1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

51 631 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 304,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, em tiến hành thực tập tốt nghiệp với tên đề tài: "Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ MINH TRANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Khoa : Môi trường

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ MINH TRANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trương Thị Ánh Tuyết

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức, lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn

Để đạt được mục tiêu đó, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu khắt khe của nhà tuyển dụng sau khi ra trường Được sự nhất trí của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, em tiến hành thực tập tốt

nghiệp với tên đề tài: "Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của

người dân tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên"

Hoàn thành bài khóa luận này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Th.S Trương Thị Ánh Tuyết, người đã trực tiếp hướng dẫn và

giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Nhân dịp này em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong và ngoài khoa Tài nguyên và Môi trường, UBND xã Tà Lèng, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Điện Biên, trung tâm y tế dự phòng tỉnh Điện Biên - khoa xét nghiệm, người dân trong xã đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù em đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian thực tập và kinh nghiệm cũng như trình độ của bản thân còn hạn chế Vì vậy bản khóa luận này không thể tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót Vậy em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo

và toàn thể các bạn để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014

Sinh viên

Lê Thị Minh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục đích của đề tài 3

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở pháp lý của đề tài 5

2.1.1 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tài nguyên nước của Việt Nam 5

2.1.2 Các tác nhân và thông số hoá học gây ô nhiễm môi trường nước 6

2.1.3 Tác nhân sinh học gây ô nhiễm nguồn nước 7

2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến nước 8 2.2.3 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Điện Biên 10

2.2.4 Một số bệnh liên quan đến nguồn nước sinh hoạt 11

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU16 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 16

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16

3.1.3 Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện 16

3.2 Nội dung nghiên cứu 16

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 16

3.2.2 Hiện trạng cấp thoát nước 16

Trang 5

3.2.3 Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt của người dân xã Tà Lèng,

thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 16

3.2.4 Đề xuất giải pháp giải quyết nhu cầu nước sạch cho người dân xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn 16

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 17

3.3.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích phòng thí nghiệm 17

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 17

3.3.5 Phương pháp tổng hợp so sánh và dự báo dựa trên số liệu thu thập được 18

3.4 Đánh giá hiện trạng 18

3.4.1 Đánh giá cảm quan 18

3.4.2 Đánh giá thông qua phân tích các chỉ tiêu 18

3.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của nguồn nước sinh hoạt tới sức khỏe của người dân 18

Phần : 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19

4.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên 19

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 19

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 22

4.1.3 Hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật 23

4.1.4 Văn hóa, chính trị - xã hội 25

4.1.5 Hiện trạng cấp thoát nước 26

4.2 Nguồn nước và hiện trạng nước sinh hoạt của xã Tà lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 27

4.2.1 Nguồn nước dùng cho sinh hoạt 27

Trang 6

4.2.2 Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của xã Tà Lèng, thành phố

Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 28

4.2.4 Đánh giá công tác quản lý nước sinh hoạt của xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 35

4.2.5.Đề xuất giả pháp 35

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36

5.1 Kết luận 36

5.2 Kiến nghị 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ,

tỉnh Điện Biên năm 2013 21

Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2013 23

Bảng 4.3 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 27

Bảng 4.4 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 28

Bảng 4.5 Kết quả Phân tích mẫu nước mặt 30

Bảng 4.6 Các loại nhà vệ sinh trên địa bàn xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 33

Bảng 4.7 Loại hình thu gom rác 33

Bảng 4.8 Một số căn bệnh mà người dân xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thường mắc phải có liên quan đến nguồn nước 34

Trang 9

Điện Biên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa xã hội của vùng trung du và miền núi phía bắc Với một lịch sử hào hùng trong thời kỳ kháng chiến cứu nước bảo vệ tổ quốc và nổi bật là chiến thắng Điện Biên Phủ đánh đuổi thực dân Pháp Và trong thời kỳ phát triển và xây dựng đất nước kế thừa truyền thống và tinh thần dân tộc thành phố Điện Biên Phủ đã có rất nhiều cố gắng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, và được đánh giá là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh Phát huy thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và dịch vụ nền kinh tế của tỉnh đã

