1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel

127 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại công ty Cổ phần Bưu chính Viettel” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luâ ̣n văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Các kết quả, số liê ̣u do tác giả trực tiếp thu thâ ̣p , thống kê và xử lý Các nguồn dữ liê ̣u khác được tác giả sử du ̣ng trong luâ ̣n văn đều ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015 Người thực hiện luận văn

Lê Anh Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn khoa

học PGS.TS Vũ Chí Lộc, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và đưa ra

những đóng góp hết sức quý báu để tác giả hoàn thành bản luận văn này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo công tác tại Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội đã trang bị cho tác giả những kiến thức trong suốt thời gian học tập

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các cán bộ nhân viên tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, các tài liệu liên quan, giành thời gian trả lời phỏng vấn, trả lời bảng câu hỏi điều tra để giúp tác giả hoàn thiện luận văn

Tuy tác giả đã cố gắng trong quá trình nghiên cứu song vì điều kiện hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phản hồi để tiếp tục hoàn thiện

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Anh Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 9

1.1 Cơ sở lý luận về thương mại điện tử 9

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử (E-commerce) 9

1.1.2 Luật về thương mại điện tử 10

1.1.3 Quy trình thực hiện một hoạt động thương mại điện tử 12

1.1.4 Các phương tiện sử dụng trong hoạt động thương mại điện tử 12

1.1.5 Các hình thức thương mại điện tử 16

1.1.6 Lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử 18

1.1.7.Vai trò của việc ứng dụng thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp 22

1.1.8 Khuynh hướng toàn cầu 25

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động Logistics 26

1.2.1 Khái niệm và sự phát triển của hoạt động Logistics 26

1.2.2 Phân loại các hoạt động logistics 33

1.2.3 Vị trí và vai trò của logistics 35

1.2.4.Đặc điểm hoạt động logistics trong ngành bưu chính 40

Trang 6

1.2.5 Quy trình hoạt động dịch vụ logistics tại công ty kinh doanh bưu chính

41

1.3 Thương mại điện tử với hoạt động Logistics 44

1.3.1 Tính thông tin 44

1.3.2 Tính tương tác 44

1.3.3 Tính cá nhân hóa 47

1.3.4 Lợi ích của thương mại điện tử với hoạt động Logistics 47

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 50

2.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 50

2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 51

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết 51

2.2.2 Phương pháp mô hình hóa 52

2.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 52

2.3.1 Mô hình nghiên cứu thực tiễn 52

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 53

2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin 55

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHÀN BƯU CHÍNH VIETTEL 56

3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 56

3.1.1 Thông tin chung về doanh nghiệp 56

3.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh năm 2014 64

Trang 7

3.2 Phân tích môi trường kinh doanh của Công ty Cổ phần Bưu chính

Viettel 66

3.2.1 Phân tích môi trường vĩ mô 66

3.2.2 Phân tích môi trường vi mô 69

3.3 Thực trạng hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 73

3.3.1 Quy trình chuyển phát tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 73

3.3.2 Hệ thống kho bãi 75

3.3.3 Hoạt động vận chuyển 78

3.3.4 Ứng dụng công nghệ cho dịch vụ Logisitcs tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 83

3.4 Thực trạng phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 85

3.4.1 Phát triển dịch vụ hậu cần thương mại điệ tử 85

3.4.2 Viettel Post hỗ trợ thương mại điện tử tới tận xã đảo 86

3.4.3 Bưu tá Viettel Post sử dụng smartphone tăng hiệu quả chuyển phát 87

3.5 Đánh giá dịch vụ Logisitcs tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 89

3.5.1 Những thành tựu đạt được 89

3.4.2 Những vấn đề còn tồn tại 91

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BƯU CHÍNH VIETTEL 92

Trang 8

4.1 Tổng quan về thị trường dịch vụ Logistics trong kinh doanh Bưu

chính tại Việt Nam 92

4.1.1 Dự báo thị trường dịch vụ Logisitcs trong lĩnh vực kinh doanh Bưu chính tại Việt Nam 92

4.1.2 Thương mại điện tử với hoạt động Logistics trong ngành Bưu chính

94

4.2 Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 97

4.2.1 Các mục tiêu chủ yếu 97

4.2.2 Định hướng chiến lược 97

4.3 Một số giải pháp phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel 98

4.3.1 Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động Logistics 98

4.3.2 Xây dựng mạng lưới logistics hiện đại 99

4.3.3 Hoàn thiện dịch vụ kho vận 101

4.3.4 Phát triển hoạt động vận tải 103

4.3.5 Quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng (Data Management / EDI clearing house) .106

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 112

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

2 BCTC Báo cáo tài chính

3 BTTTT Bộ Thông tin và truyền thông

4 CHLB Cộng hòa liên bang

5 CNTT Công nghệ thông tin

6 COD Phát hàng thu tiền

7 NCKH Nghiên cứu khoa học

8 POD Bằng chứng giao hàng

10 TMĐT Thương mại điện tử

11 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TRANG

Bảng 3.1 Tình hình tài chính 64

Bảng 3.2 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu 65

Bảng 3.3Số xe của đội xe Bắc Nam 72

Bảng 3.4 Thống kê kho tại các tỉnh, thành phố 76

Bảng 3.5 Tỷ trọng sử dụng các phương tiện vận chuyển 78

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

TRANG

Hình 1.1 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay 29

Hình 1.2 Vị trí của dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng 30

Hình 1.3 Quan hệ giữa chức năng logistics với chức năng sản xuất 38

Hình 1.4 Sơ đồ dịch vụ kho vận 41

Hình 2.2 Dịch vụ cung ứng hàng hóa 42

Hình 1.5 Quy trình công nghệ dịch vụ logistics tại công ty kinh doanh bưu chính 43

Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 50

Hình2.2 Mô hình nghiên cứu thực tiễn 53

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức 62

Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ chuyển phát tại công ty cổ phần bưu chính Viettel 74

Hình 3.3 Thị phần chuyển phát trong nước 89

Hình 3.4 Thị phần chuyển phát quốc tế 90

Trang 12

áp lực cạnh tranh ngoài nước ở mọi loại hình sản phẩm dịch vụ, logistics cũng không ngoại lệ dù các doanh nghiệp trong nước có sẵn lợi thế về địa lý, nội địa Do

đó, nhanh chóng phát triển và ứng dụng thương mại điện tử sẽ là con đường bắt buộc đối với hoạt động Logistic, nhất là trong điều kiện nước ta đang đi sau so với các nước phát triển khoảng cách không nhỏ về cả hai lĩnh vực này Viettel Post, với

vị trí là một tập đoàn hàng đầu Việt Nam, đang quan tâm tới lĩnh vực này

Thương mại điện tử là công cụ tạo thuận lợi cho quá trình chuyển phát hàng hóa nói riêng và hoạt động logistics nói chung Hoạt động logistics hiện nay

có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển của các nhà bán hàng trực tuyến có trọng lượng hàng hóa nhỏ, thời gian giao hàng nhanh, đúng thời gian và địa chỉ với chất lượng đảm bảo Thương mại điện tử cũng sẽ góp phần thúc đẩy việc phát triển dịch vụ logistics đạt chuẩn quốc tế, bắt kịp xu thế của thương mại điện tử trong tương lai gần

Tỷ lệ chi phí dành cho dịch vụ logistics và chuyển phát khá cao trong giá bán trực tuyến các sản phẩm hữu hình là một trong các yếu tố dẫn tới giá mua hàng trực tuyến chưa thấp hơn đáng kể so với mua theo phương thức truyền thống Đồng thời, chất lượng của dịch vụ chuyển phát chưa cao Đây là một trong các nguyên nhân dẫn tới việc mua hàng trực tuyến chưa thực sự hấp dẫn người tiêu dùng

