Ô nhiễm nước sinh hoạt hiện nay có nguồn gốc từ quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các loại nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nông nghiệp… Khiến cho nướ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN NAM GIANG
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN YÊN VIÊN –
HUYỆN GIA LÂM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS.NGUYỄN VĂN SONG
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng : Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Nam Giang
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, Kinh tế nông nghiệp và chính sách khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Namđã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cám ơn toàn thể bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
PHẦN I.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng thể 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Một số khái niệm về nước, nước sạch và nước sạch sinh hoạt 5
2.1.1 Một số khái niệm về nước 5
2.1.2 Một số khái niệm có liên quan tới nước sạch sinh hoạt 9
2.1.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước 10
2.2 Vai trò của nước sạch trong sinh hoạtvới sức khỏe con người 14
2.2.1 Vai trò của nước sinh hoạt tới sức khỏe con người 14
2.2.2 Một số tiêu chuẩn về nước sinh hoạt 16
2.3 Những vấn đề về nước sạch trong sinh hoạt hiện nay 19
2.3.1 Hiện trạng nguồn nước trên thế giới 19
2.3.2 Hiện trạng nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam 21
2.3.3 Một số biện pháp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt 25
2.4 Tổng quan về sự sẵn lòng chi trả (Willing To Pay – WTP) 29
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
2.4.1 Tổng quan về sự sẵn lòng chi trả 29
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả 32
2.5 Tổng quan về phương pháp định giá ngẫu nhiên và Một số nghiên cứu áp dụng phương định giá ngẫu nhiên 34
2.5.1 Phương pháp định giá ngẫu nhiên 34
2.5.2 Một số nghiên cứu sử dụng CVM trên thế giới và ở Việt Nam 36
2.5.3 Những bài học kinh nghiệm 38
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Khung phân tích 46
3.2.2 Nguồn số liệu 50
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu 52
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu và Xử lý số liệu 55
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
4.1 Tình hình cung cấp, sử dụng và chất lượng nước sinh hoạt ở Thị trấn Yên Viên 57
4.1.1 Tình hình cấp nước, sử dụngnước sinh hoạt ở Thị trấn Yên Viên 57
4.1.2 Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt của các hộ dân ở Thị trấn Yên Viên 74
4.2 Sự sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước sinh hoạt của người dânThị trấn Yên Viên 96
4.2.1 Thông tin chung về nhóm hộ điều tra 96
4.2.2 Mức sẵn lòng chi trả của nhóm hộ điều tra 99
4.3 Phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng nước 102
4.3.1 Mức sẵn lòng chi trả đối với hình thức chi trả và đối tượng cung cấp 102
4.3.2 Mức sẵn lòng chi trả và các chỉ tiêu xã hội học 104
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.3.3 Một số yếu tố khác 108
4.3.4 Mô hình ước lượng đánh giá mức độ tác động của các yếu tố tới mức WTP 111
4.4 Đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn 114
4.4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp từ kết quả nghiên cứu 114
4.4.2 Đề xuất thực hiện các giải pháp 117
PHẦN V KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC 1 PHIẾU ĐIỀU TRA CÁN BỘ ĐỊA PHƯƠNG 136
PHỤ LỤC 2 PHIẾU ĐIỀU TRA NGƯỜI DÂN 139
PHỤ LỤC 3 KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH 146
PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 151
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt theo TCVN 5502 - 2003 17
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt theo QCVN 02: 2009/ BYT 18
Bảng 2.3 Sự khác nhau giữa sẵn lòng chi trả và bằng lòng chấp nhận 31
Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế qua các năm ở TT Yên Viên 44
Bảng 4.1 Nguồn nước sử dụng của các hộ điều tra 62
Bảng 4.2 Khối lượng nước tiêu thụ của các hộ dân 69
Bảng 4.3 Đáp ứng nhu cầu về nước sạch sinh hoạt hiện nay của người dân 70
Bảng 4.4 Phương thức dự trữ nước sinh hoạt của người dân 73
Bảng 4.5 Đánh giá chất lượng nước giếng ở thị trấn Yên Viên 77
Bảng 4.6 Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của nhóm hộ điều tra 80
Bảng 4.7 ảnh hưởng của nguồn nước đến cuộc sống người dân 83
Bảng 4.8 Nguồn gây ô nhiễm nước ăn ở địa phương 88
Bảng 4.9 Nguồn gây ô nhiễm nước tắm rửa ở địa phương 89
Bảng 4.10 Nguồn gây ô nhiễm nước tắm rửa ở địa phương 90
Bảng 4.11 Các biện pháp cải thiện chất lượng nước của người dân tổ Tiền Phong 93
Bảng 4.12 Các biện pháp cải thiện chất lượng nước của người dân tổ Yên Hà 95
Bảng 4.13 Các biện pháp cải thiện chất lượng nước của người dân tổ BĐ 2 95
Bảng 4.14 Một số đặc điểm của nhóm người được phỏng vấn 98
Bảng 4.15 Mức sẵn lòng chi trả của nhóm người được phỏng vấn 99
Bảng 4.16 Trình độ học vấn và mức sẵn lòng chi trả 105
Bảng 4.17 Nghề nghiệp và mức sẵn lòng chi trả 107
Bảng 4.18 Địa bàn và mức sẵn lòng chi trả 109
Bảng 4.19 Mô hình và các biến lựa chọn 111
Bảng 4.20 kết quả chạy mô hình 112
Bảng 4.21 Kiểm định các tham số ước lượng của mô hình 113
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
Bảng 4.22 Đề xuất của đề tài về lựa chọn phương án xây dựng nhà máy cấp
nước 131
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Hình 2.1: Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vảitrong nhiều năm 21
Hình 3.1 Vị trí địa lý thị Trấn Yên Viên huyện Gia Lâm 41
Hình 4.1 Màu nước sông Đuống 61
Hình 4.2 Các chai nước không rõ nguồn gốc 62
Hình 4.3 Một số dụng cụ trữ nước của người dân thị trấn Yên Viên 74
Hình 4.4 Nước làm ố các vận dụng của các hộ gia đình 78
Hình 4.5 Nước thải của một doanh nghiệp ra sông Đuống 85
Hình 4.6 Lõi lọc nước của người dân bị đen do nguồn nước ô nhiễm 92
Hình 4.7 Bể lọc bằng cát bị đen sau khoảng 2 tháng sử dụng 94
Đồ thị 2.1 Đường cầu và sự sẵn lòng chi trả 29
Đồ thị 4.1 Nguồn nước cho nhu cầu ăn uống, nấu nướng của nhóm hộ điều tra 66
Đồ thị 4.2 Nguồn nước cho nhu cầu tắm, rửa của nhóm hộ điều tra 67
Đồ thị 4.3 Nguồn nước cho nhu cầu giặt của nhóm hộ điều tra 68
Đồ thị 4.4 Đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho ăn uống của người dân 72
Đồ thị 4.5 Đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho giặt dũ của người dân 72
