Trang 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- TRIỆU THỊ QUYÊN SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG MƠ HÌNH NƠNG THƠN M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
TRIỆU THỊ QUYÊN
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
Ở XÃ SONG PHƯỢNG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
TRIỆU THỊ QUYÊN
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
Ở XÃ SONG PHƯỢNG, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Triệu Thị Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ rất nhiệt tình, hiệu quả của Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam,Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân thành phố Hà Nội”, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Song Phượng nói riêng và Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng nói chung cùng đông đảo bà con nhân dân
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Quản
trị kinh doanh, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, đặc biệt là Tiến Sỹ Phạm Thị Minh Nguyệt, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong
việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân thành phố Hà Nội”, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Song Phượng, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ban của Huyện ủy, các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng; xin cảm ơn toàn thể bà con nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn đã giúp đỡ, cộng tác cùng tôi để có thể hoàn thành Luận văn kịp tiến độ theo kế hoạch
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Triệu Thị Quyên
Trang 5PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA
CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG
2.1.3 Nguyên tắc thực hiện và các bước xây dựng nông thôn mới 11 2.2 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng
2.2.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong xây dựng nông
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây
2.3.1 Chủ trương chính sách của Đảng trong mô hình xây dựng NTM 19 2.3.2 Nhận thức của người dân trong xây dựng nông thôn mới 20
Trang 62.3.3 Trình độ nhận thức và trình độ tổ chức của cán bộ các cấp trong
2.3.4 Điều kiện kinh tế của địa phương và các hộ dân trong mô hình
2.3.5 Hiệu quả mang lại của các dự án xây dựng nông thôn mới 24 2.4 Kinh nghiệm của một số nước về tăng cường sự tham gia của
người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn mới 25 2.4.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn mới của Hàn Quốc: Nâng cao
vai trò của nông dân thông qua mô hình “làng mới” (Saemaul
2.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan: doanh nghiệp hoá nông nghiệp với
2.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm” 29 2.5 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới ở Việt
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
4.1 Tình hình tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong
Trang 7xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Song Phượng 50
4.1.2 Sự tham gia của người dân trong những tác động chung từ những
4.2 Kết quả thực hiện đề án xây dựng mô hình nông thôn mới tại
4.3 Khó khăn và thuận lợi trong việc tham gia xây dựng mô hình
NTM của người dân và các tổ chức xã hội tại xã Song Phượng 98
4.5 Định hướng sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội
4.6 Các giải pháp tăng cường sụ tham gia của người dân và các tổ
chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới 105 4.6.1 Các giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong xây
4.6.2 Giải pháp về đẩy mạnh sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã
hội và các đoàn thể trong xây dựng nông thôn mới 108
Trang 8Ủy ban nhân dân Nông – lâm – thủy – sản Sản xuất hàng hóa Hợp tác xã
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Kết quả xây dựng NTM trên toàn quốc qua 3 năm (2011-2013) 32
3.2 Tình hình phân bố & sử dụng đất tại xã Song Phượng qua 3 năm
3.3 Tình hình dân số và lao động tại xã Song Phượng qua 3 năm
3.4 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã qua 3 năm (2011 - 2013) 42
4.1 Tình hình tham gia thảo luận của người dân 52
4.3 Sự tham gia của người dân và các tổ chức trong công tác lập kế
4.4 Lịch trình công tác quy hoạch nông thôn mới 57 4.5 Ý kiến đóng góp của người dân và tổ chức về quy hoạch nông
4.6 Sự đồng thuận của người dân về đóng góp xây dựng nông thôn
4.7 Vốn và phân bổ nguồn vốn xây dựng nông thôn mới xã Song
4.8 Người dân đóng góp tiền mặt cho xây dựng nông thôn mới 66 4.9 Sự đóng góp vật tư của người dân trong xây dựng nông thôn mới 67 4.10 Sự tham gia hiến đất cho xây dựng nông thôn mới 68 4.11 Sự đóng góp ngày công của người dân trong xây dựng NTM 70 4.12 Người dân tham gia giám sát xây dựng nông thôn mới 71 4.13 Tổng hợp đóng góp của người dân Song Phượng 72
Trang 104.14 Kinh phí đã thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới tại Song
4.15 Sự tham gia của người dân trong các công việc riêng 75 4.16 Sự đồng thuận của người dân với các phong trào xây dựng nếp
4.17 Nguyên nhân không đồng thuận với Phong trào xây dựng nếp
4.18 Một số kết quả sau 3 năm thực hiện xây dựng NTM xã Song
Trang 12MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng
họ và theo phạm vi làng, xã Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ muôn đời nay Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn hơn 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở nông thôn 1