Trong những năm qua kinh tế thế giới diễn ra trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh và đặc biệt chịu sự tác động của khoa học công nghệ.Bước sang thế kỷ 21, xã hội hóa thông tin là vấn đề không chỉ toàn xã hội nói chung mà ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng đều quan tâm

Trang 13

Được thành lập từ năm 1997 và chính thức mở rộng quy mô tổ chức vào năm 2005, công ty cổ phần bưu chính Viettel ( Viettel post ) đã nhận thấy tiềm năng của thị trường kinh doanh dịch vụ chuyển phát và đã có được những thành tựu đáng

kể trong thời gian qua Tuy nhiên, có rất nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường này với năng lực như nhau Cho nên, trên thị trường cung cấp dịch vụ chuyển phát cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt

Kinh doanh dịch vụ logistics hiện nay sẽ mang lại nhiều ưu thế trong giai đoạn tới khi nền kinh tế tăng trưởng cao Tuy nhiên, đây là ngành đòi hỏi tính chuyên nghiệp, tính hệ thống rất cao Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, bất cập khi triển khai dịch vụ mới này Do đó, việc tiến hành nghiên cứu phát triển dịch vụ logistics dựa trên mạng lưới hiện tại là rất cần thiết trong chiến lược phát triển chung

Xuất phát từ lý do trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại công ty Cổ phần Bưu chính Viettel” làm

luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh

1.2 Các câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chính của Luận văn là: Giải pháp nào phù hợp để phát

triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel ?

Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể bao gồm :

 Thực trạng hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel trong thời gian qua như thế nào ?

 Vai trò của Thương mại điện tử với hoạt động Logistics trong kinh doanh nói chung và ngành Bưu chính nói riêng như thế nào ?

 Xu hướng phát triển Logistics trong ngành Bưu chính giai đoạn tới diễn ra như thế nào ?

 Áp dụng Thương mại điện tử vào hoạt động Logistics được tiến hành như thế nào ?

Trang 14

Tình hình nghiên cứu:

 Tình hình nghiên cứu về Logistics :

Ở Việt Nam, logistics và những nội dung mới, đầy đủ và toàn diện của logistics là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, kể cả về hệ thống lý luận và hoạt động thực tiễn Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, phát triển logistics trong nền kinh tế nói chung cũng như hoạt động logistics của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng đang đứng trước những cơ hội cũng như thách thức mới, đòi hỏi phải nhận thức rõ vai trò của hoạt động này cả về

 Các nghiên cứu ngoài nước

- Các nghiên cứu chung:

o Tiếp cận logistics dưới giác độ vĩ mô, có các công trình tiêu biểu: các báo

cáo “Connecting to Compete: Trade Logistics in global economy” của Ngân hàng Thế giới (2007, 2010, 2012); Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á, “Development Study on the North – South Economic Corridor”) (2007); Tác phẩm “National Logistics System” của Pavel Dimitrov (2002)

o Tiếp cận logistics dưới giác độ trung mô, có các công trình tiêu biểu: Bài

báo của Dropfer và các tác giả: “Micro – meso – macro” (2004), Haasis, Viện Nghiên cứu Kinh tế biển và Logistics, Bremen, CHLB Đức

Trang 15

o Tiếp cận logistics dưới giác độ vi mô – logistics trong hoạt động của doanh

nghiệp - logistics kinh doanh: Ở giác độ vi mô, các tài liệu về logistics rất phong phú, tiêu biểu là các tác giả và tác phẩm: “Fundamentals of Logistics Management” của Lampert và các tác giả (1998), “Logistics and Supply Chain Management” của Christopher (1998) hay “Business Logistics/Supply Chain Management” của Ballou (2004)

- Các nghiên cứu ngoài nước về logistics ở Việt Nam: Nghiên cứu của Viện Nomura (2002), Sullivan (2006), ADB (2007), Ruth Banomyong (2006,

2007, 2010) và Business Monitor International (2009, 2011)

 Các nghiên cứu trong nước

Sách chuyên khảo “Logistics – Những vấn đề cơ bản” và sách chuyên khảo “Quản trị logistics”, do GS TS Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên; Giáo trình

“Quản trị logistics và vận tải đa phương thức”, Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh; Giáo trình “Quản trị logistics kinh doanh” của Trường Đại học Thương mại do TS Nguyễn Thông Thái và PGS TS An Thị Thanh Nhàn chủ biên (2011); Đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp bộ của Bộ Thương mại

“Logistics và khả năng áp dụng, phát triển logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam” do PGS TS Nguyễn Như Tiến (Đại học Ngoại thương) làm chủ nhiệm (2004); Đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ hậu cần (logistics) và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại thực hiện (2006); Đề tài NCKH độc lập cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” do GS TS Đặng Đình Đào (Viện Nghiên cứu Kinh tế

và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân) chủ nhiệm (2010, 2011)

 Tình hình nghiên cứu về thương mại điện tử

 Các nghiên cứu ngoài nước

Trang 16

quốc tế như: Liên hợp quốc, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Tổ chức thương mại thế giới, Ngân hàng thế giới Trên thé giới đông đảo nghiên cứu, các viện nghiên cứu, trường đại học rất chú ý quan tâm tới thương mại điện tử Nhiều quốc gia đã thành lập các cơ quan chuyên nghiên cứu về thương mại điện

tử Hiện tại có mốt số tạp chí và Website chuyên khảo về thương mại điện tử Trong vài năm gần đây, nhiều diễn đàn hội nghị, hội thảo quốc tế về thương mại điện tử liên tục được tổ chức

Một số công trình tiêu biểu của các tác giả nước ngoài như:

- Afuah và Tucci, 2001, Internet Business Models and Strategies, McGraw – Hill, New York

- Timmers, 1998, Business Models for Electronic Markets, Journal on Electronic Market

- Clycle W.Holsapple and Sharath Sadidharan, 2005, “The dynamics of trust

in B2C e-commerce: a research model and agenda”, Intenational Journal of Information Systems and E-Business Management

- Andrea J.Cullen and Margaret Webster, 2005, “A model of B2B commerce, based on connectivity and perpose” International Journal of Operations and Production Management

e- Các nghiên cứu ngoài nước

Ở Việt Nam, thương mại điện tử đã được quan tâm nghiên cứu Đảng và Nhà nước đã xác định đường lối, chủ trương từng bước ứng dụng và phát triển thương mại điện tử Hiện nay, thương mại điện tử cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành như Bưu chính viễn thông, thương mại nhiều tổ chức Phòng thương mại, Hội tin học Việt Nam và Công nghiệp Việt Nam và

Bộ Thương mại cũng đã thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng và phát triển thương mại điện tử Nhiều hội nghị, hội thảo về thương mại điện tử được tổ chức Thương mại điện tử đã được đề cập khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, những nghiên cứu ở Việt Nam về Thương mại điện tử mới chỉ mang tính tiếp cận ban đầu, hoặc mới chỉ đề cập tới một vài khía cạnh nhất định của Thương mại điện tử

Một số công trình tiêu biểu như sau:

Trang 17

- Tác giả Phạm Song Hạnh, “Các mô hình kinh doanh trực tuyến và khả năng

áp dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, 2002

- Tác giả Trần Xuân Hiền, “ Doanh nghiệp của bạn có thích hợp với thương mại điện tử không?”, Tạp chí Bưu chính viễn thông và Công nghệ thông tin,

