Vai trò của rừng là rất to lớn, tuy nhiên có một số nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng ngày càng thu hẹp, đó là do tác động của chiến tranh, áp lực về dân số ở các vùng tăng nhanh, nghèo
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NÔNG ĐỨC MẠNH
“NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG XÃ CÁN TỶ ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn : 1 TS Dương Văn Thảo
2 ThS Lê Văn Phúc
Khoa Lâm nghiệp – Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Thái nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Các loại số liệu, bảng biểu được kế thừa, điều tra dưới sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền chứng nhận
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả Người viết cam đoan
trước hội đồng khoa học!
TS Dương Văn Thảo Nông Đức Mạnh
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 3Em xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, anh Giàng Minh Hải người
đã dẫn đường trong các tuyến điều tra, toàn thể các hộ gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình điều tra, thu thập thông tin, số liệu và đóng góp ý kiến xây dựng phục vụ công tác nghiên cứu
Với vốn kiến thức hạn hẹp, thiếu kinh nghiệm nên khó tránh khỏi sai sót
Em kính mong được những ý kiến đóng góp của thầy cô, ban chủ nhiệm khoa cùng những ý kiến của thầy hướng dẫn sẽ giúp em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nông Đức Mạnh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KBT TN Khu bảo tồn thiên nhiên
CĐ ĐP Cộng đồng địa phương
UNCED United Nations Conference on Enviroment and
Development (Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững)
BVRBảo vệ rừng
IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế) PRA Papid Rural Appraisal (Phương pháp điều tra nông thôn có
sự tham gia của người dân)
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 11
Bảng 2.2 Trữ lượng các loại rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 12
Bảng 2.3 Dân số và tốc độ tăng trưởng dân số 14
Bảng 4.1 Lâm sản khai thác từ tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương 23
Bảng 4.2 Khối lượng trung bình lâm sản khai thác của hộ gia đình 24
Bảng 4.3 Mức độ chăn thả gia súc của các hộ gia đình 26
Bảng 4.4 Cơ cấu đất đai của xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ 27
Bảng 4.5 Kết quả tổng hợp cơ cấu nguồn thu theo nhóm hộ gia đình 28
Trang 6DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của cộng
đồng người dân địa phương tới tài nguyên rừng 17
Hình 4.1 Bách xanh bị khai thác 25
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu nguồn thu theo nhóm hộ gia đình 29
Sơ đồ 3.2: Các bước thực hiện nghiên cứu 22
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ỹ nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương và vùng đệm 4
2.1.1 Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone) 4
2.1.2 Khái niện cộng đồng địa phương (Local Community) 4
2.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 4
2.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 6
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 9
2.4.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên 9
2.4.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế 13
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 15
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 15
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 15
3.4.1 Phương pháp luận 15
3.4.2 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin, số liệu 20
3.4.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Hình thức tác động bất lợi của cộng đồng địa phương tác động đến tài nguyên rừng 23
4.2 Cơ cấu đất canh tác và cơ cấu thu nhập của các cộng đồng địa phương vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 27
Trang 84.3 Các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của các cộng đồng
địa phương tới tài nguyên rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 29
4.3.1 Các nguyên nhân về kinh tế 29
4.3.2 Các nguyên nhân về xã hội 31
4.3.3 Tổ chức cộng đồng 32
4.4 Đề xuất giải pháp kinh tế - xã hội 33
4.4.1 Đào tạo nghề giải quyết việc làm cho người dân địa phương 33
4.4.2 Phát triển rừng cộng đồng tại các thôn, bản 33
4.4.3 Đầu tư cho công tác xây dựng cơ sở hạ tầng 33
4.4.4 Khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm củi và hướng tới các nguồn chất đốt thay thế 34
4.4.5 Trách nhiệm các cấp chính quyền và Ban quản lý khu bảo tồn 34
4.4.6 Phát triển du lịch 35
4.4.7 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ gia đình 35
4.4.8 Hỗ trợ vay vốn 36
4.5 Đề xuất một số một số giải pháp bảo tồn lâm sản quý hiếm 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 9PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn
gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người… Vai trò của rừng là rất to lớn, tuy nhiên có một số nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng ngày càng thu hẹp, đó là do tác động của chiến tranh, áp lực về dân số ở các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chưa được phát huy, các hoạt động khuyến nông khuyến lâm chưa được phát triển, chính sách nhà nước về quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi
Hệ thống các khu bảo tồn đã và đang gặp không ít khó khăn từ phía người dân và cộng đồng địa phương Điều khó khăn lớn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn là số dân sinh sống phía trong và ngoài sát với khu bảo tồn, thậm chí ngay cả trong khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn Bắt đầu từ những thay đổi của họ về vị trí nhà ở, về thói quen chiếm hữu đất đai canh tác, phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng và do đó ảnh hưởng đến công tác bảo vệ TNR
là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay, giờ đây dường như đã không còn là của họ Họ đa số là người nghèo, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn, không đem lại lợi ích gì cho họ,
mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước nữa Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương chưa bù đắp được sự thiếu hụt lớn lao này Chính vì vậy, đã gây ra mâu thuẫn giữa khu bảo tồn với người dân địa phương - những người đã và đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn TNR Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào TNR là một tất yếu Vì vậy đề tài được thực hiện nhằm đánh giá mức độ tác động của cộng đồng địa phương
Trang 10đến tài nguyên rừng KBT Từ đó đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động của người dân đến tài nguyên rừng, giúp họ có một cuộc sống tốt hơn bằng những tác động tích cực vào rừng
Từ khi chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng trở nên khả quan hơn Để đạt được kết quả đó, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trồng, chăm sóc quản lý và bảo vệ Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống đồi núi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại Có được kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo hướng xã hội hóa nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động tham gia quản lý bảo vệ rừng (Chỉ thị số 286/TTg Thủ Tướng Chính Phủ, 1997) [14] Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, có nhiệm vụ chính
là bảo vệ hệ động, thực vật trên núi đá vôi, bảo vệ nguồn gen và cảnh quan môi trường, phát huy tính phòng hộ đầu nguồn khu vực (Quyết định số 2601/QĐ-UB UBND tỉnh Hà Giang, 2000) [19]
Bát Đại Sơn là khu vực thuộc vùng núi phía bắc, người dân sinh sống ở đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn, sống phụ thuộc vào rừng Hoạt động sống của người dân nơi đây ít nhiều ảnh hưởng tới
hệ động thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tác động của người dân địa phương địa phương xã Cán Tỷ đến tài nguyên rừng Khu bảo tồn thên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn làm cơ sở từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng
Trang 111.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định những tác động tiêu cực và tích cực của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn – Hà Giang
- Đề xuất biện pháp làm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy
những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng
1.4 Ỹ nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phân bổ thời gian một cách hợp lý và khoa học trong công việc
để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở khoa học
để củng cố những kiến thức đã học tại nhà trường vào hoạt động thực tiễn
1.4.2 Ý nghĩa thực tiến sản xuất
- Qua đề tài biết được mức độ tác động của người dân tới tài nguyên rừng từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn tránh sự suy giảm đa dạng sinh học
- Đưa ra các biện pháp giúp người dân sống trong rừng, gần rừng và phụ thộc vào rừng cải thiện sinh kế, tránh những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng
Trang 12PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương và vùng đệm
2.1.1 Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone)
- Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau:
“Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” (Võ Nguyên Huân, 2009) [16]
- Theo khái niệm về vùng đệm ở Việt Nam như sau:
“Vùng đệm là vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm liền kề ngoài khu bảo tồn và bao quanh khu bảo tồn, có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu bảo tồn Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn ở khu bảo tồn và vùng đệm, không di dân từ bên ngoài vào vùng đệm với bất cứ hình thức nào; tích cực phát triển kinh tế góp phần ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất – văn hoá – tinh thần của dân cư sống trong vùng đệm” (Võ Nguyên Huân, 2009) [16]
2.1.2 Khái niện cộng đồng địa phương (Local Community)
Cộng đồng địa phương là một nhóm người sống trong cùng một môi trường, một không gian, có lãnh thổ xác định, có những điểm tương đối giống nhau, có mối quan hệ nhất định với nhau (Phạm Hoàng Hải và cs, 2014) [15]
