1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

58 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 493,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, của hội nhập vào nền kinh tế khu vưc và thế giới, đồng thời

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

********

ĐINH THỊ HẢI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TBNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Người hướng dẫn khoa học :

Th.S TRẦN THỊ HOA LÝ

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở nước ta, lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, của hội nhập vào nền kinh tế khu vưc và thế giới, đồng thời phù hợp với ý chí, nguyện vọng của Đảng, nhà nước và nhân dân lao động.Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, được xây dựng trên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nhằm khai thác ,hội tụ mọi nguồn lực vốn có trong mỗi thành phần kinh tế

Tại đại hội Đảng X Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế nước ta hiện nay tồn taị 5 thành phần kinh tế:

Mỗi thành phần kinh tế có sự đóng góp nhất định vào công cuộc xây dựng

và phát triển kinh tế đất nước.Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với các thành phần kinh tế khác, góp phần tạo nên động lựcphát triển kinh tế xãhội.Trong đó có thành phần kinh tế TBNN

Thành phần kinh tế TBNN, trước đây chúng ta mới chỉ nghiên cưú nó trong khuôn khổ giáo trình nhằm trang bị lý luận kinh tế chính trị cho người đọc Đến nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, ở nước ta phát triển thành phàn kinh tế TBNN là một nội dung thiết thực trong quá trình phát triển kinh

tế, một vấn đề chiến lược trong lãnh đạo quản lý

Trong thực tế đã có không ít công trình nghiên cứu về kinh tế TBNN, nhưng nhìn chung mới giới hạn trong việc chứng minyly “tính tất yếu sử dụng kinh

tế TBNN”,coi kinh tế TBNN là hình thức quá độ lên CNXH Khi nói về kinh

tế TBNN thường chỉ phân tích về kinh tế, còn khi nói về định hướng XHCN

Trang 3

chỉ nói về chính trị, sự tách rời kinh tế với chính trị tức là chưa thấy hết mối quan hệ biện chứng giữa thành phần kinh tế TBNN với định hướng chính trị cũng có ý nghĩa là chưa giả quyết được vấn đề lý luận

Do đó, Đảng ta đã từng nhấn mạnh, việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn của nước ta cần phải gắn bó hơn, phải khái quát từ thực tiễn những vấn đề lí luận kinh tế TBNN trong điều kiện Việt Nam quá độ lên CNXH, đề xuất những chính sách phát triển thành phần kinh tế TBNN trong giai đoạn hiện nay, đồng thời kiến nghị những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện trong các chính sách ấy Đặc biệt tham khảo có chọn lọc kimh nghiệm nước ngoài để đảm bảo kinh tế phát triển mạnh,hiệu quả,bền vững

Đứng trước yêu cầu trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài ‘‘Một số giải pháp

phát triển kinh tế TBNN” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây có rất nhiều tác giả nghiên cứu về thành phần kinh tế TBNN, nhiều nhà hoạch định kinh tế đã nghiên cứu về đề tài này dưới nhiều góc độ khác nhau như:

Tác giả Đặng Hữu Toàn với bài “Sử dụng CNTBNN từ quan niệm của LêNin đến chủ trương của Đảng ta’’

Tiến Sỹ Hà Quý Tình với bài “Kinh tế TBNN với định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta’’

Tác giả Phan Ngọc Châu với bài “Suy nghĩ về vai trò của kinh tế

TBNN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hi ện nay’’…

Tuy nhiên ,các tác giả mới chỉ dừng lại và tìm hiểu vai trò của kinh tế TBNN hoặc đánh giá một cách tổng quát thành phần kinh tế TBNN.Trên cơ

sở nghiên cứu các tài liệu trên đồng thời xác định vấn đề kinh tế TBNN là một phạm trù có nội dung rộng lớn nên khoá luận của tôi chỉ giới hạn trong việc tập trung xem xét những vai trò cơ bản của kinh tế TBNN, trên cơ sở đó đánh giá một cách tổng quát thực trạng, chỉ ra một số giải pháp cơ bản nhất nhằm phát triển thành phần kinh tế TBNN đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng của thành phần kinh tế TBNN ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế TBNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

* Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ khái niệm kinh tế TBNN và vai trò của kinh tế TBNN

- Đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh

tế TBNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khoá luận

- Đề tài được trình bày trên cơ sở những quan điểm lý luận chủ yếu của chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan diểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong các văn kiện Đại Hội Đảng, hội nghị ban chấp hành Trung Ương các khoá bàn đến xung quanh vấn đề này

- Đề tài sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác nhau như: Phương pháp trừu tượng hoá khoa học, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa của khoá luận

*Ý nghĩa lý luận

- Đề tài tiếp tục bổ sung làm rõ và hoàn thiện thêm nội dung vai trò của thành phần kinh tế TBNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta

Trang 5

- Tạo cơ sở lý luận cho sự nghiên cứu vấn đề kinh tế TBNN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

* Ý nghĩa thực tiễn

Từ việc đánh giá đúng thực trạng của thành phần kinh tế TBNN ở nước

ta hiện nay, đề tài đưa ra một số giải pháp cơ bản, có tính khả thi để phát triển

và nâng cao hiệu quả hoạt động của thành phần kinh tế TBNN, tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội của nước ta phát triển một cách bền vững và có hiệu quả theo định hướng XHCN

6 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tam khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương 10 tiết

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TBNN VÀ KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

1.1 Kinh tế TBNN

1.1.1 Khái niệm kinh tế TBNN

Kinh tế TBNN đã tồn tại và phát triển với các hình thức khác nhau ở các chế độ xã hội Đã từng có rất nhiều quan niệm, định nghĩa về khái niệm: “ Kinh tế tư bản nhà nước”

- Chủ nghĩa TBNN dưới chế độ tư bản được quan niệm:

“ CNTBNN là CNTB dưới chế độ tư bản khi chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa này hay xí nghiệp tư bản chủ nghĩa khác; là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, là giai đoạn phát triển của CNTB được điều tiết và kiểm soát ( có hoàn toàn kiểm soát và điều tiết được hay không là chuyện khác)”.CNTB theo quan niệm trên mang hình thức CNTB độc quyền nhà nước, chỉ là hình thức biến tướng của sở hữu tư bản chủ nghĩa

- Theo quan niệm của LêNin có thể hiểu chủ nghĩa TBNN như sau: CNTBNN là chủ nghĩa do nhà nước kiểm soát và điều tiết sự phát triển, vấn

đề khác nhau là ở chỗ kiểm soát và điều tiết ấy nhằm mục đích gì, có lợi cho

ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và khả năng kiểm soát điều tiết đạt đến mức độ nào

Trang 7

CNTBNN là chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí nghiệp

tư bản chủ nghĩa này hay xí nghiệp Tư Bản chủ nghĩa khác Sự khống chế trực tiếp ấy đạt đến mức độ nào trong thực tế sẽ quyết định trình độ và hình thức khác nhau của CNTBNN

Toàn bộ vấn đề là phải hiểu rõ với điều kiện nào thì phải phát triển TBCNNN là của ai Cũng từ đây mà hiểu tính chất “đặc biệt, không thông thường” của CNTBNN trong điều kiện chính quyền nằm trong tay nhân dân dưới sự lãnh đậo của Đảng Cộng Sản.LêNin kết luận:

“ CNTBNN, đó là một thứ chủ nghĩa hết sức bất ngờ, mà tuyệt đối chẳng

có một ai dự kiến cả, vì không có một ai có thể dự kiến rằng giai cấp vô sản

sẽ lên nắm quyền ở một nước chậm tiến nhất, rằng giai cấp đó lúc đầu sẽ tìm cách tổ chức sản xuất lớn và việc phân phối cho nông dân nhưng sau đó do những điều kiện văn hoá nên không thể hoàn thành được nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản buộc phải để CNTB tham gia vào sự nghiệp của mình” [18,101 ] Theo LêNin CNTBNN trong điều kiện nhà nước vô sản là một thành phần kinh tế, một kiểu tổ chức kinh tế quá độ mà hình thức của nó rất đa dạng, phong phú, trong đó có phần tham dự của nhà nước vô sản với tư bản tư nhân

LêNin cho rằng: “ CNTBNN như chúng ta đã thiết lập… là một thứ CNTBNN đặc biệt Nó khác hẳn với khái niệm thông thường về CNTBNN CNTBNN chính là sự “kết hợp, liên hợp, phối hợp nhà nước Xô Viết, nên chuyên chính vô sản với CNTB” đó là một thứ CNTB mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn; CNTBNN đó gắn liền với nhà nước mà nhà nước chính là công nhân, là đội tiên phong, là chúng ta” [18,311 ]

- Theo từ điển kinh tế của nhà xuất bản sự thật Hà Nội 1979 quan niệm:

“ CNTBNN trong điều kiện chuyên chính vô sản khắc hẳn về nguyên tắc với CNTBNN dưới sự thống trị của giai cấp tư sản VI.LêNin là người đầu

Trang 8

tiên nghiên cứu về CNTBNN dưới sự kiểm soát của nhà nước XHCN, nhà nước XHCN ấy sử dụng những xí nghiệp ấy để phát triển nền kinh tế quốc dân, để đấu tranh chống thế lực tự phát tư bản tư nhân của tiểu tư sản Chuyên chính vô sản sử dụng CNTBNN để hạn chế thành phần kinh tế TBCN Trong nền kinh tế dưới thời kì quá độ thành phần kinh tế TBNN là thành phần phụ thuộc Thành phần XHCN đóng vai trò chủ đạo ở đây CNTBNN là một bước tiến về phía CNXH so với tư bản tư nhân Nhà nước tư bản thông qua CNTBNN để tiến hành cải tạo hoà bình công thương nghiệp TBCN đưa dầu

mỏ vào con đường XHCN Ở Liên Xô CNTBNN chiếm địa vị nhỏ bé, tồn tại dưới các hình thức hợp đồng tô nhượng với tư bản nước ngoài Ở một số nước dân chủ nhân dân (đặc biệt là CHND Trung Hoa) CNTBNN phát triển rất rộng rãi Ở đây CNTBNN là các xí nghiệp công tư hợp doanh, đại biểu nhà nước XHCN tham gia công tác quản lý xí nghiệp giữ vai trò quyết định Những xí nghiệp tư nhân nhận đơn đặt hàng của nhà nước cũng thuộc vào thành phần TBNN Nhà nước pháp luật quy định chặt chẽ số lượng lợi nhuận

của nhà tư sản và điều kiện lao động của công nhân” [17,671 ]

Đối chiếu vào điều kiện cụ thể của nước ta – đang bước vào thời kì quá

độ lên CNXH từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu, chưa trải qua sự phát triển của CNTB thì hình thức của CNTBNN là một bước tiến cao hơn so với sản xuất nhỏ lạc hậu Vì vậy cần thiết sử dụng có hiệu quả của CNTBNN trong thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta là tất yếu khách quan Tuy nhiên, cung phải đứng vững trên lập trường Đảng Cộng Sản để có quan niệm đúng

Trang 9

nước ngoài được hình thành trong khu chế xuất; cho thuê thông qua đấu thầu một số cơ sở vật chất của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước; gia công đặt hàng; đại lý… Kinh tế TBNN có vai trò quan trọng trong động viên thu hút vốn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước” [5,91 ]

- Theo tiến sĩ Đỗ Nhật Tân cho rằng có thể hiểu khái niệm “ Thành phần kinh tế TBNN dưới nhiều góc độ”

+ Về góc độ quan hệ sản xuất: Thành phần kinh tế TBNN không phải là

tiền mà là quan hệ xã hội Đó là quan hệ kinh tế giữa nhà nước với tư nhân và

tư bản tư nhân Thành phần kinh tế này nếu phát triển ở trong các nước đi theo con đường của CNTB Nếu sự phát triển ấy ở trong các nước đi theo con đường tiến lên CNXH thì đó là kinh tế TBNN theo định hướng XHCN

