ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM CHU THỊ Hễ Tờn đề tài: Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
CHU THỊ Hễ
Tờn đề tài:
Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng
và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Nụng lõm kết hợp Khoa : Lõm nghiệp
Khoỏ học : 2010-2014
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
CHU THỊ Hễ
Tờn đề tài:
Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng
và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Nụng lõm kết hợp Khoa : Lõm nghiệp
Khoỏ học : 2010-2014 Giảng viờn hướng dẫn : ThS Nguyễn Việt Hưng
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn rất quan trọng và cần thiết của mỗi sinh viên trong quá trình học tập nhằm củng cố lại kiến thức lý thuyết đã học, vận dụng nó vào thực tiễn sản xuất Qua đó giúp cho mỗi sinh viên có được một phương pháp nghiên cứu khoa học trước khi ra trường nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của công việc sau này
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến
hành thực hiện khóa luận: “Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn”
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc đến nay, khóa luận của tôi đã hoàn thành Nhân dịp này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp - những người đã trang bị cho chúng tôi hành trang kiến thức cơ bản về chuyên môn Nông lâm kết hợp, đặc biệt là thầy giáo Th.S Nguyễn Việt Hưng và thầy giáo Th.S La Quang Độ - người đã tận tình chỉ dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cán bộ kiểm lâm của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - tỉnh Bắc Kạn, cán bộ và nhân dân xã Bản Thi đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Do trình độ chuyên môn còn hạn chế và thời gian có hạn nên bài luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vậy tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa cùng toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận này hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Chu Thị Hô
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu
có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
ThS.Nguyễn Việt Hưng
Chu Thị Hô
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
ThS.Nguyễn Văn Mạn
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ĐDSH : Đa dạng sinh học
2 KBT : Khu bảo tồn
3 VQT : Vườn quốc gia
4 KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
5 LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
6 KNXTTS : Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
7 NLKH : Nông lâm kết hợp
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Dân số xã Bản Thi năm 2014 13
Bảng 4.1 Thống kê độ tuổi lao động ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên rừng 23
Bảng 4.2 Tình hình khai thác và sử dụng cây gỗ 27
Bảng 4.3 Tình hình săn bắt động vật 29
Bảng 4.4 Danh lục một số loài cây thường được dùng làm củi 30
Bảng 4.5 Các loài cây được sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc 33
Bảng 4.6 Các cây sử dụng làm thuốc 35
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 7
2.3 Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của khu vực nghiên cứu 10
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 10
2.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 13
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1 Địa điểm 17
3.2.2 Thời gian 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 18
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 19
4.1 Hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ rừng của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 19
4.2 Đánh giá mức độ tác động của người dân tới khu bảo tồn và các hoạt động có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng của người dân 22
Trang 84.2.1 Đối tượng khai thác và sử dụng tài nguyên rừng 22
4.2.2 Các tác động của người dân tới tài nguyên rừng 25
4.2.3 Tác động của cộng đồng lên sinh cảnh 36
4.3 Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm tài nguyên rừng Khu bảo tồn 37
