1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn quận 3, thành phố hồ chí minh

125 144 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Những yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 3,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Những yếu tố tác động đến ý định phân

loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn Quận 3, Thành phố

Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng

dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Dư

Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn chính xác, trung thực và chưa được công bố bằng hình thức nào khác Các tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của

đề tài nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 9 năm 2019

Người cam đoan

Nguyễn Đức Phương

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT - ABSTRACT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa của đề tài 6

1.7 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt 8

2.2 Ý định và hành vi phân loại chất thải rắn sinh hoạt 9

2.3 Lợi ích của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt 10

2.4 Các mô hình lý thuyết liên quan 11

2.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) 11

2.4.2 Lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB) 13

2.5 Tổng quan các nghiên cứu trước 15

2.5.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 15

2.5.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 18

2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết 24

2.6.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24

2.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu 27

Trang 5

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Quy trình nghiên cứu 31

3.2 Nghiên cứu định tính 32

3.2.1 Phương thức thực hiện 32

3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 33

3.3 Nghiên cứu định lượng 39

3.3.1 Chọn mẫu 39

3.3.2 Thiết kế phiếu điều tra chính thức 40

3.3.3 Quá trình thu thập thông tin 40

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 41

3.4.1 Kiểm định thang đo 41

3.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 42

3.4.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 42

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

4.1 Tình hình triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 3 45

4.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 46

4.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 49

4.3.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo các biến độc lập 49

4.3.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo biến phụ thuộc 51

4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 51

4.4.1 Phân tích nhân tố khám phá thang đo các biến độc lập 51

4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá thang đo Ý định phân loại 54

4.5 Phân tích hồi quy 55

4.5.1 Kiểm định tương quan 55

4.5.2 Phân tích hồi quy 56

4.5.3 Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết 58

4.5.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 59

Trang 6

4.6 Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến Ý định phân loại chất

thải rắn sinh hoạt của người dân 62

4.6.1 Yếu tố Thái độ 62

4.6.2 Yếu tố Chuẩn chủ quan 64

4.6.3 Yếu tố Sự bất tiện 65

4.6.4 Yếu tố Kiến thức 67

4.6.5 Yếu tố Các quy định của nhà nước 69

4.6.6 Yếu tố Công tác tuyên truyền 71

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 74

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 74

5.2 Ý nghĩa nghiên cứu 75

5.3 Hàm ý quản trị 76

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Thang đo “Thái độ” 34

Bảng 3.2: Thang đo “Chuẩn chủ quan” 35

Bảng 3.3: Thang đo “Sự bất tiện” 36

Bảng 3.4: Thang đo “Kiến thức” 36

Bảng 3.5: Thang đo “Các quy định của nhà nước” 37

Bảng 3.6: Thang đo “Công tác tuyên truyền” 38

Bảng 3.7: Thang đo “Ý định phân loại” 38

Bảng 4.1: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 45

Bảng 4.2: Đặc điểm phân bổ mẫu khảo sát 47

Bảng 4.3: Đặc điểm mẫu khảo sát 48

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo các biến độc lập 50

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo biến phụ thuộc 51

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Bartlett 52

Bảng 4.7: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thang đo biến độc lập 53

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định KMO và kiểm định Bartlett 54

Bảng 4.9: Kết quả phân tích nhân tố EFA thang đo ý định phân loại 54

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định tương quan 55

Bảng 4.11: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 56

Bảng 4.12: Phân tích ANOVA 56

Bảng 4.13: Kết quả phân tích hồi quy 57

Bảng 4.14: Đánh giá của người dân về các yếu tố ảnh hưởng 60

Bảng 4.15: Thống kê khảo sát yếu tố “Thái độ” 63

Bảng 4.16: Thống kê khảo sát yếu tố “Chuẩn chủ quan” 64

Bảng 4.17: Thống kê khảo sát yếu tố “Sự bất tiện” 66

Bảng 4.18: Thống kê khảo sát yếu tố “Kiến thức” 68

Bảng 4.19: Thống kê khảo sát yếu tố “Các quy định của nhà nước” 69

Bảng 4.20: Thống kê khảo sát yếu tố “Công tác tuyên truyền” 71

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA 12

Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định-TPB 14

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường (2014) 16

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Hạ Chí Điền (2015) 17

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004) 19

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010) 20

Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu của Desa và cộng sự (2011) 20

Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của Philippsen (2015) 21

Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016) 22

Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu của Ayob và cộng sự (2017) 23

Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu của Strydom (2018) 24

Hình 2.12: Mô hình nghiên cứu đề xuất 26

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 31

Hình 4.1: Biểu đồ Histogram 58

Hình 4.2: Biểu đồ P-P lot 59

Hình 4.3: Biểu đồ Scatter 59

Trang 9

nguồn nhưng kết quả không đạt được như mong đợi

Xác định các yếu tố tác động và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại Quận 3

và đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định phân loại chất thải rắn

sinh hoạt của người dân

Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định – TPB là khung phân tích Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên số lượng 221 phiếu hợp lệ Tiến hành kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy tuyến tính xác định mối quan hệ của các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại Quận 3

Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 06 nhân tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân Trong đó có 05 nhân tố tác động thuận chiều với ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt theo thứ tự mức độ tác động giảm dần như sau: Kiến thức; Công tác tuyên truyền; Chuẩn chủ quan; Thái độ, Các quy định của nhà nước Riêng yếu tố Sự bất tiện tác động ngược chiều với ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt Nghiên cứu giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân từ đó đề xuất các giải pháp cho chính quyền Quận 3 nhằm đẩy nhanh tiến

độ thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Từ khóa: hành vi có hoạch định, chất thải rắn sinh hoạt, ý định phân

loại chất thải, Quận 3

Trang 10

ABSTRACT

The separation of household solid waste brings benefits to environmental protection, also saving natural resources In addition to the issuse of infrastructure and treatment technology, the intention to classify household solid waste of people also needs to be considered and evaluated In recent years, authorities of District 3 have actively mobilized people to participate in the classification of household solid waste but the results have not achieved as expected