Trong thời kỳ nào Đảng ta cũng đều chăm lo đến phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định:
“Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước” Trong thời gian qua các cấp, các ngành từ
trung ương đến địa phương đã không ngừng triển khai nhiều chương trình, dự
án nhằm thúc đẩy và phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới chủ động giải quyết thiết thực các vấn đề đời sống và đáp ứng nhu cầu cho nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vươn lên có cuộc sống tốt hơn, đảm bảo phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn ”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới”, tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và QĐ 342/QĐ-TTg, ngày 20 tháng 2 năm 2013 ”Về sửa đổi một số tiêu chí về Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới” Trong số các địa phương ở Hà Nội, Đan
Phượng là huyện tiêu biểu về xây dựng nông thôn mới (NTM) Là huyện
ngoại thành ở phía tây Thủ đô, nơi khởi nguồn của phong trào "Phụ nữ Ba
1
Trích “Thông cáo báo chí Tình hình kinh t ế - xã hội năm 2013” của Tổng Cục Thống Kê
Trang 13đảm đang" thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những năm gần đây, Đan
Phượng tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, đạt năng suất, chất lượng cao, đồng thời là địa phương dẫn đầu trong phong trào xây dựng NTM ở Hà Nội Với cách làm sáng tạo, bài bản, huyện đã và đang triển khai đồng loạt các giải pháp, chương trình đầu tư xây dựng hạ tầng kinh
tế, xã hội, tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề… với mục tiêu phấn đấu “cán đích” huyện NTM ngay trong năm 2013
Xã Song Phượng được chọn là xã điểm trong phong trào xây dựng NTM tại huyện Đan Phượng Sau gần 3 năm thực hiện đề án xây dựng NTM, tính đến thời điểm kết thúc năm 2013, xã Song Phượng đã được thành phố công nhận xã đạt chuẩn NTM năm 2013, giai đoạn 2011-2015; đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng NTM, từng bước đưa địa phương chuyển biến tích cực trong từng giai đoạn Người dân đã có ý thức tốt trong việc chấp hành pháp luật và những quy định của địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường và tham gia phát triển kinh tế, nhờ vậy đời sống của nhân dân trong xã ngày càng được nâng cao Điều quan trọng nhất mà Song Phượng đạt được trong phong trào xây dựng NTM đó là tạo được sự hưởng ứng tích cực và sự đồng thuận cao của người dân Đây là cơ
sở để triển khai xây dựng NTM đạt hiệu quả cao nhất trên phạm vi toàn huyện trong thời gian tới
Như vậy, sau gần 3 năm triển khai xây dựng mô hình thí điểm thì việc xây dựng NTM ở xã Song Phượng đã diễn ra như thế nào? Có đạt được mục tiêu đề ra hay không? Đặc biệt là vai trò của người dân và các tổ chức xã hội được thể hiện như thế nào trong quá trình tham gia xây dựng mô hình NTM? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của họ? Thuận lợi, khó khăn của người dân và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng NTM ở đây? Bài học kinh nghiệm nào cần rút ra trong quá trình xây dựng mô hình NTM? Cần có các giải pháp gì để giúp người dân và các tổ chức xã hội tham gia thực
Trang 14hiện tốt mô hình NTM đảm bảo duy trì mô hình có hiệu quả, hợp lý và có tính bền vững?
Để góp phần thúc đẩy việc thực hiện xây dựng NTM của vùng đồng bằng sông Hồng, đánh giá đúng vai trò sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội ở xã Song Phượng trong xây dựng NTM, trên cơ sở đó đề xuất các
giải pháp thực hiện tốt mô hình này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, các nhân tố ảnh hướng đến sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng NTM ở xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng NTM cho các địa phương khác
- Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường
sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong thực hiện xây dựng mô hình NTM tại địa phương cũng như trong khu vực
1.2.3 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn ở xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Trang 151.2.4 Phạm vi nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu đề tài là người dân nông thôn và các tổ chức xã hội của xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Tập trung vào một số chỉ tiêu chính như:
* Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng
sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng NTM xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo
* Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ở xã Song Phượng, huyện
Đan Phượng, thành phố Hà Nội
* Về thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong
khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm 2011, năm 2012, năm 2013; các số liệu dự kiến tính đến năm 2020
1.2.5 Các câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng xây dựng NTM ở Song Phượng đã diễn ra như thế nào? So sánh với mục tiêu đặt ra thì mức độ đạt được đến đâu?
- Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội được thể hiện như thế nào trong quá trình xây dựng mô hình NTM?
- Có những thuận lợi, khó khăn, thách thức gì trong việc huy động sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình NTM ở đây?
- Bài học kinh nghiệm nào cần rút ra trong việc huy động sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội cho xây dựng mô hình NTM?
- Cần có các giải pháp gì để giúp người dân và các tổ chức xã hội tham gia xây dựng tốt mô hình NTM đảm bảo duy trì mô hình có hiệu quả, hợp lý,
và có tính bền vững?