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của người dân và phát huy những tác động tích cực 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng tự nhiên là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của cả nước Nó không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu về gỗ và các loại lâm đặc sản khác mà còn có tác dụng phòng hộ, điều hoà không khí, bảo vệ môi trường, điều hòa dòng chảy hạn chế tối đa tình trạng xói mòn và rửa trôi Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH) Thuật ngữ ĐDSH được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và
sự đa dạng hệ sinh thái (Hồ Ngọc Sơn, 2004) [9] Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số với nguồn lợi sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên trong đó chủ yếu là tài nguyên rừng và đất rừng Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế làm cho quá trình
đô thị hóa ngày càng phát triển, nhu cầu về gỗ nguyên liệu phục vụ cho ngành nguyên liệu giấy ngày càng tăng Vì vậy, nhu cầu về sử dụng lâm sản ngày càng nhiều, để đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc xây dựng nhà và các công trình dân dụng làm cho chất lượng rừng tự nhiên ngày càng bị giảm sút Nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng giàu ngày càng cạn kiệt là do nạn khai thác trái phép một cách bừa bãi, không có quy hoạch vùng khai thác và bảo
vệ Mặt khác, nhu cầu sử dụng đất của người dân ngày càng tăng, để có đất sản xuất người dân đã trực tiếp phá rừng tự nhiên, các khu rừng đang phục hồi
để có đất trồng trọt Bên cạnh đó, diện tích rừng và đất lâm nghiệp phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa được đánh giá một cách đúng mức để có hướng quy hoạch sử dụng hợp lý
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học của khu vực cũng như của thế giới Song cùng với những tác động tiêu cực của con người dân đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số,vùng cao đã làm cho tài nguyên rừng ở Việt Nam bị suy thoái nghiêm trọng kéo theo đó là nhiều loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và đang rất cần được bảo vệ Chính vì vậy mà các Khu bảo tồn thiên nhiên và các Vườn
Trang 10quốc gia được thành lập nhằm bảo vệ đa dạng sinh học Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác.Theo nghĩa hẹp, khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi
là khu dự trữ tự nhiên và khu bảo tồn loài và sinh cảnh, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thế tự nhiên
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân lạc được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với diện tích là 1.788 ha Khu bảo tồn nằm trên địa bàn 03 xã Đồng Lạc, Xuân Lạc và Bản Thi, vùng lõi gồm địa phận của 8 thôn, có 7 hộ sinh sống trong vùng lõi với 36 nhân khẩu Về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học: có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm, hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam Có những loài tưởng như đã tuyệt chủng trong vòng 25 năm qua như vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo tồn này Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã có người dân sinh sống trong vùng lõi từ trước khi thành lập Đời sống các hộ dân trong khu vực còn nhiều khó khăn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhận thức và điều kiện canh tác còn lạc hậu, diện tích canh tác ít, thậm chí không có đất ruộng để canh tác nên phụ thuộc nhiều vào việc khai thác khoáng sản, lâm sản và săn bắt động vật hoang dã Trong thời gian qua người dân đã có những tác động không nhỏ đến tài nguyên rừng của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng và đề xuất các biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá những tác động của người dân xã Bản Thi đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh
Trang 11Bắc Kạn từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực của người dân đến tài nguyên rừng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn
- Đánh giá được những tác động tiêu cực của người dân tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn
- Đề xuất biện pháp nhằm làm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Được thực tập kỹ năng giao tiếp, điều tra phỏng vấn người dân, kỹ năng tổng hợp số liệu qua các đợt thực tập nghề nghiệp
- Là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn
- Tạo cơ hội cho sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức học được trong thực tiễn sản xuất và nghiên cứu khoa học
1.4.2 Trong thực tiễn sản xuất
- Đánh giá được thực trạng Quản lý bảo vệ rừng và tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu Biết được tác động của người dân tới tài nguyên rừng từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn tránh sự suy giảm
đa dạng sinh học
- Đưa ra các biện pháp giúp người dân sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng cải thiện sinh kế, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú Rừng có ý nghĩa to lớn
về mặt sinh thái, lịch sử, kinh tế, văn hóa Để duy trì và phát triển nguồn tài nguyên này con người cần không ngừng nỗ lực để bảo vệ phát triển rừng, con người và rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển Đặc biệt sự tác động của con người có ý nghĩa to lớn quyết định tới rừng Để đánh giá đúng đắn vấn đề, người ta đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu điều tra trên nhiều góc độ về sự ảnh hưởng của con người tới các khu rừng ở nhiều nơi trên thế giới
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo đánh giá tài nguyên rừng do FAO thực hiện (FRA) diện tích rừng thế giới hiện nay có khoảng gần 4 tỷ hecta, chiếm 30% tổng diện tích đất trên hành tinh Tuy nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục suy giảm nghiêm trọng với diện tích rừng bị mất, trong thời kỳ 2006-2010, trung bình một năm là 13 triệu ha (FAO) Bên diện tích bị mất, rừng thế giới cũng đang đối mặt với những thách thức khác bao gồm đa dạng sinh học trở nên nghèo nàn, năng suất rừng thấp hơn, khả năng thực hiện chức năng phòng hộ và đóng góp vào phát triển kinh tế , xã hội kém hơn Do vậy, bảo vệ và phát triển rừng cho hiện tại và các thế hệ tương lai thông qua tìm kiếm và áp dụng các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững, trong đó có chứng chỉ rừng, luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các tổ chức Chính phủ và phi Chính Phủ trên toàn thế giới Để bảo vệ diện tích và chất lượng của rừng con người đã chú trọng ngày càng nhiều tới việc quản lý rừng bền vững Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ, được thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa kỳ (American tree Farm System - ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council - FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI) Forest Certification Schemes - PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme - MTCS) năm 2001 Cho đến
Trang 13cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bền vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [16]
Nghiên cứu của Liên hợp quốc (LHQ) công bố ngày 05/10/2010 được coi là đánh giá toàn diện nhất về hiện trạng rừng trên thế giới Trong thời gian
từ năm 2000-2010, mỗi năm diện tích rừng bị chuyển đổi thành diện tích đất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác, hoặc bị mất do các nguyên nhân
tự nhiên đã giảm từ 16 triệu hecta trong những năm 90 của thế kỷ trước xuống còn 13 triệu hecta Diện tích rừng nguyên thuỷ toàn cầu với các hệ sinh thái
đa dạng và phong phú nhất về các loài sinh vật, với khoảng 1,4 tỷ hecta, chiếm 36% tổng diện tích rừng toàn cầu, cũng giảm trung bình hàng năm hơn
40 triệu hecta, với tốc độ 0,4% mỗi năm Khu vực Nam Mỹ bị mất rừng nguyên thuỷ lớn nhất, sau đó là châu Phi và châu Á Nghiên cứu trên chỉ rõ các mối đe doạ khác đối với đa dạng sinh học rừng là do việc quản lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh và
do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực LHQ còn cảnh báo hiện trạng săn bắn vì mục tiêu thương mại do nhu cầu tiêu dùng ở các thành phố cũng đang đẩy nhiều loài vật hoang dã tới nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai Tình trạng này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu các nước không thực hiện những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn LHQ kêu gọi các nước cần hành động mạnh mẽ nhằm bảo tồn hiệu quả và sử dụng bền vững đa dạng sinh học các diện tích rừng sản xuất, đặc biệt ở các khu rừng nhượng quyền sử dụng Tuy nhiên, nghiên cứu của LHQ cũng hoan nghênh các biện pháp đang được thực hiện ở nhiều nước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học rừng Hiện diện tích rừng được khoanh vùng trở thành các khu bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu đã tăng hơn 95 triệu hecta kể từ năm 1990, trong đó hơn 46% được khoanh vùng trong thời kỳ 2000-2005 Hơn 460 triệu hecta, chiếm 12% tổng diện tích rừng nguyên thuỷ, đã được khoanh vùng để bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nguồn nước hoặc bảo tồn các di sản văn hoá Các diện tích rừng được khoanh vùng thành khu bảo tồn đa dạng sinh học, công viên quốc gia, khu vực hoang dã…được bảo vệ bằng luật pháp [15]