The research is aimed to find and test the determinants of household solid waste separation intention among the people living in District 3

Proposing a number of solutions to improve solid waste separation intention

This study adopted the Theory of planned bahaviour (TPB) as the fundamental framework Official research was conducted by quantitative research method on the number of 221 valid survey forms Conducting descriptive statistics, internal reliability with Cronbach’s Alpha, exploratory factors, linear analysis to explore the relationship between the factors and household solid waste separation intention

The research results show that 6 factors affect the people's intention to classify household solid waste In which, there are 5 factors impact positively with solid waste separation intention in descending order of impact as follows: Knowledge; Propaganda; Subjective norm; Attitudes, Regulations of the state Particularly, Inconvenience impact negatively with solid waste

separation intention Based on the results, recommendations are given to the

authorities of District 3 for the best solutions to improve and attract people to participate in household solid waste separation

Key words: Theory of planned bahaviour, household solid waste,

waste separation, District 3

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Phát triển bền vững là mục tiêu mà loài người mong muốn đạt được, đó

là việc vừa phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên cùng với sự mở rộng của các ngành sản xuất, phát triển của đời sống xã hội sẽ phát sinh nhiều loại chất thải, gia tăng về khối lượng, đa dạng về thành phần bao gồm các nguồn chất thải rắn từ hoạt động sản xuất đến hoạt động sinh hoạt Chất thải đang là mối đe dọa trực tiếp đến đời sống và sức khỏe của người dân ở các đô thị lớn Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố (2019) thì mỗi ngày Thành phố phát sinh thêm 13.000 tấn rác thải, trong đó chiếm khối lượng nhiều nhất là chất thải rắn sinh hoạt với hơn 8.300 tấn Từ trước đến nay việc xử lý rác thải bằng cách chôn lấp khiến Thành phố tốn số lượng tài nguyên đất khá lớn nhưng lại gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, 3 trong 4 khu xử lý rác thải của Thành phố đã phải ngưng hoạt động trước phản ứng của người dân Xử lý triệt để, loại bỏ rác khỏi mặt bằng chiếm giữ, tái sử dụng quỹ đất để phát triển đô thị xanh là mục tiêu mà thành phố hướng tới Một trong những giải pháp quan trọng để đạt được đó là thực hiện thành công việc phân loại và thu gom chất thải rắn ngay tại nguồn

Một số quốc gia trên thế giới, để giảm gánh nặng về môi trường cũng như tài chính do khủng hoảng rác gây ra đã có những mô hình phân loại và thu gom chất thải rất hiệu quả Tại Canada người dân chia rác ra làm 3 loại cho vào 3 thùng chuyên dụng khác nhau, Công ty trúng thầu có quyền không thu gom rác nếu thấy rác không được phân loại Tại Nhật, nước đứng thứ 8 trên thế giới với lượng rác mỗi năm khoảng 45 triệu tấn nhưng nhờ người dân làm tốt công tác phân loại rác thành 4 loại cực kỳ chính xác và khắt khe nên chỉ có 1% rác thải bị thải ra môi trường Trung Quốc với lượng rác thải 254 triệu tấn mỗi năm, chiếm 1/3 số lượng rác thải trên thế giới đã bắt đầu áp dụng chính sách phân loại rác thải làm 3 loại từ tháng 3/2017 áp dụng cho các

Trang 12

tổ chức, doanh nghiệp và nhà hàng nhưng các hộ gia đình được khuyến khích tham gia chương trình phân loại rác nhận các mặt hàng nhu yếu phẩm nếu phân loại đúng

“Hơn 10 năm trước, Dự án phân loại rác tại nguồn 3R ( Reduce – Reuse – Recycle ) do cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ về vốn được triển khai tại 4 phường thuộc thành phố Hà Nội đã đem đến những kết quả khả quan, hiện tượng vứt rác bừa bãi giảm tối đa, độ chính xác trong phân loại rác là 80 - 90%, giảm 30 - 40% lượng rác phải chôn lấp, giúp tiết kiệm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường, thậm chí còn có thể sản xuất phân vi sinh hữu cơ từ nguồn rác đã phân loại, đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, đến nay, cả 4 phường thí điểm đều không còn triển khai nữa nguyên nhân theo đánh giá là do chưa có tính bền vững trong chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng không đồng bộ khiến người dân không còn ý định phân loại.”

Quận 3 là một trong những quận trung tâm, trên địa bàn có nhiều cơ quan quan trọng của Trung ương và thành phố, nhiều Bệnh viện, trường Đại học hàng đầu của cả nước, có kinh tế tăng trưởng và trật tự xã hội được đảm bảo Để tiếp tục xây dựng đô thị xanh, văn minh, mỹ quan theo chủ trương của thành phố, giai đoạn 2016-2020 Quận đã tập trung các nguồn lực thực hiện nhiều dự án quan trọng trong đó ở lĩnh vực đô thị, môi trường Quận 3 đến nay đã hoàn thành như phát triển thêm 17.872 m2

mảng xanh nâng mức hưởng thụ mảng xanh bình quân 0,29 m2/ người; xây dựng 12 tuyến đường trọng điểm, khu vực Ga Sài Gòn và công viên Bồ tát Thích Quảng Đức xanh-sạch-đẹp; hoàn thành 100% lát gạch vĩa hè và mở rộng nâng cấp 37 con hẻm dưới 3m Hiện nay, với dân số khoảng gần 190.000 dân và một lượng lớn người dân ở các tỉnh đến sinh sống, học tập và làm việc đã tạo áp lực rất lớn lên việc đảm bảo vệ sinh an toàn môi trường, trong đó có hoạt động quản lý chất thải, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát thải trên địa bàn với số lượng trung bình là 200 tấn/ngày Chất thải chủ yếu không được phân loại và được