+ Về góc độ trình độ lực lượng sản xuất: Thành phần KTTB nhà nước

thuộc về “nền đại sản xuất” “nền sản xuất tiên tiến” “nền sản xuất cơ khí hoá”

Như vậy, về mặt bản chất của thành phần kinh tế TBNN trong xây dựng CNXH thì thành phần này là hình thức kinh tế trung gian, quá độ lên hình thức kinh tế xã hội XHCN Chúng ta cần phải tiếp tục bàn bạc làm thế nào để sử dụng có hiệu quả kinh tế TBNN trong thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta

Từ các quan điểm trên rút ra kết luận chung về kinh tế TBNN: “Kinh tế TBNN là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức hợp tác kinh doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài’’

Trang 10

1.1.2 Các bộ phận hợp thành cuả kinh tế TBNN

* Theo LêNin trong thời kì quá độ lên CNXH, CNTBNN có các hình thức sau:

- Tô nhượng: Tô nhượng là một hình thức hợp đồng, giao kèo, một sự

liên kết liên minh giữa nhà nước vô sản với tư sản Hình thức này là sự “ du nhập” CNTB từ bên ngoài vào Theo LêNin hình thức tô nhượng được coi là phổ biến hơn cả có thể quan niệm đó là hình thức “làm ăn” với tư bản nước ngoài nói chung Thực hiện hợp đồng, nhà tư bản được sử dụng một số tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà nước như nguyên liệu, hầm mỏ, xí nghiệp, quặng hay thậm chí một công xưởng riêng biệt Trong quá trình sản xuất, kinh doanh nhà tư bản thu được lợi nhuận bất thường, lợi nhuận siêu ngạch, nhà nước vô sản có được lực lượng sản xuất phát triển, số lượng sản phẩm tăng lên Tất nhiên, khi thực hiện tô nhượng nhà nước vô sản phải suy nghĩ, cân nhắc mọi vấn đề, phải theo dõi kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chấp hành hợp đồng, để tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra

- Các hợp tác xã TBCN trong lòng chế độ Xô Viết: Đặc trưng của hình

thức này là sự kết hợp những xí nghiệp tư bản tư nhân (xây dựng trên đất đai thuộc sở hữu nhà nước) với những xí nghiệp XHCN, bao gồm hàng ngàn, thậm chí hàng triệu tiểu nghiệp chủ Hình thức này có lợi ích to lớn, không ngừng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà nước vô sản theo dõi kiểm kê, kiểm soát đối với tư bản mà còn liên hợp, tổ chức hàng triệu người vào con đường xây dựng xã hội mới văn minh tiên bộ

- Đại lý uỷ thác: Theo hình thức này nhà nước vô sản lôi cuốn nhà tư

bản với tư cách một nhà buôn, trả cho họ một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và bán sản phẩm của người sản xuất nhỏ cho nhà nước Hình thức này vừa có lợi cho nhà nước vô sản, vừa có lợi cho nhà nước tư bản thương nghiệp và vừa có lợi cho người tiêu dùng

Trang 11

- Nhà nước vô sản cho tư sản trong nước thuê xí nghiệp vùng mỏ, rừng, ruộng đất : Hình thức này cũng giống như tô nhượng nhưng đối tượng tô

nhượng không phải là tư bản nước ngoài mà là tư bản trong nước Ở đây nhà

tư bản đi thuê không phải là người sở hữu, họ chỉ thực hiện hợp đồng có thời hạn và phải tuân theo sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước vô sản

- Cho công nhân thuê những hầm mỏ nhỏ:Theo hình thức này nhà nước

vô sản có thể tận dụng được sức lao động của người nông dân Còn người nông dân hoạt động theo kiêu nộp tô cho nhà nước (gồm 30% số nguyên vật liệu khai thác được)

- Công ty hợp doanh : Ở đây nhà nước hùn vốn với tư bản tư doanh (cả

trong nước và nước ngoài) để xây dựng các xí nghiệp khai thác các hầm mỏ, các khu rừng và sử dụng đất đai, kinh doanh thương nghiệp

Những hình thức trên đã cấu thành nên CNTBNN và được LêNin đề cập và thực hiện

* Ở nước ta, những hình thức cụ thể của chủ nghĩa TBNN có giá trị hiện thực và được thể hiện rõ rệt

- Một là, hình thức liên doanh liên kết giữa nhà nước với chủ sở hữu

ngoài quốc doanh trong nước hoặc các chủ sở hữu ở các nước tư bản chủ nghĩa Không phải chỉ liên doanh, liên kết với chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài

mà cả chủ nghĩa tư bản nội địa, với cơ sở thuộc thành phần kinh tế tư nhân, kể

cả hợp tác xã tư nhân Việc lựa chọn cơ sở trong nước để liên doanh với nước ngoài cũng là vấn đề xem xét cẩn thận nếu không muốn đánh mất mình Thông qua sự liên doanh liên kết giữa nhà nước với các chủ thể sở hữu ngoài quốc doanh ở trong nước, nhà nước có thể huy động vốn được nhiều, đổi mới

kỹ thuật và quy trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm

- Hai là, công ty cổ phần với tính cách là hình thức kinh tế TBNN và cổ

phần hoá xí nghiệp TBNN Nó cũng có thể trở thành một hình thức kinh tế

Trang 12

TBNN trong đó có sự tham gia vốn một bên là nhà nước, một bên là đông đảo các chủ sở hữu và người lao động cả trong và ngoài nước

- Ba là, đặc khu kinh tế :Qua thực tiễn nhiều nước, đặc khu kinh tế là một

vùng lãnh thổ quốc gia mà trên đó người ta áp dụng chế độ đặc biệt đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại Mục tiêu của nó là tăng cường khả năng cạnh tranh của nền sản xuất, tăng cường khả năng xuất khẩu thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, đẩy mạnh quá trình khai thác công nghệ, kỹ thuật mới và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới.Vị trí địa lý kinh tế là yếu

tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn thành lập đặc khu kinh tế Kinh nghiệm cho biết thường những trung tâm hoặc các địa điểm nằm trên các trục giao thông đường bộ, đường biển, đường sông thuận tiện cho việc lưu thông hàng hoá với nước nước ngoài