Trang 14Các nhà nghiên cứu Mỹ từ năm 2000 đến 2012, toàn thế giới đã mất đi 2,3 triệu km2 rừng, lớn hơn diện tích nước Mông Cổ Cũng trong thời gian đó
đã hình thành 800.000 km2 rừng mới trồng Brazil đã thành công trong việc bảo vệ rừng Trong khi từ 2003 đến 2004, nước này đã phá khoảng 40.000
km2 rừng thì tới 2010 và 2011, mức độ triệt hạ rừng đã giảm một nửa.Tại Indonesia tỷ lệ rừng bị triệt hạ tăng Từ 2011 đến 2012 đã biến mất gần 20.000 km2 rừng mưa nhiệt đới - tăng trên gấp đôi so với thời kỳ bắt đầu tiến hành quan sát Bất chấp một lệnh cấm của chính phủ ban hành năm 2011, những tháng sau đó việc triệt hạ rừng đã diễn ra mạnh mẽ hơn Sự mất mát rừng ngày càng tăng còn diễn ra ở Malaysia, Paraguay, Bolivia, Sambia và Angola 32% diện tích rằng bị giảm trên toàn thế giới là rừng nhiệt đới.Trong khoảng thời gian từ năm 2000-2012, ở vùng đông nam Mỹ đã khai thác 31% diện tích rừng đồng thời song song là việc trồng lại rừng Điều này phản ánh việc thâm canh rừng ở Mỹ Diện tích rừng ở vùng ôn đới chỉ giảm nhẹ, ở đây cũng có nhiều diện tích trồng mới rừng Tại Đức trong khoảng thời gian từ năm 2000-2012, theo nghiên cứu này, đã có 4.980 km2 rừng bị biến mất, trong khi diện tích trồng mới là 2585 km2 [18]
Các công ước quốc tế đã được ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học như: công ước Cites 1973, IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên Nghị định Thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozon (1987) Tháng 9 năm 1991, hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại Pari đã vạch ra chiến lược toàn cầu hóa
về bảo vệ rừng Năm 1991, Hiệp hội thế giới về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đã đưa ra đề xuất tăng diện tích rừng được bảo vệ lên 10% vào thế kỷ XXI, Công ước bảo vệ di sản văn hóa thế giới (1973), công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Công ước Cites 1973), công ước bảo vệ các vùng đất ướt Ramar, Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư, Born (1979) Song song với việc xây dựng các công ước bảo vệ ĐDSH, các công trình nghiên cứu khoa học về ĐDSH cũng được công bố (Bộ tài nguyên và môi trường, 2009) [4]
Trang 152.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định rừng đặc dụng bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có khu dự trữ thiên nhiên và khu bảo tồn loài - sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học Hiện nay tổng số khu rừng đặc dụng là 128, trong đó có 30 Vườn quốc gia, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài, 38 khu bảo vệ cảnh quan Tổng diện tích các khu rừng đặc dụng trên 2 triệu ha và tổng diện tích rừng của cả nước gần 13,4 triệu ha, độ che phủ rừng toàn quốc 39,5 % (tính đến 31/12/2010 theo QĐ số 1828/QĐ-BNN-TCLN, ngày 11/8/2011), tỷ
lệ giữa diện tích rừng đặc dụng và diện tích rừng cả nước là 15 % (tiêu chuẩn của thế giới 10 %), tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào chất lượng của rừng, sự phân bố đều trên toàn bộ diện tích tự nhiên và tính đa dạng sinh học mới có thể duy trì bảo tồn rừng [14]
Hiện nay chúng ta đã thiết lập được hệ thống các khu rừng đặc dụng chung cho toàn quốc, xây dựng các tiêu chí để thành các rừng đặc dụng (Vườn quốc gia, khu bảo tồn,…), các khu rừng đặc dụng được thành lập trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng có các loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm đã được bảo tồn và nằm trong rừng đặc dụng
Quan điểm về bảo tồn hiện nay còn nhiều bất cập: Bảo tồn không có nghĩa là bảo vệ và duy trì tự nhiên của loài, quan điểm này bị bó hẹp, sớm muộn loài sẽ bị tuyệt chủng; cần phải có cái nhìn tích cực hơn: Bảo tồn bao gồm bảo vệ, sử dụng hợp lý và sử dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp ví dụ như