Trang 13

chuyển về các khu xử lý để chôn lấp Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của chất thải rắn sinh hoạt và thực hiện Quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố

về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, cùng với các Quận 1, 5, 6,12, Bình Thạnh, Ủy ban nhân dân Quận 3 đã triển khai thực hiện thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt từ năm 2016 Năm 2016, Quận 3 đã triển khai thực hiện thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại tuyến đường Võ Văn Tần với 639 chủ nguồn thải, năm 2017 thí điểm thêm một phường với 2.928 chủ nguồn thải, hiện nay đã triển khai tại 7 phường với 19.637 chủ nguồn thải Kinh phí cấp cho công tác tuyên truyền, vận động phân loại năm 2018 là 5 tỷ, năm 2019 là 7 tỷ Trong thời gian qua chính quyền và các đoàn thể đã nỗ lực triển khai công tác phân loại chất thải rắn bằng nhiều giải pháp như: thành lập các Tổ tuyên truyền, tăng cường công tác tập huấn, phát miễn phí các thùng chứa rác, túi đựng chất thải… Tuy nhiên, theo đánh giá đến nay chỉ có 50%

số lượng chủ nguồn thải tham gia thực hiện phân loại và hơn 60% chủ nguồn thải thực hiện không đúng các phân loại Các chỉ tiêu này đều không đạt yêu cầu của Quận và Thành phố

Theo đánh giá của Quận, một số nguyên nhân khiến chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn ở địa bàn chưa đạt yêu cầu như mong đợi: (1) chưa

có kinh nghiệm triển khai, thiếu sự đầu tư bài bản từ cơ sở vật chất, tài chính đến nguồn nhân lực; (2) chưa tuyên truyền sâu rộng đến người dân về chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn; (3) người dân chưa hiểu về tầm quan trọng của chương trình, chưa quen với việc thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn; và (4) chưa nhận thức được tầm quan trọng của lực lượng thu gom rác (bao gồm lực lượng thu gom rác dân lập và công nhân Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một Thành viên Dịch vụ công ích)

“Việc phân loại chất thải rắn vừa mang lại lợi ích bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên, hơn hết chính là giảm được nguồn rác thải ra môi trường, tiết kiệm chi phí ngân sách cho việc thu gom,

Trang 14

vận chuyển, xử lý Để đảm bảo tính bền vững, hiệu quả trong quá trình thực hiện phân loại chất thải rắn thì bên cạnh những vấn đề về cơ sở hạ tầng, công nghệ xử lý chất thải, kinh tế - tài chính, thể chế - chính sách thì yếu tố “hành

vi của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá ý định của người dân đối với phân loại chất thải rắn Đây là việc làm cần thiết, qua đó giúp đánh giá sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân trong công tác này, đồng thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến ý định của người dân khi thực hiện phân loại chất thải rắn, đề xuất các giải pháp có tính khả thi và có ý nghĩa trong thực tiễn.”

Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Những yếu tố tác động đến

ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn Quận

3, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Qua đó, đề

xuất những giải pháp nhằm nâng cao ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài có các mục tiêu nghiên cứu sau:

“- Xác định các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của người dân tại Quận 3.”

“- Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của người dân tại Quận 3.”

“- Đề xuất, khuyến nghị các hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Quận

3.”

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi sau:

“- Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Quận 3 gồm những yếu tố nào?”

Trang 15

“- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Quận 3 như thế nào?”

“- Hàm ý quản trị nào cần thiết nhằm nâng cao ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Quận 3?”

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ý định phân loại chất thải rắn sinh

hoạt tại nguồn

- Đối tượng khảo sát nhằm thu thập dữ liệu của đề tài là những gia đình đang sống trên địa bàn Quận 3

- Phạm vi nghiên cứu: tại địa bàn Quận 3 trong thời gian 03 tháng từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng đồng thời 02 phương pháp: phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng; đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu đối với đội ngũ cán bộ, công chức đang phụ trách lĩnh vực môi trường và những người dân đang sinh sống trên địa bàn Quận 3

Sử dụng thống kê mô tả và phỏng vấn sâu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu và trả lời câu hỏi thứ 1 Dựa vào số liệu thu thập sẽ tổng hợp, phân tích những vấn đề cơ bản về thực trạng phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn quận Qua đó, xác định các yếu tố tác động đến ý định thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Đối với mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu thứ 2, dựa trên các yếu tố được xác định từ phương pháp định tính sẽ xác định các biến phụ thuộc

và biến độc lập cần thiết cho mô hình hồi quy, phục vụ cho nghiên cứu định lượng

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, sẽ tổng hợp, đề xuất và kiến nghị những giải pháp khả thi có tác động tích cực đến việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân

Trang 16

1.6 Ý nghĩa của đề tài

- Nghiên cứu giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn của người dân Quận 3 như thế nào Nhằm làm cơ sở đẩy nhanh tiến độ thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại quận

“- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao, có ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn; góp phần bảo vệ môi trường, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế -

xã hội của quận; đồng thời có thể nhân rộng, ứng dụng cho các địa phương khác để triển khai rộng khắp Thành phố.”

- Nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Quản lý công và những cá nhân muốn nghiên cứu sâu hơn về ý định phân loại chất thải rắn của người dân

1.7 Cấu trúc luận văn

“Ngoài phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 5 chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết của đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này giới thệu quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, quá trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích và thảo luận đánh giá kết quả nghiên cứu

Trang 17

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Khái quát những kết quả quan trọng của đề tài Từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao ý định của người dân trong việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.”