Trang 16PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1 Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
a Nông thôn
Khái niệm nông thôn có tính chất tương đối và biến động theo thời gian
để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Cũng có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn
Nông thôn là nơi ở, nơi cư trú của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân Nông thôn là nơi nền sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp Hay nói cách khác, nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã Nông thôn Việt Nam là khái niệm để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Năm 1990 có 53.136 triệu người sống ở nông thôn, chiếm 80,4% dân số cả nước; năm 2000 tỷ lệ này còn 75,8%, năm 2005 giảm tiếp còn 72,8% Đến năm 2010, số dân sống ở nông thôn chiếm 69,8% tổng dân số nước ta.2 Với tỷ trọng áp đảo như vậy, đời sống người dân ở vùng nông thôn
có ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội
Tóm lại, nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó đất đai thường rộng lớn hơn với một cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân sống bằng nghề sản
2 Nguồn: Tổng Cục Thống Kê - www.gso.gov.vn
Trang 17xuất nông-lâm-thủy sản (NLTS), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng (CSHT) kém phát triển hơn, trình độ dân trí, khoa học - kỹ thuật (KH-KT), trình độ sản xuất hàng hóa (SXHH) và mức sống thường thấp hơn so với dân
cư đô thị
Tuy nhiên quan niệm này chỉ hoàn chỉnh khi được đặt cụ thể vào điều kiện không gian, thời gian nhất định của mỗi quốc gia, mỗi vùng
b Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về NTM Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thì Nông thôn mới được hiểu đó là nơi:
- Có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch
- Xã hội – nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường
Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Mục tiêu chung của chương trình là xây dựng NTM có kế cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; CCKT và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí,
Trang 18gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được
nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
Việc xây dựng NTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế
Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành
Trang 19thị còn lớn làm phát sinh nhiều vến đề xã hội bức xúc
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Từ các quan điểm trên theo tôi: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt”
2.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
a Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM
là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển
đô thị, thị trấn, thị tứ
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng
Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
Trang 20Đây là một chủ trương có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội; thực hiện thắng lợi chủ trương này sẽ tạo động lục mạnh mẽ cho PTNT, KTNT và nền kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, tạo ra diện mạo NTM “ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc”
Chương trình bao gồm 11 nội dung:
1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội
3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền,đoàn thể trên địa bàn
11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
b Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Để định hướng việc xây dựng NTM, chính phủ đã ban hành 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới Phải khẳng định rằng 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí Nông thôn mới là điểm định hướng, làm mốc để những người dân tự xem ở địa phương mình khi xây dựng NTM nên bắt đầu từ đâu,
đã đi được bao xa, lĩnh vực nào đạt, nhanh chậm ra sao…
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí, được chia thành 5 nhóm cụ thể:
Trang 21* Nhóm 1: Quy hoạch (1 tiêu chí)
• Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch
* Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội (8 tiêu chí)
Tại Hội nghị trung ương 7 (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW
”Về Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn” để giải quyết vấn đề chiến lược
này, trong đó đề ra chủ trương, nhiệm vụ hết sức quan trọng là: ”Xây dựng
Trang 22nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH) hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch ” và đề ra mục tiêu đến năm
2020 xây dựng được khoảng 50% số xã trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn NTM
2.1.3 Nguyên tắc thực hiện và các bước xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020, Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 và Quyết định
số 342/QĐ-TTg ngày 20/03/2013 của Thủ tướng Chính Phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Sau đây là một số nội dung trong Thông tư liên tịch liên quan đến quá trình thực hiện các tiêu chí:
a Nguyên tắc thực hiện
Các nội dung hoạt động phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí
về NTM ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính Phủ và Quyết định số 342/QĐ-TTg Sửa đổi một số tiêu chí của
bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Phát huy vai trò chủ thế của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, chính sách, quy chuẩn, cơ chế hỗ trỡ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện
Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lí và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng NTM, phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá Kế thừa lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 23Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ thực thực hiện Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
b, Các bước xây dựng nông thôn mới
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lí, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện)
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình
2.2 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới
2.2.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là mặt trận hàng đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là cơ sở và lực lượng không thể thiếu để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước và hội nhập quốc tế
Để nâng cao vai trò của cán bộ, Đảng viên, của cả hệ thống chính trị trong xây dựng NTM thì không chỉ phát huy vai trò của cấp ủy, rồi của chính quyền mà tất cả cán bộ, Đảng viên rồi Đoàn viên, Hội viên phải đồng lòng, phải quyết tâm cao, thông suốt, nhận thức đúng đắn, vừa gương mẫu tham gia, vừa tuyên truyền để vận động nhân dân thực hiện xây dựng NTM Phải phát huy cho tốt dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị thì xây dựng xã
Trang 24NTM mới mang lại hiệu quả thiết thực Xác định cán bộ, Đảng viên phải là những người gương mẫu, tiên phong, nòng cốt đi đầu trong việc thực hiện các tiêu chí NTM Nhất là trong công tác vận động, tuyên truyền, Đảng viên luôn luôn nêu cao tinh thần quyết tâm, kiên trì thuyết phục, giải thích cho người dân hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của chương trình Qua đó, từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân, hạn chế tư tưởng ỷ lại vào nguồn lực nhà nước so với trước đây Giúp người dân tin tưởng, chủ động tham gia xây dựng, phát triển NTM
Làm tốt công tác xây dựng và phát triển Đảng là nhiệm vụ then chốt để lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt là thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM
2.2.2 Sự tham gia của các tổ chức xã hội
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đang được đẩy mạnh triển khai trên phạm vi cả nước Mục đích của chương trình là huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào công cuộc xây dựng NTM Trong chương trình xây dựng NTM, nông dân được xác định giữ vai trò chủ thể Đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn cả
về kinh tế, văn hóa, xã hội đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của người nông dân
Ngoài vai trò và sự tham gia tích cực của người dân, việc triển khai xây dựng mô hình NTM còn cần có sự phối hợp giữa các cấp lãnh đạo mà cụ
thể là Ban chỉ đạo NTM với các hội, tổ chức, đoàn thể của xã như: Đảng ủy, UBND xã, các trưởng xóm, các tổ chức, đoàn thể Đây chính là lực lượng
nòng cốt đóng vai trò quan trọng trong triển khai các hoạt động xây dựng mô hình xây dựng NTM xã Song Phượng
Trang 25Sơ đồ 2.1: Các tổ chức, đoàn thể tham gia xây dựng mô hình NTM
Đảng ủy, UBND xã là tổ chức chính trị có tầm quan trọng và mức độ
ảnh hưởng lớn nhất trong mọi hoạt động và ra quyết định Mọi hoạt động và phương hướng phát triển xã đều được Đảng ủy, UBND xã thông qua Sự tác động qua lại giữa các hội và các tổ chức, đoàn thể trong xã đã tạo nên một thể thống nhất, dưới sự điều hành cũng như sự hỗ trợ cần thiết của UBND xã và được thể hiện rõ trong việc huy động người dân tham gia xây dựng NTM
Hội người cao tuổi có ảnh hưởng và tầm quan trọng rất lớn đối với
cộng đồng dân cư trong xã Những ý kiến đóng góp của họ luôn được coi trọng Các chi hội người cao tuổi tại các xóm cũng góp phần tích cực trong việc vận động người dân xây dựng đời sống mới và động viên con cháu tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới của địa phương
Hội nông dân: Với lực lượng đông đảo, giữ vai trò chủ lực trong sản
xuất nông - lâm - thủy sản trên địa bàn nông thôn, trong thời gian qua Hội Nông dân (HND) luôn đóng vai trò nòng cốt trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Tham gia thực hiện chương trình xây dựng NTM, HND đã có nhiều hoạt động thiết thực như: Tham mưu với cấp ủy, chính quyền cơ sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM; tuyên
Hội người cao tuổi
Hội nông dân
Hội phụ
nữ thanh Đoàn
niên
Hội cựu chiến binh
Trang 26truyền, vận động hội viên phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng NTM; hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế; dạy nghề, tư vấn việc làm cho nông dân;
Hội cựu chiến binh với các thành viên là những người đã tham gia quân
sự, nhiều đồng chí còn trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cứu nước, nay trở về quê hương cùng với nhân dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng xóm làng Các hội viên đã tích cực trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân hiểu và tham gia xây dựng mô hình NTM; là thành viên của tổ giám sát cộng đồng trực tiếp giám sát các công trình xây dựng đường giao thông, trường học, trạm y tế của xã; Ngoài ra còn đảm nhận công việc quản lý nhà văn hóa các xóm, nơi trung tâm của xóm thường diễn ra các cuộc họp bàn các kế hoạch phát triển xóm làng
Hội phụ nữ: chọn việc giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, xây dựng
nếp sống văn minh và phát triển nâng chất gia đình văn hóa, thiết chế văn hóa gia đình, thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, chỉnh trang nhà cửa, tranh thủ các nguồn vốn tín dụng để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho chị em, hội viên