Đồ thị 4.6 Đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho tắm rửa của người dân 72
Đồ thị 4.7 Các vấn đề về nguồn nước ăn 81
Đồ thị 4.8 Các vấn đề về nguồn nước tắm rửa 82
Đồ thị 4.9 Các vấn đề về nguồn nước giặt 83
Đồ thị 4.9 Mối quan hệ giữa lượng tiêu thụ và mức WTP 102
Đồ thị 4.10 Sự khác biệt về mức WTP giữa các hình thức chi trả 103
Đồ thị 4.11 Sự khác biệt mức WTP giữa yêu cầu về các nhà cung cấp 104
Đồ thị 4.12 Giới tính và mức sẵn lòng chi trả 105
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
Đồ thị 4.13 Trình độ học vấn mà mức sẵn lòng chi trả 106
Đồ thị 4.14 Nhóm nghề nghiệp và mức sẵn lòng chi trả bình quân 108
Đồ thị 4.15 Mức sẵn lòng chi trả và các tổ điều tra 109
Đồ thị 4.16 Mức sẵn lòng chi trả và các đối tượng bị ảnh hưởng bởi nguồn 110
Đồ thị 4.17 Mức sẵn lòng chi trả giữ những người lo ngại về rủi ro từ nước 110
Hộp 1 Tình hình xây dựng hệ thống nước sạch ở địa phương 58
Hộp 2 Chi phí nước sinh hoạt của người dân TT Yên Viên 70
Hộp 3 thực trạng nguồn nước giếng khoan ở thị trấn Yên Viên 75
Hộp 4 Đánh giá về chất lượng nước giếng của người dân 76
Sơ đồ 4.1 Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước sinh hoạt ở TT Yên Viên 87
Sơ đồ 4.2 Quy trình lọc nước đối với giếng khoan cạn 118
Sơ đồ 4.3 Quy trình lọc nước đối với giếng khoan sâu 119
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I.MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Trước đây, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nước được xem là tài nguyên vô hạn Tuy nhiên trong những năm gần đây, trước sự ô nhiễm, sa mạc hóa, cùng với nhu cầu cầu sử dụng nước toàn thế giới tăng cao đã khiến nguồn nước ngọt bị cạn kiệt
Theo William E Marks (2001).Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³ Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể
sử dụng cho sinh hoạt và phát triển kinh tế
Trong những năm trở lại đây, rất nhiều báo cáo, nghiên cứu đã cho thấy, hiện nay nguồn nước sinh hoạt đang bị ô nhiễm nặng Chất lượng của nước sinh hoạt tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam không đủ tiêu chuẩn cho sức khỏe
Ô nhiễm nước sinh hoạt hiện nay có nguồn gốc từ quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các loại nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nông nghiệp… Khiến cho nước bị thay đổi tính chất, hàm lượng các kim loại nặng cao, hàm lượng các hóa chất độc hại ngày càng tăng trong khi hệ thống lọc nước của chúng ta hiện nay không thể xử lý được tất cả các ô nhiễm này
Theo Bộ tài nguyên môi trường (2013) một cuộc khảo sát về chất lượng nước ở Đak Lak cho thấy nước tại 102 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh đều bị ô nhiễm Trong 102 mẫu được kiểm tra, phân tích, kết qủa có 21 mẫu loại A, chiếm 20,59%; loại B có 74 mẫu, chiếm 72,55%; loại C có 7 mẫu, chiếm 6,86% Theo cuộc khảo sát này, nguyên nhân được xác định ô nhiễm nguồn nước các công trình nước tập trung chủ yếu là do vi khuẩn, sắt, độ đục
Cùng với sự suy giảm về chất lượng nước sinh hoạt, những hệ lụy về sức khỏe con người do sử dụng nước sinh hoạt kém chất lượng đang ngày càng gia tăng Theo số liệu thống kê năm của Tổ chức Y tế Thế giới (2008) cho biết, có 80% bệnh tật ở các quốc gia đang phát triển có liên quan đến nước và vệ sinh môi trường bị nhiễm bẩn và mỗi năm có hơn 20 ngàn người Việt Nam chết do dùng nước bị ô
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
nhiễm và mất vệ sinh Tỷ lệ bệnh nhân bị nhiễm giun sán ở vùng nông thôn Việt Nam được xếp vào hạng cao nhất thế giới, cụ thể là hiện có 44% trẻ em Việt Nam
bị các bệnh giun và là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ.Chính vì vậy, việc cải thiện chất lượng nước sinh hoạt hiện nay được xem là một hành động cần thiết và ngay lập tức nhằm đảm bảo cuộc sống cho con người
Thị trấn Yên Viên là một địa bàn có lịch sử lâu đời của thủ đô Hà Nội Tuy nhiên, nhiều năm nay, nhân dân thị trấn phải chịu nhiều nguồn nước thải ô nhiễm Theo Thiên Nhân (2012) nước thải từ các xí nghiệp như: Công ty Hoá chất, Công ty Bột giặt LIX và nhiều công ty dây và cáp nhôm Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước tại khu vực này.Trong khi
đó, trên địa bàn không hề có một hệ thống cấp thoát nước đảm bảo sinh hoạt cho người dân sử dụng
Nghiêm trọng hơn là tình hình ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân Đây chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng các bệnh ngoài da và trẻ em bị bệnh về răng lợi ngày một tăng theo thời gian Theo thống kê của trạm y tế thị trấn Yên Viên, mỗi năm có hàng trăm ca các loại bệnh này trên địa bàn Nhiều hộ dân, mặc
dù đã sử dụng than hoạt tính và cát lọc nước nhưng do lượng măng gan trong nước quá lớn nên chỉ sau 1, 2 tháng sử dụng, than và cát lọc đã bị đóng bánh đen Những dụng cụ dùng để chứa nước đã lọc hoặc bồn nước nhà vệ sinh cũng đều bị đóng cặn Dù đã dùng hệ thống lọc nhưng nước giếng khoan ở thị trấn Yên Viên vẫn không thể dùng để ăn uống
Chính vì vậy việc cải thiện chất lượng nước sinh hoạt hiện nay của người dân
là việc phải làm Tuy nhiên việc cải thiện chất lượng nước sinh hoạt nên được thực hiện đến đâu, phương pháp nào được ưu tiên sử dụng Liệu chi phí áp dụng các biện pháp đó có vượt quá lợi ích mà nguồn nước mang lại cho người dân hay không ? Để
có căn cứ xây dựng các biện pháp cải thiện chất lượng nước hiệu quả, đảm bảo sự phù hợp với chi phí và lợi ích mà nó mang lại Việc tìm hiểu mức lòng chi trả của người dân là điều cần phải làm trước tiên để tạo cơ sở xây dựng và thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng nước hiệu quả
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
Chính vì thế, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu“Xác định mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn Thị trấn Yên Viên – H.Gia Lâm”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng thể
Trên cơ sở nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng cho cải thiện chất lượng nước sinh hoạt hiện tại, đề xuất xây dựng các chương trình cấp nước sạch sinh hoạt hiệu quả
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng nước sinh hoạt của các hộ dân Thị trấn Yên Viên hiện nay?
- Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sự cải thiện chất lượng nước là bao nhiêu ?
- Đâu là các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của người dân?