 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thương mại điện tử, cơ sở lý luận về hoạt động logistics trong kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực bưu chính nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel trong những năm qua, phát hiện các nguyên nhân ảnh hưởng làm hạn chế sự phát triển của Công ty

- Đề xuất giải pháp phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty trong thời gian tới

Trang 18

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động có liên quan đến thương mại điện tử trong hoạt động logistics của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel

 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu tình hình phát triển, các yếu tố ảnh

hưởng đến hoạt động Logistics và phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel

- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Bưu

chính Viettel

- Về thời gian: Các số liệu phục vụ cho đánh giá thực trạng được thu thập từ

năm 2010 – 2014, thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2014 – 6/2015, đề xuất giải pháp hướng đến năm 2020

4 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan đến phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics đặc biệt là hoạt động Logistics trong ngành Bưu chính

- Phản ánh thực trạng hoạt động Logistics của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel

- Trên cơ sở hệ thống lý luận và kết quả phân tích thực trạng, vận dụng lý luận vào thực tế tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động Logistics của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel Thông qua đó, giúp Công ty tạo thế mạnh trong công cuộc đổi mới và phát triển trong định hướng phát triển của mình

Trang 19

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung gồm có 4 chương :

Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thương mại điện

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

1.1 Cơ sở lý luận về thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử (E-commerce)

Trước khi đi vào khái niệm về thương mại điện tử chúng ta xem xét qua về khái niệm kinh doanh điện tử: Kinh doanh điện tử (Electronic Business) là một bước biến đổi cơ bản của các phương thức kinh doanh thông qua việc sử dụng các công nghệ của mạng máy tính Internet, Intranet

Hiện nay có nhiều quan điểm về định nghĩa thương mại điện tử.

- Quan điểm thứ nhất: Thương mại điện tử được định nghĩa một cách đơn giản là

sự chuyển giao các giá trị qua Internet của một trong bốn dạng hoạt động: Mua, Bán, Đầu tư và vay mượn

- Quan điểm thứ hai với nghĩa rộng: Thương mại điện tử gồm các giao dịch tài

chính và thương mại được thực hiện bằng các phương tiện điện tử

- Quan điểm thứ ba xuất phát từ thực tiễn của thương mại điện tử:Thương mại

điện tử là các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng thông tin toàn cầu Internet

Hiểu theo quan điểm thứ hai thì thương mại điện tử thực tế đã tồn tại từ rất lâu Có lẽ sớm nhất và phổ biến nhất là người ta ứng dụng hoạt động kinh doanh của mình qua điện thoại, sau đó nổi bật nữa là truyền hình, fax, radio đây cũng là các phương tiện điện tử được ứng dụng khá rộng rãi trong hoạt động thương mại Tuy nhiên các hình thức nàychỉ hỗ trợ cho thương mại Trong hầu hết các hoạt động thương mại các phương tiện này không thực hiện được một cách hoàn chỉnh Song nhờ Internet người ta có thểthực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thương mại như: mua bán, chào hàng, chọn hàng, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán, bảo hành, các dịch vụ sau bán Do vậy trên thực tiễn nói thương mại điện tử, người ta

Trang 21

thường hiểu là loại trừ các phương tiện điện tử không phải là Internet Thương mại điện tử là hoạt động thương mại bằng phương tiện Internet

Như vậy, theo quan điểm thực tiễn thương mại, có thể đưa ra một định nghĩa

về thương mại điện tử như sau:" Thương mại điện tử là việc sử dụng các công nghệ

mạng Internet trong các hoạt động giao dịch thương mại".

Trong Luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc - UNCITRAL Model Law on electronic commerce - không có điều khoản nào định nghĩa về thương mại điện tử Tuy nhiên hiểu theo tinh thần điều chỉnh của luật này thì

"Electronic Commerce" cần được hiểu theo nghĩa rộng ở trên

1.1.2 Luật về thương mại điện tử

 Luật mẫu về thương mại điện tử

Cấu trúc của luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc được chia làm hai phần:

- Phần một liên quan đến những vấn đề chung về thương mại điện tử

- Phần hai liên quan đến vấn đề thương mại điện tử ở một số lĩnh vực xác định

Điều đáng lưy ý là trong phần hai của Luật mẫu quy định thương mại điện tử trong một số lĩnh vực, đến nay do chưa được hoàn thiện đầy đủ mới công bố có một chương liên quan đến việc áp dụng thương mại điện tử vào lĩnh vực vận tải hàng hóa Các khía cạnh khác của thương mại điện tử chưa được đề cập tới, vì vậy Luật mẫu được xem như một công cụ mở và còn được bổ sung theo thực tiễn áp dụng

Thực tiễn ở một số nước, luật pháp hiện tại về việc quản lý trao đổi thông tin, vẫn có những cách hiểu đã lỗi thời trong thời đại thương mại điện tử Dựa vào các điều luật này trong các hoạt động thương mại điện tử, các doanh nghiệp có thể xem đây là một khuôn khổ, một nền tảng, chỗ dựa để thực hiện các hành vi thương mại

Trang 22

của mình, được bảo vệ về mặt pháp lý Đối với các quốc gia, đây là một hình mẫu

để phát triển những khuôn khổ pháp luật của mình hợp với các thông lệ quốc tế

CP ngày 15/02/2007 "Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số

và dịch vụ chứng thực chữ ký số" , số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng"

Nội dung chủ yếu của Nghị định về thương mại điện tử năm 2006 là thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy định cụ thể khác Cho tới cuối năm 2012 thương mại điện tử ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mô hình mang danh nghĩa thương mại điện tử thu hút rất đông người tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội

Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử thay thế cho Nghị định năm 2006 Nghị định mới đã quy định những hành vi bị cấm trong thương mại điện tử, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại điện tử, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến

Trang 23

1.1.3 Quy trình thực hiện một hoạt động thương mại điện tử

Một hoạt động thương mại điện tử diễn ra có thể được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau Có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một phương thức để quảng cáo giới thiệu hàng hoá, có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một công cụ để tiến hành các trao đổi giao dịch v.v Tuy nhiên xét một cách tương đối đầy đủ thì hoạt động thương mại điện tử có thể diễn ra theo một trình tự như sau:

1 Doanh nghiệp xây dựng cho mình mộtcơ sở kinh doanh điện tử trên Internet Đây được coi như là một trụ sở giao dịch, kinh doanh của doanh nghiệp

2 Khách hàng tới cơ sở kinh doanh điện tử của doanh nghiệp, bằng cách truy cập vàođịa chỉ trên Internet của cơ sở kinh doanh đó

3 Khách hàng và doanh nghiệp tiến hành trao đổi cáctài liệu, chứng từ điện tử

4 Đặt hàng Việc đặt hàng có thể dễ dàng thực hiện trên Internet, chỉ đơn thuần bằng việc gửi chào hàng, chấp nhận chào hàng hay gửi phiếu đặt hàng và chấp nhận cung cấp hàng.Tất cả quy trình này đều thực hiện trên Internet

5 Giao hàng và thanh toán Với một số dạng hàng hoá, người ta có thể thực hiện giao hàng ngay trên Internet, chẳng hạn: các sản phẩm phần mềm, tài liệu kỹ thuật hay bất cứ hàng hoá nào dưới dạng thông tin khác

Cùng với quá trình giao hàng, thì việc thanh toán cũng diễn ra Đối với những nước có hệ thống ngân hàng hiện đại, thanh toán có thể diễn ra ngay trên Internet, nhờ hệ thốngthanh toán điện tử và tiền điện tử