Mặt trận Tổ quốc: Mặc dù không có các thành viên ở cơ sở nhưng đây
lại là một tổ chức rất quan trọng của xã, đặc biệt là trong công tác định hướng, hoạch định các chiến lược phát triển của xã trong ngắn hạn cũng như dài hạn Mặt trận tổ quốc xã đã tích cực tham gia công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia xây dựng mô hình NTM tại địa phương, đặc biệt trong việc vận động nhân dân hiến đất làm đường giao thông; Làm tốt việc công khai huy động vốn, công khai các hạng mục công trình xây dựng, công khai việc thực hiện, nghiệm thu, thanh quyết toán các công trình; Chỉ đạo ban thanh tra nhân dân thực hiện tốt chức năng giám sát cộng đồng như việc giám sát cán bộ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát việc góp vốn của nhân dân
Đoàn thanh niên xã: Với lực lượng trẻ, khỏe, Đoàn thanh niên xã cũng
Trang 27như các tổ chức khác tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền cho đoàn viên hiểu và tham gia chương trình xây dựng NTM tại địa phương Các đoàn viên đã tích cực tham gia các buổi tập huấn, các mô hình sản xuất, và đi đầu trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào phát triển sản xuất như
áp dụng khoa học kỹ thuật trong nuôi ba ba, nuôi ếch, chim câu, trồng cây cảnh, sản xuất thủ công mỹ nghệ Ngoài ra các đoàn viên thanh niên còn tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường, vì môi trường xanh sạch đẹp nơi sinh sống
Ngoài sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội, không thể không kể đến sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức kinh bởi đây là những đơn vị có nguồn lực lớn Để biến những mục tiêu tốt đẹp của Chương trình xây dựng Nông thôn mới thành hiện thực, mọi nguồn lực cần được huy động một cách hiệu quả, đặc biệt là cộng đồng DN Tuy nhiên, trong quá trình đồng hành cùng địa phương thực hiện chương trình xây dựng NTM, các DN cũng đối mặt với không ít những khó khăn thách thức, cần phải
có sự nghiên cứu và hỗ trợ phù hợp từ phía Nhà nước
2.2.3 Nội dung tham gia của người dân
Sự tham gia của người dân địa phương vào việc xây dựng mô hình NTM được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm xây dựng mô hình NTM Sự tham gia của người dân thể hiện qua ba nội dung chính là: Tham gia đóng góp; tham gia quản lý giám sát
và hưởng lợi; tham gia thảo luận Khi người dân tham gia phát triển xóm, làng với sự hỗ trợ của Nhà nước, tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Chính vì vậy, để phát huy được sự tham gia của người dân, chúng
ta phải định hướng phương châm: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người dân
vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan
Trang 28điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc”
* Người dân tham gia thảo luận xây dựng chiến lược, giải pháp thực hiện xây dựng NTM:
- Dân biết: Để người dân tích cực tham gia thảo luận về các vấn đề trong
xây dựng NTM thì người dân cần nắm được đầy đủ các thông tin về các công trình xây dựng, về quy hoạch nông thôn, về những khoản kinh phí để thực hết các công trình đó cũng như kết quả đạt được Đó chính là “dân biết”
- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi
Người dân sẽ thấy vai trò của mình rõ hơn hiểu biết của mình có ích cho xã hội hơn và đặt biệt tinh thần làm chủ sẽ cao hơn khi được trực tiếp tham gia họp bàn với các cấp chính quyền các tổ chức “Dân bàn” là cách tốt nhất để khai thác các tiềm năng trí tuệ cũng như kinh nghiệm trong dân
Khi người dân được trực tiếp tham gia họp bàn thông qua các cuộc họp
do các cấp chính quyền tổ chức được đưa ra công khai đề người dân được bàn bạc công khai, người dân sẽ đưa ra những ý kiến hay, sáng kiến hay để giúp cho việc thực hiện được tốt hơn, người dân cảm thấy mình được làm chủ và nhận thấy những lợi ích trong công cuộc xây dựng NTM thì công cuộc xây dựng NTM sẽ thành công tốt đẹp
* Người dân tham gia đóng góp: Đất đai, công lao động, vật chất, tiền của, trong công cuộc xây dựng NTM
- Dân đóng góp: Khi người dân đã đóng được đầy đủ các thông tin và
thảo luận đi đến những thống nhất về các chủ chương và các phương án, hoạt
Trang 29động của địa phương thì họ sẽ sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức cho việc xây dựng NTM Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc, công sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: Là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có
sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
* Người dân tham gia quản lý, giám sát và hưởng lợi từ những lợi ích của công cuộc xây dựng NTM
- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát
và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng
và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Dân quản lý: Các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham
gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một
tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ
sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng
Trang 30công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: Là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần
chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập… Hưởng lợi từ khai thác các công trình phúc lợi phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh, văn hóa…của người dân
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới
2.3.1 Chủ trương chính sách của Đảng trong mô hình xây dựng NTM