Trang 18

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt

Ngân hàng thế giới (2011) cho rằng chất thải (waste) là những thứ không được sử dụng cho mục đích con người Nó là những chất liệu đã được

sử dụng và không còn giá trị sử dụng sau những hoạt động sản xuất hay tiêu dùng

Ngân hàng thế giới (2011) cho rằng chất thải rắn (soild waste) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hoặc không muốn dùng nữa

Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm

2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu thì chất thải rắn được định nghĩa là “chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải

ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”

Chất thải rắn được phát sinh từ các nguồn khác nhau Các nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu từ các hoạt động: công nghiệp, nông nghiệp, dịch

vụ và thương mại, sinh hoạt thường ngày, bệnh viện, trường học…

“Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại”(OECD, 2013) Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định “chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”

Việc quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt không những gây ô nhiễm môi trường mả còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt được thể hiện ở những mặt sau:

- Ảnh hưởng đối với sức khỏe con người: Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn Loại rác này rất dễ

Trang 19

phân hủy, lên men, bốc mùi hôi thối Rác thải tồn đọng lâu ngày sẽ gây ảnh hưởng đối với sức khỏe người dân, cộng đồng xung quanh dặc biệt là người dân sống gần các khu vực bãi rác, bãi chông lấp chất thải

Các bãi chôn lấp chất thải là những nguồn mang dịch bệnh hoặc là nơi sinh sống của nhiều vật chủ trung gian gây bệnh cho con người như: ruồi, muỗi, chuột… Ngoài ra, hai thành phần chất thải rắn được cho rằng cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm, nguồn nước gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người

- Ảnh hưởng cúa chất thải rắn đến môi trường đất: Nếu chất thải không được chôn lấp đúng theo quy trình kỹ thuật, nó sẽ làm ô nhiễm đến môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, từ đó dễ dẫn đến khả năng gây ô nhiễm cây trồng và nước uống của con người Một số tác động của chất thải tới môi trường như: làm thay đổi tính chất, độ pH của đất; chất thải còn là nơi sinh sống, phát triển của các loài côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc…gây bệnh truyền nhiễm cộng đồng

- Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí: việc đốt rác không được kiểm soát ở những bãi rác có thể gây ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng và cũng sẽ gây ảnh hưởng đến những sinh vật sống; rác thải hữu

cơ phân hủy tạo và mùi và các khí độc hại; khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc hại lẫn trong rác

2.2 Ý định và hành vi phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai Ý định thực hiện hành vi là mức độ dự định thực hiện hành vi của mỗi người (Fishbein & Ajen, 1975), là dấu hiệu sẵn sàng của mỗi người để thực hiện một hành vi cho trước và nó được xem là như là tiền đề trực tiếp để dẫn đến hành vi (Ajen, 1991)

Trang 20

Thái độ hướng tới hành vi, ý định thực hiện hành vi và hành vi thực tế

là 3 khái niệm được sử dụng trong mô hình lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) Trong đó, ý định thực hiện hành vi là nhân tố trung tâm dẫn đến hành

vi thực tế, ý định thực hiện hành vi chịu sự tác động của thái độ hướng tới hành vi Ý định hành động là những gì chúng ta nghĩ chúng ta sẽ hành động, hay còn có thể được định nghĩa là quyết định hành động cho thấy được hành

vi của cá nhân (Samin và cộng sự, 2012)

Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 thì “phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để

có quy trình khác nhau”

“Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là tách chất thải rắn sinh hoạt thành nhiều loại khác nhau nhằm thu hồi lại các thành phần có ích trong chất thải rắn sinh hoạt mà chúng có thể được sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới dưới dạng vật chất hoặc năng lượng, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là quá trình tách riêng các loại rác thải theo đặc tính của chúng trước khi thải bỏ vào các thùng chứa khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả cho các quá trình xử lý tiếp theo.”

Như vậy, ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được xem là giai đoạn diễn ra trước hành vi, được giả định như nhân tố động lực để đạt được hành vi phân loại chất thải rắn

2.3 Lợi ích của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt

“Việc phân loại chất thải rắn góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sử dụng dẫn đến hạn chế việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải, tiết kiệm diện tích cho việc chôn lấp rác Đồng thời khuyến khích cho ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động.”

Trang 21

“- Lợi ích về kinh tế: Việc phân loại chất thải góp phần tạo nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân hữu cơ Tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sử dụng dẫn đến hạn chế việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải.”

“- Lợi ích về môi trường: Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường Khi giảm được khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt ”

“Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính

do khí của bãi chôn lấp Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này như một nguồn nguyên liệu thứ cấp.”

“- Lợi ích xã hội : Phân loại chất thải rắn tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường Đồng thời khuyến khích cho ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động.”

2.4 Các mô hình lý thuyết liên quan

2.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA)

“Lý thuyết hành động hợp lý đã được đề xuất bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975 Lý thuyết này mô tả quá trình tâm lý phía sau hành vi của con người có ý thức và nhằm mục đích khám phá các yếu tố quyết định của hành

vi (Fishbein và Ajzen, 1980) Theo thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định hành vi hành động Chính vì thế, theo Ajzen và Fishbein (1975) nghiên cứu hành vi trước tiên phải nghiên cứu ý định hành vi để tìm ra được vấn đề cần giải quyết.”

Trang 22

“Ý định hành vi là một mục đích cụ thể của con người trong việc thực hiện một hoặc một chuỗi các hành động và trong lý thuyết TRA, ý định này bị ảnh hưởng bởi thái độ của cá nhân và chuẩn chủ quan của cá nhân đó.”

“Thái độ là mức độ đánh giá về một hành động tích cực hay tiêu cực của một cá nhân Thái độ được hình thành bởi hai yếu tố: niềm tin cá nhân và kết quả hành động của hành vi, sau đó là đánh giá về kết quả này Con người thường cân nhắc các kết quả khác nhau trước khi thực hiện một vấn đề và sẽ chọn hành động mà theo họ sẽ dẫn đến một kết quả như mong đợi.”

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý –TRA

Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975)

“Mỗi cá nhân sẽ có cách ứng xử sao cho phù hợp với đời sống xã hội, được gọi là chuẩn chủ quan Mỗi cá nhân đều quan tâm đến việc người khác

sẽ đánh giá và suy nghĩ về hành động của mình như thế nào Trong TRA, chuẩn chủ quan được xác định dựa vào niềm tin vào quy chuẩn của người xung quanh và động lực để tuân thủ những người xung quanh Niềm tin vào quy chuẩn của người xung quanh là mức độ ủng hộ hay phản đối của những người xung quanh đối với hành vi của người đó Mối quan hệ với người xung

Trang 23

quanh càng mật thiết thì xu hướng ảnh hưởng của họ đối với người kia càng lớn (Ajzen và Fishbein, 1975).”