1.1.4 Các phương tiện sử dụng trong hoạt động thương mại điện tử

 Cơ sở kinh doanh điện tử - Website

Internet, với các tính năng đặc biệt của nó, đã giúp cho xã hội hình thành nên một hình thức tổ chức mới đó là hình thức tổ chức ảo Tức là: các tổ chức có thể thực hiện các hoạt động của mình thông qua mạng toàn cầu Internet Trong hoạt

Trang 24

Internet ” là một địa điểm trên Internet, từ đó doanh nghiệp có thể quảng cáo, tiếp thị, bán sản phẩm, tìm nhà cung cấp hay giao tiếp với khách hàng thông qua trao đổi điện tử với những người sử dụng Internet khác nhau trên toàn thế giới

Cơ sở kinh doanh này không giống như cơ sở kinh doanh thông thường Nó có một địa chỉ nhưng lại ở khắp nơi trên hành tinh, tất cả các khách hàng có thể đến với nó bất cứ lúc nào với thời gian hoạt động liên tục 24/24 giờ khi có nhu cầu Điều đặc biệt thuận lợi khi áp dụng trong kinh doanh quốc tế khi có sự chênh lệch thời gian, ngày đêm ở các nước khác nhau

Cơ sở kinh doanh này cũng mở ra một phương tiện quảng cáo mới, một phương thức giao tiếp qua lại trực tiếp với khách hàng mới, một công cụ nghiên cứu thị trưòng và thu thập thông tin mới, đảm bảo sự thuận tiện, hiệu quả hơn những giải pháp truyền thống vẫn thường được sử dụng trước đây

Địa chỉ trên Internet

Nhờ địa chỉ này mà khách hàng mới đến được với doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động thương mại điện tử Cùng với việc thiết lập Website thì doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký địa chỉ tại các nhàcung cấp dịch vụ Internet hay các tổ chức chuyên cung cấp địa chỉ khác

Đăng ký địa chỉ là vấn đề được nhiều nhà doanh nghiệp quan tâm và yêu cầu làm sao cho địa chỉ của mình dễ nhớ, ngắn gọn, truy tìm nhanh Có một số cách đăng ký địa chỉ phổ biến hiện nay như sau

Đăng ký địa chỉ ở nước ngoài: Doanh nghiệp có thể đăng ký cơ sở kinh doanh

của mình với những nhà cung cấp dịch vụ Internet ở nước ngoài như Yahoo, Altavista, hoặc truy cập trực tiếp vào Internic – một tổ chức chuyên cung cấp địa chỉ cho người sử dụng Địa chỉ trang Web của cơ sở này làhttp://www.internic.net Khách hàng có thể đăng ký bất kỳ tên địa chỉ nào miễn là tên đó không trùng với những tên đã đăng ký trước với internic Địa chỉ này thường được cấp là http://www.tendoanhnghiep.com

Trang 25

Đăng ký địa chỉ ở Việt Nam: ởViệt Nam địa chỉ trang Web được cấp như sau:

http://www.ten doanh nghiệp.com.vn (do tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam cấp) Khi đăng ký địa chỉ Website tại Việt Nam doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ Internet của mình

 Chứng từ tài liệu điện tử

Các chứng từ được giao dịch thông qua mạng các máy tính với nhau thì được gọi là chứng từ điện tử Loại chứng từ này được đề cập ở đây là những chứng từ liên quan đến thương mại và được truyền qua mạng toàn cầu Internet

Điều quan trọng nhất của hoạt động trao đổi chứng từ điện tử là tính bảo mật Tính bảo mật của thông tin được đảm bảo bằng khoa học, gọi là khoa học mật mã Khi một bản thông tin đã được mã khoá và truyền qua mạng Internet mà nếu để cho một người thứ ba có thể lấy cắp và đọc được những thông tin trong đó tức là giải mã được thì người thứ ba này phải thực hiện một quá trình tính toán lớn đến mức không thể thực hiện được trong thực tế (dù có sự trợ giúp của các máy tính) Nếu chỉ đọc trộm được một bản mật mã (Chứng từ điện tử được mã khoá) chỉ vài dòng thì cũng phải mất hàng triệu năm

Khi hai người gửi và người nhận muốn truyền các chứng từ tin mật với nhau thì phải chuyển các chứng từ này thành mật mã theo những thuật toán được quy định Các thông tin này thì chỉ có người nhận mới giải mã được Chính sự ứng dụng của những công nghệ mã khoá này, khả năng bảo mật cho các chứng từ trao đổi được bảo đảm rõ ràng là một vấn đề rất quan trọng trong thương mại điện tử

Ngày nay, khi gửi các tài liệu trên Internet, để xác định trách nhiệm của người gửi với các tài liệu đó, người ta có thể đưa vào một kỹ thuật gọi làchữ ký điện tử

 Tiền điện tử - thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử chủ yếu dựa trên nền tảng của thẻ tín dụng Thanh toán điện tử là một vấn đề cốt lõi của việc phát triển thương mại điện tử một cách toàn

Trang 26

tử thực chất chỉ là những ký hiệu do người có tài khoản tại ngân hàng đưa ra nhằm trích ra từ tài khoản lưu ký của mình tại ngân hàng, việc này được thực hiện thông qua mạng công cộng Internet

Một hoạt động thanh toán điện tử diễn ra thông thường bao gồm bốn quy trình chính

1 - Lập tài khoản

2 - Rút tiền điện tử

3 - Trả tiền cho người bán

4 - Người bán ký gửi tiền lại cho ngân hàng vào tài khoản của mình

Hiện nay ở những nước phát triển và có hệ thống ngân hàng hiện đại, tiền điện

tử đã được đưa vào ứng dụng và đem lại rất nhiều thuận lợi cho cả người phải chi trả và người được chi trả Đặc điểm tiêu biểu của hệ thống thanh toán điện tử và tiền điện tử là các bên sử dụng hình thức này có thể giảm được đáng kể các khoản chi phí dành cho việc thanh toán, và thực hiện được một cách tức thời ngay khi các nghiệp vụ chi trả phát sinh

 Chữ ký điện tử

Khi thực hiện các giao dịch giấy tờ, để xác minh rằng một chứng từ văn bản

có sự nhất trí của chủ thể, gắn trách nhiệm của chủ thể vào văn bản, thông thường người ta phải ký vào văn bản đó Ngày nay với thương mại điện tử, yêu cầu về việc xác nhận tính pháp lý của văn bản do một người tạo ra, gắn trách nhiệm của anh ta vào đó là một vấn đề quan trọng Chữ ký điện tử "Electronic Signature" thực chất cũng chỉ là một mã gắn liền với những văn bản được chuyển bằng phương pháp điện tử Đây chính là sự xác nhận tính duy nhất của người gửi Cùng với chữ ký tay, chữ ký điện tử đảm bảo rằng người gửi văn bản sẽ bị ràng buộc nghĩa vụ vào văn bản đó

Chữ ký điện tử thoả mãn 3 mục đích sau:

Trang 27

- Xác nhận tính trung thực của người gửi văn bản, của chứng từ điện tử đảm bảo không có sự giả mạo

- Đảm bảo sự nguyên vẹn của văn bản, thông tin, dữ kiện không bị thay đổi

- Đưa ra một bằng chứng xác nhận chủ thể trong các bên giao dịch Vì thế một người không thể từ chối việc đã ký vào văn bản, kể cả người đã nhận văn bản cũng không thể từ chối mình đã nhận văn bản Nó có tính bắt buộc như chữ ký tay Chữ ký điện tử hoạt động trên nguyên lý mã hoá và giải mã