có những bước phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế

Trang 10

là sự gia tăng khối lượng các chất ô nhiễm thải vào môi trường sống, theo đánh giá của các nhà kinh tế - môi trường: tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 1% thì chất lượng môi trường suy giảm 2% Tốc độ dô thị hóa của Điện Biên trong một vài năm trở lại đây diễn ra khá mạnh kéo theo tỷ lệ dân số ngày càng tăng cao Mức sống của người dân được tăng cao thì mức độ sử dụng nước sinh hoạt ngày càng cao dẫn đến ô nhiễm môi trường nước Nước sinh hoạt bị ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan của thành phố mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của người dân sống trên địa bàn Mặc dù công tác bảo vệ môi trường đã được sự quan tâm của các cấp các ngành cũng như của các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, các cộng đồng dân cư… nhưng hiệu quả đạt được chưa cao, vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng trở nên bức xúc Tài nguyên nước có hạn và đang chịu một sức ép nghiêm trọng trước tình trạng ô nhiễm và sử dụng quá mức cho phép Đây là hậu quả chung của các yếu tố: dân số gia tăng, phát triển kinh tế và công tác quản lý tài nguyên nước chưa thỏa đáng

Khả năng tiếp cận nước sinh hoạt là nhu cầu căn bản nhất của con người Tuy nhiên sự chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước sạch giữa các tỉnh thành, giữa các vùng có sự khác nhau rõ rệt Tỷ lệ các hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu vực thành thị là 78%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn

là 44% Ở nông thôn, khả năng tiếp cận với nước sạch thấp, chủ yếu là sử dụng các nguồn nước tự nhiên từ nước mưa, nước ngầm tại các giếng khoan, giếng khơi, nước mặt tại ao hồ, sông ngòi, khe suối … Chất lượng nước từ các nguồn tự nhiên như trên thường khó được kiểm soát và không được đảm bảo, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt và phát triển của người dân tại các vùng nông thôn, từ đó tác động không nhỏ đến xu hướng phát triển chung của toàn xã hội

Xuất phát từ thực trạng việc sử dụng nước trong sinh hoạt của người dân, để đánh giá được thực trạng chất lượng nguồn nước đang sử dụng tại xã

Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, đồng thời để xác định

Trang 11

được nhu cầu tiếp cận nước sạch của người dân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa môi trường, dưới sự hướng dẫn

trực tiếp của giảng viên Th.S Trương Thị Ánh Tuyết, em tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người dân

tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên”

1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu

1.2.1 Mục đích của đề tài

- Thông qua nghiên cứu đề tài nắm được hiện trạng chất lượng của nguồn nước sủ dụng cho sinh hoạt tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Nắm được nguồn cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Đề ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường và nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của người dân tại xã Tà Lèng, Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt

- Điều tra thu thập thông tin về nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân địa phương

- Số liệu phản ánh trung thực khách quan

- Những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Tạo cơ hội tốt cho việc áp dụng và thực hành những kiến thức đã học vào thực tế

Trang 12

- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế

- Trau dồi, tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau này

- Bổ sung tư liệu cho học tập

- Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn

- Làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng chính sách bảo vệ môi trường nước, kế hoạch cấp nước sạch cho người dân xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, Tỉnh Điện Biên

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở pháp lý của đề tài

2.1.1 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tài nguyên nước của Việt Nam

- Luật Bảo vệ môi trường 2005

- Luật Tài nguyên nước 2012

- Các nghị định, thông tư, Quyết định, Chỉ thị, Văn bản của Chính Phủ,

cơ quan Trung Ương, địa phương liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, tài nguyên nước:

+ Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

+ Thông tư 05/2005/TT-BTNMT ngày 22/7/2005 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về việc Hướng dẫn thi hành nghị định số Nghị định

34/2005-NĐ - CP của Chính phủ về quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

+ Chỉ thị 02/2004/CT - BTNMT của Bộ TN&MT về tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất

+ Thông báo số 1088/VPCP-NN V/v soạn thảo Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên nước

+ Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND V/v qui định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước vào nguồn nước và hành nghề khoan nước

+ Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND V/v quy định chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định đề án, báo cáo thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất

+ Quyết định số 13/2007/QĐ-BTNMT Ban hành Quy định về việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất

Trang 14

+ Nghị định 117/2007/NĐ-CP Về sản xuất, cung cấp tiêu thụ nước sạch + Nghị định sô 17/2006/QĐ-BTNMT Ban hành Quy định về việc cấp phép hành nghề khoan nước dưới đất

+ Thông tư số 02/2006/TT-BTNMT V/v hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP Quy định cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước

+ Chỉ thị 02/2004/CT-BTNMT ngày 02/06/2004 Về tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất

- Các tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt: + Tiêu chuẩn vệ sinh nước cấp sinh hoạt (TCVN 5502:2003)

+ Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống (Ban hành theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/04/2002)

+ Tiêu chuẩn nước sạch (Ban hành theo Quyết định số BYT ngày 11 tháng 03 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

09/2005/QĐ-+ QCVN08:2008/BTNMT

+ Tiêu chuẩn nước ăn uống (QCVN01:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT - BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009)

+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT

do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 05/2009/TT - BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009)

2.1.2 Các tác nhân và thông số hoá học gây ô nhiễm môi trường nước

Các tác nhân và thông số hoá học gây ô nhiễm môi trường nước bao gồm các tác nhân sau:

- Kim loại nặng: Các kim loại nặng như Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn…có trong nước với nồng độ lớn đều làm cho nước bị ô nhiễm Kim loại nặng thường tích luỹ dưới cơ thể sinh vật do vậy rất độc hại với cơ thể sinh vật Kim loại nặng có mặt trong nước từ các nguồn khác nhau như nước thải công nghiệp, y

tế, khai thác khoáng sản, sinh hoạt, nông nghiệp, từ đường giao thông

Trang 15

- Các nhóm anion NO3-, PO3-4, SO2-4: Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp là các chất dinh dưỡng đối với tảo và các sinh vật dưới nước Khi ở nồng

độ cao các chất này gây ra sự phú dưỡng hoặc các biến đổi sinh hoá trong cơ thể sinh vật và người

- Thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc BVTV là những chất độc hại có nguồn gốc

tự nhiên hoặc tổng hợp hoá học, được dùng để phòng trừ các sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản Thuốc BVTV được dùng trong sản xuất nông nghiệp, chỉ có một phần thuốc tác dụng trực tiếp để diệt côn trùng và bệnh hại, còn lại sẽ đi vào nước, đất, tích luỹ trong môi trường hay cơ thể sinh vật.[10]

2.1.3 Tác nhân sinh học gây ô nhiễm nguồn nước

Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân, rác, nước thải Coliform là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn E.coli trong nước thường không gây bệnh cho người và sinh vật

Nước bị ô nhiễm gây ra rất nhiều ảnh hưởng đến đời sống con người

và các sinh vật

Ở Việt Nam có gần 80% loại bệnh có liên quan đến chất lượng nước và

vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh đường ruột, bệnh tả, bệnh thương hàn…Các bệnh đặc biệt là ỉa chảy, lị ngày càng có

xu hướng gia tăng Không chỉ vậy, hiện nay nông thôn Việt Nam, tỷ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc…được xếp vào loại cao nhất thế giới Những khảo sát gần đây cho thấy 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn miền Bắc nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc Các bệnh sán lá gan, lá lợn vẫn hoành hành… Đặc biệt nguy hiểm hơn nếu nước bị nhiễm kim loại nặng là nguyên nhân gây ra căn bệnh ung thư ở người [10]

2.2 Cơ sở lý luận

2.2.1 Một số khái niệm liên quan

- “Tài nguyên nước”: là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có

thể sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt

Trang 16

động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.[9]

- “Nguồn nước ngọt”: Tổng các nguồn nước ngọt được tái sử dụng bao

gồm cả dòng chảy của các song và nguồn nước ngầm từ nước mưa trong nước

và các dòng chảy bắt nguồn từ nước khác [9]

- “ Nước sạch” theo Quyết định số 09/2005/QĐ - BYT ngày 11 tháng 3

năm 2005 của bộ trưởng Y tế là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và hộ gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp

Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo quyết định số 1329/QĐ - BYT ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế

- Nguồn nước bị ô nhiễm có dấu hiệu đặc trưng sau đây:

+ Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm

xuống đáy nguồn

+ Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ …)

+ Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và

vô cơ, xuất hiện các chất độc hại…)

+ Lượng ôxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá

để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào

+ Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng, có xuất hiện các vi trùng gây bệnh

- “Tiêu chuẩn môi trường” là giới hạn cho phép của các thông số về

chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản

lý và bảo vệ môi trường

- “Ô nhiễm môi trường”: theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô

nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường” [10]

- “Ô nhiễm nước” là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất

lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” [9]