Pơ mu tái sinh chỉ gặp ở nơi có độ tàn che phù hợp - có ánh sáng (cần phải xúc tiến tái sinh) [14]
Ở Việt Nam, có sự liên quan chặt chẽ giữa vị trí của các khu bảo tồn và vấn đề nghèo đói Điều này không có nghĩa là ở đây có mối quan hệ nhân quả giữa việc sống gần các khu bảo tồn và nghèo đói Tình trạng nghèo đói của người dân sống trong và xung quanh các khu bảo tồn là một thực tế của các
Trang 16vùng xa xôi hẻo lánh, thường có diện tích đất canh tác hạn hẹp và ít có cơ hội tiếp cận với thị trường [3]
Nhiều khu bảo tồn của Việt Nam là nơi sinh sống của các dân tộc ít người Ở Việt Nam, các dân tộc ít người chiếm khoảng 14% dân số cả nước
và tình trạng nghèo đói của họ cũng chủ yếu do các nguyên nhân như thuộc vùng sâu, vùng xa, thiếu thị trường và diện tích canh tác Vì vậy, các cộng đồng này thường phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên còn lại trong các khu bảo tồn [3]
Nguyễn Thị Thoa và cs (2010) [7], khi đánh giá những tác động tiêu cực của người dân xã Vũ Chấn tới tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên
Thần Sa - phượng hoàng, tỉnh Thái Nguyên thấy rằng do đời sống nhân dân
còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp, nên tình trạng xâm hại tài nguyên rừng hiện nay vẫn còn xảy ra Các tác động chính là: tự do vào rừng khai thác
gỗ về làm nhà cửa, chuồng trại, khai thác củi đun; xẻ gỗ quý hiếm đem bán, đốt rừng làm nương rẫy, các loại lâm sản ngoài gỗ khác như: cây thuốc, săn bắt động vật, lấy măng, lấy rau trong đó hoạt động khai thác và vận chuyển lâm sản là tác động mạnh nhất
Các khu bảo tồn tự nó không phải là công cụ mạnh để giảm nghèo nhưng có thể mang lại nhiều lợi ích quan trọng giúp làm giảm mức độ nghèo khổ của các cộng đồng nghèo Ví dụ, đối với nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, các khu bảo tồn cung cấp các cây thuốc, thường dưới dạng dùng trực tiếp, giữ vai trò như “kho dự trữ thức ăn” khi thiếu đói Các khu bảo tồn cung cấp nước sạch cho các cộng đồng xung quanh và giúp cho việc kiểm soát lũ lụt ở hạ lưu Các khu bảo tồn là địa điểm tốt cho các chương trình nghiên cứu khoa học và học tập ngoại khoá Một số khu bảo tồn còn giúp cho việc bảo tồn văn hoá dân tộc thiểu số nhờ việc bảo vệ các khu rừng thiêng có ý nghĩa tôn giáo quan trọng [2] Đặc biệt xã Bản Thi nằm trong Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, người dân sống ở đây chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng tác động rất mạnh đến khu bảo tồn nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này nên đề tài nghiên cứu nội dung này là cấp thiết
Trang 17Khu bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc thuộc hệ sinh thái rừng trên núi đá điển hình của miền Bắc Việt Nam, diện tích rừng nằm trên độ cao trung bình từ 600 - 800 m, đỉnh cao nhất là 1.159 m, nơi đây có hệ động, thực vật rất phong phú và đa dạng, theo kết quả điều tra nghiên cứu của dự án PARC và Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn cho thấy:
Về hệ thực vật rừng có 430 loài, trong đó cây gỗ 155 loài, cây cỏ 101 loài, dây leo 85 loài… nơi đây còn rất nhiều loài quý hiến như Nghiến, Đinh, Lát hoa, Trai lý, Thông đá, Sa nhân, Ba kích, củ Bình vôi… đặc biệt có 5 loài
lan hài (P.hangianum) quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Về hệ động vật: Do đặc điểm vị trí địa lý Khu bảo tồn loài sinh cảnh
Nam Xuân Lạc nằm giữa Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, với diện tích rừng tự nhiên trên núi đá vôi còn nhiều, địa hình hiểm trở đã tạo thành mái nhà chung Vì vậy, đây là nơi cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra khu vực này còn có vai trò là cầu nối (hành lang) đi lại của các loài động vật từ Vườn Quốc gia Ba Bể sang Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang và ngược lại Từ kết quả điều tra nghiên cứu của Tổ chức Birdlife năm 2000 đã phát hiện được ở Nam Xuân Lạc có
283 loài động vật có xương sống trong đó (động vật có vú 26 loài, chim
198 loài, bò sát 32 loài, lưỡng cư 21 loài) và có 242 loài bướm Đặc biệt còn có 11 loài động vật quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa cao và được ghi vào trong sách đỏ Việt Nam như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Cu li lớn, Gấu ngựa, Gấu chó, Hổ, Cày vằn, Sơn dương…