“Mô hình hành vi hợp lý TRA được cho là chỉ đề cập đến các hành vi

có sự điều khiển của lý trí tức là có thể thực hiện các hành vi có thể kiểm soát được Vô hình chung, TRA đã bỏ qua tầm quan trọng của các vấn đề xã hội liên quan mà thực tế có thể là một trong những yếu tố quan trọng mang tính chất quyết định đến hành vi cá nhân (Werner, 2004) Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra mặt hạn chế của mô hình TRA và chú trọng đến tầm quan trọng của các yếu tố không kiểm soát được ảnh hưởng đến ý định hành vi, từ

đó dẫn đến hành vi hành động (Hansen và cộng sự, 2004) Theo Sheppard và cộng sự (1988), TRA có các tồn tại sau:”

“- TRA cho rằng hành vi cá nhân chỉ nằm trong kiểm soát của con người, bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân

“- Ý định hành vi của con người được đo lường trong bối cảnh chưa có

đủ thông tin để chắc chắn dẫn đến hành vi hành động.”

“Ngoài các tồn tại trên, TRA còn thiếu sót là nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi một cách riêng lẻ, mà thực tế có thể tồn tại nhiều hoặc một chuỗi các yếu tố xảy ra đồng thời Điều này dẫn đến làm xáo trộn các ý định, từ đó làm hoán đổi quy trình nhận thức dẫn đến hành vi.”

2.4.2 Lý thuyết hành vi có hoạch định (The theory of planed behaviour –TPB)

Để khắc phục phần nào hạn chế lý thuyết hành vi hợp lý TRA, Ajzen (1991) đã đưa ra mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định (gọi tắt là TPB) TPB là lý thuyết được mở rộng ra từ mô hình TRA, trên cơ sở bổ sung thêm yếu tố mà bản thân người hành động không kiểm soát được, hay nói đơn giản hơn, TPB là mô hình hoàn thiện của TRA Cùng bản chất với TRA, TPB tập trung nghiên cứu ý định hành vi thay vì hành vi hành động

Trang 24

“Một ý định hành vi trở thành hành vi hành động nếu chỉ xét đến các hành vi nhằm trong sự kiểm soát của lý trí thì chưa đủ Cũng có nhiều hành vi thỏa mãn điều kiện trên, tuy nhiên trong thực tế, dù ít hay nhiều, hành vi luôn gặp sự chi phối bởi các yếu tố khách quan, gây cản trở hành động hoặc cơ hội thực hiện Theo thuyết TPB, có 3 yếu tố có thể ảnh hưởng đến ý định hành vi: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi Ý định hành vi càng mạnh mẽ, càng quyết liệt thì khả năng hành vi được thực hiện sẽ càng lớn.”

Trang 25

chủ quan càng ủng hộ, nhận thức kiểm soát hành vi ít rào cản sẽ làm cho ý định hành vi càng mạnh mẽ và hành vị thực càng dễ dàng diễn ra như dự báo.”

“Hansen và cộng sự (2004) đã kiểm tra sự phù hợp của các yếu tố tác động lên hành vi trong cả hai mô hình: mô hình hành vi hợp lý TRA và mô hình hành vi có hoạch định TPB Kết quả thực nghiệm cho thấy, mô hình TPB giải thích hành vi tốt hơn mô hình TRA và trên thực tế, mô hình TPB đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu.”

“Tuy nhiên, mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành

vi (Werner, 2004) Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý chí không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991) Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảng cách đáng kể thời gian giữa các đánh giá

về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Wener, 2004) Trong khoảng thời gian này, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi Hạn chế thứ

ba là TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định Tuy nhiên, cá nhân không luôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner, 2004) Bản thân Ajzen (1991) cũng khẳng định rằng TPB là mô hình cơ bản, các nghiên cứu khác cần đưa vài mô hình thêm các biến góp phần giải thích cho ý định hành vi Vì thế, luận văn này sử dụng lý thuyết TPB làm cơ sở và bổ sung các biến cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.”

2.5 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.5.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014)

“Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) đã tiến hành khảo cứu các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng nói chung và đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến hành vi người tiêu dùng cũng như các nghiên cứu

về bảo hiểm xã hội để nhằm mục đích khám phá và phân tích các yếu tố ảnh

Trang 26

hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Nghệ An Với tổng số 350 phiếu điều tra được tiến hành thu thập dữ liệu, tác giả thu về được 284 phiếu đủ điều kiện phân tích Kết quả phân tích chỉ ra có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên Sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm: Thái độ đối với việc tham gia bảo hiểm xã hội; Kỳ vọng của gia đình; Sự quan tâm đến sức khỏe khi về già; Trách nhiệm đạo lý; Kiểm soát hành vi; Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện; Tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện.”

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014)

Nguồn: Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014)

Nghiên cứu của Hạ Chí Điền (2015)

Hạ Chí Điền (2015) nghiên cứu ý định sử dụng nước sạch của người dân tại tỉnh Bến Tre Nghiên cứu đã khảo sát 180 người dân tại vùng nông thôn chưa sử dụng nước sạch trong tỉnh Bến Tre Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố tác động đến ý định sử dụng nước sạch bao gồm:

Thái độ đối với việc

tham gia bảo hiểm

Kỳ vọng của gia đình

Sự quan tâm đến sức

khỏe khi về già

Ý định tham gia bảo hiểm xã hội

hiểm xã hội Kiểm soát hành vi

Tuyên truyền về bảo

hiểm xã hội

Trang 27

Nhận thức môi trường; Nhận thức kiểm soát hành vi; Sự tiện lợi của nguồn nước khác; Quy chuẩn chủ quan và Sự lợi ích của nước sạch

Kết quả hồi quy cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng nước sạch, trong đó tác động mạnh nhất là yếu tố Lợi ích nguồn nước khác, tiếp theo là Nhận thức môi trường, tiếp theo là Nhận thức kiểm soát hành vi

và cuối cùng là yếu tố Quy chuẩn chủ quan

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Hạ Chí Điền (2015)

