4 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM, phươngpháp này được sử dụng nhằm đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dâncho việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đãđược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 2Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy TS Hồ NgọcNinh đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi có những hướng đi cụ thể và đónggóp cho tôi nhiều ý kiến bổ ích giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo xã An Đổ và ngườidân trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình tìmhiểu và nghiên cứu để tôi hoàn thành nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ vàđộng viên tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiềuquốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo thống kê của Viện Môitrường Nông Nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước taphát sinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt, trong đó có khoảng 1,3 triệu m3 nướcthải và có tới 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật như các loại chai lọ đựngthuốc, các gói đựng thuốc Tỉ lệ thu gom rác thải ở Việt Nam đạt khoảng31% Năm 2013, xã An Đổ đã được tiến hành xây dựng ba điểm tập trung rácthải sinh hoạt, mỗi điểm rộng khoảng 30m2 và tiến hành thu gom 2 lần/tháng.Tuy nhiên, việc thu gom rác thải này đã không đảm bảo được lượng rác thảisinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dân không chờ được tới khi thu gomrác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải của gia đình mình theo nhiều hìnhthức khác nhau như chôn lấp hay vứt rác trực tiếp xuống các ao, sông, venđường Bên cạnh đó, lượng rác thải sinh hoạt để quá lâu và quá nhiều dẫn đếntình trạng môi trường trong xã bị ô nhiễm gây ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhỏe của người dân trong xã Trước tình hình đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Xác định mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu
gom rác thải sinh hoạt của người dân xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lýluận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sinhhoạt của người dân (2) Đánh giá thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt trênđịa bàn xã và xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chấtlượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương (3) Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với cải thiện chấtlượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương (4) Đề xuất một sốgiải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia vào nâng cao chất lượng
Trang 4dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt của địa phương trong thời gian tới.
Đề tài đã tiến hành sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: (1)Phương pháp thu thập số liệu (Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, Phươngpháp thu thập số liệu sơ cấp) (2) Phương pháp phân tích số liệu (Phươngpháp thống kê mô tả, Phương pháp thống kê so sánh ) (3) Phương pháp tổnghợp và xử lý số liệu (4) Phương pháp tạo dựng thị trường CVM, phươngpháp này được sử dụng nhằm đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dâncho việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa ban
xã An Đổ và đã đạt được một số kết quả như sau: Đề tài đã hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thảisinh hoạt của người dân Qua quá trình điều tra tìm hiểu đề tài đã đánh giáđược thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã và xác định đượcmức WTP của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thảisinh hoạt ở địa phương Mức WTP trung bình của người dân là 10.367đồng/người/tháng, trong đó, mức WTP cao nhất là 20.000 đồng/người/tháng,mức WTP thấp nhất là 3000 đồng/người/tháng mức đóng góp này đúng bằngmức đóng góp hiện tại đang thu gom ở một số thôn Nghiên cứu đã phân tíchđược các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP của người dân đối với việc cải thiệnchất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương, các yếu tố ảnhhưởng đến mức WTP bao gồm: thu nhập, lượng rác, nhân khẩu, nghề nghiệp( công nhân viên chức và về hưu) Từ kết quả ước lượng hàm hồi quy đa biến
về các yếu tố ảnh hưởng đến WTP cho thấy, trong điều kiện các yếu tố kháckhông đổi, khi thu nhập tăng thêm 1 triệu đồng/người/tháng thì mức WTPtăng thêm khoảng 1123 đồng ở mức ý nghĩa thống kê 1% Khi lượng rác tăngthêm 1kg thì mức WTP tăng lên khoảng 1725 đồng ở mức ý nghĩa 1% Trongkhi đó, khi nhân khẩu tăng thêm 1 người thì mức WTP giảm khoảng 523đồng và có ý nghĩa ở mức 10% Điều này phù hợp với những người dân ởvùng nông thôn vì số tiền cần đóng cho dịch vụ này chia theo tỷ lệ đầu người
Trang 5nên mức mong muốn chi trả sẽ giảm dần theo đầu người trong các hộ Đối vớinhững người là công nhân viên chức đang làm việc hoặc đã về hưu thì mứcWTP của họ cao với mức ý nghĩa ở mức 1% Như vậy kết quả ước lượng của
mô hình hồi quy phản ánh tương tư như kết quả phân tích thống kê mô tả vềcác yếu tố ảnh hưởng đến mước WTP của hộ đối với việc cải thiện chất lượngdịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã An Đổ
Một số giải pháp tăng cường và nâng cao chất lượng dịch vụ thu gomrác thải sinh hoạt trên địa bàn xã như sau: (1) Tăng cường giáo dục và nângcao nhận thức của người dân trong vấn đề về môi trường và dịch vụ thu gomrác thải: mở các lớp tập huấn về môi trường và rác thải cho cán bộ và ngườidân trong xã thường xuyên, định kỳ; sử dụng các khẩu hiệu, băng rôn đểtuyên truyền nhắc nhở người dân; phát huy vai trò của các đoàn hội như hộiPhụ Nữ, Hội Thanh Niên… trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thứccho người dân (2) Nâng cao thu nhập và mức sống của người dân: kết hợpvới các công ty trong việc đào tạo và tuyển dụng vào những công việc và vịtrí phù hợp với trình độ và năng lực (3) Về cơ chế chính sách : Xây dựng cơchế khen thưởng đối với những người, những đoàn hội tích cực trong việc thugom xử lý rác thải bảo vệ môi trường và xử phạt đối với những cá nhân vàđoàn hội trọng việc phá hoại môi trường không tuân thủ quy định về thu gom
và xử lý rác
Qua quá trình điều tra, mức WTP của người dân trong xã trung bình là10,367 đồng/người/tháng thấp hơn mức giá công ty Ba An quy định cần phảitrả là 4,283 đồng/người/tháng Vì vây, để người dân trong xã được tham giavào dịch vụ mới này thì cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước, các đơn vị chứcnăng, các tổ chức kinh tế… nhằm huy động nguồn vốn cho việc bù đắp khoảnthâm hụt để dịch vụ mới được diễn ra nhằm nâng cao đời sống và chất lượngcuộc sống cho người dân trong xã
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ DỒ, ĐỒ THỊ x
DANH MỤC CÁC TỪ TẮT VÀ KÝ HIỆU xi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
2.1 Cơ sở lý luận về mức sẵn lòng chi trả 6
2.1.1 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học 6
2.1.2 Khái niệm về rác thải và rác thải sinh hoạt 8
2.1.3 Các yếu ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sử dụng dịch vụ thu gom rác thải 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Kinh nghiệm phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt có hiệu quả ở một số nước trên thế giới 12
Trang 72.2.2 Kinh nghiệm quản lý rác thải sinh hoạt của một số địa phương ở Việt
Nam 14
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu xử lý, thu gom rác thải sinh hoạt ở một số nước và các địa phương khác ở Việt Nam 20
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 21
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 28
3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 29
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 30
3.2.4 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM- Đánh giá ngẫu nhiên( contingent valuation method(CVM) 30
