là ở các DN, nhưng hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng TMĐT do thiếu tài chính, nhân sự và chiến lược dài hạn Vì vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai chương trình thông tin hóa cho DNVVN từ năm 2001

và trong 3 năm chương trình này đã tư vấn và hỗ trợ tin học hóa sản xuất, kinh doanh cho hơn 30.000 DNVVN Năm 2003, Hàn Quốc còn thành lập Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu về TMĐT để hỗ trợ DN tham gia thị trường thế giới thông qua TMĐT Để giúp các DN thuận lợi hơn khi triển khai TMĐT, Chính phủ đã xây dựng Chỉ số TMĐT Hàn Quốc (gọi tắt là KEBIX) nhằm giúp DN đánh giá khả năng sẵn sàng TMĐT của mỗi ngành nghề thông qua 5 yếu tố: môi trường, con người, nguồn lực và kết cấu hạ tầng, quy trình và giá trị KEBIX được Bộ Thương Mại và Công nghiệp Hàn Quốc triển khai vào năm 2002, từ đó giúp DN vạch ra chiến lược TMĐT cho mình và cũng giúp Chính phủ đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng ngành nghề

Có thể thấy những kế hoạch về TMĐT của Hàn Quốc được triển khai rất đồng bộ và nhất quán Bên cạnh đó các kế hoạch, chính sách, chương trình

hỗ trợ cũng được kịp thời ban hành và thực hiện không chỉ ở các thành phố lớn, mà còn ở rất nhiều địa phương khác trên phạm vi toàn quốc

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

2.1 Tình hình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về thương mại điện tử

Mức độ quan tâm tới việc phát triển TMĐT ở Việt Nam được thể hiện rõ nhất thông qua việc ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này

Đây là một trong sáu nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển TMĐT Việt Nam

Mặc dù chậm hơn so với yêu cầu, nhưng tới cuối năm 2008 khung pháp

lý cho TMĐT tại Việt Nam có thể nói đã tương đối hoàn thiện, với nền tảng chính là những văn bản quy phạm pháp luật thuộc hệ thống Luật giao dịch điện

tử Bên cạnh đó, Luật Công nghệ thông tin và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng tạo nên một hành lang pháp lý khá thuận lợi cho việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng CNTT và ứng dụng vào TMĐT Ngoài Luật và những Nghị định khung, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng đang tiếp tục nghiên cứu để ban hành các văn bản dưới Luật nhằm điều chỉnh từng lĩnh vực ứng dụng TMĐT đặc thù của đời sống kinh tế - xã hội

2.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về thương mại điện tử

Ngày 29/11/2005, Luật giao dịch điện tử được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/03/2006 Được xây dựng dựa trên cấu trúc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL về TMĐT, Luật này là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho toàn bộ hệ thống pháp luật TMĐT Việt Nam, hướng tới thiết lập một khung chính sách - pháp lý toàn diện cho các giao dịch điện tử trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ giao dịch hành chính, dân sự cho đến hoạt động kinh doanh, thương mại Việc ban hành Luật giao dịch điện tử đã mở ra một giai đoạn mới cho TMĐT Việt Nam, đánh dấu

Trang 39

việc TMĐT chính thức được pháp luật thừa nhận và bắt đầu phát triển mạnh

Bên cạnh kế hoạch tổng thể nói trên, trong thời gian qua, khung chính sách liên quan đến TMĐT cũng liên tiếp được bổ sung những chương trình và

đề án ở quy mô quốc gia, từ quy hoạch hạ tầng viễn thông - Internet cho đến phát triển nguồn nhân lực CNTT và thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước (xem phụ lục số 2.1) Với mục tiêu xây dựng một xã hội thông tin hiện đại dựa trên kết cấu hạ tầng công nghệ tiên tiến, những chính sách này đang góp phần hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam

2.1.1.2 Tình hình triển khai kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định 222)

Triển khai Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn

2006 - 2010, hoạt động tuyên truyền phổ biến về TMĐT đã phát triển mạnh

mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng như cơ quan thông tin đại chúng và các doanh nghiệp luôn chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến cho xã hội về TMĐT Các sự kiện lớn cũng như các cuộc thi, giải thưởng liên quan đến TMĐT được

tổ chức thường xuyên như Giải Cúp vàng TMĐT của Hội tin học Việt Nam, Giải Sao Khuê của Hiệp hội phần mềm Việt Nam, Chương trình Ý tưởng số, Chương trình xếp hạng doanh nghiệp TMĐT uy tín, Diễn đàn triển lãm

Trang 40

TMĐT Việt Nam (Ecombiz) của Bộ Công thương phối hợp với Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam

Việc đào tạo cán bộ quản lý Nhà nước và doanh nghiệp về TMĐT đã được triển khai một cách khá bài bản thông qua nhiều hình thức như hội thảo, tập huấn, trao đổi Từ năm 2006 - 2009, Bộ Công thương cùng với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các đơn vị khác đã tổ chức gần 200 khóa tập huấn về quản lý Nhà nước cũng như kỹ năng ứng dụng TMĐT trong kinh doanh cho các doanh nghiệp tại nhiều địa phương trên cả nước