2.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến nước

Nước bao gồm 70,9% bề mặt của Trái đất, và là quan trọng cho tất cả các hình thức được biết đến của cuộc sống Ngày Trái đất, 96,5% của nước trên

Trang 17

hành tinh được tìm thấy trong đại dương, 1,7% trong nước ngầm, 1,7% trong các sông băng và các tảng băng ở Nam Cực và Greenland, một phần nhỏ trong các cơ quan nước lớn khác, và 0,001% trong không khí như hơi nước, những đám mây hình thành của các hạt nước rắn và lỏng lơ lửng trong không khí, và lượng mưa Chỉ có 2,5% nước của Trái đất là nước ngọt, và 98,8% của nước đó

là nước đá và nước ngầm Ít hơn 0,3% của tất cả các nước ngọt ở các sông, hồ,

và bầu khí quyển, và một số lượng nhỏ hơn nước ngọt của Trái đất (0,003%) được chứa trong cơ thể sinh học và các sản phẩm sản xuất [2]

Việc sử dụng quan trọng nhất của nước trong nông nghiệp là dành cho thủy lợi, mà là một thành phần quan trọng để sản xuất đủ lương thực Thủy lợi chiếm đến 90% các nước bị thu hồi ở một số nước đang phát triển và đáng kể

tỷ lệ ở các nước kinh tế phát triển hơn (Hoa Kỳ, 30% sử dụng nước ngọt để tưới tiêu) Nó mất khoảng 3.000 lít nước, chuyển đổi từ chất lỏng hơi, để sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu chế độ ăn uống hàng ngày của một người Đây là một số lượng đáng kể, khi so sánh cần thiết để uống, mà là giữa hai và năm lít Sản xuất lương thực cho 6,5 tỉ người sống trong hành tinh ngày hôm nay đòi hỏi các nước đó sẽ điền vào một kênh sâu mười mét, rộng 100 mét và 7,1 triệu

km - đó là đủ để vòng tròn nơi trên thế giới 180 lần [2]

Khoảng 2,4 tỷ người sống trong lưu vực thoát nước của con sông Hy

Mã Lạp Sơn Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Bangladesh, Nepal và Myanmar

có thể gặp lũ lụt hạn hán trong những thập kỷ tới.Hạn hán ở Ấn Độ ảnh hưởng đến sông Hằng là quan tâm đặc biệt, như nó cung cấp nước uống và tưới tiêu nông nghiệp cho hơn 500 triệu người bờ biển phía tây của Bắc Mỹ, được nhiều nước từ dòng sông băng ở dãy núi như dãy núi Rocky và Sierra Nevada, cũng sẽ bị ảnh hưởng [2]

Tổng lượng nước chảy qua lãnh thổ Việt Nam đổ ra biển là 880

m3/năm Khoảng 2/3 lượng nước của Việt Nam là từ nguồn ngoài lãnh thổ chảy vào, chủ yếu qua các hệ thống sông lớn: sông Hồng - Thái Bình 230

km3/năm; song Cửu Long 560 km3/năm, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đã tạo

Trang 18

thuận lợi cho dòng chảy của các con song Lượng dòng chảy trên bề mặt lãnh thổ Việt Nam đạt trên 325 km3 Ngoài 2 hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Cửu Long thì còn các hệ thống sông khác như: hệ thống sông Đồng Nai trên 30 km3, sông Cả 25 km3, sông Thu Bồn 20 km3, sông Mã và sông Chu 18

km3, sông Bằng Kỳ 9 km3, tổng các sông nhỏ còn lại là trên 80 km3

Tại Việt Nam, nguồn nước mặt vẫn là nguồn nước chính cho hầu hết sinh hoạt gia cư và kỹ nghệ Nước ngầm chỉ chiếm độ 30% mức tiêu thụ mà thôi Tuy nhiên ở nhiều nơi mức tiêu thụ nước ngầm lên đến 100% như ở thủ đô Hà Nội

Việt Nam có trên 630 thành phố, trong đó trung bình tỷ lệ người dân được cung cấp nước khoảng 60% vẫn còn tương đối thấp Khả năng cung cấp nước của 190 nhà máy nước trên toàn quốc là 2,6 triệu m3/ngày trong năm

1998, trong lúc đó nhu cầu dự trù cho năm 2010 được ước tính là 8,8 triệu m3/ngày cho nước sinh hoạt và kỹ nghệ [2]