Nguồn: Hạ Chí Điền (2015)

Các nghiên cứu về quản lý chất thải

Quản lý chất thải ở Việt Nam cũng là một vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý, hoạch định chính sách Các nghiên cứu này cũng chỉ ra những vấn đề phát sinh trong quá trình quản

lý chất thải như không phân loại chất thải, tỷ lệ chất thải qua xử lý còn rất thấp, ô nhiễm môi trường xung quanh bãi rác… (Nguyễn Phúc Thành và cộng

sự, 2010; Trần Thị Hương, 2012; Bùi Thị Nhung, 2014; Nguyễn Thị Kim Nhung, 2015) Dựa trên những vấn đề phát sinh trong việc quản lý chất thải, một số nghiên cứu đã đề ra các giải pháp khắc phục như: phân loại rác tại

Nhận thức môi trường

Nhận thức kiểm soát

hành vi

Ý định sử dụng nước sạch

Sự tiện lợi của các

nguồn nước khác

Quy chuẩn chủ quan

Sự lợi ích của nước

sạch

Trang 28

nguồn (Bùi Thị Nhung, 2014); nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của chất thải (Trần Thị Hương, 2012; Nguyễn Thị Kim Nhung, 2015); có sự tham gia của các tổ chức tư nhân trong việc quản lý chất thải (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2015)

Nhằm xây dựng mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn trong các trường học tại thành phố Đà Nẵng, Phùng Khánh Chuyên và Ngô Vân Thụy Cẩm (2010) đã đề xuất cần nâng cao nhận thức của học sinh thông qua các buổi sinh hoạt, tuyên truyền và các hình thức khác như: tờ rơi, cẩm nang, đĩa

CD, áp phích…

Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thùy Linh (2012) đã xây dựng mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn tại phường Vĩnh Thọ, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và xử

lý chất thải rắn Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp như: thành lập các tổ

vệ sinh môi trường; xây dựng các điểm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt;

bổ sung trang thiết bị thu gom, vận chuyển và cải tiến dây chuyền xử lý chất thải; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức tập huấn định kỳ…Nghiên cứu của Trần Bá Luận (2015) chỉ đưa ra thực trạng hệ thống quản lý chất thải rắn ở Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh và có đề xuất thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn

Như vậy, đa số các nghiên cứu này chỉ tập trung mô tả thực trạng quản

lý chất thải ở Việt Nam, chủ yếu vào vấn đề cơ sở hạ tầng và công nghệ xử lý chất thải và đề ra các giải pháp Một số ít nghiên cứu có đề cập đến việc phân loại chất thải rắn tại nguồn nhưng việc nghiên cứu ý định hành vi phân loại rác của các người dân là rất hạn chế

2.5.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004)

Nhằm nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định tái chế chất thải của các hộ dân thành phố Brixworth, Vương quốc Anh, Tonglet và cộng sự

Trang 29

(2004) đã sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định – TPB điều tra

về hành vi tái chế

Nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010)

Mahmud và Osman (2010) sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định –TPB để nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của 400 học sinh cấp 2 tại Malaysia Các tác giả đã đề xuất

có 3 yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn gồm: (1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan và (3) Nhận thức kiểm soát hành vi.”

Trang 30

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010)

Nguồn: Mahmud và Osman (2010)

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định phân loại với hệ số là 0.687, tiếp đó là chuẩn chủ quan với hệ số là 0.593 Trong khi đó, không tìm thấy mối tương quan giữa thái độ và ý định phân loại

Nghiên cứu của Desa và cộng sự (2011)

Desa và cộng sự (2011) nghiên cứu ý định tái chế chất thải của các sinh

viên năm thứ nhất các trường đại học ở Malaysia thông qua khảo sát 589 sinh

Chuẩn mực đạo đức

Kiến thức về chất thải

Sự tiện lợi

Ý định tái chế chất thải

Kinh nghiệm thực

hiện tái chế

Thu nhập

Trang 31

Kết quả nghiên cứu cho thấy chuẩn mực đạo đức, kiến thức về luật chất thải, sự tiện lợi tái chế, tác động đến ý định tái chế chất thải Tuy nhiên, kinh nghiệm tái chế chất thải và sự sẵn có của dụng cụ tái chế không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Philippsen (2015)

Philippsen (2015) tiến hành khảo sát ý định tái chế chất thải tại Đại học Twente, Hà Lan thông qua mạng nội bộ của trường Nghiên cứu sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch với việc mở rộng các biến nhận thức về đạo đức, hành vi trong quá khứ, kiến thức và sự bất tiện

Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy chuẩn chủ quan, nhận thức nghĩa vụ đạo đức, hành vi trong quá khứ và sự bất tiện tác động đáng kể ý định tái chế trong khi thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi không tác động đến ý định tái chế của sinh viên

Trang 32

Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016)

Wang và cộng sự (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tái chế chất thải điện tử của người dân ở 7 vùng địa lý, 22 tỉnh của Trung Quốc

Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016)

Nguồn: Wang và cộng sự (2016)

Dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB), nghiên cứu sử dụng

mô hình phương trình cấu trúc để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tái chế chất thải điện tử Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng chính

là Nhận thức về môi trường, Thái độ, Thu nhập, Phổ biến thông tin và Chi phí tái chế Các yếu tố này tác động cùng chiều đối với ý định hành vi tái chế

Nghiên cứu Ayob và cộng sự (2017)

Ayob và cộng sự (2017) sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định –TPB để nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của sinh viên Đại học Teknologi Các tác giả đã đề xuất có 3 yếu

tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn gồm: (1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan và (3) Nhận thức kiểm soát hành vi

Phổ biến thông

tin Chi phí tái chế

Trang 33

Bảng câu hỏi gồm 19 câu hỏi bao gồm; (1) Thái độ (6 câu hỏi), (2) Nhận thức chủ quan (4 câu hỏi); (3) Nhận thức kiểm soát hành vi (5 câu hỏi)

và (4) Ý định phân loại (4 câu hỏi) được phát cho 500 sinh viên của trường để thực hiện điều tra, khảo sát