Đào tạo chính quy về TMĐT tiếp tục được các cơ sở đào tạo quan tâm đẩy mạnh Năm 2008, Bộ Công thương đã tiến hành điều tra, khảo sát về tình hình đào tạo TMĐT tại các trường Đại học và Cao đẳng trên cả nước Kết quả cho thấy, trong số 108 trường tham gia khảo sát có 49 trường đã triển khai hoạt động đào tạo về TMĐT, gồm 30 trường Đại học và 19 trường Cao đẳng Trong đó 2 trường đã lập khoa TMĐT, 11 trường thành lập bộ môn TMĐT Một số trường đại học đã có kế hoạch đầu tư sâu cho đào tạo TMĐT với việc hoàn thiện giáo trình và hạ tầng công nghệ phục vụ cho đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu xã hội

Tính đến cuối năm 2009, hầu hết các bộ, ngành và 60 trên tổng số 63

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang thông tin điện tử (website) để giao tiếp với công dân và các tổ chức trong xã hội Phần lớn các website này đã cung cấp trực tuyến những dịch vụ công cơ bản như cung cấp thông tin về hoạt động của tổ chức, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật, quy trình thủ tục hành chính công và tương tác với tổ chức, cá nhân qua website Có 18 tỉnh, thành phố trong cả nước đã triển khai cung cấp trực tuyến ở mức độ 3, trong đó có các dịch vụ công liên quan đến thương mại như cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép thành lập văn phòng đại diện, đăng ký thuế, đăng ký con dấu, Các dịch vụ công trực tuyến có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thương mại đang