Về khía cạnh pháp lý: Hiện nay luật về thương mại điện tử ở nhiều nước, người ta đều đưa ra định nghĩa về chữ ký điện tử Theo luật về giao dịch điện tử của Singapore (Singapore Electronic Transaction Act), định nghĩa về chữ ký điện tử như sau:

"Chữ ký điện tử là bất kỳ chữ nào, ký tự nào, các con số, hay các biểu tượng khác dưới dạng số hoá, được gắn vào hay liên quan một cách logic vào các tài liệu điện tử được thực hiện với ý định xác nhận, đồng ý về tài liệu điện tử đó"

Nguồn: Luật về giao dịch điện tử của Singapore

Sự thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, là một vấn đề hết sức quan trọng trong thương mại điện tử Nó thừa nhận tính hợp pháp của các tài liệu giao dịch của các chủ thể thông qua mạng Internet, thừa nhận các hợp đồng điện tử Phải nói rằng các quan hệ thương mại của các bên trong thương mại điện tử phải được thể hiện trên các nhất trí, các thoả thuận được xác nhận Vì vậy, nếu không thừa nhận chữ ký điện tử thì cũng có nghĩa rằng chưa thừa nhận tính hợp pháp của thương mại điện tử Chính vì vậy ở hầu hết các nước có luật về thương mại điện tử thì cũng có luật về chữ kỹ điện tử riêng biệt, hay được đưa kèm ngay vào luật về thương mại điện tử

1.1.5 Các hình thức thương mại điện tử

Thương mại điện tử ngày nay liên quan đến tất cả mọi thứ từ đặt hàng nội

Trang 28

thông thường, các dịch vụ "meta" đều tạo điều kiện thuận lợi cho các dạng khác của thương mại điện tử

Ở cấp độ tổ chức, các tập đoàn lớn và các tổ chức tài chính sử dụng Internet để trao đổi dữ liệu tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh trong nước

và quốc tế Tính toàn vẹn dữ liệu và tính an ninh là các vấn đề rất nóng gây bức xúc trong thương mại điện tử

Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cách phân chia các hình thức này trong thương mại điện tử Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G - Goverment), Doanh nghiệp (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer) Nếu kết hợp đôi một 3 đối tượng này sẽ có 9 hình thức theo đối tượng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C Trong đó, các dạng hình thức chính của thương mại điện tử bao gồm:

1 Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B)

2 Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C)

3 Doanh nghiệp với Nhân viên (B2E)

4 Doanh nghiệp với Chính phủ (B2G)

5 Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B)

6 Chính phủ với Chính phủ (G2G)

7 Chính phủ với Công dân (G2C)

8 Khách hàng với Khách hàng (C2C)

9 Khách hàng với Doanh nghiệp (C2B)

Ngoài ra, thương mại điện tử còn được phân chia theo các hình thức:

- online-to-offline (O2O)

- Thương mại đi động (mobile commerce hay viết tắt là m-commerce)

Trang 29

1.1.6 Lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử

Trong loại hình cơ bản nhất của giao dịch, khách hàng đến cửa hàng lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua, trả cho người bán một khoản tiền và mang hàng

về Ngày nay trước sự bùng nổ về công nghệ thông tin - mạng máy tính và sự kết nối khắp toàn cầu - thương mại điện tử đã nổi lên như một phương thức kinh doanh quan trọng của thế kỷ

Đối với các doanh nghiệp nước ta, có lẽ bước đầu tiên để có thể khuyến khích

họ phát triển kế hoạch áp dụng thương mại điện tử đó là việc làm thế nào để họ có thể nhận thức được những ích lợi mà thương mại điện tử có thể mang lại Làm rõ vấn đề này sẽ là động lực, và phương hướng chủ đạo cho các nhà doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng công nghệ mới

 Tính kịp thời, tính cập nhật của thông tin thương mại

Internet là một thư viện khổng lồ nhất được cập nhật một cách liên tục Ngày nay, nhận, gửi, khai thác thông tin trên Internet là nhu cầu của toàn thế giới Thông tin chính xác đầy đủ, nhanh chóng là một đòi hỏi ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh

Trong thương mại điện tử hiện nay người ta có thể dễ dang thu thập và tìm kiếm thông tin ở khắp các nơi trên thế giới Dựa vào đó doanh nghiệp có thể theo sát sự biến động của thị trường nước ngoài, nắm bắt liên tục và thường xuyên các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do khả năng thu thập được các thông tin cập nhật và truyền tin nhanh chóng, doanh nghiệp có thể thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu thị trường và ra các quyết định kinh doanh của mình

ở các thời điểm và địa điểm khác nhau

Giảm được chi phí bán hàng và tiếp thị

Nhờ thương mại điện tử thông qua Internet, công ty có thể thiết lập trực tiếp mối quan hệ với khách hàng hay rút ngắn được quá trình phân phối sản phẩm

Trang 30

Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, ca-ta- lô điện tử (eletronic catalogue) trên trang Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn (có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời) Theo số liệu thống kê của hãng máy bay Boeing của Mỹ, có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng thông qua Internet và còn nhiều hơn nữa các đơn hàng về dịch vụ kỹ thuật, sửa chữa và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại Thông thường đối với một nhà sản xuất rất khó có thể thiết lập được một mạng lưới tiêu thụ rộng lớn để trực tiếp cung cấp và liên hệ với những người bán lẻ hay các khách hàng Song hiện nay nhờ thương mại điện tử mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm được điều đó Khi thiết lập một cơ sở kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp đã cùng một lúc thiết lập một đại lý phân phối ở nhiều nơi khác nhau, hoàn toàn loại bỏ được kênh phân phối nhiều cấp Điều này là có lợi cho cả doanh nghiệp và khách hàng

 Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo - Có thể kinh doanh tại nhà

Với một cơ sở kinh doanh ảo, lợi dụng công nghệ truyền tin Internet, nhận và

xử lý thông tin ở bất cứ nơi nào, cho phép các nhà quản lý kinh doanh chỉ ngồi tại nhà nhưng lại có thể kinh doanh ở bất kỳ đâu

Chẳng hạn khi doanh nghiệp thiết lập một Website - khác với cơ sở kinh doanh thực, nó hiện hữu trên các máy tính nối mạng Internet Khi đó các khách hàng thông qua việc truy cập địa chỉ Internet của công ty, sẽ thực hiện mọi giao dịch cần thiết Cả khách hàng và doanh nghiệp đều có thể tiến hành các giao dịch thương mại tại nhà, hay bất cứ nơi đâu Nhờ đặc tính này mà ngay cả các hộ gia đình cũng dễ dàng tham gia kinh doanh trên mạng Internet và cạnh tranh một cách bình đẳng với những doanh nghiệp lớn Hiện nay đặc điểm này còn được thực hiện một cách dễ dàng hơn nhờ những thiết bị mới như: Điện thoại di động nối mạng Internet

Trang 31

 Nâng cao khả năng phục vụ và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng

Nhờ bộ nhớ máy tính và phần mềm được lập trình sẵn, thương mại điện tử có khả năng tự động phân tích, tổng hợp dữ liệu trên cơ sở kinh doanh ảo của người bán Khi người mua có nhu cầu mua hàng và gửi những thông tin về mình cho doanh nghiệp thì toàn bộ thông tin này sẽ được lưu vào máy tính và tất cả các giao dịch giữa người bán và người mua sẽ được giữ lại như một cơ sở dữ liệu Đây sẽ là những thông tin hữu ích cho người bán khi nhận biết các khách hàng quen thuộc