- Các chương trình nước sạch sinh hoạt trên địa bàn nên thực hiện như thế nào ? Đâu là các phương án nhằm giúp người dân tự khác phục trong ngắn hạn vàngười dân cần một cơ chế cấp nước ra sao?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tương nghiên cứu:Mức sẵn lòng chi trả của người dân trên địa bàn Thị
trấn Yên Viên cho sự cải thiện chất lượng nước sinh hoạt hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Phạm vi nội dung Do hạn chế về mặt thời gian đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu sự sẵn lòng chi trả của người dân sử dụng nước sinh hoạtởThị trấn Yên Viên
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
+ Phạm vi về không gian : Các đơn vị cung cấp nước sinh hoạt và các phường thuộc Thị trấn Yên Viên
+ Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ 01/10/2013–01/10/2014
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.Một số khái niệm về nước, nước sạch và nước sạch sinh hoạt
2.1.1.Một số khái niệm về nước
2.1.1.1.Khái niệm nước
Theo OA Jones (2005), Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H 2O Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống 70% diện tích của Trái Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống (WHO 1995) Bên cạnh nước
"thông thường" còn có nước nặng và nước siêu nặng Ở các loại nước này, các nguyên tửhiđrô bình thường được thay thế bởi các đồng vịđơteri và triti Nước nặng
có tính chất vật lý (điểm nóng chảy cao hơn, nhiệt độ sôi cao hơn, khối lượng riêng cao hơn) và hóa học khác với nước thường
Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết Năng lượng mặt trời sưởi
ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của vài vùng châu Âu Là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp
Theo William E Marks (2001), hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³ Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ
có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước sinh hoạt Việc cung cấp nước sinh hoạt sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
loài người trong vài thập niên tới đây Nguồn nước cũng đã là nguyên nhân gây ra một trong những cuộc chiến tranh ở Trung Cận Đông (Stephen C.Pelletiere 2003 –
“A War Crime Or an Act of War”)
Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), Như là chất trao đổi nhiệt Nhà triết học người Hi LạpEmpedocles đã coi nước là một trong bốn nguồn gốc tạo ra vật chất (bên cạnh lửa, đất và không khí) Nước cũng nằm trong Ngũ Hành của triết học
cổ Trung Hoa
2.1.1.2.Phân loại nguồn nước
Theo Nguyễn Lan Phương (2008), có nhiều cách phân loại nước, theo tính chất, theo mục đích sử dụng…Với cách phần loại theo tính chất, ta có các loại nước: Nước ngọt, nước mặn, nước lợ, nước chua phèn, nước khoáng và nước mưa
Theo TS.Trịnh Xuân Lai (2007), nguồn nước có thể sử dụng cho sinh hoạt và cho công nghiệp bao gồm có: nguồn nước mặt; nguồn nước ngầm; nguồn nước biển; nguồn nước lợ; nguồn nước mưa và nguồn nước chua phèn
Nước mặt: Bao gồm các nguồn nước trong các ao, đầm, hồ chứa, sông suối
Do kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên có các đặc trưng
- Chứa khí hòa tan đặc biệt là oxy
- Chứa nhiều chất rắn lở ở, riêng trường hợp nước chứa trong các ao đầm, hồ
do xảy ra quá trình lắng cặn nên chất rắn lơ lửng còn lại trong nước có nông độ tương đối thấp và chủ yếu ở dạng keo
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo
- Chứa nhiều vi sinh vật
Nước ngầm : được khai thác từ các tầng nước chứa dưới đất, chất lượng
nước ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua Do vậy nước chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit
và chứa ít chất khoáng Khi nước ngầm chảy qua địa tầng chứa đá vôi thì nước
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
thường có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao Nước ngầm có những đặc trung là
- Độ đục thấp
- Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định
- Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều CO2 , H2S…
- Chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là sắt, Manggan, canxi, magie, Flo
- Không có hiện diện của vi sinh vật
Nước biển: Thường có độ mặt rất cao Hàm lượng muối trong nước biển
thay đổi thuy theo vị trí địa lý như: cửa sông, gần hay xa bờ ngoài ra trong nước biển thường có nhiều chất lơ lửng, càng gần bờ nông độ càng tăng, chủ yếu là các phiêu sinh động thực vật
Nước lợ: Ở cửa sông và các vùng ven bờ biển, nơi gặp nhau của các dòng
nước ngọt chảy từ sông ra, các dòng nước thấm từ đất liền chảy ra hòa trộn với nước biển Do ảnh hưởng của thủy triều, mực nước tại chỗ gặp nhau lúc ở mức cao, lúc ở mức thaaos và do sự hòa trộn giữa nước ngọt và nước biển làm cho độ muối
và hàm lượng huyền phù trong nước ở khu vực này luôn thay đổi và có trị số cao hơn tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt và thấp hơn nhiều so với nước biển được gọi
là nước lợ
Nước khoáng: Khai thác từ tâng sâu dưới đất hay từ các suối do phun trào từ
lòng đất ra, nước có chưa một vài nguyên tố ở nông độ cao hơn nồng độ cho phép đối với nước uống và đặc biệt có tác dụng chữa bệnh Nước khoáng sau khi qua khâu xử lý thông thường như làm trọng, loại bỏ hoặc nạp lại khí CO2 nguyên chất được đóng vào chai để cấp cho người dùng
Nước chua phèn: Những nơi gần biển, ví dụ đồng bằng sông cửu long nước
ta thường có nước chua phèn Nước bị nhiễm phèn là do tiếp xúc với đất phèn, loại đất này giàu nguyên tố lưu huỳnh ở dạng sunfua hay ở dạng sunfat và một vài nguyên tố như kim loại, nhôm, sắt Đất phèn được hình thành do quá trình kiến tạo địa chất Trước đây ở những vùng này bị ngập nước và có nhiều loại thực vật và động vật tầng đáy phát triển Do quá trình bồi tụ, thảm thực vật và lớp sinh vật đáy
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
bị vùi lấp và phân hủy yếm khí, tạo ra các axit mùn hữu cơ làm cho nước có vị chua, đồng thời có chứa nhiều nguyên tố kim loại có hàm lượng cao như nhôm, sắt
và ion sunfat
Nước mưa: Có thể xem là một loại nước cất tự nhiên nhưng không hoàn toàn
tinh khiết bởi nước mưa có thể bị ô nhiễm bởi khí, bụi, và thậm chí cả vi khuẩn có trong không khí Khi rơi xuống nước mưa tiếp tục bị ô nhiễm do tiếp xúc với các vật thể khác nhau Hơi nước gặp không khí chứa nhiều oxit nito hay oxit lưu hình sẽ tạo các trận mưa axit Do vậy tại nhiều địa điểm, với sự ô nhiễm nằm trong mức tiêu chuẩn cho phép, nước mưa thực sự là nguồn nước đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt cho người dân Tuy nhiên, tại những vùng ô nhiễm nặng, nước mưa có thể dẫn tới hủy hoại sản xuất nông nghiệp và xảy ra quá trình ăn mòn nhiều vật dụng, đồ dùng và các thiết bị sản xuất của người dân
Với cách phân loại theo mục đích sử dụng ta có:
Nước sinh hoạt : Theo luật tài nguyên nước (2012) nước sinh hoạt là nước
sạch hoặc nước có thể sử dụng cho ăn, uống, vệ sinh của con người
Nước dùng cho sản xuất công nghiệp: Là nước được sử dụng trong quá
trình sản xuất của các ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các loại nước này được sử dụng trong tẩy rửa công nghiệp, hoặc được thay đổi một số lý tính hóa học để phục vụ cho quá trình vận hành sản xuất Như nước nặng, nước phóng xạ…
Nước dùng trong sản xuất nông nghiệp: Theo luật tài nguyên nước (2012)
Là nguồn nước sử dụng cho tưới tiêu, làm nước uống cho gia súc gia cầm trong chăn nuổi, môi trường sống, nguồn nước cung cấp cho nuôi trồng thủy sản Nhìn chung nước dùng trong sản xuất nông nghiệp có một số điểm giống như nước cho sinh hoạt, đặc biệt là các loại nước để uống cho vật nuôi Trong khi đó yêu cầu về chất lượng có thể thấp hơn như dành co tưới tiêu, trồng trọt, hoặc có những yêu cầu