2.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Năm 1872, Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó
là vườn quốc gia Yellowstone Vườn quốc gia này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều khu bảo tồn thên nhiên và vườn quốc gia được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào khu bảo tồn thiên nhiên và
Trang 13vườn quốc gia và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và khu bảo tồn và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được (Võ Quý, 1997) [7]
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 1980 Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các khu bảo tồn và vườn quốc gia khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của cộng đồng địa phương Ở Vườn quốc gia Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với vườn quốc gia một cách hợp pháp
mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của vườn quốc gia và được tham gia quản lý vườn quốc gia thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền (Võ Quý, 1997) [7], (Hoàng Hoè, 1995) [1]
Ở Thái lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%, nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26% Hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái lan (The Royal Forest Department) thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích rừng còn lại Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương sống trong vùng đệm Một thử nghiệm của Dự án “ Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” (Sustainable Forest Management through Collaborative efforts’ Project) thực hiện tại Phu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông-Bắc Thái lan Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (Colin McQuist) [11]
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi
Trang 14trường và Phát triển bền vững (UNCED) ở Rio de janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận (Trần Ngọc Lân, chủ biên, 1999) [5]
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào tài nguyên rừng và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào tài nguyên rừng
2.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Cùng hoà nhịp sự quan tâm về bảo tồn TNR với cộng đồng thế giới, năm
1962, vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam được thành lập – Vườn quốc gia Cúc Phương Nhưng do chiến tranh nên cho tới năm 1983 công việc này mới lại được tiếp tục và cho tới nay Việt Nam đã có 105 khu bảo tồn thiên nhiên
và vườn quốc gia (Richard B Primack, 1999) [12]
Vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đã chính thức được đề cập đến ngay sau khi có Quyết định số 194 –CT ngày 9/8/1986 quy định danh mục 73 khu rừng cấm và quyết định số 1171/QĐ ngày 30/11/1986 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN &PTNT) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và quy định về vùng đệm các vườn và khu bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên cho đến nay việc thực hiện quản lý vùng đệm còn rất hạn chế Theo Ts Nguyễn Bá Thụ, những khó khăn gặp phải trong việc quản lý vùng đệm nói chung là (VNRP – VU – ALA/VIE/94/24, 2001) [9]:
Hầu hết các vùng đệm đều có đông dân cư sinh sống
Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh) nhưng thường chính quyền địa phương ít quan tâm đến khu bảo tồn thiên nghiên và vườn quốc gia vì họ không hiểu rõ tầm quan trọng của khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đối với địa phương, và coi việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng là việc của ban quản lý các khu rừng đó
Đa số nhân dân địa phương nghèo, dân trí thấp, dân số tăng nhanh, họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia không mang lại lợi ích cho họ
Hầu hết ban quản lý các KBT TN và VQG chưa có giải pháp hữu hiệu
để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia vào công tác bảo tồn
Trang 15Tập quán canh tác của người dân trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc hậu, năng suất mùa mang thấp
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBT TN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là làm sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội các CĐ ĐP Một số nghiên cứu trong những năm gần đây được trình bày dưới đây
Trong 2 năm (1998 – 1999), Bùi Minh Vũ đã tiến hành một nghiên cứu lớn tại 2 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Đề tài đánh giá điều kiện
tự nhiên, tính đa dạng sinh học và kinh tế - xã hội của các điểm điều tra và đề xuất 3 tiêu chuẩn xác định vùng đệm, đó là: Đường ranh giới phía trong và phía ngoài vùng đệm tối thiểu là 1 km và tối đa là 10 km; Quy mô đất đai của vùng đệm; Về dân số, lao động và dân tộc Các đề xuất và khuyến nghị của nghiên cứu mang tính phương hướng, chưa cụ thể (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2001) [10]