Nghiên cứu của Strydom (2018)

Strydom (2018) khảo sát 2004 hộ gia đình ở Nam Phi về ý định phân loại chất thải Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết TPB và áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình

Kết quả phân tích SEM cho thấy sự phù hợp của dữ liệu khảo sát với

mô hình lý thuyết về mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch, giải thích được 44,4% ý định phân loại chất thải

Trang 34

Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu của Strydom (2018)

Nguồn: Strydom (2018)

Qua khảo sát các nghiên cứu trước, nhận thấy mỗi nghiên cứu đều đưa

ra những nhận định, đánh giá và kết luận về phân loại chất thải rắn tại nguồn khác nhau do sự khác biệt về lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, củng cố nền tảng cho lý thuyết nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu đến hoạt động quản lý chất thải rắn như phân tích quá trình thu gom, vận chuyển, công nghệ xử lý, chưa có nghiên cứu về ý định phân loại chất thải rắn tại nguồn của người dân nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phân loại chất thải rắn

2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết

2.6.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

“Nội dung nghiên cứu của luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến

ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn quận Vì vậy, phải cụ thể hóa lý thuyết hành vi có kế hoạch Qua khảo sát các nghiên cứu trước, nhận thấy mỗi nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, đánh giá và kết luận về phân loại chất thải rắn tại nguồn khác nhau do sự khác biệt về lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu cho thấy có những yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi như: Thái độ đối với hành vi; Chuẩn chủ quan (Áp lực xã hội, Chuẩn mực xã hội); Nhận thức kiểm

Trang 35

soát hành vi; Niềm tin hành vi, Kỳ vọng của gia đình; Động lực tự quyết cao; Kiến thức; Trách nhiệm đạo lý; Tuyên truyền, Ý kiến nhóm tham khảo, Thủ tục tham gia… Đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, củng cố nền tảng cho lý thuyết nghiên cứu.”

“Đối với các mô hình nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy các yếu

tố Thái độ, Chuẩn chủ quan (áp lực xã hội, chuẩn mực xã hội) và Nhận thức kiểm soát hành vi được đưa vào hầu hết các nghiên cứu và đã được minh chứng là có ảnh hưởng tích cực đến ý định phân loại chất thải của người dân như nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004), Mahmud và Osman (2010), Philippsen (2015), Ayob và cộng sự (2017), Wang và cộng sự (2016), Strydom (2018) Do đó, tác giả quyết định chọn các yếu tố này đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất.”

Riêng đối với yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi, Domina và Koch (2002) và Kelly và cộng sự (2006) khi nghiên cứu hành vi phân loại chất thải cho rằng sự bất tiện trong việc phân loại đã được xem như một yếu tố của nhận thức kiểm soát hành vi vì theo khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh một cách dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, có phụ thuộc mạnh mẽ vào sự sẵn có của nguồn lực cũng như cơ hội để thực hiện hành vi (Ajzen, 1985) Sự bất tiện được đề cập ở đây có thể là: thời gian, chi phí, sự phức tạp trong quy trình, không có sẵn dụng cụ phân loại, khoảng cách từ nhà đến địa điểm thu gom, phân loại…(Kelly và cộng sự, 2006) Do đó, tác giả sử dụng yếu tố sự bất tiện thay cho yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi

“Ngoài ra, yếu tố kiến thức được xem là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích việc lựa chọn tham gia hay không tham gia phân loại (De Young, 1989; Hornik và cộng sự, 1995; Hurin & Zelezny, 1998)

“Đối với yếu tố Các quy định của nhà nước và Công tác tuyên truyền cũng được đề cập trong các nghiên cứu của Hong Nguyen và cộng sự (2019), Wang và cộng sự (2016) Các yếu tố này được xác định ảnh hưởng đến ý định

Trang 36

phân loại chất thải rắn tuy không ảnh hưởng mạnh Với đặc thù là công tác quản lý nhà nước ở địa phương và công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt lần đầu được triển khai rộng khắp quận nên tác giả lựa chọn yếu tố Các quy định của nhà nước và Công tác tuyên truyền đưa vào mô hình nghiên cứu.Đối với các yếu tố còn lại mặc dù cũng được các nghiên cứu chứng minh có ảnh hưởng đến ý định hành vi, tuy nhiên do điều kiện thời gian và quy mô nghiên cứu nên tác giả không đề xuất vào mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết về hành vi có hoạch định –TPB và các nghiên cứu của Hong Nguyen và cộng sự (2019), Philippsen (2015), Wang và cộng sự (2016), và Ayob và cộng sự (2017), bên cạnh xét thực tế từ Quận 3, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn Đó là các nhân tố: (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3) Sự bất tiện, (4) Kiến thức, (5) Các quy định của nhà nước và (6) Công tác tuyên truyền Mô hình nghiên cứu được trình bày ở Hình 2.12:”

Hình 2.12: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Tác giả đề xuất

Ý định phân loại chất thải rắn tại nguồn

Thái độ

H1 (+)

H3 (-) H2 (+)

H4 (+)

H5 (+)

H6 (+)

Trang 37

2.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu

- Thái độ

Thái độ được xem là một trong những nhân tố quyết định chính trong việc lý giải hành vi của con người (Ajzen, 1991) Thái độ được định nghĩa là một xu hướng tâm lý được bộc lộ thông qua việc đánh giá một thực thể cụ thể (chẳng hạn quan tâm đến việc phân loại chất thải rắn tại nguồn) với một số mức độ cảm nhận lợi ích của công việc, thích hoặc không thích (Eagly và Chaiken, 1993) Theo lý thuyết về hành vi dự định, thái độ không quyết định hành vi trực tiếp; đúng hơn, nó tác động đến ý định hành vi, ảnh hưởng đến hành vi của con người Vì vậy, thái độ đối với một hành vi là tiền đề của ý định hành vi Thái độ đối với hành vi được xác định bởi một đánh giá thuận lợi hoặc bất lợi của từng cá nhân về kết quả liên quan đến hành vi Nó tăng lên khi các cá nhân nhận thấy họ có nhiều nguồn lực và sự tự tin hơn (Ajzen,