về chất lượng riêng biệt cho nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên chất lượng của các loại nước này cũng có những quy định cụ thể được đề cập trong các quy định về chất lượng nước
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
2.1.2.Một số khái niệm có liên quan tới nước sạch sinh hoạt
Nước sinh hoạt : Theo luật tài nguyên nước (2012), “Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người” Đi kèm với khái
niệm nước sinh hoạt, chúng ta cần hiểu, nước sạch và nguồn nước sinh hoạt Theo
đó, nước sạch là nước đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam và Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể
xử lý thành nước sinh hoạt (Quốc hội Việt Nam 2012)
Các nguồn cấp nước sinh hoạt chủ yếu hiện nay (theo luật tài nguyên nước 2012 – Quốc hội Việt Nam 2012):
Nước máy : tại các thành phố phát triển, đây là nguồn cấp nước sinh hoạt
chủ yếu cho người dân Nguồn nước máy được hiểu là nước được cung cấp từ các nhà máy nước được đóng trên địa bàn Các nhà máy này được xây dựng có nhiệm
vụ cung cấp nước sạch cho người dân sử dụng từ các nguồn nước tự nhiên, trong đó chủ yếu là nước tại các con sông lớn Những nhà máy này có một chuỗi hệ thống xử
lý nước Bao gồm nhiều khâu như lắng, lọc, xử lý hóa chất… Nguồn nước tự nhiên luôn luôn có lẫn rất nhiều tạp chất, từ hữu cơ cho đến vô cơ, rất nhiều các chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe con người vì vậy cần phải xử lý nguồn nước này trước khi phân phối đến người dân Và các nhà máy nước đảm nhiệm công việc này Ngày nay, dưới sự phát triển của xã hội, việc cung cấp nước được xem là một loại hình kinh doanh Các nhà máy bán nước bán sản phẩm của mình là nước sạch cho người dân Tuy nhiên, sự lỗi thời về công nghệ và số năm vận hành của hệ thống xử lý của một số nhà máy đã không thể giải quyết hết các vấn đề trong xử lý nước sạch, dẫn tới chất lượng nước hiện nay đang có xu hướng giảm xuống điều đó đòi hỏi phải có sự thay đổi để nâng cao chất lượng cung cấp nước của các nhà máy
Nước mưa: Là nguồn nước tự nhiên thường được sử dụng ởnhiều nơi, nhất
là các vùng nông thôn và những vùng không có hệ thống cung cấp nước cho cộng đồng Hiện nay, nước mưa được thu từ các hệ thống hứng nước và đổ dồn về bồn chứa Từ thời kỳ xa xưa, nước mưa được xem là loại nước tinh khiến phù hợp cho sức khỏe con người Nhưng trong thời đại phát triển, ô nhiễm không khí và các loại
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
hóa chất độc hại được thải ra khiến cho nguồn nước mưa bị ô nhiễm Trong nước mưa có chứa thành phần hóa học đặc biệt là vô cơ rất độc hại, chính vì thể mà nhiều nơi không sử dụng nước mưa cho sinh hoạt được Đặc biệt là ở các thành phố công nghiệp như Bắc Kinh…Ngoài ra, sự thay đổi khí hậu khiến nước mưa trở nên khán hiếm và không đều việc sử dụng nước mưa chịu ảnh hưởng của thời tiết nên nguồn nước cung cấp khá thất thường
Nước ngầm: Là nguồn nước được sử dụng nhiều nhất, có vai trò quan trọng
tại những nơi không có hệt thống cung cấp nước Nước ngầm được khai thác bằng cách khoan sâu xuống lòng đất trúng các mạnh nước ngầm, nước sẽ được đưa lên thông qua các giếng Nước ngầm (nước giếng) không chỉ có vai trò quan trọng trong sinh hoạt mà còn mang cả ý nghĩa văn hóa sâu sắc Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển, thậm chí là tại nhiều vùng quê ngày nay, nước ngầm vẫn là nguồn nước chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho người dân Đồng thời hình ảnh “Cây đa- giếng nước- sân đình” đã sớm đi sâu vào đời sống văn hóa của người Việt Nam Bộ ba
“Cây đa- giếng nước- sân đình” gắn bó thủy chung son sắc như người bạn tâm giao với cư dân miền nông nghiệp lúa nước
2.1.3.Nguyên nhân gây ô nhiễm nước
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã."
Theo Cục quản lý tài nguyên nước(2013), phân chia theo nguồn gốc ô
nhiễm, ô nhiễm nước các nguyên nhân sau đây:
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ
yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
- Ô nhiễm nguồn nước do hoạt động quản lý bảo vệ môi trường: sự bất cập
trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cơ quan quản lý,
tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ, chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước
- Ô nhiễm nguồn nước do sinh hoạt dân cư :Trong quá trình sinh hoạt hàng
ngày, nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh, do tăng dân số
về các đô thị Từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng của sự ô nhiễm, của các đô thị ở nước ta Các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa qua xử lý.dưới tốc độ phát triển như hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm
- Ô nhiễm nguồn nước cho sản xuất công nghiệp:Tốc độ công nghiệp hoá và
đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp
và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, đông dân chất thải do sinh hoạt cũng là một nguyên nhân quan trọng đang gây ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví như ở các ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
Đã có những khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở một số địa phương cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực Không chỉ
ở các thành phố lớn mà ở hầu hết các đô thị khác, nước thải do các cơ sở công nghiệp cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP Tình trạng ô nhiễm nước ở các
đô thị, nước thải, rác thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp
xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải, một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom
hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước
- Ô nhiễm nguồn nước do sản xuất nông nghiệp:Về tình trạng ô nhiễm nước
ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay ở nước ta có gần 76% dân
số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.Nước ta lại là nước có nền nông nghiệp phát triển Ngành nông nghiệp là ngành
sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới tiêu hoa màu và lúa chủ yếu là ở vùng đồng bằng Việc sử dụng nông dược và phân bón hoá học ngày càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nước nông thôn Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ con người Do nuôi trồng thuỷ sản
ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một
số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các
tác nhân vật lý Theo Trịnh Xuân Lai (2008)Các tác nhân gây ô nhiễm nước có thể
chia ra làm nhiều loại: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, cd, Hg, Mo, Al, Cu, Zn, Fe,
Al, Mn ), anion (CN-, F-, NO3, Cl-, SO4), một số hoá chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, Dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng) Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn trong cơ thể con người khi đạt liều lượng nhất định
sẽ gây bệnh Một số kim loại có khả năng gây ung thư như Cr, Cd, Pb, Ni
Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn trong cơ thể con người khi đạt liều lượng nhất định sẽ gây bệnh Một số kim loại có khả năng gây ung thư như Cr, Cd,
Pb, Ni Một số anion có độc tính cao điển hình là xyanua (CN-) Ngộ độc sắn là do sắn chứa nhiều ion gốc xyanua Ion (F-) khi có nồng độ cao gây độc, nhưng ở nồng
độ thấp làm hỏng men răng Nitrat (NO-3) có thể chuyển thành (NO-2) kích động bệnh methoglobin và hình thành hợp chất nitrozamen có khả năng tạo thành bệnh ung thư Các ion (Cl-) và (SO2-4) không độc nhưng nồng độ cao gây bệnh ung thư Các nhóm hợp chất phenon hoặc ancaloit độc với người và gia súc.Các thuốc trừ sâu có khả năng tích luỹ chuỗi thức ăn gây độc Một số loại clo hữu cơ như 2,4D gây ung thư
Theo Bạch Quang Dũng, Đinh Thái Hưng (2012), hiện nay chưa có nhiều đánh giá về ô nhiễm kim loại nặng trong nước uống trên địa bàn Hà Nội theo QCVN nước ăn uống Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Pb,Cr, Cu, Zn, Mn, v.v thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các thể sinh vật