Đối với nông thôn và miền núi, từ năm 1982, Liên Hiệp Quốc qua Quỹ Nhi đồng thế giới (UNICEF) đã tài trợ cho việc đào giếng ở Việt Nam, và tính đến hôm nay đã thực hiện trên 400.000 giếng cho toàn quốc, không kể một số lượng không nhỏ do tư nhân tự làm lấy đặc biệt ở vùng ĐBSCL

2.2.3 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Điện Biên

Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn của cả nước là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông, trong đó riêng lưu vực Sông Đà trên các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay

có diện tích khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, do vậy rừng của Điện Biên có vai trò hết sức quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và điều tiết dòng chảy cho các khu vực hạ lưu

- Nguồn nước mặt trên địa bàn thuộc 3 hệ thống sông chính:

Các suối thuộc Mường Chà, Mường Nhé, thị xã Mường Chà và Tủa Chùa thuộc lưu vực của sông Đà Dòng chính sông Đà đến Thị xã Mường Lay

là ranh giới giữa hai tỉnh Điện Biên, Lai Châu

Trang 19

Nước mặt phân bố ở các huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và thành phố Điện Biên Phủ với diện tích 1.650 km2, được tập trung dồn về sông Nậm Rốm và là lưu vực của sông Mê Kông

Nước mặt phân bố ở các huyện Tuần Giáo và Điện Biên Đông với diện tích 2.550km2 là lưu vực của sông Mã

Sông suối ở Điện Biên dốc, lắm thác nhiều ghềnh, có lượng dòng chảy lớn Lượng dòng chảy giảm dần từ phía Bắc đến phía Nam của tỉnh Các huyện Mường Chà và phía bắc Tuần Giáo có một dòng chảy từ 30 đến 40 l/s/km2; huyện Điện Biên và phía nam Tuần Giáo chỉ còn 20l/s/km2

Sông suối ở Điện Biên nhiều, nguồn nước tương đối dồi dào Tuy nhiên, do cấu tạo địa chất cộng với địa hình cao, dốc nên khả năng giữ nước vào mùa khô rất khó

Nguồn nước ngầm của tỉnh Điện Biên được tập trung chủ yếu ở các thung lũng lớn như Điện Biên, Tuần Giáo Các thung lũng này có trữ lượng nước ngầm khá lớn và hình thành túi đựng nước ở độ sâu từ 20 đến 200 m.[6]

2.2.4 Một số bệnh liên quan đến nguồn nước sinh hoạt

Ở Việt Nam chỉ thống kê từ năm 1997 đến năm 2000 đã có 1364 vụ ngộ độc thực phẩm với 24.514 người mắc và 207 người chết, chỉ tính riêng 5 bệnh (Tả, Thương hàn, Lỵ trực trùng, Lỵ amib và Tiêu chảy) đã có 3.540.719

Trang 20

Những tác nhân sinh vật học chính truyền qua nước có thể xếp thành 4 loại: virus,vi khuẩn, ký sinh trùng và các loại sinh vật khác.[12]

2.2.4.1 Vi rút

* Virus nhiễm qua đường tiêu hoá

Khi nước uống bị nhiễm bẩn virus đường ruột thì 2 bệnh có thể xảy ra thành dịch là viêm dạ dày ruột và viêm gan A

+ Viêm dạ dày ruột nguồn gốc virus thường kéo dài 24-72 giờ kèm theo

buồn nôn, nôn mửa, ỉa chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi Trầm trọng nhất là trẻ nhỏ

và người già khi mà sự mất nước và rối loạn cân bằng điện giải có thể xảy ra nhanh chóng và đe doạ tính mạng nếu không được xử lý kịp thời

+ Bệnh viêm gan A: Virus nhiễm qua đường tiêu hoá rồi thải ra phân và

nhiễm vào nước Viêm gan A xảy ra theo kiểu dịch địa phương và thường bộc phát thành vụ dịch quan trọng.Virus viêm gan A có tính đề kháng cao ở môi trường bên ngoài, nó chịu được nhiệt độ 60oC trong 1 giờ, cần phải có lượng clo 1mg/lít trong 30phút mới làm bất động được virus.[12]

Ngoài ra còn có virus viêm gan E, virus đường ruột, virus Rota

+ Bệnh sốt bại liệt: có sức đề kháng cao ở môi trường bên ngoài, muốn

giết virus cần cho vào nước một liều lượng clo hoạt tính là 0,5mg/l, thời gian tiếp xúc là 1 giờ