1985, Lee & Kozar, 2005)

Như vậy, đối với các hoạt động như phân loại chất thải rắn tại nguồn, thái độ của người dân được hiểu là đánh giá về các lợi ích, hữu ích, thích thú của họ (Barr và Gilg 2003) Các nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2003), Ayob và cộng sự (2017) đã tìm thấy tác động của thái độ đối với hành vi phân loại chất thải Do vậy, giả thuyết H1 được phát biểu như sau:

H1: Thái độ tác động cùng chiều (+) đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt

- Chuẩn chủ quan

Chuẩn chủ quan thể hiện là các niềm tin của một người về liệu có ai đó

có ý nghĩa (với anh ta hoặc cô ta) nghĩ rằng anh ta hoặc cô ta nên hay không nên thực hiện một hành vi nào đó Những người có ý nghĩa là những người

mà các sở thích của họ về hành vi của anh ta hoặc cô ta trong lĩnh vực này là quan trọng đối với anh ta hoặc cô ta (Eagly và Chaiken, 1993) Thái độ ủng

hộ của những người ảnh hưởng càng mạnh sẽ có nhiều khả năng tác động đến

Trang 38

việc ủng hộ tham gia Oskamp và cộng sự (1991) tin rằng tồn tại mối quan hệ tích cực của gia đình, bạn bè người thân - được xem như là chuẩn chủ quan – lên hành động phân loại chất thải Hơn nữa, chuẩn chủ quan được xem là một động lực thúc đẩy việc phân loại chất thải rắn hiệu quả và đảm bảo sự tham gia, cam kết của cộng đồng dân cư (Barr, 2007) Do vậy, giả thuyết H2 được phát biểu như sau:

H2: Chuẩn chủ quan tác động cùng chiều (+) đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt

- Sự bất tiện

Sự bất tiện đã được đề cập như một yếu tố của nhận thức kiểm soát hành vi tác động đến ý định phân loại chất thải trong các nghiên cứu trước đây (Domina và Koch, 2002; Kelly và cộng sự, 2006) Sự bất tiện được đề cập ở đây có thể là: thời gian, chi phí, sự phức tạp trong quy trình, không có sẵn dụng cụ phân loại, khoảng cách từ nhà đến địa điểm thu gom, phân loại…(Kelly và cộng sự, 2006)

Wang và cộng sự (2016) tin rằng ý định phân loại chất thải của người dân sẽ giảm đi nếu chi phí cho hoạt động này tăng lên, thậm chí người dân sẽ

từ chối tham gia các chương trình phân loại chất thải của nhà nước nếu như

họ phải chi trả thêm tiền Tuy nhiên, nghiên cứu của Saphores và cộng sự (2012) không chứng minh điều này

Nghiên cứu của Derksen và Gartrell (1993) cho thấy các cá nhân có thái độ tích cực đối với việc phân loại chất thải sẽ dễ dàng thực hiện hơn nếu như họ thuận tiện trong việc phân loại Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Domina và Koch (2002), Kelly và cộng sự (2006) khi khảo sát sinh viên của các trường đại học Wang và cộng sự (2011) khảo sát người dân thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc cho thấy sự thuận tiện tác động tích cực

có ý nghĩa thống kê đối với ý định phân loại chất thải Do vậy, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

Trang 39

H3: Sự bất tiện tác động ngược chiều (-) đến ý định phân loại chất thải

rắn sinh hoạt

- Kiến thức: Hiểu biết về phân loại chất thải rắn và quy trình, thủ tục

thực hiện được xem là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích việc lựa chọn tham gia hay không tham gia phân loại (De Young, 1989; Hornik và cộng sự, 1995; Hurin & Zelezny, 1998) Kiến thức là một nguồn lực bên trong

có thể được kết nối với một số khía cạnh từ việc đánh giá ý nghĩa của việc phân loại chất thải, thủ tục, quy trình thực hiện Như đề cập ở trên, việc phân loại chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích thể hiện trên các mặt như kinh tế, xã hội, môi trường Tuy nhiên, sự hiểu biết về phân loại chất thải rắn không phải người dân nào cũng biết khiến người dân ngần ngại thực hiện phân loại chất thải rắn như: thời gian, chi phí, quy trình, cách thức phân loại Theo Oskamp (1998) thì có mối liên hệ tích cực giữa kiến thức về phân loại chất thải và hoạt động phân loại, số lượng rác được phân loại Do vậy, giả thuyết H4 được phát

biểu như sau:

H4: Kiến thức tác động cùng chiều (+) đến ý định phân loại chất thải

rắn sinh hoạt

- Các quy định của nhà nước và công tác tuyên truyền

Hong Nguyen và cộng sự (2019) tin rằng các quy định, chế tài của các

cơ quan nhà nước sẽ tác động tích cực đến ý định phân loại chất thải rắn tại nguồn của các hộ gia đình Ngoài ra, nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016) cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định về phân loại chất thải rắn có tác động cùng chiều đến ý định phân loại Do vậy, giả thuyết H5, H6 được phát biểu như sau:

H5: Các quy định của nhà nước cùng chiều (+) đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt

H6: Công tác tuyên truyền tác động cùng chiều (+) đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Trang 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

“ Chương này tác giả trình bày về các khái niệm chất thải rắn, ý định phân loại chất thải rắn Dựa trên lý thuyết về hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991) và các nghiên cứu của Hong Nguyen và cộng sự (2019), Philippsen (2015), Wang và cộng sự (2016), và Ayob và cộng sự (2017) làm

cơ sở cho việc nghiên cứu, có chọn lọc, bổ sung các yếu tố cho phù hợp với thực tế Quận 3, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến

ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn gồm: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Sự bất tiện, Kiến thức, Các quy định của nhà nước và Công tác tuyên truyền ”

Ngày đăng: 16/02/2020, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w