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã An Đỗ 36
4.1.1 Thực trạng hoạt động của thu gom rác thải sinh hoạt ở xã An Đổ 36
4.1.2 Đánh giá nhu cầu cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải 39
4.1.3 Thực trạng sử dụng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt của người dân xã An Đổ 42
4.2 Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt xã An Đổ 43
4.2.1 Mức sẵn lòng chi trả của các hộ cho cải thiện dụng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 43
Trang 84.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố tới mức sẵn lòng chi trả của các hộ dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã An Đổ
46
4.2.3 Những khó khăn trong việc cung cấp và nhu cầu sử dụng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 59
4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu 60
4.3.1 Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề về môi trường và dịch vụ thu gom rác thải 60
4.3.2 Nâng cao thu nhập và mức sống của người dân trong xã 61
4.3.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 62
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Phụ Lục 1 70
Phụ lục 2 72
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của xã An Đổ qua các năm 25
Bảng 3.2 Tình hình môi trường xã An Đỗ 27
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu kinh tế của xã năm 2012 - 2014 28
Bảng 3.4 Cơ cấu mẫu điều tra 29
Bảng 4.1 Công tác phục vụ thu gom và xử lý rác thải 37
Bảng 4.2: Đánh giá mong muốn của người dân về chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 41
Bảng 4.3: Mức sẵn lòng chi trả của các hộ cho cải thiện dụng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 44
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mức thu nhập đến WTP cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt xã An Đổ 47
Bảng 4.5 Mối quan hệ giữa lượng rác và mức WTP 51
Bảng 4.6 Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và mức WTP 54
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức WTP 55
Bảng 4.8 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến WTP 57
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ DỒ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Đường cầu 6Hình 2.2: Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất 7
Đồ thị 3.1 Cơ Cấu Lao Động Làm Việc Theo Linh Vực Kinh tế năm 2014 .28
Sơ đồ 4.1 Thu gom rác thải 36
Đồ thị 4.1 Mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình 46
Đồ thị 4.2 Mối quan hệ giữa thu nhập và mức WTP trung bình của các hộ giađình cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 48
Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của nhân khẩu/hộ đến mức WTP 50
Đồ thị 4.4 Mối quan hệ giữa lượng rác và mức WTP 53
Trang 11TNHH XD- TM & MT Trách nhiệm hữu hạn xây dựng- thương mại và môi
trường
Trang 12PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiềuquốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Sự phát triển mạnh mẽ của cácngành công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống ngườidân tăng lên Các nhu cầu thiết yếu của con người cũng tăng vì vậy các nhucầu, dịch vụ cũng phát triển, không chỉ ở các khu vực thành thị mà còn cả ởnông thôn Nhưng điều này đã trở thành trở ngại lớn cho môi trường, gây ảnhhưởng trực tiếp tới môi trường sống của người dân Vấn đề rác thải không chỉđược Đảng và Nhà nước quan tâm ở các khu vực đông dân, các khu đô thị,thành phố lớn hay các khu dân cư gần các nhà máy xí nghiệp mà còn ở cả cácvùng nông thôn Theo công ty khoa học kỹ thuật và môi trường Minh Việttrung bình 1 người Việt Nam thải ra khoảng 200kg rác thải một năm Trênthực tế, việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắngnhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi Hiện nay, ở khu vực đô thị mớichỉ thu gom đưa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60-65%, còn lại rácthải xuống ao hồ, sông ngòi, bên đường Còn ở khu vực nông thôn, rác thảihầu như không được thu gom, những điểm vứt rác tràn ngập khắp nơi Ở khuvực khám chữa bệnh, mặc dù đã có nhiều bệnh viện đạt được những tiến bộđáng kể trong việc cải thiện điều kiện môi trường theo hướng xanh, sạch, đẹpcùng với những thiết bị hiện đại để phục vụ tốt cho việc khám chữa bệnh củanhân dân, song vẫn còn những bất cập trong việc thu gom và tiêu huỷ rác thải,nhất là chất thải có các thành phần nguy hại Đây cũng chính là nguy cơ tiềm
ẩn đối với môi trường và con người Theo thống kê của Viện Môi trườngNông Nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước ta phátsinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt, trong đó có khoảng 1,3 triệu m3 nước thải
Trang 13và có tới 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật như các loại chai lọ đựngthuốc, các gói đựng thuốc Tỉ lệ thu gom rác thải ở Việt Nam đạt khoảng31% Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải lại kém hiệu quả đã và đang gây dưluận trong cộng đồng, đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặcbiệt là ngành môi trường Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này không phải mộtsớm một chiều, vì chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập
và nhất là thiếu giải pháp đồng bộ
Quy định của UBND tỉnh Hà Nam (2013), lượng rác thải sinh hoạt ởvùng nông thôn được tính ở mức 0,1kg/người/ngày, ở thị trấn là 0,4kg/người/ngày Tỉnh Hà Nam đã có 102 bể trung chuyển rác đã được xây dựng và đưavào vận hành Khối lượng rác được các doanh nghiệp thu gom, vận chuyểntrong năm 2013 là gần 40.000 tấn và 3 tháng đầu năm 2014 là hơn 12.000tấn Sau hơn một năm thực hiện Quyết định của UBND tỉnh Hà Nam về "Quyđịnh công tác tổ chức quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạttrên địa bàn tỉnh", khối lượng rác thải trên địa bàn tỉnh được thu gom, vậnchuyển và xử lý đã tăng lên rất nhiều Các tổ thu gom rác được thành lập vàhoạt động hiệu quả Tuy nhiên, công tác này hiện vẫn gặp nhiều khó khăn.Lượng rác thải sinh hoạt của người dân tăng vượt mức so với chỉ tiêu (Theo
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2014)
Xã An Đổ huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam là khu vực nông thôn với việcsản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của người dân trong xã Nhữngnăm gần đây, đời sống của người dân tăng cao lượng rác thải sinh hoạt mỗingày của người dân cũng tăng lên rất nhiều Để xử lý lượng rác sinh hoạt củagia đình, người dân đã tự tiêu hủy thông qua hình thức chôn lấp hoặc trưc tiếpvứt rác xuống các sông, ao hoặc vứt trực tiếp trên đường, điều này đã gâynguy hại rất lớn cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe củangười dân trong xã
Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, năm 2013 xã đã tiến hành
Trang 14xây dựng ba điểm tập trung rác thải sinh hoạt, mỗi điểm rộng khoảng 30m2 vàtiến hành thu gom 2 lần/tháng Tuy nhiên, việc thu gom rác thải này đã khôngđảm bảo được lượng rác thải sinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dânkhông chờ được tới khi thu gom rác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải củagia đình mình theo nhiều phương thức khác nhau Lượng rác thải sinh hoạt đểquá lâu và quá nhiều dẫn đến tình trạng môi trường trong xã bị ô nhiễm.Trước tình hình đó, một vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải tiến hành thu gomrác thải sinh hoạt thường xuyên và liên tục, mỗi ngày một lần để đảm bảo môitrường và sức khỏe cho chính người dân trong xã.
Vậy thực trạng thu gom rác thải của người dân trong xã đã diễn ra nhưthế nào? Những yếu tố nào tác động ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trảcủa người dân đối với việc thu gom rác thải thường xuyên, liên tục? Giải phápnào phù hợp để tăng số hộ sử dụng dịch vụ thu gom rác thải thường xuyên?