và thường tích luỹ trong cơ thể chúng Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật nói chung và con người nói riêng Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước, nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng
độ cao của các kim loại nặng trong nước Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác Những đánh giá về chỉ tiêu kim loại nặng trong nước ăn uống có ý nghĩa quan trọng và trực tiếp đến đời sống cộng đồng
2.2.Vai trò của nước sạch trong sinh hoạtvới sức khỏe con người
2.2.1.Vai trò của nước sinh hoạt tới sức khỏe con người
Trong cuộc sống của mỗi người, nước sinh hoạt đóng vai trò cự kỳ quan trọng Nước cho cuộc sống không chỉ có ý nghĩa về sự sống còn nếu không có nước uống an toàn, mà là cả một sự ảnh hưởng to lớn của nước theo những cách khác nhau tới các lứa tuổi, phạm vi người sử dụng Theo đó, nước có ảnh hưởng đến sức khỏe của tất cả mọi người về giáp dục, tuổi thọ, hạnh phúc và phát triển xã hội Theo một nghiên cứu của tổ chức WHO và UNICEF về vai trò của nước trong cuộc sống của con người và xã hội tại các nước Châu Á, Châu Phi, và Mỹ La Tinh cho thấy, nước có những vai trò như sau:
- Nước sạch sinh hoạt có tác dụng làm giảm tỷ lệ chết ở trẻ em trong độ tuổi
từ 0 – 4 tuổi tại hầu hết các nước trên thế giới Hơn 90% các ca tử vong vì tiêu chảy của trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển tại các châu lục có nguyên nhân
là do sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo chất lượng Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là những nạn nhân vô tội của sự thất bại trên toàn thế giới trong việc tạo ra các nguồn nước uống và tắm rửa an toàn Cùng với các dịch vụ vệ sinh cơ bản cho cho người nghèo Sử dụng các nguồn nước bị nhiễm bẩn.Việc cải thiện chất lượng nước sạch sinh hoạt có vai trò rất quan trọng trong việc cắt giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ(WHO and UNICEF -2005)
- Nước sạch sinh hoạt và vệ sinh môi trường có khả năng giảm tỷ lệ trẻ em không đến trường ở độ tuổi 5 – 14 tại rất nhiều các quốc gia Châu Phi, Châu Á và
Mỹ La Tinh Tại rất nhiều quốc gia trên thế giới, trẻ em trong độ tuổi 5 – 14 mất hàng ngày, thậm chí hàng tháng để tìm nguồn nước sinh hoạt cho gia đình, tại những vùng có nguồn nước khan hiếm do nắng hạn và thời tiết khắc nghiệt Thay vì
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
đi học, trẻ em phải cùng cha mẹ hoặc tự chúng đi tìm nguồn nước sinh hoạt cho gia đình, đó cũng chính là lý do tại sao ở nhiều nước kém phát triển, tỷ lệ trẻ em trong
độ tuổi đi học lại thấp.(WHO and UNICEF 2005)
- Giảm thiểu chi phí và tăng thu nhập cho người dân Hàng trăm triệu gia đình tại Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La tinh đang phải bỏ ra những khoản thu nhập không nhỏ để chi trả cho sự cải thiện nguồn nước uống và vệ sinh của họ Để
có nước sạch dùng, rất nhiều người đã phải từ bỏ 20 – 30% thậm chí là 50% để sử dụng nước sạch thay vì sử dụng các nguồn nước độc hại cho sức khỏe Những chi phí này được trả cho xử lý nước tại chỗ hoặc các chi phí vận chuyển nước từ xa đến nơi họ sinh sống.Ngoài những chi phí trực tiếp cho nước sinh hoạt, người dân ở nhiều quốc gia còn mất nhiều chi phí cơ hội khác cho thời gian và công sức để đưa nước về sinh hoạt tại gia đình (WHO and UNICEF 2005)
- Tăng tuổi thọ của những người cao tuổi: người cao tuổi dễ bị nhiễm các bệnh liên quan tới nước sạch và vệ sinh hơn những người trẻ tuổi và trung tuổi bởi súc đề kháng của họ trở nên yếu hơn theo tuổi tác Những loại bệnh từ nguồn nước
bị nhiễm bẩn khiến tuổi thọ bình quân của nhiều quốc gia giảm sút rõ rệt Đặc biệt
là các nước đang phát triển và chậm phát triển Những vùng đất không có điều kiện
để cung cấp nước một cách đầy đủ Ngày nay với mức độ gia tăng dân số và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội – việc tăng tuổi thọ bình quân, tuổi thọ của người già được xem là một trong những mục tiêu của quá trình phát triển Vì vậy những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ cần phải xem xét nhu cầu đặc biệt của người cao tuổi khi phát triển nguồn nước sinh hoạt và các dịch vụ vệ sinh khác.(WHO and UNICEF 2005)
- Với tình trạng ô nhiễm ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước sạch
dự báo sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý giá không kém dầu mỏ trong thế kỷ trước Nhưng không như dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên liệu khác như điện, nhiên liệu sinh học, khí đốt , nhưng nước thì không thể thay thế và trên thế giới tất cả các dân tộc đều cần đến nó để bảo đảm cuộc sống của mình, cho nên vấn
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
đề nước trở thành chủ đề quan trọng trên các hội đàm quốc tế và những mâu thuẫn
về nguồn nước đã được dự báo trong tương lai.(WHO and UNICEF 2005)
2.2.2.Một số tiêu chuẩn về nước sinh hoạt
a.TCVN 5502 : 2003 Yêu cầu về chất lượng nước cấp sinh hoạt
Đây là bộ tiêu chuẩn chất lượng nước cấp sinh hoạt của Việt Nam do tiểu ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC47/SC 1 sản phẩm hóa học biên soạn năm 2003
do tổng cục tiêu chuẩn Đo lường chất lượng đề nghị được bộ khoa học và công nghệ ban hành Bộ tiêu chuẩn quy định chất lượng đối với nước đã qua xử lý, sau hệ thống phân phối, dùng trong sinh hoạt hay còn gọi là nước cấp sinh hoạt Theo đó,các chỉ tiêu chất lượng nước cấp sinh hoạt được quy định như sau:
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
Bảng 2.1.Chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt theo TCVN 5502 - 2003
vị, độ đục, độ PH, độ cứng, độ hòa tan, hàm lượng các kim loại nặng, kim loại độc trong nước, hàm lượng cacbon hữu cơ có gốc từ dầu mỏ và hợp chất dầu mỏ, hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân hữu cơ trong nước sinh hoạt khi người tiêu dùng sử dụng Các tiêu chuẩn này quy định rõ hàm lượng nồng độ các chất cho phép trong nước
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
b Quy chuẩn nước sinh hoạt quốc gia QCVN 02:2009/BYT
Quy chuẩn này quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước
sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường với mức giới hạn tối đa I để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm và mức II dành cho các mục đính sinh hoạt khác ngoài ăn uống Quy chuẩn này được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân và hộ gia đình khái thác, kinh doanh nước sinh hoạt, bao gồm cả các
cơ sở cấp nước tập trung dùng cho mục đích sinh hoạt; cá nhân hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng cho mục đích sinh hoạt
Bảng 2.2.Tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt theo QCVN 02: 2009/ BYT
Giới hạn tối đa cho phép Mức độ giám
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
cơ quan có thẩm quyền thực hiện Đối mức độ B, Xét nghiệm ít nhất 6 tháng 1 lần với do cơ sở cung cấp nước thực hiện
Đối giám sát đột xuất, khi kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước hoặc điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm; Khi xảy ra sự cố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh nguồn nước;Khi có các yêu cầu đặc biệt khác
2.3.Những vấn đề về nước sạch trong sinh hoạt hiện nay
2.3.1.Hiện trạng nguồn nước trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của ViệnNước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9 Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa
số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh
có thể bị thiếu nước
Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém.Đây là con số được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố
Giám đốc Điều hành UNICEF, bà Ann M Veneman cho biết: “Trên thế giới,
cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây ra và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng Một trẻ
em lớn lên trong những điều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo” Ước tính có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn ở
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
vùng các dân tộc ít người và vùng sâu vùng xa Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu Con số này ở nông thôn là 40% Thiếu nước sạch và vệ sinh ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lượng nước ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em Tình trạng ô nhiếm a-sen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu người dân trong khu vực
Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nước bẩn gây ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em.Hàng ngày có rất nhiều em ở các nước đang phát triển không được đến trường
vì bị các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học nếu không có công trình nước và vệ sinh riêng biệt cho các em
Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nước sạch.Theo đó, trẻ em là người phải trả giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày
Theo sự ước tính thì các cư dân sinhsống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày Ngày nay, do sự phát triểncủa xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngàycũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấphàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn Theo sự ước tính đó thì đến năm 2000, nhucầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7%tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990) Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác củacon người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơilội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
2.3.2.Hiện trạng nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam
2.3.2.1.Hiện trạng nguồn nước tự nhiên cho sinh hoạt
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước tháchthức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệpvà đô thị.Thực trạng ô nhiễm nước mặt : Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưucác con song chính còn khá tốt Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu đã và đang
có nhiềuvùng bị ô nhiễm nặng nề Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùakhô khi lượng nước đổ về các con sông giảm Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiềuchỉ tiêu như : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.nhiễm nước mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã
bị ônhiễm Ví dụ như sông Thị Vải, là con song ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống songĐồng Nai, có một đoạn song chết dài trên 10km Giá trị đo thường xuyên dưới0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04 mg/l) Với giá trị gần bằng 0
nhưvậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống.(Nguồn: Đại học nông lâm
Tp Hồ Chí Minh, 2013)
Hình 2.1: Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vảitrong nhiều năm
Thực trạng ô nhiễm nước dưới đất: Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt
Namcũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu,các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm chomực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ vàđồng bằng song Cửu Long Khai thác nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầmbị dịch bệnh không đúng quy cách
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động nghiêm trọng Ngay tại thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa chính trị quốc gia,
do có địa hình thấp về phía Nam và Đông Nam, toàn bộ nước bề mặt kéo theo chất bẩn về đây, ngấm xuống làm bẩn cả những tầng chứa nước nằm sâu dưới lòng đất Tại khu vực phía Nam và Đông Nam thành phố Hà Nội, nguồn nước ngầm đều bị ô nhiễm nặng Hàm lượng Amôni cao hơn giới hạn cho phép nhiều lần, điển hình là
các giếng của nhà máy nước Pháp Vân chứa NH4+ tới 30mg/l (Bạch Quang Dũng, Đinh Thái Hưng 2012)
Thực trạng ô nhiễm nước biển: Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất
rắnlơ lửng (đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit, colifom ( chủ yếu làđồng bằng song Cửu Long), dầu và kim loại kẽm…Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM, nơi có dân cưđông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước thảisinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sôngở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhưng chỉ có 10% được xửlý) đều không được xử lý,
mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớntại vùng Châu Thổ sông
Hồng và sông Mê Kông (Nguồn Đại học nông lâm Tp.Hồ Chí Minh 2013)
Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sởsản xuất như các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m3 mỗi ngày, chỉ 30% làđược xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải.Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý là hệ thốnghồ trong công viên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của thành phố Người dân trong khu vực này không có đủ nướcsạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu Điều kiện sống của
họ cũng bị đe dọa nghiêmtrọng vì nhiều khu vực trong công viên là nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh.Mặc dù mở cửa từ năm 2002 nhưng công viên Yên Sở không được sử dụng hiệu quảdo sự ô nhiễm và mùi ô uế bốc lên từ hồ Vì vậy, quá
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
trình phát triển vẫn dậm chân tạichỗ Nhiều sông hồ ở phía Nam thành phố như Tô Lịch và Kim Ngưu cũng đang nằmtrong tình trạng ô nhiễm như vậy
2.3.2.2.Hiện trạng nguồn nước sinh hoạt đã qua xử lý
Mặc dù hiện nay, nước từ các nhà máy nước sạch và các cơ sở cấp nước được xem là nước đạt tiêu chuẩn chất lượng Tuy nhiên, các nghiên cứu Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường đã chỉ ra rằng, chất lượng nước của các nhà máy nước cũng còn rất nhiều vấn đề do khả năng xử lý của các cơ sở cấp nước này Theo một cuộc khảo sát các mẫu nước máy của các cơ sở cấp nước thành phố Hà Nội 2012, Viện khoa học khí tượng và thủy văn đã có các kết quả về mức độ an toàn của các mẫu nước máy kiểm tra Dựa trên kết quả phân thích và so sánh với QCVN 01: 2009/BYT về nước ăn uống thì đa số các kim loại trong nước ở mức độ cho phép loại trừ Asen và Chì ở một số điểm là chưa đạt tiêu chuẩn Asen vượt tiêu chuẩn ở 3 điểm: Hoàn Kiếm, Đống Đa 2 và Hoàng Mai, trong đó đáng chú ý là ở quận Hoàng Mai, hàm lượng Asen vượt gấp đôi so với tiêu chuẩn cho phép (Hình 2) Hàm lượng Chì vượt quá giới hạn cho phép trong nước ăn uống gấp 3 lần tại điểm lấy mẫu ở quận Hoàng Mai
Hệ thống cấp nước Hà Nội do Công ty Kinh doanh nước sạch (CTKDNS) Hà Nội quản lý Hệ thống cấp nước Hà Nội được xây dựng từ năm 1894 dưới thời Pháp thuộc Từ đó đến nay, sau hơn một thế kỷ vận hành khai thác, hệ thống đã được mở rộng và nâng cấp nhiều lần CTKDNS Hà Nội, chịu trách nhiệm cấp nước cho 8 quận nội thành là: Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Cầu Giấy, Tây
Hồ, Thanh Xuân, Hoàng Mai và 2 huyện ngoại thành là: Từ Liêm, Thanh Trì CTKDNS Hà Nội số 2, chịu trách nhiệm cấp nước cho quận Long Biên và 2 huyện ngoại thành là: Gia Lâm, Đông Anh CTKDNS Hà Nội có nhiệm vụ sản xuất và
kinh doanh nước sạch theo quy định của UBNDTP Hà Nội (Bạch Quang Dũng, Đinh Thái Hưng 2012)
Mặc dù đã được cải thiện đáng kể, song hệ thống cấp nước khu vực bờ Nam sông Hồng do CTKSNS Hà Nội quản lý với tổng công suất khai thác hơn 400.000 m3/ngđ Mặt khác, do nguồn nước ngầm ở khu vực phía Nam thành phố Hà Nội đã