Trong 3 năm (1995 –1998), Trần Ngọc Lân và các đồng sự đã tiến hành một nghiên cứu tại vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát và dựa trên nghiên cứu này cuốn sách “Phát triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia’’ được ra đời vào năm 1999 Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống nông hộ tại vùng đệm Pù Mát Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy chiếm
vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện tại, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các hộ có sự hiểu biết
và có vốn đầu tư (Trần Ngọc Lân (chủ biên), 1999) [5]
Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm cũng tại Vườn quốc gia Pù mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các CĐ ĐP
và thái độ của họ về các chính sách bảo tồn Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự ảnh hưởng của khu bảo tồn và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên Nghiên cứu cho rằng hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm
và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là
Trang 16từ rừng Việc thành lập KBT TN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù
đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập khu bảo tồn thiên nhiên (Đo Anh Tuan, 2001) [13]
Vấn đề giảm đất đai canh tác của các cộng đồng do hình thành vườn quốc gia là một thực tế diễn ra ở nhiều nơi Đỗ Thị Hà cho rằng sau khi thành lập VQG Tam Đảo, đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâm nghiệp tập trung vào một số chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong hộ gia đình (Trần Ngọc Lân (chủ biên), 1999) [5]
Các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu được phân tích, đánh giá tác động của khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đối với cộng đồng địa phương Nhưng vấn đề ngược lại, nhìn nhận từ góc độ cộng đồng địa phương đối với các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia còn chưa được nghiên cứu sâu sắc
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu về khả năng thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại khu phục hồi sinh thái Các tác giả cho rằng hệ thống chính sách hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút cộng đồng địa phương vào quản lý, sử dụng các khu rừng đặc dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ vườn quốc gia và đề xuất mô hình quản lý đất đai trong khu phục hồi sinh thái của vùng đệm (Nguyễn Bá Ngãi và cộng tác viên, 2002) [6]
Trần Ngọc Hải và cộng sự đã đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ
ở 2 thôn người Dao tại xã Ba Vì Tác giả cho rằng, LSNG, đặc biệt là nhóm tre bương và cây dược liệu đóng vài trò rất quan trọng trong hộ gia đình Hạt kiểm lâm (Vườn quốc gia Ba Vì, 2002) [2]
Tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia còn có một số nghiên cứu khác, nhưng chủ yếu là đánh giá về hiện trạng hệ động, thực vật
và các biện pháp bảo tồn loài, quy hoạch sử dụng đất, các nghiên cứu về cây thuốc và tình hình khai thác sử dụng cây thuốc của đồng bào Dao
Như vậy, tại KBT TN và VQG các đề tài nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một số vấn đề chính sách quản lý, sử dụng đất khu phục hồi sinh thái và vai trò của LSNG đối với người Dao Sự tác động của cộng đồng vào VQG luôn được xem là những vấn đề hiển nhiên, mang tính tất yếu Chính vì vậy chưa
có nghiên cứu nào đề cập một cách sâu sắc về vấn đề này
Trang 172.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn huyện Quản Bạ nằm ở phía bắc
tỉnh Hà Giang có diện tích tự nhiên 4.531,1 ha Bao gồm 4 xã ( Bát Đại Sơn,
Thanh Vân và một phần xã Nghĩa Thuận và xã Cán Tỷ) Đây là một khu Bảo
tồn thiên nhiên được thành lập ngày 06 tháng 10 năm 2000
2.4.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi ranh giới
- Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nằm ở vùng biên giới phía bắc
tỉnh Hà Giang có tọa độ địa lý:
Từ 230 04' 27'' đến 230 11' 27'' độ vĩ bắc
Từ 1040 54' 02'' đến 1050 02' 30'' kinh đông
- Phía tây bắc là đường biên giới nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa
- Phía đông bắc là phần còn lại của xã Bát Đại Sơn và phía đông lấy
dòng sông Miện làm ranh giới
- Phía nam và phía tây giáp xã Tùng Vài và đường ô tô đi biên giới
Tổng diện tích khu Bảo tồn là 10.684 ha nằm trên địa phận 4 xã: Trong đó:
Là vùng núi đá vôi, phần lớn là núi cao trên 1.000 m và thấp dần theo hướng
tây bắc và đông nam, Bát Đại Sơn có thể chia ra làm 3 kiểu địa hình chính
- Kiểu địa hình trung bình: Đây là kiểu địa hình phổ biến nhất chiếm
hầu hết diện tích khu bảo tồn do địa hình bị chia cắt tạo ra những đỉnh núi
cao, sườn dốc đứng, các khe suối đều sâu, dốc lòng hẹp, ở đây rừng còn
phong phú đặc trưng cho hệ sinh thái rừng núi đá vôi miền bắc Việt Nam
- Kiểu địa hình núi đá cao nằm ở phía đông bắc xã Bát Đại Sơn: ở đây
chủ yếu là đồi núi đất, có các đỉnh cao dưới 400m Địa hình chia cắt mạnh
tạo ra nhiều dòng suối, độ dốc bình quân từ 25o - 35o, kiểu địa hình này tài
nguyên bị khai thác cạn kiệt, quá trình phát nương làm rẫy lặp lại nhiều lần
nên thực bì chủ yếu là cây bụi, trạng cỏ và một số ít diện tích rừng phục hồi
sau nương rẫy