- Bốn là, khu công nghiệp chế biến xuất khẩu (khu chế xuất) : Khu công

nghiệp chế biến xuất khẩu là khu công nghiệp được quy định chuyên môn sản xuất chủ yếu cho xuất khẩu, trong đó người ta áp dụng quy chế tự do thuế quan, tự do mậu dịch Được coi là hình thức CNTBNN đơn độc, thuần tuý mà

có nhiều hình thức cụ thể, bao gồm cả hình thức tô nhượng, liên doanh cho tư bản nước ngoài thuê Hiện nay ở nước ta đang chủ trương thí điểm thành lập khu chế xuất Tân Thuận (TP Hồ Chí Minh) vì vấn đề còn hết sức mới mẻ cần tham khảo kinh nghiệm của các khu chế xuất trên thế giới

- Năm là, cho tư bản trong và ngoài nước, cho nông dân thuê các cơ sở

sản xuất kinh doanh và các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân :Trừ chế độ kinh doanh ruộng đất trực tiếp của nhà nước (Xí nghiệp nông nghiệp quốc doanh) các chế độ khác nhau cần và phải coi đó là những hình thức cụ thể của CNTBNN Không thể liệt kê toàn bộ các danh mục các hình thức kinh tế TBNN trong nông nghiệp Vì quá trình thực hiện mới chỉ bắt đầu Nhưng việc

sử dụng các hình thức kinh tế này trong nông nghiệp cũng phải được coi là cần thiết, có lợi, đáng mong đợi Đó là con đường hữu hiệu nhất để phát triển

Trang 13

mạnh mẽ lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, chuyển nền kinh tế từ phân tán đến tập trung, từ nền nông nghiệp nửa tự nhiên, tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa Đó là con đường xã hội hóa sản xuất nông nghiệp trong thực tế

- Sáu là, các tổ chức hợp tác liên doanh với tính cách là các hình thức

kinh tế TBNN :Ở nước ta mấy năm nay cũng xuất hiện những tổ chức hớp tác tương tự như kinh doanh liên hộ, tổ hợp dịch vụ, chế biến, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm Nhưng tổ chức hợp tác liên doanh này mà có sử dụng đất đai của sở hữu toàn dân, có vay vốn của nhà nước và nhất là sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước với quan niệm rộng theo tư tưởng của LêNin đó cũng đều

là hình thức của CNTBNN.Ngoài những hình thức cụ thể trên, kinh tế TBNN cũng cần xem xét ở góc độ lớn hơn Đó là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các thành phần, khu vực kinh tế khác Thực chất nó là sự quản

lý, điều tiết hay lãnh đạo về kinh tế nhà nước với toàn bộ nền kinh tế nhiều thành phần trong cơ chế thị trường định hướng XHCN

1.1.3 Sự hình thành và phát triển thành phần kinh tế TBNN ở Việt

Nam

Lịch sử ngày càng khẳng định rõ trong những điều kiện thực tế hiện nay,các nước có nền kinh tế thấp không thể trực tiếp tiến thẳng lên CNXH mà phải tiến dần từng bước, qua thời kỳ quá độ Trong mỗi bước đi phải biết bắc những chiếc cầu vững chắc qua những nấc thang trung gian cần thiết Một trong những chiếc cầu đặc biệt quan trọng cầu được quan tâm ở nước ta là phải sử dụng tốt CNTBNN

Việc nghiên cứu và vận dụng CNTBNN đã được đặt ra ở nước ta từ cuối những năm 50 Khi kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chúng ta thực hiện ngay việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế trong quá trình khôi phục và phát triển

Trang 14

giản đơn về các giai đoạn của tiến trình cách mạng XHCN, về vai trò mở đường của cách mạng quan hệ sản xuất, về mô hình kinh tế XHCN nên một thời gian dài chúng ta hiểu có phần sai lệch những nội dung về thành phần kinh tế TBNN

Năm 1958, khi bắt tay vào cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh số nhà tư bản ở Miền Bắc chỉ còn khoảng 2000 người Bằng những lực lượng mỏng manh, nhỏ bé hơn rất nhiều so với giai cấp tư bản Châu Âu, họ tổ chức sản xuất kinh doanh phân tán trên những quy mô vừa và nhỏ, với tổng số vốn không đủ xây dựng một nhà máy cơ khí trung bình Với tinh thần sục sôi căm thù giai cấp vừa chiến thắng trong chiến tranh chống thực dân phong kiến, chúng ta chỉ thấy bộ mặt tiêu cực, xấu xa đáng ghét của CNTB Chúng ta đã chủ trương muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế Tư Bản tư nhân, các yếu

tố kinh tế phi XHCN để nhanh chóng tạo lập một nền kinh tế XHCN chỉ gồm các lượng kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Chủ trương đó cũng xuất phát từ quan niệm giản đơn cho rằng, càng xóa nhanh các yếu tố kinh tế tư bản tư nhân càng sớm xây dựng thành công CNXH Vì vậy trong 3 năm (1958-1960)

ta đã tập trung nỗ lực cải tạo mạnh mẽ công thương nghiệp Miền Bắc Thực hiện việc xóa dẹp hàng ngàn cơ sở sản xuất kinh doanh vốn đang có hiệu quả của các nhà tư sản kinh doanh công thương nghiệp, tập trung thu hút họ vào các xí nghiệp cửa hàng quốc daonh hoặc công ty hợp doanh Ngoài số thu hút vào quốc doanh còn hầu hết được tổ chức bằng cách đưa vào hợp tác xã tập trung sản xuất với quy mô lớn đến cuối 1960, chúng ta tuyên bố hoàn thành

cơ bản công cuộc cải tạo XHCN ở Miền Bắc

Sau chiến thắng 30-4-1975, lực lượng kinh tế tư nhân ở Miền Nam lớn mạnh hơn nhiều so với Miền Bắc trước đây nhưng do vội ‘‘thả mình theo các