Ngày đăng: 09/07/2015, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lan Anh (2005),“Cởi trói cho Thương mại điện tử”, Tạp chí Thương mại, (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Cởi trói cho Thương mại điện tử”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Lan Anh
Năm: 2005
2. Mai Anh (2001), Thương mại điện tử, việc triển khai ở Việt Nam và sự tham gia của Hội tin học Việt Nam, Kỷ yếu tuần lễ tin học X diễn ra tại Hà Nội tháng 09/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử, việc triển khai ở Việt Nam và sự tham gia của Hội tin học Việt Nam
Tác giả: Mai Anh
Năm: 2001
12. Bí quyết Thương mại điện tử hướng dẫn xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (2002), Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết Thương mại điện tử hướng dẫn xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Bí quyết Thương mại điện tử hướng dẫn xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2002
13. “Các nguyên tắc chỉ đạo về Thương mại điện tử ở các nước ASEAN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc chỉ đạo về Thương mại điện tử ở các nước ASEAN
14. Đỗ Thị Hạnh Dung (2006), Tìm hiểu về kỹ thuật đàm phán quốc tế trong Thương mại điện tử và khả năng áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về kỹ thuật đàm phán quốc tế trong Thương mại điện tử và khả năng áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hạnh Dung
Năm: 2006
15. “Đầu ra của giải pháp” (11/2007), Tạp chí Thế giới vi tính Series B Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu ra của giải pháp” (11/2007)
16. Phạm Trung Đà (2005), Mô hình phát triển Thương mại điện tử ở một số nước Châu Á và một số giải pháp cho mô hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phát triển Thương mại điện tử ở một số nước Châu Á và một số giải pháp cho mô hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Đà
Năm: 2005
17. Cao Anh Đức (2005), “Những gã khổng lồ trong Thương mại điện tử nhắm đến Trung Quốc”, Tạp chí Thương mại, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những gã khổng lồ trong Thương mại điện tử nhắm đến Trung Quốc”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Cao Anh Đức
Năm: 2005
18. Hoàng Mai Hạnh (2002), Cơ sở pháp lý của Thương mại điện tử - Thực trạng và khả năng thực hiện ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở pháp lý của Thương mại điện tử - Thực trạng và khả năng thực hiện ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Mai Hạnh
Năm: 2002
19. Xuân Hiền (2002), “Hệ thống thanh toán điện tử”, Internet và Thương mại điện tử, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thanh toán điện tử”," Internet và Thương mại điện tử
Tác giả: Xuân Hiền
Năm: 2002
20. Xuân Hiền (2002), “Hệ thống thanh toán điện tử”, Internet và Thương mại điện tử, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thanh toán điện tử”," Internet và Thương mại điện tử
Tác giả: Xuân Hiền
Năm: 2002
21. Xuân Hiền (2002), “Hệ thống thanh toán điện tử”, Internet và Thương mại điện tử, (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thanh toán điện tử”," Internet và Thương mại điện tử
Tác giả: Xuân Hiền
Năm: 2002
22. Xuân Hiền (2002), “Hệ thống thanh toán điện tử”, Internet và Thương mại điện tử, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thanh toán điện tử”," Internet và Thương mại điện tử
Tác giả: Xuân Hiền
Năm: 2002
23. Vũ Thị Minh Hiền (2003), “Giải pháp ứng dụng Thương mại điện tử cho các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp ứng dụng Thương mại điện tử cho các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Minh Hiền
Năm: 2003
25. Nguyễn Việt Hồng (12/2002),“Mức độ sẵn sàng ứng dụng Thương mại điện tử ở các nước”, Tạp chí Internet và Thương mại điện tử, (09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ sẵn sàng ứng dụng Thương mại điện tử ở các nước”, "Tạp chí Internet và Thương mại điện tử
26. Phan Mỹ Linh (11/2001), “Thương mại điện tử B2C: Các vấn đề tổng quan”, Tạp chí Internet và Thương mại điện tử, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử B2C: Các vấn đề tổng quan”, "Tạp chí Internet và Thương mại điện tử
27. Nguyễn Văn Minh - Trần Hoài Nam (2002), Giao dịch thương mại điện tử - một số vấn đề cơ bản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch thương mại điện tử - một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Minh - Trần Hoài Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
28. Đinh Thị Nga (2004), “Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường mua bán theo phương thức Thương mại điện tử ở Việt Nam”, Tạp chí Thương mại, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường mua bán theo phương thức Thương mại điện tử ở Việt Nam”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Đinh Thị Nga
Năm: 2004
30. Hồ Đức Thắng (2001), Hạ tầng internet trong việc phát triển Thương mại điện tử, Kỷ yếu tuần lễ tin học X diễn ra tại Hà Nội tháng 09/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ tầng internet trong việc phát triển Thương mại điện tử
Tác giả: Hồ Đức Thắng
Năm: 2001
43. WTO, Committee on Trade and Development (1999), Summary report of seminar on Electronic commerce and development, http://www.wto.org Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Phân bổ máy tính trong doanh nghiệp qua các năm - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.1 Phân bổ máy tính trong doanh nghiệp qua các năm (Trang 53)
Hình 2.2: Tỷ lệ máy tính phân bổ theo  địa  bàn  hoạt  động của DN  đƣợc điều tra - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.2 Tỷ lệ máy tính phân bổ theo địa bàn hoạt động của DN đƣợc điều tra (Trang 54)
Bảng 2.1: Phân bổ máy tính trong DN theo lĩnh vực hoạt động  Lĩnh vực  Tỷ lệ máy tính/Doanh nghiệp  Tỷ lệ nhân viên/máy tính - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Bảng 2.1 Phân bổ máy tính trong DN theo lĩnh vực hoạt động Lĩnh vực Tỷ lệ máy tính/Doanh nghiệp Tỷ lệ nhân viên/máy tính (Trang 55)
Hình 2.3: Phân bổ DN có cán bộ chuyên trách TMĐT theo lĩnh vực  hoạt động - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.3 Phân bổ DN có cán bộ chuyên trách TMĐT theo lĩnh vực hoạt động (Trang 59)
Hình  2.4:  Hình  thức  đào  tạo  CNTT  và  TMĐT  cho  nhân  viên  của  DN qua các năm - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
nh 2.4: Hình thức đào tạo CNTT và TMĐT cho nhân viên của DN qua các năm (Trang 60)
Hình 2.5: Tình hình sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong DN  năm 2009 - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.5 Tình hình sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong DN năm 2009 (Trang 62)
Hình 2.6: Tỷ lệ DN tham gia sàn giao dịch TMĐT qua các năm - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.6 Tỷ lệ DN tham gia sàn giao dịch TMĐT qua các năm (Trang 64)
Hình 2.7: Tỷ lệ DN sở hữu và sẽ xây dựng website qua các năm - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.7 Tỷ lệ DN sở hữu và sẽ xây dựng website qua các năm (Trang 65)
Hình 2.8: Tình hình xây dựng website của DN qua các giai đoạn - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.8 Tình hình xây dựng website của DN qua các giai đoạn (Trang 66)
Hình 2.9: Tình hình sở hữu và sẽ xây dựng website của DN theo địa bàn - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.9 Tình hình sở hữu và sẽ xây dựng website của DN theo địa bàn (Trang 67)
Hình 2.10: Tình hình cập nhật website của DN qua các năm - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.10 Tình hình cập nhật website của DN qua các năm (Trang 68)
Bảng 2.6: Tình hình cập nhật website của DN theo quy mô - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Bảng 2.6 Tình hình cập nhật website của DN theo quy mô (Trang 69)
Hình  2.11:  Các  hạng  mục  trong  đầu  tƣ  cho  CNTT  và  TMĐT  của  DN năm 2009 - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
nh 2.11: Các hạng mục trong đầu tƣ cho CNTT và TMĐT của DN năm 2009 (Trang 71)
Hình 2.12: DN đánh giá về tác dụng của TMĐT đối với hoạt động  kinh doanh - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Hình 2.12 DN đánh giá về tác dụng của TMĐT đối với hoạt động kinh doanh (Trang 72)
Bảng  2.9:  Ƣớc  tính  của  DN  về  doanh  thu  từ  TMĐT  qua  các  năm  2005-2009 - Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
ng 2.9: Ƣớc tính của DN về doanh thu từ TMĐT qua các năm 2005-2009 (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w