Trang 18- Kiểu địa hình thung lũng: Đặc trưng là khu vực xã Thanh Vân, khu vực này thuận tiện cho canh tác nông nghiệp và chăn thả gia súc
Theo kết quả điều tra có 5 loại đất chính đó là:
- Đất Feralít nâu vàng phát triển đá sa thạch với tầng đất dày kết cấu rời rạc chiếm 56 ha
- Đất Feralít màu nâu sám phát triển trên đá sét, tầng đất trung bình, kết cấu hạt mịn, phân bố phía bắc xã Bát Đại Sơn với diện tích 803 ha
- Đất Feralít mùn trên núi trung bình thường phân bố ở độ cao ( 700 m thuộc phía bắc xã Bát Đại Sơn, loại này còn chất mùn kết cấu hạt mịn và giữ
ẩm, phát triển trên núi đá vôi với diện tích 319 ha và phát triển trên núi sét
610 ha
- Đất Feralít màu nâu vàng trên sơn nguyên, phát triển trên đá sét: 1.759
ha phân bố tập trung ở xã Thanh Vân tầng đất trung bình, thường ở các thung lũng rất tiện lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp
- Nhóm đất thung lũng là sản phẩm chủ yếu của đá vôi phân bố dọc hai
bờ sông miện thuộc xã Cán Tỷ với diện tích 3.095 ha Độ dầy tầng đất trung bình đều sâu Diện tích này chủ yếu dùng cho sản xuất nông nghiệp
2.4.1.4 Khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu
Khu Bảo tồn Bát Đại Sơn nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa thuộc khí hậu vùng cao bắc Việt Nam, hàng năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa
có từ tháng 4 đến tháng 10 mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Khí hậu khu vực có những đặc điểm sau:
• Chế độ ẩm
- Lượng mưa trung bình năm từ 2.000 đến 2.400 mm tập trung từ tháng
4 đến tháng 10 chiếm tới 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm
- Độ ẩm không khí: trung bình là: 82%, cao nhất 89%, thấp nhất 68%
• Chế độ nhiệt:
Trang 19- Nhiệt độ trung bình năm 150c
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 10c
- Nhiệt độ tối thấp cao tuyệt đối 350c
• Chế độ gió:
Khu vực chịu ảnh hưởng của 2 loại gió thịnh hành là:
- Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau thời tiết khô hanh,
có kèm theo sương muối
- Gió mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 9, thời tiết nóng ẩm có mưa lớn kéo dài
Thủy văn:
Sông miện bắt đầu từ Trung Quốc chạy theo hướng đông, đông nam, hình thành vành đai che chắn phía đông và đông bắc của khu bảo tồn Sông miện có dòng chảy quanh co, lòng hẹp, độ dốc lớn, về mùa mưa tốc độ dòng chảy khá lớn do địa hình castơ các chi lưu đều chảy ngầm trong lòng đất nên lưu lượng nước mặt ít lại không dự chữ được nước Do đó về mùa mưa thiếu nước trầm trọng gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng
2.4.1.5 Hiện trạng sử dụng đất khu bảo tồn
- Về diện tích các loại đất đai
Kết quả điều tra hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp Năm 2007
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
Trang 20Nhận xét: Về diện tích các loại đất đai:
- Rừng khu bảo tồn Bát Đại Sơn có độ che phủ khá cao 93,6% Trong đó rừng tự nhiên chiếm 93,6% so với diện tích hiện có của khu vực, diện tích đất chưa có rừng chiếm tỷ lệ không đáng kể
- Đất không có rừng chiếm 6,4% trong đó có diện tích đất trạng cỏ, cây bụi, đất trồng cây rải rác
về trữ lượng các loại rừng được thể hiện theo bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Trữ lượng các loại rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
- Kiểu 1: Thảm thực vật trên núi đá vôi:
Đây là kiểu rừng trên núi đá vôi có cấu trúc nguyên sinh cả 5 tầng rừng trong
đó có 3 tầng cây gỗ (Tầng vượt trội, tầng ưu thế sinh thái và tầng cây nhỏ), dưới tán rừng có nhiều cây bụi và tầng cỏ quyết, kiểu rừng này có mật độ từ
200 - 300 cây/ ha Đường kính bình quân từ 20 - 40 cm, ở tầng vượt trội có cây cao 20 - 30 m gồm những cây như: Trai, nghiến, trám, kháo Loại rừng này nếu được bảo vệ tốt sẽ giữ được nguyên sinh của kiểu rừng núi đá vôi và được lớp thảm thực vật còn lại
Trang 21- Kiểu 2: Thảm thực vật trên núi đất:
Kiểu rừng này thuộc rừng cây lá rộng cây thường xanh và một số loài cây lá kim, kiểu rừng này do bị tác động nhiều dẫn mật độ và trữ lượng bị giảm trở thành rừng gỗ rải rác và nay đang được phục hồi
Thành phần thực vật:
Theo kết quả điều tra ban đầu và các đoàn chuyên gia thám hiểm khu bảo tồn Bát Đại Sơn cho thấy thành phần thực vật trong khu vực khá phong phú, có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi, ngoài ra khu bảo tồn còn một số cây có giá trị dược liệu như: Kim ngân, Cốt toái bổ, Thảo quả, Đỗ trọng, Quế Những loài cây cảnh như phong lan tím và một số loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như: Bách xanh, Bách vàng cần được bảo vệ
và còn phát hiện các loài quý hiếm khác
2.4.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế
Khu bảo tồn Bát Đại Sơn có 6 dân tộc:
-Dân tộc H,mông có 7.193 người chiếm 81.5% tổng dân số
-Dân tộc Dao có 926 người chiếm 10,5% tổng dân số
-Dân tộc Tày và Nùng có 619 người chiếm 7,0% tổng dân số
-Dân tộc khác có 84 người chiếm 1% tổng dân số
Nhìn chung các dân tộc trên sống phân bố rải rác trong vùng thành các thôn, xóm bên cạnh trục đường giao thông, các thung lũng bằng phẳng, tập quán canh tác chủ yếu là sản xuất canh tác nương rẫy và chăn nuôi gia súc gia cầm