Với cơ sở dữ liệu đó, doanh nghiệp có thể nắm được đặc điểm của từng khách hàng, nhóm khách hàng.Từ đó, phân đoạn thị trường, hướng những chính sách phù hợp riêng biệt cho từng khách hàng Kể từ lần mua hàng thứ hai trở đi doanh nghiệp không cần khách hàng phải cung cấp chi tiết các thông tin về mình nữa mà có thể xác định một cách nhanh chóng và cực kỳ chính xác khách hàng đó là ai Cung cấp sản phẩm hay dịch vụ đúng với đòi hỏi của từng khách hàng sẽ là một ưu thế lớn trong việc duy trì các khách hàng quen thuộc

 Dễ dàng đa dạng hoá mặt hàng

Với Internet doanh nghiệp có thể kinh doanh hỗn hợp các loại mặt hàng khác nhau.Với kiểu bán hàng truyền thống, rất khó để có thể trang bị được một cửa hàng hỗn hợp tất cả các loại mặt hàng vì điều này đòi hỏi phải trang bị đầu tư rất lớn cho các khu để hàng, trưng bày, lưu kho hàng hoá khác nhau Nhưng khi mở cửa hàng trên Internet không quan trọng là hàng hoá thực tế được đặt như thế nào để ở đâu Bởi hàng hoá trưng bàychỉ là hình ảnh được sao chụp hoặc được mô tả trên cửa hàng Internet Điều quan tâm của nhà kinh doanh là làm thế nào chuyển hàng đó tới khách hàng theo phương thức phù hợp hoặc theo phương thức mà khách hàng yêu cầu Do đó, kể cả khi hàng hoá được để hỗn hợp trong kho thì vẫn có thể được bán bất cứ lúc nào

Trang 32

Giảm chi phí sản suất

Tiết kiệm chi phí là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong thương mại điện tử Liên quan đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp có thể có rất nhiều loại chi phí khác nhau Tính tiết kiệm chi phí diễn ra ở hầu hết các khâu của thương mại điện tử Khía cạnh này có thể dễ nhận thấy ở những hoạt động như:

- Kinh doanh trên Internet giảm được chi phí thuê cửa hàng

- Giảm chi phí trong các hoạt động giao dịch trao đổi giấy tờ

- Giảm chi phí trong trưng bày sản phẩm

- Giảm chi phí trong quản lý

- Giảm chi phí thực hiện các dịch vụ kỹ thuật hướng dẫn khách hàng

- Giảm chi phí trong việc hoạt động quảng cáo chào hàng

- Giảm chi phí trong việc tuyển mộ nhân viên

 Hỗ trợ kỹ thuật, sử dụng sản phẩm cho khách hàng

Những yêu cầu thắc mắc của khách hàng trên Website sẽ được tự động chuyển

về doanh nghiệp Các chuyên gia về sản phẩm của doanh nghiệp có thể ngồi ở văn phòng đưa ra được phương hướng giải quyết cho khách hàng Vì vậy công ty luôn luôn sẵn sàng cung cấp, sẵn sàng giải đáp thắc mắc của người tiêu dùng mà không gặp một trở ngại nào Cả khách hàng và doanh nghiệp luôn hài lòng với những dịch

vụ sau bán hàng như hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, yêu cầu giải đáp thắc mắc đơn giản, thuận tiện, và tiết kiệm chi phí

Khi kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp có thể hình thành các chuyên mục như giải đáp thắc mắc, hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, bảo quản những chuyên mục này sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp, để giải quyết một cách tự động những vấn đề này trên Web site mà không phải tốn chi phí và đầu tư nhân lực

 Thiết lập củng cố quan hệ đối tác

Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại: Thông qua mạng (nhất là dùng

Trang 33

Internet/Web) các thành tố tham gia (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực tuyến) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội mới kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn

 Tạo điều kiện cho tiếp cận Kinh tế số hoá

Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế; nhìn rộng hơn thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập tới ở trên Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các nước đang phát triển; nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hay nền kinh tế số hoá hay còn gọi nền “ kinh tế ảo” (Virtual economy) thì sau một thập kỷ nữa nước đang phát triển có thể bỏ rơi hoàn toàn Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển của các nước chưa công nghiệp hoá cần lưu ý; ví có luận điểm cho rằng: sớm chuyển sang nền kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắn hơn

1.1.7.Vai trò của việc ứng dụng thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp

Ngày nay thương mại điện tử đang nhanh chóng trở thành một kênh thương mại quan trọng, tốc độ phát triển của nó đã vượt xa sự tưởng tượng của bất kỳ ai vài năm trước đây Cơ hội đang mở ra trước các nhà kinh doanh mà bất kỳ ai cũng có thể nắm bắt được Đối với những doanh nghiệp còn chần chừ trong việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử, thì vấn đề chủ yếu là do họ chưa nhận thức rõ về lợi ích và những cơ hội tạo ra cho hoạt động kinh doanh của mình Vì vậy vấn đề khá

Trang 34

quan trọng là phải nhận thức được đó thực sự là một cơ hội và có kế hoạch nắm bắt được cơ hội ấy

Mở rộng thị trường

Đặc điểm của cơ sở kinh doanh điện tử - cơ sở kinh doanh Internet là khả năng

có mặt khắp nơi của nó Chính vì vậy thương mại điện tử - Internet có khả năng tạo

cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động với thị trường quốc tế, khai thác thị trường tiêu thụ trên toàn thế giới Đặc tính thâm nhập thị trường quốc tế của thương mại điện tử mà tạp chí “The economist” gọi là “The death of distance " loại bỏ trở ngại về khoảng cách, điều này làm cho ranh giới giữa thương mại quốc tế và thương mại trong nước không còn rõ rệt như trước nữa Những vấn đề như: tạo cơ hội cho khả năng trao đổi thông tin, tìm hiểu về đối tác nước ngoài, nghiên cứu thị trường quốc tế vốn là những thế mạnh của thương mại điện tử

 Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Có thể nói sự ra đời của phương thức thương mại điện tử qua Internet thực sự

là một cứu cánh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời đại mà xu hướng hình thành các công ty lớn, các tập đoàn độc quyền ngày càng tăng lên, ngày càng gây bất lợi cho họ Sự phát triển của công nghệ thông tin Internet đã giúp cho các nhà kinh doanh nhỏ sẵn sàng đương đầu với những nhà kinh doanh lớn mà vẫn bình đẳng Trong loại hình kinh doanh thông thường, những công ty lớn thường biểu hiện uy thế của mình ở những điểm như đẩy mạnh quảng cáo, thiết lập đại lý ở nhiều nơi, cung cấp dịch vụ đầy đủ sau bán hàng Khi kinh doanh trên Internet tất cả những yếu tố trên đều có thể thực hiện được bởi các nhà kinh doanh vừa và nhỏ và đều ở mức như nhau Sự cạnh tranh chủ yếu chỉ còn phụ thuộc vào giá cả, chất lượng sản phẩm và cách thức tổ chức khoa học trong quan hệ với khách hàng Phát biểu của cựu tổng thống Mỹ B.Clinton trong buổi giới thiệu về thể chế thương mại điện tử toàn cầu:

Trang 35

"Nếu chúng ta tạo ra một môi trường cho thương mại điện tử phát triển và phồn thịnh, thì mỗi Computer sẽ là một cửa sổ cho từng doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, trên khắp thế giới Không chỉ các công ty hàng đầu như IBM mới có thể tiếp cận thị trường mới mà ngay cả một công ty vừa mới khơỉ sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới, ngay ở đầu ngón tay của mình Hoàn toàn có thể, theo đúng nghĩa đen, thành lập một công ty, ngay ngày mai rồi tuần sau đã có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức và Chile, mà không hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm Bằng cách đó, Internet có thể và cần phải

là một lực lượng sức mạnh thực sự của các nhà kinh doanh dù lớn hay nhỏ

"Sang thế kỷ 21, chúng ta có thể xây dựng phần lớn sự phồn vinh của mình bằng những sáng tạo trong buồng điều khiển theo những cách thức mà hầu hết chúng ta thậm chí không thể hình dung nổi.Viễn cảnh này tạo cho ta hy vọng rằng bất kỳ người Mỹ nào dù là người tiêu dùng, hay các chủ tịch công ty lớn - đều có thể mở rộng công việc làm ăn của mình tới những nơi xa xôi nhất của hành tinh Nếu như ngay bây giờ chúng ta có những biện pháp hợp lý, thì chúng ta có thể đưa nền kinh tế của mình tới một kỷ nguyên mới, nơi mà những cách tân, sự năng nổ và tính sáng tạo của chúng ta sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn "

Nguồn: vietnamnet.vn

Nghiên cứu cơ hội này đặt ra một sự liên hệ với nền kinh tế nước ta Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là những doanh nghiệp nhỏ, tham gia thị trường cạnh tranh quốc tế là hết sức khó khăn Như vậy làm thế nào để chúng ta có thể hoà nhập

và cạnh tranh thành công với các đối thủ nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu Thương mại điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp chúng ta giải quyết vấn đề này

Nâng cao khả năng cạnh tranh

Khả năng nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp qua thương mại điện tử chính là kết quả mà doanh nghiệp thu được từ việc tận dụng những lợi ích ưu thế

mà thương mại điện tử tạo ra :

Trang 36

- Thứ nhất:Nâng cao tính cạnh tranh trong việc hạ giá thành

- Thứ hai:Nâng cao tính cạnh tranh trong việc nâng cao chất lượng phục vụ

- Thứ ba:Nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc nâng cao chất lượng của sản phẩm

- Thứ tư:Nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thúc đẩy quảng cáo

1.1.8 Khuynh hướng toàn cầu

Mô hình kinh doanh trên toàn cầu tiếp tục thay đổi đáng kể với sự ra đời của thương mại điện tử Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã đóng góp vào sự phát triển của thương mại điện tử Ví dụ, nước Anh có chợ thương mại điện tử lớn nhất toàn cầu khi đo bằng chỉ số chi tiêu bình quân đầu người, con số này cao hơn

cả Mỹ Kinh tếInternet ở Anh có thể tăng 10% từ năm 2010 đến năm 2015 Điều này tạo ra động lực thay đổi cho ngành công nghiệp quảng cáo

Trong số các nền kinh tế mới nổi, sự hiện diện của thương mại điện tử ở Trung Quốc tiếp tục được mở rộng Với 384 triệu người sử dụng Internet, doanh số bán lẻ của cửa hàng trực tuyến ở Trung Quốc đã tăng 36,6 tỉ USD năm 2009 và một trong những lý do đằng sau sự tăng trưởng kinh ngạc là cải thiện độ tin cậy của khách hàng Các công ty bán lẻ Trung Quốc đã giúp người tiêu dùng cảm thấy thoải mái hơn khi mua hàng trực tuyến

Thương mại điện tử cũng được mở rộng trên khắp Trung Đông Với sự ghi nhận là khu vực có tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong việc sử dụng Internet từ năm 2000 đến năm 2009, hiện thời khu vực có hơn 60 triệu người sử dụng Internet Bán lẻ, du lịch và chơi game là các phần trong thương mại điện tử hàng đầu ở khu vực, mặc dù có các khó khăn như thiếu khuôn khổ pháp lý toàn khu vực và các vấn

đề hậu cần trong giao thông vận tải qua biên giới

Nguồn:

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi -binh-luan/tong-quan-ve-thuong-mai-dien-tu-o-viet-nam-68104.html

Trang 37

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động Logistics

1.2.1 Khái niệm và sự phát triển của hoạt động Logistics

 Khái niệm về hoạt động Logistics

Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp - logistikos - phản ánh môn

khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu

tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu

Công việc logistics hoàn toàn không phải là lĩnh vực mới mẻ Từ thủa xa xưa, sau mùa thu hoạch người ta đã biết cách cất giữ lương thực để dùng cho những lúc giáp hạt Tơ lụa từ Trung Quốc đã tìm được đường đến với khắp nơi trên thế giới Nhưng do giao thông vận tải và các hệ thống bảo quản chưa phát triển, nên các hoạt động giao thương còn hạn chế Thậm chí, ngày nay ở một vài nơi trên thế giới vẫn còn những cộng đồng sống theo kiểu tự cung tự cấp, mà không có trao đổi hàng hoá với bên ngoài Lý do chính là ở đó thiếu một hệ thống hậu cần phát triển hợp lý và hiệu quả (lack of well-developed and inexpensive logistics system) Theo từ điển

Oxford thì logistics trước tiên là “Khoa học của sự di chuyển, cung ứng và duy trì

các lực lượng quân đội ở các chiến trường” Napoleon đã từng định nghĩa: Hậu cần

là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội, nhưng cũng chính do hoạt động hậu cần

sơ sài đã dẫn đến sự thất bại của vị tướng tài ba này trên đường tới Moscow vì đã căng hết mức đường dây cung ứng của mình Cho đến nay, khái niệm logistics đã

mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới

Logistics hiện đại(modern business logistics) là một môn khoa học tương đối

trẻ so với những ngành chức năng truyền thống như marketing, tài chính, hay sản xuất Cuốn sách đầu tiên về logistics ra đời năm 1961, bằng tiếng Anh, với tựa đề

“Physical distribution management”, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra để khái quát về lĩnh vực này, mỗi khái niệm thể hiện một góc độ

Trang 38

Trước những năm 1950 công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn lao thì vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học về quản trị logistics một cách hiệu quả Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản lý cuối thế kỷ 20 đã đưa logistics lên một tầm cao mới, có thể gọi đó

là giai đoạn phục hưng của logistics (logistical renaissance) Có 4 nhân tố chính dẫn đến sự biến đổi này:

- Thương mại hoá thiết bị vi xử lý: trong thời kỳ này, các thiết bị điện tử bước

vào giai đoạn thương mại hóa rộng rãi.Giá các sản phẩm trở nên rất rẻ và phù hợp với điều kiện đầu tư của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính những thiết bị này là cơ sở vật chất hỗ trợ rất nhiều cho nghiệp vụ logistics (trao đổi thông tin, quản lý hàng tồn kho, tính toán các chi phí) Tại các nước phát triển, bộ phận logistics là nơi sử dụng nguồn vật chất máy vi tính lớn nhất trong công ty

- Cuộc cách mạng viễn thông: Cùng với yếu tố trên, những tiến bộ của ngành

viễn thông nói chung và công nghệ thông tin nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động này Từ những năm 80s, người ta đã sử dụng công nghệ mã vạch (bar code) để cải tiến hoạt động logistics Trao đổi thông tin điện tử (EDI- electronic data interchange) cũng bắt đầu được sử dụng giữa khách hàng và những nhà cung ứng để truyền đạt và tiếp nhận dữ liệu giữa các cơ sở kinh doanh trong và ngoài công ty Ngoài ra còn phải kể đến vệ tinh, máy fax, máy photo, và các dụng

cụ ghi băng, ghi hình khác Nhờ những phương tiện này mà người ta có được những thông tin cập nhật trong quá trình thực thi logistics Có nhiều doanh nghiệp đã sử dụng nối mạng máy tính và dữ liệu kịp thời và chính xác