Để giải quyết những vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định
mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt của người dân xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt vàxác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụnày trên địa bàn xã An Đỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, từ đó đề xuất giảipháp nhằm nâng chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bànnghiên cứu trong thời gian tới
Trang 15gom rác thải sinh hoạt ở địa phương.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dânđối với cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương
Đề xuất một số giải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia vàonâng cao chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt của địa phương trongthời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụthu gom rác thải sinh hoạt, từ đó xác định nhu cầu và mức sẵn lòng chi trả củangười dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ này ở xã An Đỗ, huyện Bình Lục,tỉnh Hà Nam Đối tượng khảo sát gồm người dân đang sinh sống và làm việctrên địa bàn xã, công ty thu gom rác thải, và cán bộ địa phương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ sẵn lòng chi
trả của người dân trong xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đối với việccải thiện dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt thường xuyên Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn lòng chi trả của người dân trong xã đối với dịch
vụ thu gom rác thải và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụngdịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương
Phạm vi về không gian : Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã An
Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu của đề tài
được thu thập trong giai đoạn 2012-2014 Số liệu sơ cấp tiến hành thu thậpnăm 2015 để phục vụ nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt
Trang 16của người dân trong xã An Đỗ đang diễn ra như thế nào?
Xác định mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạtcủa người dân trong xã?
Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dâncho cải thiện dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa bàn nghiên cứu?
Đâu là những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụthu gom rác thải sinh hoạt của người dân trong xã?
Trang 17PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về mức sẵn lòng chi trả
2.1.1 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
a Cầu người tiêu dùng
Theo David Begg (2009), cầu của người tiêu dùng về một hàng hóađược định nghĩa như là mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và lượng cầu của hànghóa tại một thời điểm Mọi điểm trên đường cầu (D) của hàng hóa biểu diễnquan hệ giữa giá cả và lượng cầu tương ứng thể hiện tất cả các mức độ sẵnsàng trả tiền của người tiêu dùng đối với hàng hoá đó Giá cả và lượng cầutồn tại mối quan hệ nghịch biến, lượng cầu hàng hóa tăng lên khi giá cả hànghóa thấp đi
Xem xét đường cầu của sản phẩm A tại hình 1, người tiêu dùng sẽ mua
Q1 đơn vị sản phẩm với mức giá 1 đơn vị sản phẩm là P1 Người tiêu dùng sẽmua Q2 đơn vị sản phẩm nếu mức giá 1 đơn vị sản phẩm là P2 Người tiêudùng sẽ mua thêm lượng hàng hóa là (Q2 – Q1) đơn vị nhưng giá bán sảnphẩm cũng đã giảm từ P1 xuống P2
Hình 2.1: Đường cầu
b Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
Xem xét sản phẩm A có đường cầu (D) và đường cung (S) như hình 2.Tại điểm cân bằng thị trường M là điểm cắt của đường cung và đường cầu,
Như vậy, khi số lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên, sự sẵn sàng trả tiền của người tiêu dùng cho mỗi đơn vị hàng hóa mua thêm sẽ giảm xuống Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật vềhữu dụng cận biên giảm dần
Trang 18mức giá cân bằng thị trường của sản phẩm A là P* và sản lượng cân bằng thịtrường là Q*
Đối với người tiêu dùng, họ nhận được lợi ích (quy ra tiền) khi mua 1sản phẩm A bằng đúng số tiền họ bằng lòng bỏ ra để mua nó Như vậy, tạihình 2, khi người tiêu dùng mua Q* sản phẩm A thì lợi ích họ nhận được làdiện tích hình OP1MQ* Chi phí thực tế bỏ ra để mua Q* sản phẩm A là diệntích hình P*MQ*O Lợi ích ròng mà người tiêu dùng nhận được khi sử dụngsản phẩm A là diện tích tam giác P*MP1 Lợi ích ròng này chính là thặng dưtiêu dùng Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêudùng nhận được khi tiêu dùng hàng hóa và những chi phí thực tế để có đượclợi ích đó
c Mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
Người tiêu dùng thường chi tiêu cho sản phẩm A họ muốn tiêu dùngvới mức giá thị trường là P* Tuy nhiên, tùy thuộc sở thích tiêu dùng của cánhân người tiêu dùng, họ chấp nhận chi tiêu với mức giá cao hơn giá thị
Trang 19trường để có được sản phẩm A Tại hình 2, mức giá cao nhất người tiêu dùngchấp nhận bỏ ra để mua sản phẩm A là P1 Như vậy, mức sẵn lòng chi trả(WTP) chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng, là thước đo sự thỏa mãn củakhách hàng Người tiêu dùng mua Q* sản phẩm A với giá trị của mỗi đơn vịsản phẩm A chính là giá trị của sản phẩm cuối cùng là Q* Người tiêu dùngđược hưởng thặng dư tiêu dùng vì họ chỉ phải trả một lượng giá trị là Q* đồngđều cho từng đơn vị hàng hóa đã mua Theo quy luật về hữu dụng cận biêngiảm dần, mức độ thỏa mãn của khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm A giảmdần từ đơn vị sản phẩm thứ 1 đến đơn vị sản phẩm thứ Q* Mức thỏa dụngthặng dư người tiêu dùng sẽ nhận được từ đơn vị sản phẩm thứ 1 đến đơn vịsản phẩm thứ Q*-1 Do vậy, đường cầu được mô tả giống như đường sẵn lòngchi trả của người tiêu dùng Miền nằm dưới đường cầu, bao gồm chi phíngười tiêu dùng bỏ ra để mua sản phẩm theo giá thị trường và thặng dư ngườitiêu dùng nhận được khi sử dụng sản phẩm, đo lường tổng giá trị của WTP.Hay nói cách khác:
2.1.2 Khái niệm về rác thải và rác thải sinh hoạt
a) Khái niệm về rác thải
Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống được thải ra từ các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác như khámchữa bệnh, vui chơi giải trí của con người Cùng với mức sống của nhân dân
Trang 20ngày càng được nâng cao và công cuộc công nghiệp hoá ngày càng phát triểnsâu rộng, rác thải cũng được tạo ra ngày càng nhiều với những thành phầnngày càng phức tạp và đa dạng( theo Công ty Khoa học kỹ thuật & môitrường Minh Việt)
b) Khái niệm về rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt độngcủa con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thànhphần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chấtdẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vải, giấy, xác động vật ( TrầnHiếu Nhuệ, 2008)
c) Khái niệm về môi trường
Theo bài giảng Môi trường xây dựng giao thông của Trịnh Xuân Báu,
2012, trường Đại học Giao thông vận tải Môi trường là một khái niệm rấtrộng và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuỳ thuộc vào từngđối tượng và mục đích nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái niệm cụ thể
về môi trường Đứng ở mọi phương diện, chúng ta thấy rằng môi trường làtập hợp tất cả các thành phần của thế giới (các yếu tố vô sinh và hữu sinh,các dạng vật chất và phi vật chất) tác động đến sự tồn tại và phát triển củasinh vật
Đối với cuộc sống của con người, môi trường bao gồm toàn bộ các hệthống tự nhiên, các hệ thống do con người tạo ra và các điều kiện kinh tế - xãhội tác động đến sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng vàtoàn bộ loài người trên hành tinh
Theo điều 3 luật Bảo vệ môi trường, 2014, môi trường được hiểu nhưsau: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tácđộng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Theo UNEP: “ Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh
Trang 21học, kinh tế, xã hôi, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”.