Dân số:
Tổng dân số ( Theo kết quả điều tra năm 2010) khu bảo tồn là 8.822 người với 1.784 hộ thuộc địa phận hành chính 4 xã với 18 thôn bản được thể hiện như sau:
Trang 22Bảng 2.3 Dân số và tốc độ tăng trưởng dân số Tên xã Số hộ Số người Tỷ lệ tăng dân
Về lâm nghiệp:
• Công tác quản lý bảo vệ rừng:
Từ năm 2000 Ban quản lý dự án được thành lập và thực hiện chương trình phát triển 5 triệu ha rừng bằng nguồn vốn 661 hỗ trợ, công tác bảo vệ rừng đã được quan tâm Ban quản lý khu bảo tồn phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện và chính quyền địa phương các xã, các thôn bản thực hiện biện pháp khoán bảo vệ rừng nên rừng đã được hạn chế việc phát nương làm rẫy và khai thác rừng trái phép
• Công tác trồng rừng:
Trong những năm qua công tác trồng rừng đã được chú trọng ở các xã Nghĩa Thuận, Thanh Vân, Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, diện tích trồng mới đã thực hiện được 405 ha Kết quả thành rừng đạt hiệu quả cao
Trang 23PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Thôn đầu cầu I, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ tháng 1/2014 – 5/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung thực hiện các nội dung sau:
(1) Xác định các hình thức tác động bất lợi của người dân địa phương trong vùng đệm tới TNR Khu bảo tồn thiên nhiên
(2) Phân tích các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương trong vùng đệm tới TNR
-Các nguyên nhân về xã hội
-Các nguyên nhân về kinh tế
(3) Đề xuất một số giải pháp kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi từ phía các cộng đồng địa phương trong vùng đệm tới TNR Khu bảo tồn thiên nhiên, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về lý thuyết hệ thống, quan điểm sinh thái – nhân văn, quan điểm bảo tồn - phát triển và tiếp cận có sự tham gia
3.4.1.1 Vận dụng lý thuyết hệ thống
Sự tác động của các cộng đồng địa phương đến TNR là hoạt động trong
hệ thống kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của các cộng đồng địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất
Trang 24rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Và sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt…và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng tài nguyên rừng của các cộng đồng địa phương
Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của các cộng đồng địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới tài nguyên rừng bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế
để giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Sự tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng là hoạt động
xã hội là vì các hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của tài nguyên rừng, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng tài nguyên rừng, … Sự tác động của các cộng đòng địa phương đến tài nguyên rừng còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với các cộng đồng địa phương vùng đệm, hệ thống quản lý tài nguyên rừng, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng… Các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của cộng đồng địa phương vào tài nguyên rừng Sự hiện diện của chúng
sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Những tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng và nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiểu những tác động bất lợi này
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới tài nguyên rừng cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống Tài nguyên rừng vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự
Trang 25nhiên, vì vậy để bảo tồn tài nguyên rừng, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
3.4.1.2 Quan điểm sinh thái – nhân văn
Thực tế cho thấy rằng, bất cứ hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế - xã hội Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào
đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải là như vậy trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Để nghiên cứu sự tác động bất lợi của các CĐ ĐP đến TNR, chúng tôi dựa theo tháp sinh thái - nhân văn của Park đề xuất năm 1936 (Võ Văn Thoan và Nguyễn Bá Ngãi (Biên tập), 2002) [8]
Hình 3.1 Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của cộng đồng người dân địa phương tới tài nguyên rừng
Tác động
bất lợi
của người
dân địa
phương
đến TNR
Phát triển KT-XH
địa
phương
và bảo tồn TNR
Các yếu tố văn hóa
Các yếu tố thể chế chính sách
Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố sinh thái,công nghệ
Đạo đức
Bậc thể chế
Bậc kinh tế
Bậc sinh thái
Trang 26Theo Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001), mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các hoạt động
xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức Mô hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt động của cá nhân và sự bền vững (Hình 3.1) (Võ Văn Thoan và Nguyễn
Bá Ngãi (Biên tập), 2002) [8] Dựa trên hình tháp này có thể giải thích: Quan
hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương – bảo tồn tài nguyên rừng là quan hệ có xu hướng nghịch Tức là khi kinh tế - xã hội địa phương càng phát triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồn tài nguyên rừng được thực hiện tốt thì những tác động bất lợi tới tài nguyên rừng sẽ càng giảm Sự tác động bất lợi của các cộng đồng địa phương vào tài nguyên rừng đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội
Cơ sở sinh thái được được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học, được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chế được cần được nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của các cộng đồng địa phương, nhu cầu thị trường Những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của các cộng đồng địa phương tới tài nguyên rừng
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa
là văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng
Theo tháp sinh thái - nhân văn (hình 3.1) thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn rừng và phát triển vùng đệm đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của cộng đồng địa phương
Trang 273.4.1.3 Quan điểm bảo tồn – phát triển
Trong nhiều năm qua, khi gặp trở ngại trong việc quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, đặc biệt là những khu bảo tồn thiên và vườn quốc gia được thành lập tại những vùng có mật độ dân cư cao, nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đến việc làm sao quản lý được các khu bảo tồn thiên nhiên
và vườn quốc gia và đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương Đây là lý
do dẫn đến sự hình thành các quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, nói chung bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) sau (Hà Quang Khải, 2001) [3]:
-Thứ nhất: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm bớt và tài
nguyên được bảo tồn
-Thứ hai: Cách tiếp cận phát triển kinh tế là nếu cộng đồng rất khó khăn
về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải
nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn
đến việc bảo tồn tài nguyên
-Thứ ba: Cách tiếp cận tham gia quy hoạch là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên
và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi ít nhất một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương có thể được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên
một cách hợp lỹ và bền vững
Những tác động của các cộng đồng địa phương vùng đệm ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên rừng Tuy nhiên với tình hình thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân chưa thể đề xuất các giải pháp làm triệt tiêu được các tác động đó Đồng thời cũng không thể nào không quan tâm tới nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên rừng của khu bảo tồn Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất được các giải pháp làm giảm thiểu được tác động bất lợi của các cộng đồng địa phương vùng đệm và
Trang 28vùng lõi vào TNR, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương Vì vậy, trong nghiên cứu này, cách tiếp cận thứ nhất và thứ ba được áp dụng để thực hiện nội dung nghiên cứu (3)
3.4.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về tài nguyên rừng với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức
tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức (Lê Văn Khoa, 1996) [4]
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó các cộng đồng địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính các cộng đồng địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên rừng, các giải pháp giải quyết xung đột
3.4.2 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin, số liệu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo các bước trong sơ đồ 3.2
3.4.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Các tài liệu liên quan đến vùng nghiên cứu được thu thập tại UBND các
xã và BQL thôn thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn là các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên, các báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng của ban quản lý, các báo cáo về các chương trình hỗ trợ cho vùng đệm… Các tài liệu này sẽ cung cấp các thông tin cơ bản về vùng nghiên cứu
Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là các báo cáo nghiên cứu
về vùng đệm, tài liệu các hội thảo về phát triển vùng đệm các KBT TN và VQG, sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn tài nguyên rừng, các văn bản luật và chính sách liên quan đến vùng đệm Các
Trang 29tài liệu này sẽ cung cấp thông tin về vấn đề nghiên cứu một cách tổng quan Các tài liệu này được thu thập theo phương pháp kế thừa có chọn lọc
3.4.2.2 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn thôn điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều tra thu thập số liệu Nguyên tắc của chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu Vì vậy, các tài liệu thứ cấp liên quan đến vùng đệm KBT được nghiên cứu nhằm tìm hiểu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực và một đợt khảo sát nhanh được tiến hành tại khu bảo tồn xã vùng đệm, vùng lõi nhằm tìm hiểu những đặc trưng về địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội của từng xã