- Ứng dụng rộng rãi những sáng kiến cải tiến về chất lượng: quan điểm

quản trị chất lượng đồng bộ (TQM) là động cơ quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoạt động logistics Thời kỳ sau Đại chiến thứ II, các doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm đến chất lượng hàng hoá và tính hiệu quả của các quy trình sản xuất Quan điểm “không sai hỏng - zero defects” và “làm đúng ngay từ lần đầu tiên - doing

Trang 39

things right the first time” trong TQM đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực logistics Các doanh nghiệp nhận ra rằng sản phẩm tốt mà đến muộn so với yêu cầu hoặc bị hư hại đều không thể chấp nhận được Việc thực thi kém công việc logistics

sẽ làm tổn hại đến sáng kiến cải tiến chất lượng

- Sự phát triển của quan điểm đồng minh chiến lược (Alliances): Sang thập

kỷ 80s, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy rằng phải coi các khách hàng và các nhà cung ứng như là đồng minh chiến lược, những đơn vị cộng tác kinh doanh Chính sự hợp tác, liên kết giữa các bên là cơ sở để hoạt động logistics đạt được hiệu quả ngày càng cao, giảm sự chồng chéo, hao phí không cần thiết, tập trung vào việc

kinh doanh, thúc đẩy thắng lợi chung

Những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin kể trên đã thúc đẩy logistics lớn mạnh theo thời gian về cả quy mô và tầm ảnh hưởng, tạo nên một làn sóng tư duy đổi mới về tất cả các khía cạnh của hoạt động này tại các doanh nghiệp từ những năm 1960 cho đến nay Theo Jacques Colin - Giáo sư về khoa học quản lý thuộc trường Đại học Aix – Marseillea thì sự phát triển của logistics bắt đầu từ tác nghiệp - khoa học chi tiết - đến liên kết - khoa học tổng hợp, điều này đã được khẳng định trong lĩnh vực quân sự cũng như trong các doanh nghiệp

Sự phát triển của hoạt động Logistics

Có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: workplace logistics (logistics tại chỗ), facility logistics (logistics cơ sở sản xuất), corporate logistics (logistics công ty), supply chain logistics (logistics

chuỗi cung ứng), global logistics (logistics toàn cầu)

Logistics tại chỗ là dòng vận động của nguyên vật liệu tại một vị trí làm việc

Mục đích của workplace logistics là hợp lý hoá các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp.Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của workplace logistics được đưa ra cho những nhân công làm việc trong

Trang 40

lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến tranh thế giới thứ II Điểm nổi bật của workplace logistics là tính tổ chức lao động có khoa học

Logistics cở sở sản xuất là dòng vận động của nguyên liệu giữa các xưởng

làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất đó có thể là 1 nhà máy, 1 trạm làm việc trung chuyển, 1 nhà kho, hoặc 1 trung tâm phân phối Một facility logistics được nói đến tương tự như là một khâu để giải quyết các vấn đề đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất đại trà và dây chuyền lắp ráp

máy móc (do máy móc không đồng nhất giữa những năm 1950 và 1960)

Hình 1.1 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay

Logistics công ty là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa các

cơ sở sản xuất và các quá trình sản xuất trong một công ty Với công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình Logistics công ty ra đời và chính thức được áp dụng trong kinh doanh vào những năm 1970 Giai đoạn này, hoạt động logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối mang tính vật chất Logistics

1950 1960 1970 1980 1990 2000

Worplace logistics

Facility logistics

Corporate logistics

Supply chain logistics

Global logistics

Ngày đăng: 08/03/2016, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 – 2011. Phát triển dịch vụ Logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế, đề tài độc lập cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ Logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế
2. Đặng Đình Đào, 2012.LOGISTICS những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: LOGISTICS những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân
3. Lê Công Hoa, 2012.Quản trị Hậu Cần, NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Hậu Cần
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân
4. Trần Văn Hòe, 2007.Thương mại điện tử căn bản, NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử căn bản
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân
5. Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Văn Thoan, 2012.Thương mại điện tử căn bản, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử căn bản
Nhà XB: NXB Hồng Đức
6. Tăng Trí Hùng, 2008.Tái cấu trúc chiến lược Logistics của Tribeco giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008 – Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế 2008 (Trường Đại học Thương mại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc chiến lược Logistics của Tribeco giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008 –
12. Deborah L. Bayles, 2000.E-Commerce Logistics & Fulfillment: Delivering the Goods, Pearson Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-Commerce Logistics & Fulfillment: Delivering the Goods
13. Donald J.Bowersox and David J.Closs, 1996.Logistics Management: The Intergrated Supply Chain Process – The Mc.Graw – Hill. London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics Management: The Intergrated Supply Chain Process –
14.Douglas M.Lampert, Jame R.Stock, Lisa M.Ellra, 1998.Fundamental of Logistics Management, Mc.Graw – Hill, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamental of Logistics Management
15. Fredendall. L.D & Hill, E., 2001.Basics of Supply Chain Management. The St. Lucie Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basics of Supply Chain Management
16. Jame R.Stock and Douglas M.Lampert, 2001.Strategic Logistics Management, Mc.Graw – Hill, New YorkWebsite Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Logistics Management
8. Đoàn Thị Hồng Vân, 2003. Logistics, những vấn đề cơ bản – NXB Thống kê Tiếng Anh9 . Alan Rushton and Steve Walker, 2007.International logistics and supply chain outsorcing Khác
10. Ballou, 2004.Business Logistics/Supply Chain Management Khác
11. David Simchi – Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi – Levi, 2000.Designing Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Lịch sử phát triển logistics kinh doanh  từ 1950 đến nay. - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 1.1. Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay (Trang 40)
Hình 1.3. Quan hệ giữa chức năng logistics với chức năng sản xuất - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 1.3. Quan hệ giữa chức năng logistics với chức năng sản xuất (Trang 49)
Hình 1.4 : Sơ đồ dịch vụ kho vận - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 1.4 Sơ đồ dịch vụ kho vận (Trang 52)
Hình 2.2 : Dịch vụ cung ứng hàng hóa - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 2.2 Dịch vụ cung ứng hàng hóa (Trang 53)
Hình 1.5.Quy trình công nghệ dịch vụ logistics tại công ty kinh doanh bưu chính - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 1.5. Quy trình công nghệ dịch vụ logistics tại công ty kinh doanh bưu chính (Trang 54)
Bảng 3.1 : Tình hình tài chính - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Bảng 3.1 Tình hình tài chính (Trang 75)
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu (Trang 76)
Bảng 3.3: Số xe của đội xe Bắc Nam - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Bảng 3.3 Số xe của đội xe Bắc Nam (Trang 83)
Hình 3.2: Sơ đồ công nghệ chuyển phát tại công ty cổ phần bưu chính Viettel - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ chuyển phát tại công ty cổ phần bưu chính Viettel (Trang 85)
Bảng 3.4 Thống kê kho tại các tỉnh, thành phố - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Bảng 3.4 Thống kê kho tại các tỉnh, thành phố (Trang 87)
Bảng 3.5: Tỷ trọng sử dụng các phương tiện vận chuyển - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Bảng 3.5 Tỷ trọng sử dụng các phương tiện vận chuyển (Trang 89)
Hình 3.3: Thị phần chuyển phát trong nước - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 3.3 Thị phần chuyển phát trong nước (Trang 100)
Hình 3.4: Thị phần chuyển phát quốc tế - Phát triển thương mại điện tử trong hoạt động logistics tại công ty cổ phần bưu chính viettel
Hình 3.4 Thị phần chuyển phát quốc tế (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w