ảo tưởng khi chúng ta lên cao’’ tiếp tục phát huy những ‘‘thắng lợi’’ cải tạo XHCN ở Miền Bắc, chúng ta dùng tất cả sức mạnh của người chiến thắng để thực hiện ngay việc tịch thu, trưng thu, trưng mua hầu hết các nguồn vốn và các tư liệu sản xuất của hàng vạn cơ sở kinh tế tư nhân tập trung vào các kho

Trang 15

nhà nước rồi tuyên bố hoàn thành cải tạo công thương nghiệp miền Nam vào những năm 1978 Thực tế qua hơn 10 năm của giai đoạn 1975 đến 1985 đã chứng minh sự sai lầm, non kém của ta, kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể vẫn không chiếm được ưu thế, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm, thậm chí một bộ phận lớn bị thua lỗ kéo dài và phá sản Ngược lại các yếu tố, hình thức tư nhân TBCN vẫn tồn tại như một tất yếu kinh tế đáp ứng đòi hỏi bức thiết của đời sống xã hội Tất cả những điều trên buộc chúng ta phải nghiêm túc xem xét đánh giá lại những kết quả thành bại của công cuộc cải tại và sử dụng các thành phần kinh tế Tuy nhiên phải qua nhiều năm trăn trở với bao bài học cay đắng đến tháng 12 năm 1986, Đảng ta mới xác định đường lối đổi mới toàn diện mở ra một trang mới trong lịch sử cách mạng dân tộc, trong đó thực chất về kinh tế là nhận thức đúng đắn các quy luật kinh tế khách quan và vận dụng sáng tạo chính sách kinh tế mới nói chung và CNTBNN nói riêng của LêNin vào hoàn thành cụ thể của Việt Nam

Từ đó đến nay, thời gian tuy chưa dài nhưng nến kinh tế nước ta đã phát huy sinh động, có hiệu quả ở khắp các địa phương xuất hiện hàng trăm xí nghiệp, công ty hợp doanh và hàng ngàn cơ sở kinh doanh lớn nhỏ dưới nhiều hình thức hợp tác kiểu mới rất linh hoạt Nhiều cá nhân gia đình cũng đ ra tổ chức các liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác Nhiều cơ sở kinh tế tư nhân đã huy động hàng trăm lượng vàng đầu tư mở rộng sản xuất, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Luật đầu tư nước ngoài ban hành từ tháng 12-1987 thu hút ngày càng tăng số công ty nước ngoài hùn vốn kinh doanh với các công ty Việt Nam Tính đến đầu tháng 1-2001 đã có

66 nước và vùng lãnh thổ với nhiều công ty tập đoàn lớn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.Tuy nhiên từ thức tiễn sinh động ấy đã xuất hiện nhiều vần đề phức tạp cần được nghiên cứu cả về phương diện vi mô và vĩ mô Do vậy vấn đề này đặt ra nhiều mặt phải nghiên cứu, giải quyết để vừa tiếp tục phát huy những mặt tác dụng tích cực, và khắc phục sớm những tiêu cực vốn có trong các hoạt động kinh tế tư nhân, kinh doanh TBCN Chỉ có như vậy chúng ta

Trang 16

mới mong thực hiện được mục tiêu của CNTBNN ở nước ta là hướng cho nó ngày càng phục vụ nhiều hơn những yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế quốc dân XHCN

1.2 Kinh tế thị trường

1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường

` Nền sản xuất xã hội trong mọi giai đoạn phát triển đều vấp phải giới hạn về nguồn lực sản xuất và giới hạn về khả năng thỏa mãn các nhu cầu của con người Kinh tế học đã chỉ ra vấn đề cốt lõi của hệ thống kinh tế là nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuát như thế nào? Sản xuất cho ai? Căn cứ vào cách thức giả quyết ba vấn đề nêu trên, lich sử tiến hóa của nhân loại có thể chia làm ba hệ thống kinh tế lớn (hay còn gọi là ba giai đoạn chủ yếu)

Trang 17

cách thức tổ chức nền kinh tế có hiệ quả cao, là công nghệ để tổ chức nền sản xuất được loài người sử dụng để phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội

1.2.2 Sự cần thiết phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở

Việt Nam

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau Mỗi

mô hình đó là trình độ của nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử

cụ thể Song hiện nay, mô hình kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến

và có hiệu quả nhất trong phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Mô hình này không chỉ tồn tại ở các nước Tư Bản Chủ Nghĩa mà còn tồn tại ở tất cả các nước đang trong thời kì quá độ lên CNXH Bởi trong thời

kì này ở các nước đều tồn tại hai điều kiện sản xuất hàng hóa Đó là:

Thứ nhất: Sự phân công lao động là sự phân chia lao động xã hội ra các

ngành, các ngành sản xuất khác nhau tạo nên sự chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau Do có phân công lao động xã hội mỗi chỉ sản xuất một thứ hoặc một vài thứ sản phẩm Song nhu cầu của họ lại bao hàm nhiều thứ khác, để thõa mãn nhu cầu đòi hỏi cần có sự trao đổi sản phẩm giưa họ với nhau

Tổ chức xã hội của sản xuất thể hiện ở chỗ do phân công lao động xã hội nên sản phẩm của người này lại cần thiết cho người khác.Phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hóa, hợp tác ngày càng phát triển, mối quan hệ giữa cac ngành cac vùng ngày càng chặt chẽ Từ đó xóa bỏ tính

tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động

Thứ hai: tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản

xuất.Trong nền kinh tế của các nước còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đó là

sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại

Trang 18

nhiều chủ thể kinh tế độc lập lợi ích riêng, nên quan hệ giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa tiền tệ

Thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể, tuy cũng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh có lợi ích riêng

Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau

thuật-Như vậy, tồn tại kinh tế thị trường là quy luật tất yếu của mỗi quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Ngoài ra,

ở Việt Nam còn phải tất yếu tồn tại nền kinh tế thị trường vì:

Do trước đây đã có một thời kỳ dài Việt Nam đã tập trung mô hình quan liêu bao cấp Mô hình này đã thu được nhiều kết quả quan trọng nhất là đáp ứng được nhu cầu của đất nước thời kỳ có chiến tranh Nhưng về sau, mô hình này bộc lộ nhiều khuyết điểm dẫn đến nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, sản xuất nhỏ

lẻ, manh mún, tự cấp, tự túc, kỹ thuật lạc hậu

Trước cơ sở nhận thức đúng đắn thực trạng đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn trong cong cuộc xây dựng CNXH Đại hội đã đưa ra quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH, đặc biệt

là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

Kinh tế hàng hóa tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, buộc mỗi chủ thể sản

Trang 19

xuất phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để làm giảm chi phí sản xuất đến tối thiểu Nhờ đó mà có thể cạnh tranh về giá cả, đứng vững trong cạnh tranh Quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội

Trong nền kinh tế hàng hóa người sản xuất phải căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuất sản phẩm gì với khối lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào Do đó kinh tế hàng hóa kích thích tính năng động sáng tạo của chủ thể kinh tế kích thích việc năng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng hàng hóa và dịch vụ

Phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, đến lượt nó phát triển kinh tế hàng hóa sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất Vì thế phát huy được tiềm năng lợi thế của từng vùng cũng như lợi thế của đất nước, có tác dụng mở rộng quan

hệ kinh tế với nước ngoài

Sự phát triển kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời sản xuất lớn, xã hội hóa cao, đồng thời chọn được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ quản lí

có trình độ, lao động hành nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước

ta, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu ở nước ta thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động Quốc Tế Đó

là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.3 Những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt

Nam

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt vừa có tính chất chung của nền kinh tế thị trường

Trang 20

Một là, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản

xuất kinh doanh

Hai là, giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát

triển đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế

Ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị

trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sự tác động của quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế

Bốn là, nếu là kinh tế thị trường hiện đại, thì còn có sự điều tiết vĩ mô

của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoách hóa các chính sách kinh

tế

Mặt khác kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam dựa trên cơ

sở, chi phối, bởi nguyên tắc và bản chất CNXH

* Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường

Trong nhiều tiêu thức có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường ở nước ta so với nền kinh tế thị trường khác phải nói đến mục đích chính trị, mục đích kinh tế - xã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vận động và phát triển nền kinh tế

Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phỏng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân Có những nước đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế trước giải quyết công bằng xã hội sau Có những nước lại nhờ vào viện trợ và vay nợ nước ngoài để cải thiện đời sống nhân dân rồi sau đó mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ

Trang 21

và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói giảm nghèo

* Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà

nước giữa vai trò chủ đạo

Trong nền kinh tế nước ta tồn tại ba loại hình sở hữu cơ bản là: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân ( gồm : sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân) Từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức sản xuất, kinh doanh các thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế TBNN, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế nói trên tồn tại khách quan là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH Vì vậy phát triển kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu đối với nước ta Chỉ có như vậy chúng ta mới khai thác được mọi nguồn lực kinh tế, năng cao hiệu quả kinh tế, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước, thõa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.Do đó, không chỉ phát triển và củng cố các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu là thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể,

mà còn khuyến khích các thành phần kinh tế dựa vào chế độ tư bản để hình thành nên nền kinh tế thị trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ tư hữu, các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và ngoài nước Các đơn vị kinh tế thuộc nhiều thành phần đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau để phát triển

Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc và là sự khác biệt có tính triệu chứng của kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế thị trường Tư Bản chủ nghĩa.Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã quyết

Trang 22

định kinh tế nhà nước giữa vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hôi đều có một cơ sở kinh tế tương ứng với

nó, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới – XHCN ở nước ta

Cần nhận thức rõ ràng mỗi thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH có bản chất kinh tế xã hội riêng, chịu sự tác động riêng của các thành phần kinh tế riêng, nên bên cạnh sự thống nhất của các thành phần kinh tế còn

có những khác biệt với mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta

có khả năng phát triển theo những phương hướng khác nhau Chẳng hạn các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư bản có vai trò quan trọng trong việc sản xuất, giải quyết việc làm nhưng vì dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên chúng không thể tránh khỏ tính tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy sinh những hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội

Vì vậy, đòi hỏi các thành phần kinh tế phải phát triển kinh tế phải phát triển

có hiệu quả để có thể đảm bảo cho nền kinh tế phátt triển theo định hướng XHCN

* Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối lao động làm chủ yếu

Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tương ứng với nó chế độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu quy định Nhưng quan hệ phân phối, các hình thức thu nhập là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

Phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kì quá

độ lên CNXH, nhiều chế độ sở hữu cũng tồn tại sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu cá nhân và các hình thức sở hữu do kết quả của sự xâm nhập giữa chúng Mỗi chế độ sở hữu có nguyên tắc (hình thức) phân phối tương ứng với

Trang 23

nó Vì thế trong thời kì quá độ tồn tại cơ cấu đa dạng về hình thức phân phối thu nhập

Trong thị trường ở nước ta, tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sau đây: Phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, phân phối theo mức đóng góp vốn cùng nguồn lực khác và phân phối qua phúc lợi xã hội Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta lấy phát triển kinh tế thị trường là phương tiện đạt được mục tiêu cơ bản xây dựng CNXH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân với tiến bộ và công bằng xã hội Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu đó

* Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng vận động theo yêu cầu của những quy luật vốn có của kinh tế thị trường, như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, cạnh tranh, giá cả do thị trường quy định, thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực phân phối vào các lĩnh vực các ngành của nền kinh tế

Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của các nước trên thế giới đều có sự quản lý của nhà nước để sữa chữa một mức độ nào đó những thất bại của thị trường tức là cơ chế vận hành của nền kinh tế của tất cả các nước đều là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Nhưng điều khác biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của nước ta là ở chỗ nhà quản lý nền kinh tế không phải là nhà nước tư sản mà là nhà nước XHCN Nhà nước của dân, do dân và vì dân được sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Sự