Theo Masn và Langenhim, 1957: “ Môi trường là tổng hợp các yếu tốtồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật”
Theo Joe Whiteney, 1993: “ Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể,
có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất,nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng Ozone, sự đa dạng sinhhọc về các loài”
d) Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Theo Trịnh Xuân Báu, 2012, ô nhiễm môi trường đã và đang là hiểm hoạđối với sinh giới và con người trên trái đất Nguyên nhân của ô nhiễm chủ yếu
là do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môitrường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môitrường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự pháttriển của các hệ sinh thái hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tácnhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạngnăng lượng như nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, bức xạ
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàmlượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tácđộng xấu đến con người, sinh vật và môi trường sinh thái
Ở nước ta, khái niệm ô nhiễm môi trường được định nghĩa tại điều 3luật Bảo vệ môi trường, 2014 như sau: “Ô nhiễm môi trường là sự biếnđổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹthuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến conngười và sinh vật”
Trang 222.1.3 Các yếu ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sử dụng dịch vụ thu gom rác thải
Thu nhập của người dân: Khi mức thu nhập cao người dân sẽ hướng tớinhững nhu cầu cao hơn trong cuộc sống Từ những nhu cầu thiết yếu như ănmặc tới những nhu cầu cao hơn như có một môi trường trong lành để có sứckhỏe đảm bảo Những người có thu nhập thấp nhu cầu đầu tiên của họ khôngphải là môi trường mà là các nhu cầu trước mắt để phục vụ cuộc sống hằngngày Đối với những người có thu nhập thấp họ sẽ không quan tâm nhiều đếnvấn đề môi trường vì đó chưa phải là nhu cầu thiết yếu của họ Đây thường là
xu hướng chung của con người vì thế mức sẵn lòng chi trả của người dân chodịch vụ thu gom rác thải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thu nhập Khi thunhập cao mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sẽ cao Thu nhậpthấp mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sẽ thấp
Trình độ học vấn của người được phỏng vấn: liên quan trực tiếp tớinhận thức của người dân về vấn đề rác thải, môi trường và sức khỏe Khi trình
độ học vấn càng cao con người sẽ nhận thức được tầm quan trọng của môitrường và hiểu biết ảnh hưởng trực tiếp của rác thải tới sức khỏe của họ nhưthế nào Thế nên trình độ học vấn càng cao thì mức sẵn lòng chi trả cho dịch
vụ thu gom rác thải càng cao
Hình thức chi trả và chất lượng của dịch vụ: Đây là một yếu tố rất quantrọng chất lượng dịch vụ tốt thì người dân sẽ sẵn lòng chi trả cao Còn chấtlượng dịch vụ trung bình hoặc kém thì người dân sẽ sẵn lòng chi trả tươngứng Dù người dân có tiền hoặc có nhận thức tốt thì cũng sẽ không chi trả caocho một dịch vụ không tốt Người xưa đã có câu “Tiền nào của đấy” điều nàyhoàn toàn đúng với mọi dịch vụ và không ngoại lệ với dịch vụ thu gom rácthải Hình thức chi trả thuận tiện hay làm cho người dân tin tưởng người thìngười dân sẽ yên tâm hơn khi đóng góp
Trang 23a) Kinh nghiệm thu gom rác thải có hiệu quả ở Singapore
Singapore là nước đô thị hóa 100% và được coi là đô thị sạch nhất thếgiới Để làm được điều này, Singapore đã đầu tư cho công tác thu gom, vậnchuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắclàm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thugom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được đưa về cácnhà máy tái chế lại, còn các chất thải khác được đưa về các nhà máy để thiêuhủy
Singapore có hai thành phần tham gia chính vào thu gom và xử lý rácthải: tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường và các công ty tưnhân Tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường chủ yếu thu gomrác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và các công ty Còn hơn 300 công ty tưnhân chuyên thu gom và xử lý rác thải công nghiệp và thương mại, nhiều nămqua đã hình thành một cơ chế thu gom rác thải rất hiệu quả Tất cả các công tynày đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếpcủa Sở khoa học công nghệ và môi trường Việc thu gom rác được tổ chứcđấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện côngviệc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm
Việc thu gom và vận chuyển rác ở Singapore được thực hiện bằng cácloại xe hiện đại, gọn nhẹ Hiện Singapore có 5 nhà máy xử lý rác Trong quátrình đốt rác, khói, bụi được xử lý bằng hệ thống lọc trước khi ra ống khói
Trang 24Ngoài ra, các hộ dân và các công ty còn được khuyến khích tự thu gom và xử
lý rác thải để có thể giảm được chi phi
Bộ khoa học công nghệ và môi trường quy định chi phí thu gom và vậnchuyển rác thải cho các hộ dân, thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí
17 đô la Singapore(SD)/tháng, thu gom rác thải gián tiếp tại các khu dân cưthì phải trả phí thu gom 30SD/ngày đối với thùng 170 lít và 175SD/ngày đốivới thùng 1000 lít
b) Kinh nghiệm thu gom rác thải có hiệu quả ở Nhật Bản
Tại Nhật Bản, có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm trong quản lý rácthải: rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước còn chấtthải từ các công ty, nhà máy thì giao cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty
do chính quyền địa phương chỉ định xử lý Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtcông nghiệp phải tự chịu trách nhiệm tái chế các sản phẩm cũ của mình, cònngười tiêu dùng cũng phải có trách nhiệm chi trả việc vận chuyển và tái chếcho các sản phẩm điện tử do họ thải ra
Khi mua sản phẩm mới, nếu có đồ cũ, người tiêu dùng sẽ được công tytrả tiền cho khoản rác thải điện tử họ có Vì thế, hầu hết các công ty sản xuất
đồ dùng điện tử như: Sony, Toshiba của Nhật Bản đều có nhà máy tái chếriêng Tại các thành phố lớn như: Tokyo, Osaka chính quyền mỗi quận đềuđầu tư xây dựng một nhà máy chế biến rác thải có công suất chế biến từ 500-
1000 tấn rác/ngày, với kinh phí từ 40-60 triệu USD/nhà máy
Ở các thành phố, rác được phân loại triệt để đến mức nhỏ nhất Dọc 2bên đường ở Nhật Bản, các thùng rác được đặt hai bên vệ đường Trên cácthùng rác này có vẽ hình những loại rác được phép bỏ vào đó, mỗi thùng có
ký hiệu, màu sắc riêng đê người đi đường dễ phân biệt
Do chính phủ Nhật Bản khuyến khích tận dụng nguồn tài nguyên từ rácthải tái chế, nên dù mỗi năm thải ra khoảng 55-60 triệu tấn rác, nhưng từ năm
1991 chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa tới bãi chôn lấp, còn phần lớn được
Trang 25đưa đến các nhà máy tái chế.
Nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác như một nguyênliệu sản xuất Chính phủ từng hỗ trợ 30USD/máy để người dân mua máy tự
xử lý rác thải hữu cơ làm phân composit bón cho cây trồng Những loại chấtthải không tái chế được và có hại cho môi trường thì sẽ được xử lý vào việclấn biển
Từ những kinh nghiệm của Singapore và Nhật Bản có thể rút ra một sốkinh nghiệm cho việc thu gom và xử lý rác thải ở xã An Đổ huyện Bình Lụctỉnh Hà Nam để có thể đạt được những kết quả tốt như:
Xây dựng quy chế quản lý tốt nhằm huy động sự tham gia của cộngđồng trong quản lý rác thải ở nông thôn
Khuyến khích người dân tham gia vào quá trình thu gom, phân loại rácthải sinh hoạt và có các biện pháp chế tài trong quản lý rác thải ở nông thôn
Đưa ra các cơ chế nhằm hỗ trợ phát triển các tổ chức dịch vụ môitrường nông thôn
Nâng cao năng lực quản lý của địa phương bằng cách thực hiện việcphân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các cấp trong quản lý chất thảinông thôn
Tuyên truyền và phổ biến về quyền hạn, trách nhiệm của công đồngtrong quản lý rác thải, đồng thời huy động mọi nguồn lực đóng góp về mặt tàichính và nhân lực
Xây dựng và thực hiện các chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật,hướng dẫn tổ chức dịch vụ, kỹ năng giám sát cộng đồng dân cư trong quản lýrác thải sinh hoạt ở nông thôn
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý rác thải sinh hoạt của một số địa phương ở Việt Nam
a) Kinh nghiệm quản lý, thu gom rác thải sinh hoạt ở Ninh Thuận
Tham luận tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2012 ngành
Trang 26Xây dựng tại Ninh Thuận Ninh Thuận có diện tích 3.358km2, gồm 1 thànhphố và 5 huyện, dân số 571 nghìn dân Với tiềm năng thiên nhiên sẵn có, mộtchiến lược phát triển rõ ràng, chính sách thu hút đầu tư tốt và sự quan tâm đặcbiệt của Chính phủ, Ninh Thuận đã và đang có những bước đi cụ thể để trởthành Trung tâm năng lượng sạch của Quốc gia Công tác quản lý nhà nướctrong lĩnh vực xây dựng có những chuyển biến rõ rệt trong đó công tác thugom và xử lý rác thải là một trong những vấn đề mà tỉnh đặc biệt quan tâmgiải quyết trong những năm qua Sau 9 năm thực hiện mô hình quản lý và thugom rác thải( năm 2002-2011) có thể nói mô hình này đã và đang phát huyhiệu quả và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Từ tỉ lệ thu gomchỉ đạt 45%, chủ yếu xử dụng giải pháp chôn lấp năm 2002, đến năm 2011 tỉ
lệ thu gom và xử lý rác thải đã đạt 92%, trong đó 90% rác thải được xử lý vàtái sử dụng, tỉ lệ chôn lấp chỉ chiếm 5-10%
Có được kết quả như trên là do tỉnh đã quyết định chuyển đổi kịp thời
mô hình quản lý thu gom và xử lý Từ khi tái lập tỉnh năm 1992, công tác thugom xử lý rác được UBND tỉnh giao cho Công ty Công trình đô thị - một đơn
vị hoạt động công ích trực thuộc Sở Xây dựng, chịu trách nhiệm thực hiệncông tác này Hoạt động đơn vị này chủ yếu được duy trì bằng ngân sách nhànước trên cơ sở dự toán chi cho các hoạt động hàng năm Với mô hình này,Công ty Công trình đô thị chỉ đủ chi phí cho các hoạt động thu gom đưa rác
về bãi chôn lấp tập trung chứ không có nguồn tăng thêm để tăng biên chế hoạtđộng, đầu tư sử dụng công nghệ mới để xử lý các bãi rác chôn lấp hoặc đầu tưcác dây chuyền xử lý rác thải hiện đại Vì thế dẫn đến tình trạng tỉ lệ thu gomrác thải đạt rất thấp ( 45%) chủ yếu tập trung thu gom xử lý ở địa bàn TP.Phan Rang - Tháp Chàm, địa bàn các huyện hầu như không được kiểm soát
do phương tiện vận chuyển và con người không đủ, tình trạng ô nhiễm môitrường ở các bãi rác trung chuyển trong thành phố không được xử lý, rác thảichỉ được thu gom và chôn lấp chứ không được xử lý dẫn đến tình trạng quá
Trang 27tải ở các bãi chôn lấp gần thành phố gây ô nhiễm và tạo ra phản ứng trongnhân dân; để giải quyết vấn đề này ngân sách địa phương lại phải tiếp tục hỗtrợ để đầu tư xử lý một phần các bãi chôn lấp tránh ảnh hưởng môi trường vàđầu tư xây dựng các bãi chôn lấp mới.
Đến năm 2002 Công ty TNHH XD - TM&SX Nam Thành đăng ký dự
án đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải trên địa bàn bằng nguồn vốn doanhnghiệp Ngoài việc chỉ đạo các ngành tạo điều kiện cho nhà đầu tư hoàn thànhcác thủ tục đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng UBND tỉnh còn chỉ đạo ngànhxây dựng tham mưu đề xuất mô hình quản lý và thu gom rác thải trên địa bàn
để khai thác và đáp ứng mục tiêu của dự án Sau một năm tập trung, nhà máy
xử lý rác thải được xây dựng hoàn thành, công tác thu gom và xử lý rác thảicũng đã được SXD tham mưu UBND tỉnh chuyển đổi mô hình theo hướng:chuyển toàn bộ bộ phận quản lý thu gom rác thải của Công ty Công trình đôthị từ doanh nghiệp nhà nước sang Công ty Cổ phần; toàn bộ hoạt động thugom xử lý rác thải giao cho Công ty Nam Thành đảm nhận, tỉnh thanh toànchi phí thu gom rác thải cho Công ty Nam Thành thông qua hợp đồng thỏathuận với UBND các huyện thành phố
Hình thức thu gom: Công ty Nam Thành thu gom rác ở các trục đườngchính; UBND các Phường tổ chức thu gom rác tại các trục đường phụ, hẻmtheo các đội, rác thu gom không cần phân loại, thu gom bằng phương tiện phổthông xe đẩy, thu gom theo giờ nhất định mỗi ngày 2 lần, sau đó đưa về cácđiểm tiếp nhận rác tập trung theo giờ ấn định và được Công ty Nam Thành tổchức thu gom theo quy trình “không tiếp đất” Kinh phí cho hoạt động thugom của các đội này được lấy từ nguồn thu phí thu gom rác của các hộ giađình Hoạt động của nhà máy xử lý rác thải Nam Thành có thể nói là mộttrong những nhà máy xử lý rác hiệu quả nhất hiện nay Biên chế nhà máy có
396 cán bộ công nhân viên chức, mức thu nhập bình quân hiện nay:3.900.000đ/ người/tháng Nhà máy có 6 phân xưởng, 2 kho với tổng diện tích
Trang 28xây dựng 0,97ha/5, 2ha chiếm 18,6% diện tích đất nhà máy Công suất tối đacủa nhà máy là 150 tấn rác /ngày.