Bên cạnh sự đa dạng phong phú về các loài động, thực vật Khu bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc là thượng nguồn của một số con suối lớn cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp cho người dân ở khu vực Ngoài ra trong khu bảo tồn Nam Xuân Lạc còn có các tuyến đường do Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20 đi từ xã Bản Thi đi Xuân Lạc rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái nếu được đầu tư sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương
Hiện nay các ảnh hưởng lớn đến khu bảo tồn là do tình trạng khai thác
gỗ, săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã trái phép làm mất mát các loài
Trang 18động thực vật quan trọng Các mối đe dọa do Ban quản lý chỉ ra đã được ghi lại trong (Bản Đánh giá nhu cầu bảo tồn 1.2)
Những vấn đề xã hội: Một số hộ dân sống ở trong Khu bảo tồn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Dao, Nùng, Tày và H’Mông Ngoài ra còn có các hộ dân đang sống tại các vùng giáp ranh với khu bảo tồn Các mối đe dọa bắt nguồn
từ các hộ dân cư đang sinh sống trong và xung quanh khu bảo tồn cuộc sống của
họ còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như lấy củi, lấy gỗ làm nhà, chăn nuôi gia súc, và một số lâm sản phụ khác
Nhận thức của người dân sống ở trong và xung quanh khu bảo tồn về quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học còn rất hạn chế, do nhiều nguyên nhân những trong đó có các nguyên nhân cơ bản là kỹ năng tuyên truyền của cán bộ Kiểm lâm, kinh phí đầu tư cho công tác tuyên truyền còn rất hạn chế, trình độ nhận thức của người còn thấp
Các vấn đề về giới: Phụ nữ ở vùng dự án chịu trách nhiệm về hầu hết công việc sản xuất nông nghiệp, lấy củi và các loại lâm sản ngoài gỗ từ rừng thuộc Khu bảo tồn Phụ nữ cũng đóng vai trò lớn trong các chương trình phát triển kinh tế để cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho gia đình, họ là những người cũng đóng vai trò rất lớn trong công tác tuyên truyền bảo vệ rừng trên địa bàn khu bảo tồn (Tống Hoàng Thu Hương, 2013) [5]
2.3 Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí địa lí
Xã Bản Thi là xã vùng sâu vùng xa miền núi cao đặc biệt khó khăn nằm ở phía Tây Bắc của huyện Chợ Đồn, cách trung tâm huyện khoảng 27km, cách trung tâm tỉnh Bắc Kạn 73km, với tổng diện tích tự nhiên là 6.499ha
Xã có ranh giới tiếp giáp với một số địa phương lân cận trong và ngoài tỉnh như sau:
- Phía Bắc giáp xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn và xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp các xã Yên Thượng, Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn
Trang 19- Phía Đông giáp các xã: Đồng Lạc, Quảng Bạch, Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn
- Phía Tây giáp xã Yên Thịnh, huyện Chợ Đồn và xã Thanh Tương, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
2.3.1.2 Đặc điểm địa hình
Bản Thi lã xã có vùng đồi núi cao, độ dốc lớn, chia cắt bởi các con suối khe cạn, độ cao trung bình khoảng 500 - 600m do với mặt nước biển, có đỉnh cao nhất 1640m, nơi thấp nhất khoảng 400m Do điều kiện địa hình có nhiều đồi núi dốc, lượng mưa lớn và tập trung nên tạo ra hệ thống khe suối khá dầy đặc, có độ dốc tương đối lớn, lưu lượng nước thay đổi theo mùa, mùa khô thường xảy ra hạn hán mùa mưa dễ gây lũ quét, sạt lở đất Xã có tuyến đường liên xã chạy qua, mặt đường đã xuống cấp nên rất khó khăn cho việc đi lại và phát triển kinh tế, dân cư thưa thớt, không có thung lũng phù sa rộng, phát triển nông nghiệp khó khăn
2.3.1.3 Điều kiện khí hậu
Xã Bản Thi có những nét đặc trưng của khí hậu miền núi bắc bộ, khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông khô và lạnh, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 21,2oC, nhiệt độ trung bình các tháng cao nhất:
28oC÷29oC trong các tháng 6 và tháng 7 Các tháng lạnh nhất trong mùa đông
là tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ trung bình 16,1oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối
có thể xuống (-2oC)