Trang 24

thực hiện mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân cơ chế thị trường không thể làm được, đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN vai trò quản lý của nhà nước XHCN là hết sức quan trọng nó đảm bảo cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đặc biệt đảm bảo công bằng xã hội không ai ngoài nhà nước có thể giảm bớt được chên lệch giàu nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước, trong nền kinh tế thị trường nhà nước quản lý kinh tế thị trường định hướng XHCN Thị trường là một bộ phận cầu thành nền kinh tế, nó tồn tại theo quy luật khách quan, tự vận đong theo quy luât vốn có của nó Còn kế hoạch hóa

là hình thức thực hiện của tính kế hoạch, nó là sản phẩm chủ quản của chủ thể quản lý kế hoạch và cơ chế thị trường là hai phương tiện khác nhau để phát triển để điều tiết nền kinh tế kế hoạch là sự điều chỉnh có ý thức của chủ thể quản lý đối với nền kinh tế, còn cơ chế thị trường là sự điều tiết của bản thân nền kinh tế

* Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở hội nhập

Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường XHCN

mà chúng ta xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trước đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế

Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đang diễn ra trong quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phụ thuộc lẫn nhau Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếu đối với nước ta Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kỹ thuật, công nghệ hiên đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước

để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường hiện đại theo

kiểu ‘‘rút ngắn’’

Trang 25

Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, các hình thức đối ngoại, gắn thị trường trong nước với khu vực thế giới, thực hiện những thông lệ quan hệ quốc tế, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại

Trong thời gian tới cần tiếp tục mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, có bước đi thích hợp hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực thâm nhập thị trường thế giới, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế, mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội để mở rộng thị trường mới cải thiện môi trường đầu tư bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư của nước ngoài

* Sự phát triển kinh tế thị trường gắn với việc giữ gìn và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc

Khi chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường, thì cũng nảy sinh trong đời sống thực tế những hiện tượng: thương mại hóa những quan hệ xã hội, sống vụ lợi, sùng bái đồng tiền coi thường giá trị nhân văn làm xói mòn truyền thống văn hóa và đạo đức dân tộc Việc mở cửa và hội nhập những yếu tố văn hóa lai căng, mất gốc xa lạ thuần phong mỹ tục của dân tộc

Chúng ta coi việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường là nhượng tiện con đường thực hiện mục tiêu XHCN, chứ không phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Vì vậy xây dựng nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, hội nhập với khu vực và thế giới phải dặc biệt quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu đẹp thêm văn hóa Việt Nam Như cố tổng bí thư Đỗ Mười nói: ‘‘Trong điều kiện mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại càng phải coi trọng giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc với tiếp thu

Trang 26

tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu giá trị văn hóa nước ta, ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại mất gốc’’

1.3 Vai trò của kinh tế TBNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Thành phần kinh tế TBNN là hình thức kinh tế giúp cho kinh tế

tư bản chuyển hoá, phát triển thuận lợi theo con đường XHCN

Kinh tế TBNN luôn chịu sự tác động chi phối của hai hệ thống quy luật kinh tế, cùng với hai xu hướng phát triển đối lập: chế độ XHCN thay chế độ

tư bản chủ nghĩa Để kinh tế nhà nước hướng vào quỹ đạo mục tiêu XHCN thì cũng cần có sự ảnh hưởng rất quan trọng của thành phần kinh tế TBNN Hiện nay, việc nhà nước thực hiện có lựa chọn các hình thức kinh tế TBNN phù hợp không chỉ khai thác có hiệu quả tiềm năng của mỗi hình thức đó mà còn “ mở rộng đường” cho chúng ta tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành hình thức kinh tế hiệu quả theo đúng khái niệm vốn có Điều đó vừa tạo động lực, vừa tăng nguồn lực để phát triển kinh tế thị trường, đồng thời nhà nước vẫn giữ được vai trò chi phối, điều tiết, định hướng sự vận động phát triển của nền kinh tế TBNN vào quỹ đạo mục tiêu định hướng XHCN đã được hoạch định Kinh tế TBNN là công cụ liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư bản và tư bản chủ nghĩa Thành phần kinh tế này là một bước tiến lớn nhờ nó mà chiến thắng tình trạng hỗn độn tình trạng suy sụp về kinh tế, hiện tượng lỏng lẻo, những tập quán, những thói quen địa vị kinh tế của giai cấp ấy – giai cấp vô sản là cái quan trọng hơn hết LêNin viết: “CNTBNN không phải là vấn đề tiền mà là vấn

đề quan hệ xã hội” đây là chúng ta ( nhà nước của nhân dân ) hướng chủ nghĩa tư bản tư nhân vào con đường CNTBNN để tiếp tục sử dụng CNTB trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân

Ở nước ta, các nhân tố định hướng XHCN bằng kinh tế bao gồm: kinh

tế nhà nước kinh tế tập thể và kinh tế TBNN Trong đó định hướng trực tiếp cho sự phát triển kinh tế tư nhân và tư bản tư nhân là kinh tế TBNN

Trang 27

Với ý nghĩa đó, V.I.LêNin đã coi “kinh tế TBNN là khâu trung gian là một bước tiến là một thắng lợi lớn trên con đường tiến tới CNXH.Kinh tế TBNN giúp kinh tế tư bản chuyển hoá, phát triển thuận lợi theo con đường XHCN” Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng XHCN là xây dựng một xã hội: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.Do vậy tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển nhanh lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất, tạo việc làm, ổn định đời sống nhân dân, thực hiện gắn phát triển kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội chính là thể hiện sự cụ thể của mục tiêu định hướng XHCN Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế TBNN là hình thưc kinh tế hội tụ được nhiều ưu thế, nó kết hợp tối ưu sức mạnh của nhà tư bản với vai trò sức mạnh của nhà nước trong khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển để dành lợi thế cạnh tranh trên thương trường Kinh tế TBNN không chỉ là “chiếc cầu nối’’ giữa nhà nước với TBTN trong nước mà còn mở rộng “ bàn tay nhà nước’’ với TB nước ngoài hướng chúng vào thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH đồng thời chuyển dần nền sản xuất tiểu nông sang sản xuất lớn