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt và công nghiệp, nên chất lượng nước sau xử lý của các nhà máy nước ở khu vực phía Nam Hà Nội như: Hạ Đình, Pháp Vân, Tương Mai chưa đạt được quy chuẩn nước ăn uống sinh hoạt của Bộ Y Tế, QCVN
01: 2009/BYT (Bạch Quang Dũng, Đinh Thái Hưng 2012)
2.3.2.3Hiện trạng khai thác nước sạch sinh hoạt ở các khu vực đô thị
Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với 21,59 triệu người( chiếm 26,3% dân
số toàn quốc Có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m3/ ngày Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tổng công suất khoảng 1,95 triệu m3/ngày và 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với
tổng công suất khoảng 1,47 triệu m3/ngày.(ĐH Nông lâm Tp.HCM 2013)
Một số địa phương khai thác 100% nước dưới đất để cung cấp cho sinh hoạt sản xuất như Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc… các tỉnh thành Hải Phòng,
Hà Nam, Nam Định, Gia Lai, Thái Bình… khai thác 100% nước mặt Nhiều địa phương dùng cả hai nguồn nước Tổng công suất nước hiện có của các nhà máy cấp nước có thể cung cấp khoảng 150 lít nước sạch mỗi ngày Tuy nhiên, do cơ sơ hạ tầng xuống cấp lạc hậu nên tỷ lệ thất thoát nước sạch khá cao ( có nơi tỉ lệ lên tới
40%) Nên thực tế nhiều đô thị chỉ có khoảng 40-50 lít/người/ngày (ĐH Nông lâm Tp.HCM 2013)
2.3.2.4Hiện trạng khai thác nước sạch sinh hoạt ở các khu vực đô thị
Đối với khu vực nông thôn VN có khoảng 36.7 triệu người dân được cấp nướcsạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu) Tỉ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinhhoạt lớn nhất ở vùng Nam Bộ chiếm khoảng 66,7%, đồng bằng sông hồng 65,1%đồng bằng sông cửu long 62,1%.Tại Hà Nội, tổng lượng nước dưois đất được khai thác là 1 100 000 m3/ngàyđêm Trong đó, phía nam sông hồng khai thác với lưu lượng 700 000m3/ngày đêm.Trên địa bàn hà nội hiện nay khoảng trên 100 000 giếng khoan khai thác nước kiểuUNICEF của các hộ gia đình, hơn 200 giếng khoan của công ty nước sạch quản lý và500 giếng khoan khai thác nước của các trạm phát
nước nông thôn.(ĐH Nông lâm Tp.HCM 2013)
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
Các tỉnh ven biển miền tây nam bộ như: Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, LongAn do nguồn nước ngọt trên các sông rạch ao hồ không đủ phục vụ nhu cầu của đờisống và sản xuất, vì vậy nguồn nước cung cấp chủ yếu được khai thác từ nguồn dướiđất Khoảng 80% dân số ở 4 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng ,Bạc Liêu, Cà
Mau đang sửdụng nước ngầm mỗi ngày.(ĐH Nông lâm Tp.HCM 2013)
2.3.3.Một số biện pháp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt
-Xử lý bằng lõi lọc nước, máy lọc nước: Đây là biện pháp khá phổ biến hiện
hay ở các hộ gia đình chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nước uống Với các loại máy lọc nước và các lõi lọc nước trên thị trường, các nguồn nước trước khi được sử dụng cho nhu cầu ăn uống được lọc sạch các chất ô nhiễm, các thành phần độc hại khác theo tiêu chuẩn cho phép phù hợp với sức khỏe con người Tuy nhiên chi phí của biện pháp này đối với nhiều gia đình là khá cao đặc biệt là đối với những người dân khu vực nông thôn do chi phí mua máy và chi phí thay lõi lọc thường cao hơn so với khả năng chi trả của người dân
-Xử lý lọc bằng thùng cát: Đây là phương pháp có từ lâu đời để xử lý nước
đặc biệt là ở khu vực nông thôn, với các nguồn nước giếng bị nhiễm đất, nhiễm vàng, đục, phương pháp này có thể khiến nước trong trở lại Tuy nhiên chất lượng nước chủ yếu được cải thiện ở hình thức do bởi cát không thể lọc được các kim loại nặng và một số chất ô nhiễm hòa tan trong nước nhất là trong tình hình hiện nay, nguồn nước bị ô nhiễm bởi các chất hóa học từ công nghiệp nông nghiệp và các sản phẩm gia dụng khác như xà phòng, nước rửa bát, dầu…
-Xử lý bằng túi lọc nước PUR: đây là sản phẩm của công ty P&G và Quỹ
nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF đã hợp tác để cung cấp nước uống an toàn cho trẻ
em ở các nước phát triển Đặc biệt ở Việt Nam, công ty đã huấn luyện người dân cách sử dụng công nghệ mới để làm ra nước sạch và cũng đã phối hợp với Bộ Y tế chuyển giao hơn 220.000 túi lọc nước PUR cho 2.400 gia đình ở 4 huyện tỉnh Đồng Tháp (90 túi/gia đình) Túi lọc nước PUR sử dụng những thành phần hóa học tương
tự như các thành phần dùng trong hệ thống xử lý nước đô thị, tuy nhiên được làm thành một túi lọc nhỏ có tác dụng như một nhà máy lọc nước mini Mỗi túi lọc nhỏ
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
có thể lọc được 10 lít nước bằng cách loại bỏ những cặn bẩn, chất hữu cơ, kim loại nặng, vi khuẩn và tạp chất gây ô nhiễm ra khỏi nguồn nước Nước qua xử lý như vậy đã được kiểm nghiệm tại Viện vệ sinh và an toàn sức khỏe cộng đồng (Vietnam MOH) và được chứng nhận đáp ứng đủ các yêu cầu về nước sạch có thể uống được
-Phương pháp lý học : (1) Phương pháp nhiệt:Khi đun sôi nước ở 1000C
đa số các vi sinh vật bị tiêu diệt còn một số ít khi nhiệt độ tăng lên cao liền chuyển sang dạng bào tử với lớp bảo vệ vững chắc Chúng không bị tiêu diệt dù có đun sôi liên tục trong vòng 15 đến 20 phút Để tiêu diệt được nhóm vi khuẩn bào tử này, cần đun sôi nước đến 1200C hoặc đun theo trình tự sau: đun sôi ở điều kiện bình thường 15 đến 20 phút, để cho nước nguội đi đến dưới 350C và giữ trong vòng hai giờ cho các bào tử phát triển trở lại, sau đó lại đun sôi nước một lần nữa Phương pháp nhiệt tuy đơn giản nhưng tốn năng lượng nên thường chỉ được áp dụng ở quy
mô nhỏ.(2) Khử trùng bằng tia cực tímTia cực tím (UV) là tia bức xạ điện từ có
bước sóng khoảng 4 – 400nm (nanometer) Độ dài sóng của tia cực tím nằm ngoài vùng phát hiện, nhận biết của mắt thường Dùng tia cực tím để khử trùng không làm thay đổi tính chất hóa học và lý học của nước Tia cực tim tác dụng làm thay đổi DNA của tế bào vi khuẩn, tia cực tím có độ dài bước sóng 254nm có khả năng diệt
khuẩn cao nhất.(3) Phương pháp siêu âmDòng siêu âm với cường độ tác dụng
không nhỏ hơn 2W/cm2 trong khoảng thời gian trên 5 phút có khả năng tiêu diệt toàn bộ vi sinh vật trong nước 1.4 Phương pháp lọc Đại bộ phận vi sinh vật có trong nước (trừ siêu vi trùng) có kích thước 1 – 2 µm Nếu đem lọc nước qua lớp lọc có kích thước khe rỗng nhỏ hơn 1 µm có thể loại trừ được đa số vi khuẩn Lớp lọc thường dùng là các tấm sành, tấm sứ có khe rỗng cực nhỏ Với phương pháp này, nước đem lọc phải có hàm lượng cặn nhỏ hơn 2mg/l Khử trùng bằng các phương pháp vật lý, có ưu điểm cơ bản là không làm thay đổi tính chất lý hóa của nước, không gây nên tác dụng phụ Tuy nhiên do hiệu suất thấp nên thường chỉ áp dụng ở quy mô nhỏ với các điều kiện kinh tế kỹ thuật cho phép
-Phương pháp SODISCách thức thực hiện SODIS rất đơn giản, chỉ cần đổ
nước trong vào các chai nhựa trong bằng vật liệu PET (là các chai nước suối như
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
Lavie, Vĩnh Hảo, Coca-cola) và phơi dưới ánh nắng mặt trời trong thời gian khoảng sáu giờ vào thời điểm nắng gắt nhất từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều Các gia đình phải
đi làm sớm có thể phơi từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều Cơ chế tiêu diệt vi sinh vật trong chai diễn ra nhờ tác động cộng hưởng của tia cực tím và tia hồng ngoại có trong ánh sáng mặt trời Phần lớn các vi sinh vật trong nước, đặc biệt là vi khuẩn và
vi rút, rất nhạy cảm với tác động của bức xạ tia cực tím (bước sóng 320-400nm = nano mét) nên cấu trúc ADN trong tế bào của chúng bị phá vỡ Chỉ một số rất ít các động vật đơn bào (protozoa) và ký sinh trùng là không bị tiêu diệt toàn bộ mà
chuyển thành dạng bào tử