Lượng mưa trung bình năm: 1700mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 75 - 80% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7 và tháng 8, số ngày mưa trong năm vào khoảng: 150 - 179 ngày/năm Độ ẩm trung bình năm: 82 - 87%, lượng bốc hơi trung bình hằng năm là 750 - 800mm
Hướng gió chính là gió mùa Đông bắc kèm theo không khí khô và lạnh, mùa hạ có gió mùa Tây nam Do địa hình bị chia cắt và bị che chắn bởi các dãy núi tạo nên các hướng gió tiểu vùng dọc theo các khe suối
Thời tiết trên địa bàn xã Bản Thi đôi khi có những trận gió lốc, hiên tượng sương mù cũng thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến đời sống và
Trang 20sản xuất của người nông dân Mùa đông thường có rét đậm rét hại kéo dài ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi
2.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên rừng
Phía Bắc của xã Bản Thi là vùng rừng bảo tồn Nam Xuân Lạc, xã có 4.914,46 ha đất lâm nghiệp chiếm khoảng 75,62% diện tích đất tự nhiên của
xã, chủ yếu là rừng phòng hộ (3.413,77 ha) và rừng sản xuất (1.500,69 ha)
Hệ động vật tương đối đa dạng và phong phú gồm các loài thú rừng, bò sát, chim,…Nhưng hiện nay số lượng động vật đang bị suy giảm nhiều do nạn săn bắt bừa bãi và chặt phá rừng làm mất nơi cư trú
Việc quản lý về môi trường hiện chưa chặt chẽ, vệ sinh môi trường không đảm bảo, mặt khác diện tích rừng đang bị suy giảm gây ảnh hưởng đến môi trường
* Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 6499 ha Rừng và đồi núi chiếm khoảng 90% tổng quỹ đất tự nhiên của xã
* Tài nguyên khoáng sản
Về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn xã có nguồn khoáng sản khá dồi dào là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã nhà Hiện nay xã có một công ty khai khoáng đóng quan trọng trên địa bàn, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động địa phương
* Tài nguyên nước
Mực nước ngầm mạch nông xuất hiện ở độ sâu trung bình từ 18-20m, tùy theo mùa Cần phải xét nghiệm chất lượng nước trước khi khai thác cấp cho nước sinh hoạt
Lượng nước từ các khe, mỏ nước khá dồi dào, chất lượng nước chưa được xét nghiệm, kiểm tra là nguồn nước để cấp nước sinh hoạt chủ yếu dung cho nông nghiệp Vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và xử lý rác thải chưa được quy hoạch quản lý
Trang 212.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
Tỉ lệ (%)
Số lượng (khẩu)
Tỉ lệ (%)
Lực lượng đang trong độ tuổi lao động của xã chiếm khoảng 60% tổng
số nhân khẩu Hầu hết dân số sống ở nông thôn chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp đây là nguồn nhân lực chính thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và phát triển kinh tế của xã
Trang 222.3.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp
* Nông nghiệp
Trong nông nghiệp trồng trọt đóng vai trò chủ đạo,các cây trồng chính của
xã gồm cây ngô, lúa, cây lạc, dong riềng, khoai sắn, đậu đỗ các loại Trong đó: Cây lúa trồng được 64,18 ha, năng xuất đạt 44 ta/ha, sản lượng đạt 281,64 tấn Cây ngô trồng được 113,3 ha, năng xuất đạt 38 tạ/ha, sản lượng 430,43 tấn Cây lạc diện tích trồng 4,21 ha, năng xuất đạt 16 tạ/ha, sản lượng đạt 6,74 tấn Cây dong riềng diện tích trồng được 3,85 ha và một số cây trồng khác
Diện tích đăng ký trồng rừng theo dự án 147 của các thôn trên địa bàn
xã trong năm 2013 như sau: Tổng diện tích thiết kế là 59,89 ha, tổng diện tích
đã trồng được 57,24 ha trong đó diện tích trồng theo dự án là 45,45 ha (Cây
Mỡ 43,27 ha, cây Keo 2,18 ha), diện tích dân trồng theo dự án nhưng không nằm trong hồ sơ thiết kế 11,3 ha, diện tích dân tự bỏ vốn trồng 0,5 ha (cây Mỡ), diện tích thiết kế nhưng không thực hiện được 14,44 ha (11 hộ) Các hộ trồng rừng theo dự án 147 năm 2014 với tổng diện tích đăng ký là 70,78 ha, trong đó: Trồng rừng tập trung 45,44 ha = 49 hộ, trồng rừng phân tán 25,34
ha = 54 hộ Nhờ thực hiện tốt chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình nên diện tích trồng rừng ngày càng tăng và rừng được bảo vệ, khai thác đúng theo quy định
Trang 232.3.2.3 Giao thông, thủy lợi
* Giao thông
Trên địa bàn xã có 01 trục đường liên xã chạy qua trung tâm xã là 10km mặt đường rộng 4m đường cấp phối, mặt đường đã xuống cấp trầm trọng, rất khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa, nhất là khu trung tâm xã Đường trục thôn có 4 tuyến với tổng chiều dài 24,5km chủ yếu là đường đất nhỏ hẹp mùa mưa còn lầy lội, trơn trượt khó đi Việc quản lý các trục đường sau khi được đầu