3.4.2.3 Thu thập thông tin và số liệu hiện trường
Các công cụ PRA sau được thực hiện để thu thập các thông tin và số liệu hiện trường:
-Phỏng vấn ban quản lý thôn: Công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới thôn, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn: Dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng…
-Phỏng vấn hộ gia đình: Bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị trước (xem phụ biểu 1) và được thực hiện tại 30 hộ gia đình trong thôn điểm nghiên cứu Các hộ phỏng vấn được lựa chọn theo phương ngẫu nhiên có hệ thống Thực hiện công cụ này nhằm tìm hiểu tình hình kinh tế chung của hộ gia đình, các hình thức tác động và nguyên nhân người dân tác động vào TNR, đồng thời cũng tìm hiểu các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển do chính người dân đưa ra
- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm KBT Bát Đại Sơn: Cuộc phỏng vấn này nhằm tìm hiểu tình hình chung về quản lý rừng và đất rừng của khu bảo tồn thiên nhiên, các chính sách, chương trình thực hiện tại vùng đệm và việc sử dụng TNR của các CĐ ĐP trong vùng đệm Đồng thời nhằm kiểm tra chéo thông tin thu thập tại các thôn điểm và thu thập bổ sung tài liệu
3.4.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
Số liệu thu thập qua bảng phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Excel Thống kê mô tả là phương pháp chính được sử dụng để xử lý số liệu trong đề tài Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tích theo phương pháp định tính
Trang 30Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
XĐ vấn đề NC
Trang 31PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Hình thức tác động bất lợi của cộng đồng địa phương tác động đến tài nguyên rừng
+ Sử dụng đất rừng để sản xuất
Những năm gần đây, do người dân thiếu diện tích đất canh tác nên đã có rất nhiều hộ gia đình sinh sống trong khu vực vùng đệm vẫn lén lút chặt rừng
để trồng cây nông nghiệp và một số phát nương làm rẫy
Cuộc sống người dân địa phương nơi đây còn gặp nhiều khó khăn: Thiếu đất sản xuất, đất xấu và quá dốc, thiếu nước tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi theo kỹ thuật tryền thống, trình độ dân trí còn thấp, nguồn sống chủ yếu dựa vào canh tác nương rẫy và khai thác tài nguyên rừng Do điều kiện tự nhiên nên nương rẫy chỉ canh tác được một vụ ngô vào tháng 3 – tháng 6 Địa hình là núi đá, có độ dốc cao nên không thể canh tác lúa nước, dẫn tới khai thác tài nguyên rừng là nguồn sinh kế cho những người dân địa phương nơi đây
+ Khai thác sản phẩm rừng với mục đích sử dụng và hàng hoá
Bảng 4.1 Lâm sản khai thác từ tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương
Trang 32Cộng đồng địa phương sống trong vùng đệm của KBT khai thác một số LSNG, gồm Phong lan, Mật ong, Măng, cây dược liệu và các loại hạt ăn được Các sản phẩm này là nguồn thu nhập quan trọng đối với nhiều hộ gia đình nghèo trong vùng đệm Hiện nay chưa rõ là mức khai thác như vậy có bền vững hay không, hoặc có thể là đang khai thác LSNG quá mức tại đây Đặc biệt là việc lấy Măng, Phong Lan nếu lấy quá mức trong một thời gian dài có thể làm thay đổi cấu trúc và thành phần rừng, ảnh hưởng tới sự phù hợp của những sinh cảnh này đối với các loài động thực vật đang bị đe dọa toàn cầu Hoạt động khai thác một số loài cây dược liệu diễn ra rầm rộ với số lượng lớn, đe dọa đến sự tuyệt chủng cục bộ của một số loài
Bảng 4.2 Khối lượng trung bình lâm sản khai thác của hộ gia đình
Số lần vào rừng
(lần/tháng)
Cây thuốc (kg/tháng )
Rau, củ, quả (kg/tháng)
Măng (kg/tháng )
Mật ong (lít/tháng )
Động vật
(kg/tháng )
Củi (kg/tháng )
(Nguồn: Được tổng hợp từ phụ lục 3)
Từ bảng 4.2 cho thấy:
Đời sống người dân nơi đây vẫn phụ thuộc vảo rừng Khai thác TNR còn
là nguồn thu nhập chính của một số hộ gia đình 100% số hộ được phỏng vấn khai thác củi cho nhu cầu chăn nuôi và sinh hoạt hàng ngày Trung bình 1 tháng mỗi HGĐ vào rừng khoảng 9 lần 1 ngày 1 hộ gia đình sử dụng khoảng 9,59kg củi Các loại Rau, củ, quả trung bình mỗi hộ khai thác 8,18 (kg/tháng), để phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày và một phần được trở thành hàng hóa Các loại măng được khai thác như: Măng nứa, vầu, Trung bình mỗi hộ khai thác từ 7,37 (kg/tháng) để phục vụ sinh hoạt và một số hộ gia đình để bán ở các chợ gần thôn hoặc cho các lái buôn Săn bắn động vật hoang dã do số lượng còn ít và ở sâu trong rừng nên việc săn bắn ở đây bị hạn chế rất nhiều
so với trước, người dân săn bắt chủ yếu vào mùa mưa bằng hình thức đặt bẫy và các loại động vật chủ yếu là Lợn rừng, Chồn, Sóc, Nai, Khỉ Việc khai thác ong của người dân tại đây chỉ xảy ra vào mùa nắng nóng các hộ lấy
cả mật ong lẫn con ong, điều này làm ảnh hưởng đến số lượng ong qua mỗi