Quy trình xử lý rác của Công ty Nam Thành là quy trình khép kín và rấthiệu quả: Rác từ các địa phương trong tỉnh được thu gom bằng quy trình thugom rác không tiếp đất Vận chuyển rác bằng phương tiện chuyên dùng đếnnhà tiếp nhận Tại đây, bộ phận kỹ thuật sẽ phun các chế phẩm vi sinh phânhủy, vi sinh khử mùi, sau đó được chuyển đến hệ thống tách lựa để phân loạihữu cơ lớn, hữu cơ nhỏ, đất, cát, xà bần, nylon… tách đất, cát, xà bần…(chiếm từ 5-10%) chuyển đến bãi chôn lấp hợp vệ sinh Thành phần hữu cơđược chuyển đến các hầm ủ chín, giảm ẩm và chuyển đến phân xưởng IV,phân xưởng V có nhiệm vụ sản xuất phân hữu cơ vi sinh theo đơn đặt hàngcủa người tiêu thụ Thành phần vô cơ (nylon các loại) được chuyển đến phânxưởng II để sản xuất hạt nhựa, phôi nhựa, bao bì, gạch cao su, ván cốp-pha…Hạt nhựa từ phân xưởng II sẽ được chuyển sang phân xưởng III để sản xuất
và in ấn bao bì đựng phân bón do công ty sản xuất
Mô hình thu gom và xử lý rác thải này đã mang lại những hiệu quả rõ rệtcho tỉnh Ninh Thuận Ngoài khoản Ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạtđộng thu gom các trục đường chính đô thị, vận chuyển từ các điểm thu gomtập trung về nhà máy và chi cho công tác xử lý rác thải, Ngân sách Nhà nướckhông phải chi cho các hoạt động nào khác liên quan công tác này như trướcđây chẳng hạn: chi hoạt động bộ máy quản lý của vận hành của công ty côngtrình đô thị, chi cho đầu tư xử lý môi trường bãi chôn lấp, chi cho đầu tư trangthiết bị và bãi chôn lấp để mở rộng phạm vi thu gom Bên cạnh đó, phạm vithu gom được mở rộng và diện tích đất dành cho chôn lấp và xử lý được thuhẹp Có thể nói, quy trình thu gom không tiếp đất và “Dây chuyền xử lý rácchưa phân loại” (sở hữu độc quyền bằng sáng chế của Công ty)
Đây là một quy trình khép kín, tái sử dụng hơn 90% rác thải, đặc biệt tỷ
lệ chôn lấp chiếm chỉ từ 5-10% (sản phẩm chôn lấp chủ yếu là đất cát, xà bần),
Trang 29biến rác thải từ cái bỏ đi thành những sản phẩm có ích cho xã hội, đã khôngnhững giải quyết xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm tại các điểm thu gom tậptrung trong đô thị, ô nhiễm từ các núi rác thải của bãi chôn lấp do quá tải màcòn tạo ra các sản phẩm có ích cho môi trường, tăng thu ngân sách địa phương(Phạm Văn Hậu, 2012).
b) Thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt ở nông thôn tỉnh Hà Nam
Sau hơn một năm thực hiện Quyết định (2013) của UBND tỉnh Hà Nam
về "Quy định công tác tổ chức quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thảisinh hoạt trên địa bàn tỉnh", khối lượng rác thải trên địa bàn tỉnh được thugom, vận chuyển và xử lý đã tăng mạnh đạt khoảng 53.000 tấn Các tổ thugom rác được thành lập và hoạt động hiệu quả Tuy nhiên, công tác này vẫngặp nhiều khó khăn
Theo quy định của UBND tỉnh Hà Nam, lượng rác thải sinh hoạt ở vùngnông thôn được tính ở mức 0,1kg/người/ngày, ở thị trấn là 0,4kg/người/ngày.Tại chương 2 điều 5 của quy định đã phân vùng vận chuyển rác thải sinh hoạt
từ các bể thu gom rác thải đến các nhà máy xử lý một cách rất rõ ràng Trong
đó có 3 công ty là Công ty Cổ phần môi trường Ba An, công ty Cổ phần Môitrường và công trình đô thị Hà Nam, công ty Môi trường Thanh Liêm Cáccông ty này sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển, thu gom toàn bộ lượng rác thảisinh hoạt từ các bể thu gom tại các đại bàn thành phố, xã, phường,thôn, xómtheo quy định phân vùng trách nhiệm riêng của tỉnh( Nguyễn Chinh, 2015).Trong năm 2013, đến tháng 8 thị trấn Kiện Khê (huyện Thanh Liêm) đã
sử dụng hết kinh phí hỗ trợ thu gom rác thải sinh hoạt của cả năm Không cókinh phí vận chuyển, rác ùn lên ở bãi tập kết Bên cạnh đó, nhiều bãi rác tựphát cũng mọc lên, gây ô nhiễm môi trường và mất cảnh quan nghiêm trọng Trước thực trạng đó thị trấn Kiện Khê phải nhanh chóng triển khai bãichôn lấp rác thải nằm sâu trong núi thuộc khu vực thị trấn.Còn tại xã Hoàng Đông (huyện Duy Tiên), mới đầu tháng 6/2014 nhưng kinh
Trang 30phí vận chuyển rác của cả năm cũng đã sử dụng hết Ở Duy Tiên có nhiều xãnhư Duy Minh, Yên Bắc, Bạch Thượng, Duy Hải và Tiên Phong cũng đã sửdụng hết kinh phí hỗ trợ vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt năm 2014
Năm 2014 huyện Lý Nhân được phân bổ 2,9 tỷ đồng kinh phí thu gom,
xử lý rác thải Căn cứ vào số dân, cự ly thu gom, lượng rác thải, mỗi xã củahuyện được hỗ trợ từ 60-220 triệu đồng Huyện Bình Lục được phân bổ 2,5 tỷđồng, trong đó riêng thị trấn Bình Mỹ được phân bổ 400 triệu đồng, còn lạiđược phân chia về các xã Hiện nay, lượng rác do các công ty thu gom, xử lýlớn hơn so với chỉ tiêu các xã được giao dẫn tới nhiều xã, thị trấn chỉ mới hếtquý I/2014 đã hết kinh phí được hỗ trợ nhưng địa phương không biết lấy kinhphí từ đâu đã phải dừng ký kết hợp đồng vận chuyển, xử lý rác thải Ở đây cónguyên nhân là do rác thải của các làng nghề, làng có nghề, các hộ sản xuấtkinh doanh hoặc của một số doanh nghiệp vẫn được thu gom cùng với rác thảisinh hoạt( Nguồn tin theo ĐCSVN/TTXVN, 2014)
Công ty Cổ phần môi trường Ba An là một trong 3 doanh nghiệp đangthu gom, xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh Hà Nam cho biết: Đến ngày31/10/2014, các địa phương trong tỉnh còn nợ công ty hơn 8,5 tỷ đồng, trong
đó riêng huyện Kim Bảng nợ 3,1 tỷ đồng Vì vậy, từ ngày 1/11/2014, công tybuộc phải tạm dừng việc bốc xúc vận chuyển rác thải trên địa bàn toàn huyệnKim Bảng Còn với Công ty môi trường Thanh Liêm, từ tháng 7/2014 đếnnay, công ty cũng chưa nhận được tiền thanh toán từ các địa phương song vớitrách nhiệm là đơn vị đã ký hợp đồng bốc xúc, vận chuyển xử lý rác thải trênđịa bàn, công ty vẫn duy trì việc chuyên chở rác về nơi xử lý Ở hầu hết địaphương khác trong tỉnh Hà Nam, khối lượng rác vận chuyển về nơi xử lýcũng đều vượt rất nhiều so với chỉ tiêu được giao gây khó khăn trong công tácthu gom, chuyển rác về nơi xử lý Trong khi đó, huyện và các xã chưa thể chủđộng được nguồn kinh phí bù đắp nên buộc các xã phải bố trí chôn lấp ráctheo quy trình tại địa phương (Nguyễn Chinh, 2015)