1.3.2 Thành phần kinh tế TBNN thúc đẩy sự liên kết giữa các ngành góp

phần phát triển kinh tế thị trường

Sự phát triển của thành phần kinh tế TBNN góp phần đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông nghiệp từng bước ổn định thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Thông qua đó nhằm khơi dậy phát huy có hiệu quả tiềm năng to lớn của đất nước về nguồn nhân lực, tài nguyên, vật lực,…

Mặt khác nó là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng phân tán và yếu kém của nền kinh tế tiểu nông, từng bước tăng cường nền sản xuất lớn, tiên tiến cơ khí hoá, đối lập với nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, thủ công và cung cố những quan hệ kinh tế do nhà nước điều chỉnh đối lập với những quan hệ kinh tế tiể tư sản và chính phủ

Trang 28

Đặc biệt sự đóng góp của các hình thức thương nghiệp tư sản trong lĩnh vực sản xuất, sử dụng và tiêu thụ đã góp phần quan trọng việc hỗ trợ thương nghiệp CNXH, đẩy nhanh quá trình trao đổi và lưu thông hàng hoá-tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hoá nhỏ, qua đó góp phần cải biến những người tiểu nông, nối liền quan hệ trao đổi công – nông nghiệp,thành thị-nông thôn

Kinh tế TBNN là hình thức kinh tế hội tụ được nhiều ưu thế nó kết hợp tối

ưu sức mạnh của nhà nước Tư Bản với vai trò sức mạnh của nhà nước trong khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển để giành lợi thế cạnh tranh trên thương trường Kinh tế TBNN không chỉ là “ chiếc cầu nối’’ giữa nhà nước với tư bản tư nhân trong nước mà còn mở rộng “ bàn tay nhà nước’’ với tư bản nước ngoài hướng chúng vào mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kinh tế của CNXH đồng thời chuyển dần nền sản xuất tiểu nông lên sản xuất lớn

1.3.3 Thành phần kinh tế TBNN tạo điều kiện về vốn chuyển giao công

nghệ và cách thức quản lý kinh tế thị trường hiện đại

LêNin đã xác định rằng : “ Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH là phòng chờ đi vào CNXH…” kinh tế TBNN cùng với một khoa học kinh tế đã phát triển ở mức độ cao sẽ giúp chúng ta nhiều công cụ để tăng trưởng kinh tế nhanh Trong chừng mực nào đó, đầu tư nước ngoài đã bù đắp cho sự thiếu hụt về vốn, giúp nước ta thay đổi bộ mặt cônh nghệ cũng như thay đổi GDP Bên cạnh đó đầu tư nước ngoài đã giải quyết một tỉ lệ nạn thất nghiệp

Bằng các hình thức hợp tác như liên doanh đầu tư toàn bộ, hợp đồng khai thác ngắn hạn, hoặc xây dựng kinh doanh, chuyển giao (BOT) nhà tư bản đã thể hiện sự phong phú đa dạng trong cách thức khai thác tối đa những gì sẵn có và trên một nguyên tắc tương đối “ đôi bên cùng có lợi’’ Sau gần 9 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cho tới nay đã có khoảng

1600 dự án với tổng số vốn đầu tư trên 24 tỷ đồng chủ yếu tập trung vốn

Trang 29

vào đầu tư trong lĩnh vực khách sạn nhà hàng kinh doanh địa ốc thu hút nhiều dự án, (Theo nghiên cứu kinh tế số 226-1994 )

Đầu tư nước ngoài vẫn là hình thức quan trọng nhất với các chỉ tiêu cao

về quy mô lẫn trình độ công nghệ

Ở nước ta nếu biết học hỏi và vận dụng sáng tạo cách quản lý hiện đại, nhà nước sẽ đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, tạo ra những điều kiện

để quản lý quá trình mở cửa và hội nhập

1.3.4 Thành phần kinh tế TBNN mang tính tập trung sản xuất và quản

lý hiện đại của một hệ thống mở, góp phần khắc phục tình trạng manh mún, phân tán, chia cắt trong sản xuất và trong quản lý ở nước ta

Phát triển thành phần kinh tế TBNN sẽ tạo cơ sở cho hình thành một hệ thống kiểm kê, kiểm soát toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó là nhân tố chủ yếu để khắc phục xu hướng tự phát về chính phủ trong kinh tế, nhất là trong nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Thành phần này cũng tạo cơ sở cho sự đẩy lùi và ngăn chặn những tiêu cực như hối lộ, tham nhũng, lãng phí,…trong các cơ sở kinh tế, nhất là trong kinh tế nhà nước

Ở nước ta, sử dụng kinh tế TBNN sẽ là điều kiện cần thiết để hạn chế tính tự phát trong sản xuất và chế độ sản xuất phân tán kém hiệu quả của kinh tế sản xuất nhỏ, nhằm khai thác tối đa tiềm năng để tập trung các nguồn lực hướng về mục tiêu kinh tế xã hội cao nhất của công nghiệp hóa -hiện đại hóa và các công trình kinh tế lớn khác Hơn nữa tố chất cạnh tranh vốn có của hình thức TBNN sẽ giúp cho tất cả các thành phần kinh tế trong

xã hội sẽ có nhận thức về bản thân mình đúng hơn, ý thức hơn về nhu cầu tồn tại trong phát triển xã hội và do đó sẽ đáp ứng tốt hơn sản phẩm cho người tiêu dùng Một hệ quả hết sức quan trọng của sự phối hợp là sự giao lưu và tăng trưởng trí tụê, kiến thức đa dạng xã hội và do đó thúc đẩy mặt bằng học vấn xã hội được nâng cao

Đây là hình thức kinh tế hiện đại để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,kinh tế thị trường định hướng XHCN là hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực trong thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w