Xây dựng NTM là chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng, hợp lòng dân Các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện Bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình được hình thành khá đồng bộ; nhiều cơ chế chính sách được ban hành có tác dụng thiết thực và trở thành động lực thúc đẩy tiến độ triển khai
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia (QĐ 491) làm
cơ sở định hướng chỉ đạo xây dựng NTM trên địa bàn xã và các Quyết định (QĐ 800, 695, 342,498…) về cơ chế, chính sách để thực hiện chương trình Các Bộ, ngành đã ban hành các Quyết định và nhiều Thông tư hướng dẫn
thực hiện các cơ chế chính sách, nội dung chương trình
Vận dụng chính sách của Trung ương, các tỉnh, thành phố đã chủ động ban hành thêm nhiều cơ chế chính sách phù hợp với địa phương, như chính
Trang 31sách cấp xi măng để dân tự làm đường ở Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình ; chính sách hỗ trợ lãi suất để khuyến khích nông dân vay chuyển đổi cơ cấu sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng hoặc mua máy móc làm đất, máy gặt đập liên hợp của An Giang, Đồng Tháp, Thái Bình; chính sách phát triển mỗi làng một sản phẩm của Quảng Ninh
Tuy vậy, tới nay vẫn còn một số cơ chế chính sách của Trung ương chậm được ban hành hoặc chậm sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế như: Chính sách hỗ trợ cho các vùng đặc thù, cơ chế lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn xã; qui định Tổ chức bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo (BCĐ) chương trình các cấp; Hướng dẫn thực hiện tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa; nhà ở dân cư đạt chuẩn; Hướng dẫn về quy chế quản lý qui hoạch xây dựng nông thôn như:
Theo QĐ 800 thì chương trình NTM được nhà nước đầu tư theo cơ chế khoảng 90%, còn lại huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: khoảng 10% Nhưng năm 2012 Thủ tướng ban hành QĐ 695 về Sửa đổi nguyên tắc cơ chế
hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 Đây chính là nguyên nhân dẫn đến viêc thực hiện công tác
XD NTM gặp khó khăn vì trước khi xây dựng đề án hầu như các xã thực hiện theo QĐ 800, nên theo QĐ 695 phải điều chỉnh lại cơ cấu nguồn vốn, dẫn đến cho các xã gặp nhiều khó khăn và vướng mắc Hay theo quyết định số 800/QĐ-TTg, Ủy ban nhân dân xã là cấp lập đề án xây dựng NTM trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt sau đó tiến hành lập các dự án đầu tư, các đề
án chuyên ngành, các báo cáo đầu tư… Đây là công việc hoàn toàn mới đối với UBND xã nên số cán bộ của các xã phần lớn vừa thiếu kiến thức lại thiếu con người cũng như bất cập về các vấn đề liên quan khác
2.3.2 Nhận thức của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Nhận thức của phần lớn người dân về xây dựng NTM đã có chuyển biến rõ rệt Xây dựng NTM đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước
Trang 32Dân chủ cơ sở được nâng cao hơn, ý thức và trách nhiệm làm chủ của người dân từng bước được nâng lên rõ rệt Qua đó đã phát huy được nhiều cách làm sáng tạo góp phần huy động được nhiều nguồn lực đóng góp cho xây dựng NTM Trong xây dựng NTM, người dân được bàn và tham gia từ đầu về quy hoạch, tạo sự nhất trí, đồng lòng cao trong cả quá trình tổ chức triển khai Người dân đã thảo luận từng việc, công trình làm trước, làm sau cho phù hợp với nguồn lực của chính họ, của địa phương và Trung ương hỗ trợ để hiệu quả nhất
Từng người dân tự giác điều chỉnh trong nhà, vườn của mình theo quy hoạch chung của xã, góp phần văn minh, sạch – đẹp làng xã; tích cực tham gia sản xuất, xoá đói giảm nghèo, chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh, bảo đảm
an ninh trật tự xã hội ở nông thôn
An ninh nông thôn tốt, mối đoàn kết nhân dân bền chặt và có sự đồng thuận của người dân
Thu nhập của người dân không ngừng tăng cao, đồng thời tỉ lệ hộ nghèo giảm đáng kể (đánh giá theo tiêu chí mới hiện nay chỉ còn 4,6% số hộ nghèo)
Tóm lại, xây dựng nông thôn mới thực sự đã trở thành một phong trào lan tỏa đến từng người dân Người dân nhận thức đầy đủ, chính xác về vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới, từ đó tự nguyện đóng góp thời gian, công sức, vật chất để thực hiện các tiêu chí nông thôn mới Cùng với đó, bộ tiêu chí đã được sửa đổi, phù hợp với thực tiễn đời sống, đặc trưng vùng, miền nên việc triển khai thực hiện ở cơ sở thu được nhiều kết quả
2.3.3 Trình độ nhận thức và trình độ tổ chức của cán bộ các cấp trong mô hình xây dựng nông thôn mới
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo được nhiều địa phương (nhất là cấp xã) đã được kiện toàn Qua hoạt động thực tiễn đội ngũ cán bộ xã đã có bước trưởng thành nhanh, năng lực, tinh thần trách nhiệm, kỹ năng vận động quần chúng
Trang 33đã được nâng lên rõ rệt Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở đạt chuẩn được quan tâm (đã có khoảng 85% số xã đạt tiêu chí này) Nhiều nơi đã luân chuyển tăng cường cán bộ về xã Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ về công tác ở cấp xã
Sự phối hợp giữa Đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chương trình xây dựng NTM ngày càng cụ thể và hiệu quả như Hội nông dân với xóa đói giảm nghèo;
Hội phụ nữ với phong trào “5 không, ba sạch”… Nhờ đó đã kịp thời khắc phục
những hạn chế trong nhận thức của cán bộ và nhân dân; tháo gỡ khó khăn vướng mắc từ cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, tạo sự nhất trí, đồng thuận cao trong cả hệ thống chính trị Công tác đào tạo, tập huấn được Ban chỉ đạo Thành phố đánh giá có hiệu quả cao, thiết thực giúp cho những người trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện Chương trình ở cơ sở với phương châm “dắt tay, chỉ việc”, do đó trong 03 năm (2011-2013) Ban chỉ đạo Thành phố đã chỉ đạo Cơ quan Thường trực BCĐ TP phối hợp với các Sở, ngành tổ chức tập huấn về công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM, công tác huy động nguồn lực trong xây dựng NTM, phương pháp tổ chức thực hiện chương trình … cho các đối tượng là cán