Trang 31Không chỉ khó khăn về kinh phí, tại một số thôn, xóm mặc dù đã thànhlập được tổ thu gom nhưng lại không hoạt động được do chưa xây dựng được
bể trung chuyển rác (toàn tỉnh mới xây được 102 bể) Ở các địa phương chưa
bố trí được người thường xuyên giám sát việc bốc, xúc, vận chuyển nên chỉxác nhận khối lượng rác thải vận chuyển do các doanh nghiệp báo về Còn với
bể trung chuyển rác nơi thì muốn xây không được, nơi có bể thì lại khôngdùng do quy hoạch thiếu chặt chẽ, không có đường ra vào thuận tiện hoặc ráckhông được đổ vào bể mà đổ tràn lan khu vực xung quanh bể gây khó khăncho công tác thu gom, vận chuyển ( theo ĐCSVN/TTXVN, 2014)
Điều đáng quan tâm hơn là khối lượng rác thải phát sinh rất lớn, nhưngviệc phân định rõ rác thải sinh hoạt với các loại rác thải khác thì lại chưa làmđược dẫn đến khối lượng rác cần vận chuyển tăng cao Hiện nay, ở các bể ráctập trung tuy chỉ tập kết rác thải sinh hoạt của các vùng nông thôn nhưng dothiếu sự quản lý cụ thể, rõ ràng nên tất cả các loại rác từ rác thải công nghiệp,rác thải xây dựng, rác của các cơ sở sản xuất kinh doanh đều được đổ chung
về đây Khi vận chuyển, các công ty môi trường vì vậy vẫn phải bốc xúc hếtnên khối lượng tăng cao so với định mức ở các khu vực
Nhu cầu về lượng rác thải sinh hoạt ở các khu vực nông thôn trong tỉnh
Hà Nam mỗi ngày càng nhiều Nhiều hộ nông dân vẫn chưa ý thức được trongviệc phân loại cũng như hiểu được những nguy hại từ rác thải sinh hoạt gây racho sức khỏe, môi trường mà mình đang sinh sống trước việc xả rác vô thứcvào môi trường Bên cạnh đó, sự thiếu hụt về kinh phí cho việc thu gom, xử lýrác thải sinh hoạt cũng là một yếu tố gây ra những vấn đề ô nhiễm môitrường
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu xử lý, thu gom rác thải sinh hoạt ở một số nước và các địa phương khác ở Việt Nam
Để được coi là nước có đô thị sạch nhất thế giới, Singapore đã đầu tưcho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ
Trang 32thống pháp luật nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơnCông tác thu gom và xử lý rác thải ở Nhật Bản có sự phân công rõ ràng
về trách nhiệm trong quản lý rác thải: rác thải từ hộ gia đình thuộc tráchnhiệm quản lý của Nhà nước còn chất thải từ các công ty, nhà máy thì giaocho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định xử
lý Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản khuyến khích tận dụng nguồn tàinguyên từ rác thải tái chế, nên dù mỗi năm thải ra khoảng 55-60 triệu tấn rác,nhưng từ năm 1991 chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa tới bãi chôn lấp, cònphần lớn được đưa đến các nhà máy tái chế.Nhà nước cũng khuyến khíchngười dân sử dụng rác như một nguyên liệu sản xuất
Tại Ninh Thuận, mô hình thu gom và xử lý rác thải theo một quy trìnhkhép kín, tái sử dụng hơn 90% rác thải biến rác thải từ cái bỏ đi thành nhữngsản phẩm có ích cho xã hội, đã không những giải quyết xử lý dứt điểm tìnhtrạng ô nhiễm tại các điểm thu gom tập trung trong đô thị, ô nhiễm từ các núirác thải của bãi chôn lấp do quá tải mà còn tạo ra các sản phẩm có ích cho môitrường, tăng thu ngân sách địa phương
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt luôn là vấn đề cả thế giới quan tâm.Trên thực tế, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này mang lại nhiều kinhnghiệm, bài học cho các cơ quan quản lý cũng như làm thay đổi nhận thức vàtạo ý thức cho người dân trong việc phân loại và xử lý rác thải để cùng nhauxây dựng môi trường sạch đẹp, đảm bảo sức khỏe và lợi ích cho chính ngườidân và tạo cảnh quan sạch cho đất nước
Có nhiểu đề tại nghiên cứu về tình hình phân loại và thu gom rác thảisinh hoạt cũng như chỉ ra các tác hại từ việc thu gom và xử lý không đúngnhư đề tài “ đánh giá quản lý rác thải sinh hoạt ở thành phố Hồ Chí Minh”, đềtài đã nêu ra các biện pháp hỗ trợ cho quá trình quản lý và việc áp dụng một
số công nghệ xử lý có hiệu quả Đề tài “ đánh giá tình hình quản lý chất thải
Trang 33rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiên Giang- Lệ Thủy-Quảng Bình và biên pháp quảnlý”.
Để tập trung nghiên cứu sâu hơn về mức sẵn lòng chi trả của người dântrong xã cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trường xuyên Phân tích cácyếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân để từ đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả của việc phân loại vàthu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã An Đổ
Trang 34PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã An Đổ là xã nông nghiệp nằm ở phía Đông Nam huyện Bình Lục; giớihạn quy hoạch xây dựng mạng lưới điểm dân cư được xác định trên toàn địagiới của xã Vị trí cụ thể như sau:
Phía Đông giáp xã Trung Lương
Phía Tây giáp xã La Sơn và xã Mỹ Thọ
Phía Nam giáp xã Tiêu Động
Phía Bắc giáp TT Bình Mỹ
Khí hậu
Xã An Đổ có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệtđới gió mùa, nóng và ẩm ướt Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt vớihai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyểntiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đếntháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3; mùaxuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéodài từ tháng 10 đến giữa tháng 11
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23,3oC, số giờ nắng trung bìnhkhoảng 1300-1500giờ/năm Nhiệt độ không khí trung bình mùa hè là 27,4 oC.Nhiệt độ không khí trung bình mùa đông là 19,2 oC
Lượng mưa trung bình năm 1.889mm, lượng mưa ngày lớn nhất
333,1mm Năm có lượng mưa cao nhất tới 3176mm (năm 1994), năm cólượng mưa thấp nhất cũng là 1265,3mm (năm 1998)
Độ ẩm tương đối trung bình 84%, độ ẩm tương đối thấp nhất là 11%.