* Virus nhiễm qua đường niêm mạc

Đó là Adenovirus, đóng vai trò trong bệnh viêm kết mạc Các virus này

được xem là nguyên nhân gây ra bệnh viêm kết mạc ở các bể bơi công cộng

Các vi khuẩn nhiễm qua đường tiêu hoá:

a Bệnh tả (Cholerae): là bệnh truyền nhiễm cấp tính do phẩy khuẩn tả

(Vibrrio Cholerae) gây ra, lây truyền bằng đường tiêu hoá Bệnh có biểu hiện lâm sàng là ỉa lỏng nhiều và nôn nhiều lần, nhanh chóng mất nước-điện giải, truỵ tim mạch, suy kiệt và tử vong nếu không được điều trị kịp thời Bệnh được xếp vào loại “tối nguy hiểm”

Đây là bệnh dịch điển hình của các bệnh truyền nhiễm lây đường tiêu

Trang 21

hoá, dịch thường lan rộng nhanh trong vùng theo cùng bếp ăn, nguồn nước Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, sau những đợt thiên tai lớn (bão,lụt ) và ở những nơi có trình độ kinh tế, vệ sinh, xã hội thấp kém, không đủ nước sạch cung cấp, xử lý phân, rác chưa tốt

b Bệnh thương hàn (Typhoid fever): là bệnh nhiễm trùng toàn thân do

Salmonella typhi hoặc Salmonella patatyphiA, B, C gây ra Bệnh lây qua đường tiêu hoá, có đặc điểm lâm sàng là sốt kéo dài và gây nhiều biến chứng, quan trọng hơn cả là biến chứng xuất huyết tiêu hoá và thủng ruột

Vi khuẩn thương hàn lây qua đường tiêu hoá Đa số các trường hợp mắc phải là do ăn, uống phải thực phẩm, đồ uống nhiễm phân người bệnh và người mang vi trùng, nước sinh hoạt bị nhiễm phân có vi khuẩn thương hàn không được nấu chín, hoặc do ăn phải thức ăn tươi sống được rửa bằng nguồn nước đã bị nhiễm khuẩn thương hàn

c Bệnh lỵ trực khuẩn (Shigellosis): Là một viêm đại tràng cấp tính gây

bởi vi khuẩn Shigella

Bệnh lây theo đường tiêu hoá, theo cơ chế từ người sang người hoặc từ bàn tay bẩn nhiễm khuẩn lây gián tiếp chủ yếu qua nước uống, thức ăn Ở nước ta, nước uống là trung gian truyền lỵ hàng đầu, nhất là vùng nhân dân ít dùng nước sôi, vùng nông thôn thường uống nước lã bị ô nhiễm không đảm bảo vệ sinh, không đúng qui cách

d Bệnh do nguyên sinh động vật (Rhizopoda): Trong số nhiều loài

nguyên sinh động vật gây bệnh cho người gồm có:

+ Bệnh kiết lỵ Amib: Gây ra do Etamoeba histolytica Tổn thương bệnh

lý xảy ra chủ yếu ở đại tràng (bệnh lỵ amib) và có thể ngoài đại tràng (bệnh amib ở gan, phổi, não, da )

Kén amib nhiễm vào người qua đường tiêu hoá, bằng nhiều cách: qua rau sống, nước lã, thức ăn có kén amib

Trang 22

+ Bệnh do Giardia intestinalis và Balantidium coli: gây rối loạn

nghiêm trọng đường ruột Chúng được đào thải theo phân ở dạng kén bền vững Kén này có thể tồn tại trong nước từ 2 đến 3 tuần, bền vững với các tác nhân khử khuẩn thông thường, ngược lại chúng bị cản trở bởi quá trình lọc nước bằng cát Muốn tiêu diệt kén phải dùng lượng clo 5mg/l trong 1h hoặc đun nóng trên 60o

Đó là triệu chứng của nhiều loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng đường ruột

Có những bệnh ỉa chảy đặc biệt như tả, lỵ trực khuẩn, nhiễm trùng salmonella, do Escherichia coli, nhiễm trùng do yersinia, Giardia, Campylobacter, Cryptosporidum và các virus gây bệnh đường ruột đã mô tả trên

Bệnh ỉa chảy có thể phối hợp với các bệnh nhiễm trùng khác như sốt rét sởi

Bệnh ỉa chảy do E.Coli thường gây ra do ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn hoặc có thể truyền qua nước do uống nước không được khử trùng bằng clo