bộ huyện, thị xã và lãnh đạo các xã với tổng số cán bộ tham dự trên 35 nghìn người Nội dung tập huấn theo khung Chương trình tại Quyết định 1003/QĐ-BNN-KTHT ngày 18/5/2011 của Bộ Nông nghiệp & PTNT (11 chuyên đề/lớp)
Thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng đào tạo nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xây dựng NTM từ Trung ương đến địa phương, nhiều địa phương
đã tổ chức đào tạo tập huấn, bồi dưỡng cho toàn Hệ thống chính trị từ cấp huyện, xã, thôn Chương trình đào tạo được xây dựng trên khung chương trình tại Quyết định 1003/QĐ-BNN-KTHT ngày 18/5/2011 của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Chương trình đào tạo ở cơ sở với phương châm “dắt tay, chỉ việc” Sau
Trang 34đợt tập huấn tại trên lớp, còn được đi thăm quan, học hỏi trao đổi kinh nghiệm của các địa phương khác Sau khi được tập huấn trình độ tổ chức của các cấp
đã được nâng cao rõ rệt đặc biệt là cán bộ thôn, xóm
2.3.4 Điều kiện kinh tế của địa phương và các hộ dân trong mô hình xây dựng nông thôn mới
Điều kiện kinh tế của từng địa phương và các hộ dân là nhân tố quyết định trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương Địa phương nào điều kiện kinh tế thuận lợi thì đồng nghĩa với việc xây dựng NTM sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn, bên cạnh đó kinh tế của các hộ dân cũng không kém phần quan trọng Theo bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới đã phân 5 vùng cụ thể: Trung du miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung bộ; Duyên hải nam TB; Tây Nguyên với mục đích phân theo vùng niềm để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
Xây dựng NTM với phương châm phát huy nội lực là chính vì vậy địa phương nào nguồn lực mạnh, kinh tế phát triển tốt thì nơi đó công cuộc xây dựng NTM sẽ có chỉ số thành công cao hơn cụ thể như Thành phố Hà Nội đang được coi là địa phương có vị trí địa lý, điều kiện kinh tế thuận lợi và mạnh nhất trong cả nước, vì có vị trí điều kiện kinh tế thuận lợi thì mới phát huy được tiềm lực, người dân có kinh tế ổn định thu nhập cao thì mới có điều kiện để tham gia đóng góp để xây dựng, còn hiện tại một số tỉnh có điều kiện
vị trí địa lý, kinh tế xã hội khó khăn điển hình như tỉnh Hà Giang là tỉnh nghèo đứng 62 cả nước thì thực sự công cuộc xây dựng NTM là cả một thách thức, trình độ dân trí thấp, kinh tế nghèo nàn, vị trí địa lý điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người dân không có đủ cơm ăn, áo mặc thì làm sao người dân có điều kiện để đóng gớp, giao thông đi lại khó khăn sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, vị trí địa lý khó khăn hiểm trở ruộng đồi đều trên núi cao, đất canh tác không có nên người dân tất cả chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ từ nguồn kinh phí của Nhà Nước
Trang 352.3.5 Hiệu quả mang lại của các dự án xây dựng nông thôn mới 3
Xây dựng NTM đang dần trở thành phong trào mạnh mẽ lan rộng cả nước, trong 3 năm qua đã góp phần thay đổi diện mạo, cải thiện điều kiện sống của dân cư ở nhiều vùng nông thôn
Cơ sở vật chất ở nông thôn được đầu tư nâng cấp đảm bảo đạt chuẩn theo tiêu chí, bộ mặt nông thôn thay đổi rõ nét, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao, môi trường sinh thái được cải thiện Kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới
Trong 3 năm qua, nhà nước đã quan tâm đầu tư phát triển thủy lợi Tổng năng lực tưới của các hệ thống thủy lợi tăng 70.000 ha so với năm 2011
Đã mở mới được 15.185 km đường; sửa chữa, nâng cấp 74.329 km đường các loại Hệ thống điện nông thôn tiếp tục được nâng cấp và mở rộng
Hệ thống giáo dục từng bước được xây dựng theo chuẩn và xã hội hoá Quy mô, mạng lưới trường, lớp học ở vùng nông thôn tiếp tục tăng lên Trong
3 năm qua, đã xây mới thêm 198 trường Trung học phổ thông; xây dựng bổ sung 25.794 phòng học mầm non, 39.480 phòng học bậc tiểu học, 21.899 phòng học bậc THCS, 5.018 phòng học bậc THPT; so với năm 2008, trẻ em
đi nhà trẻ tăng 15,8%, đi mẫu giáo tăng 11,4% Chính sách học phí, hỗ trợ học sinh người dân tộc thiểu số, chính sách cho vay vốn để học tập được điều chỉnh tăng hơn tạo thuận lợi cho học sinh, sinh viên từ các vùng nông thôn
Hệ thống các trạm y tế trên cả nước được tăng cường cả về số lượng trang thiết bị và nhân viên y tế Trong 3 năm qua, có 645 bệnh viện, trung tâm
y tế tuyến huyện và phòng khám đa khoa khu vực được đầu tư nâng cấp Về
hệ thống y tế ở cơ sở, đến nay 99,51% số xã có trạm y tế (trong đó khoảng 45% xã đạt chuẩn quốc gia) Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ đạt 72%, có nhà hộ sinh đạt trên 95%
3 Báo cáo 191/BC-CP-Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2014 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chương trình năm 2014 - 2015 và đến năm
2020
Trang 36Các địa phương đã chú trọng xây dựng và nâng cấp hệ thống nhà văn hoá, khu thể thao xã và thôn bản Đến năm 2014, cả nước có 44,8% số xã có Trung tâm văn hoá – thể thao; 62,7% số thôn có nhà văn hoá, nhà sinh hoạt cộng đồng, tăng 18% so với năm 2008
Đây chính là hiệu quả từ mô hình NTM mang lại đường xá giao thông