Phương pháp SODIS là một phương pháp có nhiều ưu điểm Thứ nhất là đơn giản, dễ áp dụng nên từ người lớn đến trẻ em, ai cũng có thể thực hiện được Thứ hai là ít tốn kém vì SODIS sử dụng nguồn năng lượng vô tận là ánh sáng mặt trời và các chai nhựa trong vốn có trong sinh hoạt hàng ngày hoặc có thể mua tại địa phương với chi phí thấp Thứ ba, phương pháp này giảm tối đa nguy cơ tái nhiễm khuẩn, vì nước đã qua xử lý được đựng trong chai và sau đó rót ra cốc uống trực tiếp Thứ tư, phương pháp này rất thân thiện với môi trường Việc phơi nước uống
sẽ giảm nhu cầu sử dụng chất đốt trong gia đình, từ đó giảm lượng khí nhà kính như CO2, CO thải ra môi trường Vì những ưu điểm này trên, phương pháp SODIS đã đoạt Giải thưởng Quốc tế Dubai năm 2002 và Giải thưởng toàn cầu về năng lượng năm 2004 (theo EAWAG 2006)
Tuy nhiên, phương pháp SODIS cũng có một số hạn chế nhất định: Thứ nhất, phương pháp này chỉ có tác dụng xử lý vi sinh chứ không có tác dụng đối với các hợp chất hoà tan như nước cứng, nước bị nhiễm mặn hay bị nhiễm hoá chất từ sản xuất nông nghiệp hay công nghiệp Thứ hai, đây là phương pháp phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nghĩa là phải có ánh nắng mặt trời mới thực hiện được Tác dụng tiêu diệt vi sinh chỉ đạt hiệu quả trong điều kiện trời nắng to hoặc mưa không liên tục Thứ ba, lượng nước có thể xử lý tương đối thấp Chỉ các chai nhựa trong có dung tích nhỏ hơn hai lít, chiều cao cột nước khi nằm ngang dưới 10 cm mới thích hợp để áp dụng SODIS, vì các tia cực tím không thể xuyên qua cột nước của các chai có dung tích lớn hơn Và một hạn chế nữa của phương pháp SODIS là yêu cầu
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
lượng nước đầu vào phải tương đối trong Nước phải được lắng, lọc rồi mới đổ vào chai để đem phơi
-Xử lý bằng Javent, Cloramin B: là việc sử dụng các hóa chất là nước
Javent và Cloramin B để khử trùng nước, cách làm này khá giống với phương phapsPUR tuy nhiên có những hạn chế nhất định do không thể làm được tất cả mọi công việc về xử lý nước Phương pháp này chủ yếu sử dụng cho các nguồn nước ở các vùng có nguồn nước bị ô nhiễm do bão lũ…
-Phương pháp keo tụ, hóa chất (1) Keo tụ bằng các chất điện ly: Cho
thêm vào nước các chất điện ly ở dạng các ion ngược dấu Khi nồng độ của các ion ngược dấu tăng lên, thì càng nhiều ion được chuyển từ lớp khuếch tán vào lớp điện tích kéo dẫn tới việc giảm độ lớn của thế điện động, đồng thời lực đẩy tĩnh điện cũng giảm đi Nhờ chuyển động Brown các hạt keo với điện tích bé khi va chạm dễ kết dính bằng lực hút phân tử tạo nên các bông cặn ngày càng lớn
(2) Keo tụ bằng hệ keo ngược dấu: Quá trình keo tụ được thực hiện bằng
cách tạo ra trong nước một hệ keo mới tích điện ngược dấu với hệ keo cặn bẩn trong nước thiên nhiên và các hạt keo tích điện trái dấu sẽ trung hòa lẫn nhau Chất keo tụ thường sử dụng là phèn nhôm, phèn sắt, đưa vào nước dưới dạng hòa tan, sau phản ứng thủy phân chúng tạo ra hệ keo mới mang điện tích dương có khả năng trung hòa với các loại keo mang điện tích âm Các ion kim loại mang điện tích dương một mặt tham gia vào quá trình trao đổi với các cation nằm trong lớp điện tích kép của hạt cặn mang điện tích âm, làm giảm thế điện động, giúp các hạt keo dễ liên kết lại với nhau bằng lực hút phân tử tạo ra các bông cặn Mặt khác các ion kim loại tự do lại kết hợp với nước bằng phản ứng thủy phân, các phân tử nhôm hydroxit và sắt hydroxit là các hạt keo mang điện tích dương, có khả năng kết hợp với các hạt keo
tự nhiên mang điện tích âm tạo thành các bông cặn Đồng thời các phân tử Al(OH)3
và Fe(OH)3 kết hợp với các anion có trong nước và kết hợp với nhau tạo ra bông cặn có hoạt tính bề mặt cao Các bông cặn này khi lắng sẽ hấp thụ cuốn theo các hạt keo, cặn bẩn, các hợp chất hữu cơ, các chất mùi vị… tồn tại ở trạng thái hòa tan
hoặc lơ lửng trong nước (Nguồn Quoc Minh ECM 2013)
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
2.4.Tổng quan về sự sẵn lòng chi trả (Willing To Pay – WTP)
2.4.1.Tổng quan về sự sẵn lòng chi trả
Willingness to pay (WTP) – sự bằng lòng trả tiền hay sự sẵn lòng chi trả Trong kinh tế môi trường, nó là một trong những công cụ thường dùng để đo lường lợi ích của môi trường hoặc các dự án, chương trình mà khó có thể đo lợi ích bằng thị trường thông thường
Sự sẵn lòng chi trả của một cá nhân có nghĩa là cá nhân ưa thích mặt hàng nào đó, họ cảm thấy rằng khi có và sử dụng hàng hóa làm cho sự thỏa mãn của họ được đáp ứng Họ sẽ trả tiền cho món hàng đó đúng bằng với lợi ích mà họ kỳ vọng
sẽ nhận được WTP còn gắn liền với nhiều khái niệm khác của kinh tế học Lợi ích biên (MU), xu hướng tiêu dùng cận biên (MCV) Theo quy luận biên giảm dần, khi một cá nhân sử dụng một loại hàng hóa dịch vụ, lợi ích tăng thêm của cá nhân đó sẽ tăng đến một mức nào đó, và giảm dần nếu tiếp tục sử dụng chúng Khi lợi ích đang tăng, người ta có thể sẵn sàng chi trả một khoản tiền cao hơn để thỏa mãn lợi ích nhưng nếu lợi ích đang giảm thì sự bằng lòng chi trả cho hàng hóa sẽ giảm và lượng tiêu dùng cũng sẽ giảm
Nguồn : GS.TS.Nguyễn Văn Song 2010
Đồ thị 2.1.Đường cầu và sự sẵn lòng chi trả
Trong kinh tế học vi mô, WTP được xác định bằng phần diện tích dưới đường cầu phản ánh thặng dư người tiêu dùng (CS – A) và tổng chi phí của người sản xuất và
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
thặng dư của người sản xuất (B) hay WTP = A + B Như vậy WTP bằng phần giá phải trả, giá nhân lượng tiêu dùng,hay đó chính là phần doanh thu của người sản xuất cộng với thặng dư của người tiêu dùng
Theo Sitanon Jesdapipat, Trung tâm sinh thái kinh tế, Trường Đại học Chualalongkorn – Bangkok WTP là một phương pháp dùng để xác định rõ lợi ích nào đó, WTP rất hữu dụng trong trường hợp chúng ta không thể xác định được giá trị của lợi ích thông qua giá cả thị trường Là một phương pháp xác định rõ khoản tiền mà một người bằng lòng trả cho lợi ích mà người đó nhận được
Liên quan đến khái niệm WTP chúng ta còn một khái niệm khác đó là Sự bằng lòng chấp nhận (Willing To Accep – WTA) Nhiều nghiên cứu đánh giá giá trị tài nguyên, môi trường, người ta có thể sử dụng WTP hoặc WTA Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 31
Bảng 2.3.Sự khác nhau giữa sẵn lòng chi trả và bằng lòng chấp nhận Sẵn lòng chi trả (WTP) Bằng lòng chấp nhận (WTA)
-Không có quyền sở hữu -Có quyền sở hữu
-Đạt được sự cải thiện môi trường Bỏ qua sự cải thiện tài nguyên và môi
trường -Không có sự cải thiện nếu không
bằng lòng chi trả
- Có sự hiện hữu của sự cải thiện
(Nguồn PGS.TS.Nguyễn Văn Song 2010)
Trong trường hợp cộng đồng không có quyền sở hữu tài nguyên thì WTP nhằm cải thiện chất lượng môi trường (hay mua chất lượng môi trường) Và sẽ không có sự cải thiện nào nếu như không bằng lòng chi trả Với chỉ tiêu WTA, cộng đồng có quyền sở hữu tài nguyên Cộng đồng lúc này không đóng vai trò là người mua mà là người bán Sự bỏ qua về cải thiện tài nguyên môi trường để có được sự đền bù (thường là đền bù bằng tiền) Mặc dù ở đây có sự hiện hữu của việc cải thiện tàu nguyên, môi trường nhưng do chấp nhận một khoản đền bù nào đó mà bỏ qua sự cải thiện tài nguyên, môi trường
Khái niệm sự sẵn lòng chi trả một cách tổng quát có liên quan đến tổng số tiền mà một người sẵn lòng chi trả Nó cũng đúng cho xã hội Nghĩa là mức sẵn lòng chi trả của xã hội bằng tổng mức sẵn lòng chi trả của các cá nhân trong xã hội
WTP 1 + WTP 2 + WTP 3 + … + WTP n = WTP t
Thông thường đối với thị trường hàng hóa dịch vụ, chúng ta có thể xác định được sự sẵn lòng chi trả một cách tương đối dễ Tuy nhiên nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa công cộng hoặc nửa công cộng và không có giá thị trường như môi trường hoặc các hàng hóa liên quan đến an sinh xã hội thì việc xác định mức WTP là khá khó khăn Bởi vì các hàng hóa này ngoài giá trị sử dụng nó còn liên quan đến ngoại ứng Đó là các giá trị mà người ta được hưởng hay phải gánh chịu nhưng không phải trả tiền hoặc không được đền bù Ngoài ra còn chi phí cơ hội của việc của việc sử dụng hàng hóa đó