Trang 35Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 (95,5%), tháng có
độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%)
Gió tốc độ lớn nhất là 36m/s; tốc độ trung bình là 2m/s
Hướng gió chính
Mùa hè: Đông Nam
Mùa đông: Đông Bắc
Địa hình
Khu vực nghiên cứu quy hoạch chủ yếu là diện tích đất ruộng 2 vụ,mương, ao và vườn tạp Trong phạm vi nghiên cứu, địa hình nhìn chung làbằng phẳng, tuy nhiên có sự chênh lệch về độ cao giữa khu vục ao và khu vựcruộng canh tác
Liên hệ vùng
An Đổ là xã nông nghiệp thuộc huyện Bình Lục, giáp thị trấn Bình Mỹ vềhướng Bắc Về giao thông đường bộ, phía Bắc có QL 21A chạy qua Ngoài racác đường trong xã cũng nối liền với đường tỉnh Về giao thông đường thủy
có sông Sắt nằm phía Đông xã, sông S16 chảy từ phía Tây sang Đông Đâycũng là hệ thống cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng của xã và các xã lâncận nên rất thuận tiện về giao thông và canh tác, trồng trọt
Thủy văn
Thủy văn chịu sự chi phối của sông Đáy
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a Tình hình đất đai của xã
Diện tích tự nhiên là 829,15 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 489ha; đấtnuôi trồng thủy hải sản là 48ha; còn lại là đất giành cho phi nông nghiệp vàgiao thông thủy lợi
(Nguồn: Ban thống kê xã, 2014)
Trang 36b Tình hình dân số và lao động của xã
Dân số trong xã tăng dần qua các năm nhưng sự chênh lệch lại khôngquá lớn, cụ thể năm 2013 tổng dân số là 9550 đến năm 2014 thì tổng dân sốtrung bình toàn xã là 9655 người, trong đó có 2.679 hộ với tỉ lệ nam là 4742người, nữ là 4913 người Số người trong và ngoài độ tuổi lao động cũng tăngdần qua các năm trong đó, tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao độngcũng có sự chuyển biến rõ rệt từ 64,6% năm 2012 tăng lên 66,7% năm 2014.Tốc độ phát triển bình quân về tỷ lệ tăng dân số tự nhiên qua 3 năm giảm3,05% nhưng tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động có tốc độphát triển bình quân tăng 1,16% Điều này cho thấy, tình hình kinh tế của toàn
xã đang theo chiều hướng tăng dần nhưng đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân gây ảnh hưởng đến môi trường do nhu cầu cuộc sống tăng lênkèm theo các sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác diễn ra có tác động ảnhhưởng tới môi trường
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của xã An Đổ qua các năm
Tốc độPTBQ(%)
Số người trong độ tuổi lao động Người 5298 5401 5485 101,19
Số người ngoài độ tuổi lao động Người 4122 4124 4170 100,58
Số lao động được tạo việc làm mới Người 130 150 150 107,42
Tỷ lệ lao động được đào tạo so với
(Nguồn: Ban thống kê xã, 2014)
Trang 37c Cơ sở hạ tầng nông thôn xã An Đổ
Tuyến đường trục xã, liên xã có tổng chiều dài là 14km có 6,5km mặtđường bê tông xã được đầu tư mặt đường rộng 1m+5m+1m được đổ bê tông
đá, lề đường đắp đất Tuyến đường liên thôn 14,5km tuy nhiên mặt cắt chỉrộng 0,5m+2m+0,5m; tuyến đường ngõ xóm 30,8km đã được đổ bê tông cómặt cắt 0,5m+1,5m+0,5m và tuyến đường trục chính nội đồng 27,3km đãđược đổ bê tông
Xã có 15 trạm bơm(6/15 trạm bơm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất).Kênh do xã quản lý là 55,25km
Xã có 10 trạm biến thế với tổng công suất 1700KVA, tuyến hạ thế49km và 100% số dân trong xã dùng điện Năm 2014 số hộ sử dụng nướcsạch là 100% do công ty nước sạch cung cấp
d Môi trường xã
Từ năm 2012 đến năm 2014 số hộ được sử dụng nước sạch tăng lênkhông đáng kể, mức tăng có chuyển biến rất chậm từ 2484 hộ năm 2012 đếnnăm 2014 thì cũng chỉ mới tăng lên là 2625 hộ và tốc độ phát triển bình quântăng 2,72% Bên cạnh đó, tỷ lệ rác thải sinh hoạt nông thôn được thu gomtăng lên rất nhiều, năm 2012 nhận thức được khối lượng rác quá lớn tồn tại ởcác hộ gia đình, các mương trong thôn xóm bị ô nhiễm nặng bởi các túi rácthải sinh hoạt của các hộ gia đình nên người dân ở các thôn trong xã đã tự vậnđộng để thu gom và đưa rác thải sinh hoạt đến khu đất trống xa dân cư rồi tiếnhành đốt hoặc chôn lấp và 40% lượng rác sinh được thu gom, đến năm 2013,được sự hỗ trợ của tỉnh, xã đã xây dựng 3 điểm tập kết và được công ty môitrường Ba An về thu gom định kỳ 2 lần/tháng để đưa đi xử lý và chi phí chitrả cho công ty môi trường do tỉnh hỗ trợ vì thế mà 90% lượng rác sinh hoạtđược đưa về đúng điểm quy định và chờ công ty về thu gom, tuy nhiên năm
2013 và năm 2014 thì tỷ lệ lượng rác thải sinh hoạt được thu gom tuy cùngđạt 90% và tốc độ phát triển bình quân tăng mạnh, tăng 50% nhưng thực tế thì
Trang 38lượng rác thải trong xã chỉ được thu gom và đưa về nơi tập kết mà khôngđược đưa đi xử lý ngay và cũng không được đưa đi xử lý hết trong tháng gây
ra hiện tượng rác bị tồn đọng ở các khu tập trung rất nhiều và lượng rác cònlại xuất hiện ở các ven mương, đường tính đến thời điểm 2014 vẫn còn tồnđọng rất lớn ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của người dân
Bảng 3.2 Tình hình môi trường xã An Đỗ
PTBQ(%)
1 Số hộ được sử dụng nước
sạch, nước hợp vệ sinh
2 Tỷ lệ rác thải sinh hoạt
nông thôn được thu gom
Trang 39Bảng 3.3 Các chỉ tiêu kinh tế của xã năm 2012 - 2014
PTBQ (%)
1 Giá trị sản xuất ngành nông
nghiệp
2 Giá trị sản xuất ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
3 Giá trị sản xuất ngành dịch
vụ thương mại
Tỷ đồng 35,7 44,7 54,1 123,1
(Nguồn: Ban thống kê xã, 2014)
Đồ thị 3.1 Cơ Cấu Lao Động Làm Việc Theo Linh Vực Kinh tế năm 2014
32.00%
33.00%
35.00%
Cơ Cấu Lao Động Làm Việc Theo Lĩnh Vực Kinh Tế Năm 2014
Nông nghiệp Công Nghiêp và Tiểu Thủ Công Nghiệp Dịch Vụ
(Nguồn: Ban thống kê xã, 2014)
Nhìn chung kinh tế của toàn xã tăng dần qua các năm đây là điều đángtuyên dương và khích lệ tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế không tránhkhỏi việc kèm theo các vấn đề này sinh liên quan đến môi trường
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Trang 40báo, tạp chí, báo cáo, các thuyết minh về quy hoạch nông thôn mới xã An Đổhuyện Bình Lục tỉnh Hà Nam năm 2011, các tài liệu và báo cáo liên quan đếntình hình thu gom ở địa phương và xử lý rác thải.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Tiến hành phỏng vấn 60 hộ dân trên địa bàn xã bằng phiếu điều tra đãđược xây dựng, ngoài ra có thể tiến hành thu thập thông tin thông qua quansát, thảo luận nhóm để có được thông tin đủ và chính xác về mức sẵn lòng chitrả của các hộ dân trên địa bàn xã cho việc cải thiện nâng cao chất lượng dịch
vụ thu gom rác thải sinh hoạt
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, thời gian và mục tiêu nghiên cứu tiếnhành chọn mẫu và điều tra tại xã An Đổ huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam Tổng
số mẫu điều tra là 60 hộ dân trên địa bàn xã An Đổ huyện Bình Lục tỉnh HàNam thuộc 4 thôn có các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau
Bảng 3.4 Cơ cấu mẫu điều tra
STT Tên Thôn Số lượng
(Hộ)
Đặc điểm cơ bản của các hộ được
điều tra
1 Giải Tây 15 Các hộ được điều tra ở các thôn sẽ
lấy ngẫu nhiên, có điều kiện kinh tếkhác nhau, các ngành nghề khác nhau.Chủ yếu sống bằng nghề nông, buôn bán nhỏ, chăn nuôi trong đó có thôn Phu có một số hộ làm nghề dũa…