Bộ Y tế cho biết, tại Việt Nam, cứ 10 bệnh thì 8 có liên quan đến nguồn nước, nhất là các bệnh truyền nhiễm

Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa trong số 26 bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan tới nguồn nước bị ô nhiễm, vệ sinh môi trường và ý thức vệ sinh cá nhân kém của người dân Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp đang xuất hiện rải rác tại một số địa phương Ngoài ra, có nhiều bệnh truyền nhiễm khác cũng liên quan tới nguồn nước như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hoá, viêm gan A, viêm não

Trang 23

Tại Việt Nam, số người mắc các bệnh liên quan đến nguồn nước chiếm tới 50% tổng số bệnh nhân nội trú Tình hình mắc bệnh do nguyên nhân này đang có xu hướng tăng

Hậu quả do nhiễm bệnh từ nước uống ảnh hưởng đến sức khoẻ và môi trường cộng đồng Vì vậy công tác xử lý và khử trùng nước đóng vai trò cực

kỳ quan trọng trong các nhà máy nước, điều này góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa các vi sinh vật xâm nhập vào nguồn nước, hạn chế tối đa các bệnh lây truyền qua nguồn nước

Mùa hè đang đến gần, nhu cầu sử dụng nước sạch tăng cao, để phòng tránh cũng như hạn chế thấp nhất những bệnh liên quan đến nước sạch vè vệ sinh môi trường, mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội hãy chung tay bảo vệ và

sử dụng nguồn nước sạch, giữ gìn vệ sinh [12]

Trang 24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nguồn nước sinh hoạt, một số chỉ tiêu về chất lượng nước sinh hoạt

- Một số hoạt động sản xuất ảnh hưởng đến môi trường nước

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Nước sinh hoạt tại địa bàn xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

3.1.3 Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện

- Địa điểm thực hiện: Sở tài nguyên và môi trường, tỉnh Điện Biên

- Thời gian thực hiện: từ 15/01/2014 - 30/04/2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Điều kiện tự nhiên

-Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.2 Hiện trạng cấp thoát nước

- Hiện trạng về cấp nước

- Hiện trạng về hệ thống thoát nước

3.2.3 Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt của người dân xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

3.2.4 Đề xuất giải pháp giải quyết nhu cầu nước sạch cho người dân xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Lập phiếu câu hỏi điều tra trực tiếp nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tại

xã Tà Lèng: số hộ dùng nước máy, giếng đào, giếng khoan, nước tự chảy …

- Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi

- Lập bộ câu hỏi phỏng vấn

Trang 25

- Đối tượng phỏng vấn: Người dân trên địa bàn xã

- Quá trình phỏng vấn: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp kết hợp với khảo sát thực điạ Kết quả được ghi sẵn vào phiếu in sẵn (có phụ lục kèm theo)

- 50 hộ điều tra được lấy ngẫu nhiên: trong 3 bản và 1 cụm

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

*Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội ( dân số, việc làm …) xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Thu thập số liệu thứ cấp ở tỉnh

- Thu thập thông tin liên quan đến đề tài qua thực địa, qua sách báo, internet: số liệu, hiện trạng, bản đồ xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Các báo cáo hiện trạng môi trường của xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Tài liệu về công tác quản lý môi trường tại địa bàn nghiên cứu

- Tài liệu về các văn bản pháp quy về khai thác khoáng sản, về bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn Việt Nam Và các tài liệu liên quan

3.3.3 Phương pháp lấy mẫu, phân tích phòng thí nghiệm

- Quan trắc tại hiện trường: theo TCVN và đo trực tiếp

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu thứ cấp: tổng hợp tài liệu từ UBND xã Tà Lèngvề điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Mạng internet, sách, báo về vấn đề môi trường

- Số liệu sơ cấp: số liệu được tính toán và tổng hợp trên máy tính bằng phần mềm Excel

- Xử lý số liệu thô bằng Exel, word

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.4. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.4. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm (Trang 36)
Bảng 4.5. Kết quả Phân tích mẫu nước mặt - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.5. Kết quả Phân tích mẫu nước mặt (Trang 38)
Bảng 4.6. Các loại nhà vệ sinh trên địa bàn xã Tà Lèng, - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Tà Lèng, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.6. Các loại nhà vệ sinh trên địa bàn xã Tà Lèng, (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w