đi lại thuận tiện cho giao thương hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ tốt, thị trường thương mại ngày càng mở rộng, kinh tế nông thôn ngày càng phát triển, các khu công nghiệp phát triển, và điều nhìn thấy nhất đó là bộ mặt nông thôn được cải thiện rõ rệt đường láng ngõ xóm sạch đẹp, nếp sống mới
đi vào tới từng hộ dân, cơ cấu sản xuất được chuyển đổi những cánh đồng mẫu lớn được xây dựng lên, hoa màu được chuyển đổi, sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa, cơ sở hạ tầng khang trang lịch sự
2.4 Kinh nghiệm của một số nước về tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn mới
2.4.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn mới của Hàn Quốc: Nâng cao vai trò của nông dân thông qua mô hình “làng mới” (Saemaul Undong) 4
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực
và phần lớn người dân không đủ ăn Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước Xã hội Hàn Quốc thời đó như nhận xét của người trong cuộc là "một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng".Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy
ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Phong trào Làng mới phải kể đến đóng góp quan trọng của cựu Tổng thống Park Jeong –hee Với sự kiên
4 Nguồn: Internet - http://sac.edu.vn/tinchitiet.php?id1=131&id2=183&id=396
Trang 37trì và nhiệt huyết muốn thay đổi và giải quyết các vấn đề của nông thôn, ông
đã đưa phong trào Làng mới trở thành phong trào trọng tâm của đất nước Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi
đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước
bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của”
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục
vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác
định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ
sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Thành công ở Hàn
Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc
đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh
toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng Nếu năm
Trang 381970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng NTM ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có “Saemaulundong” đã được phát động cách đây hơn 40 năm nhưng dư âm của “Tinh thần Saemaul” vẫn thôi thúc người dân Hàn Quốc đến tận hôm nay Một đất nước từng bị đô hộ từ cuối thể kỷ 19, xuất phát là một trong những quốc gia nghèo đói nhất, Hàn Quốc đã cất cánh trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 12 thế giới, với thu nhập đầu người hiện nay vượt trên 20.000 USD
2.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan: doanh nghiệp hoá nông nghiệp với sự trợ giúp mạnh mẽ của Nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách
mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực tài nguyên đã bị suy thoái; giải
Trang 39quyết những mâu thuẫn liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu
hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Năm 1977, Thái Lan lựa chọn chiến lược “xuất khẩu nông sản” với
mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã chế biến Công nghiệp chế biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy Đến năm 1989, Thái Lan đã
có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào
sự liên kết này Trong xây dựng hạ tầng, đã có chiến lược xây dựng và phân
bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Trong lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, đã tập trung cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách: Phát triển nông nghiệp với nhiều sáng kiến được khuyến khích trong chương trình “mỗi làng một sản
Trang 40phẩm” và chương trình Quỹ làng; Thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm; Mở cửa thị trường, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài
2.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm” 5
Quá trình tiến hành HĐH đất nước của Nhật Bản chính là quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đây cũng
là quá trình người nông dân tự do chuyển đổi “thân phận” của mình Trong quá trình đó, nguồn lực lao động được chuyển dịch từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, từ nông thôn sang thành thị, đó cũng chính là quá trình phi nông hóa người nông dân
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, Nhật Bản đã rút ra kinh nghiệm, phải xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước, tập trung sức mạnh, thúc đẩy CNH nông nghiệp, CNH nông thôn, đô thị hóa nông thôn Trong thời kỳ thúc đẩy CNH nông nghiệp, Nhật Bản rất coi trọng phát triển nông nghiệp, thúc đẩy mạnh mẽ các “chính sách khuyến nông”, đổi mới kỹ thuật nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp Từ thập kỷ 60 đến đầu thập
kỷ 80 của thế kỷ XX, về cơ bản, Chính phủ Nhật Bản “bứng trồng” trực tiếp
kỹ thuật sản xuất và phương thức kinh doanh nông nghiệp của phương Tây Mặc dù những biện pháp này đã phát huy vai trò tích cực nhất định đối với quá trình cải cách trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thời đó của Nhật Bản, nhưng do “bứng trồng” một cách phiến diện kinh nghiệm của nước khác, tách rời tình hình của Nhật Bản nên cuối cùng đã thất bại Thập kỷ 80, Nhật Bản bắt đầu tìm tòi con đường phát triển nông nghiệp thích hợp với mình, đẩy mạnh tiến trình CNH nông nghiệp, đặc biệt coi trọng phương thức kinh doanh
và kinh nghiệm của nền nông nghiệp truyền thống của Nhật Bản, đồng thời áp dụng các biện pháp để thúc đẩy các hoạt động trao đổi, phổ biến kinh nghiệm
5 Nguồn: Internet - ban