tư như kiểm tra, quản lý các trường hợp xâm lấn lề đường, các dấu hiệu phá hoại công trình giao thông trên địa bàn còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức và xử lý chưa kịp thời các trường hợp vi phạm
* Thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn toàn xã có 9,8km mương nội đồng Trong đó: Được kiên cố hóa 7 mương = 2,74km mương, còn lại 8 mương = 7,06km chưa được kiên cố hóa Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và dân sinh
2.3.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế
* Văn hóa
Xã đã có trụ sở UBND xã, các xóm trong xã đã có nhà văn hóa nhưng chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định của bộ Văn hóa thể thao du lịch và những hoạt động văn hóa tại các thôn bản không có gì đặc biệt Trong xã có điểm họp chợ tại trung tâm xã nhưng ở đây chủ yếu buôn bán những mặt hàng thực phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt Nhìn chung trình độ văn hóa của người dân trong khu vực chưa cao Hiện tại xã Bản Thi quản lý 8 thôn bản Các khu dân
cư phân bố dọc theo các trục đường liên xã và liên thôn, ven các sườn đồi và gần các nguồn nước Trụ sở UBND xã, trường học, trạm y tế, chợ, trạm kiểm lâm, … tập trung chủ yếu ở trung tâm xã
* Giáo dục
Cả xã có 2 bậc học tại điểm trường chính được quy hoạch xây dựng một khu trường riêng biệt cho từng bậc học, bậc Tiểu học riêng, bậc Mầm non riêng, còn các phân trường vùng cao thì bố trí chung điểm tường
Trang 24Bậc Mầm non: Hiện có 12 phòng học, trong đó 4 phòng đạt chuẩn và 7 phòng mượn phòng để học thôn Hợp Tiến mượn nhà họp thôn và phòng của Công ty kim loại màu Bắc Kạn để học và 1 phòng tạm Có 1 điểm trường chính và 4 thôn có phân trường nhà Mẫu giáo, 3 thôn chưa có lớp Mẫu giáo
Co sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học cho các cháu còn thiếu
Bậc Tiểu học: Có 1 điểm trường chính và 4 thôn có phân trường tiểu học Trong đó điểm trường chính có tổng 6 phòng, 5 phòng học và 1 phòng học nhạc số phòng đạt chuẩn chưa có Các điểm trường ở các thôn tổng có 8 phòng học và 2 phòng tạm Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học cho các em còn thiếu thốn chưa đảm bảo và đáp ứng theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Xã hiện chưa có trường Trung học cơ sở, học sinh học tại thị trấn Bằng Lũng và trường THCS xã Yên Thịnh
* Y tế
Trạm y tế xã đã được xây dựng kiên cố với tổng diện tích 1.700 m3 Trạm xá phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong xã và đã đạt Trạm Y tế thân thiện Ngoài ra xã Bản Thi có 1 bệnh viện đa khoa 50 giường tại thôn Bản Nhượng đã xây dựng đang chờ đưa vào sử dụng Tỉ lệ người dân được giao bảo hiểm y tế chủ yếu là đối tượng chính sách xã hội như hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số ngoài ra một số hộ có dân tộc Kinh tự đóng bảo hiểm tự nguyện
2.3.2.5 Điện nước
Trong toàn xã đã có khoảng 90% số hộ đã được sử dụng nguồn điện lưới quốc gia, có 5 trạm biến áp với tổng công suất là 955 KW chưa đạt chuẩn cần nâng cấp và xây mới 3 trạm biến áp, xây mới 1km đường dây kw cấp điện cho các trạm biến áp phụ tái xây mới Nâng cấp đường điện cho 4 thôn, làm mới 3 tuyến đường dây cho 3 thôn dài 7,5km với tổng công suất nâng lên 210
KW Hiện tại người dân trong xã hầu hết vẫn sử dụng hệ thống nước được dẫn từ các mạch nước ngầm
Trang 25Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những hoạt động sản xuất, khai thác của người dân ảnh hưởng đến tài nguyên rừng thuộc khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc- Chợ Đồn- Bắc Kạn
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài điều tra tất cả các hoạt động của người dân có ảnh hưởng làm suy giảm tính đa dạng sinh học: khai thác sử dụng gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ, đánh giá mức độ tác động của con người lên sinh cảnh Và một
số hoạt động tích cực như trồng rừng, trồng một số loại LSNG
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
Xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3.2.2 Thời gian
Thời gian : Từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đặt ra cần thực hiện được các nội dung sau:
* Hiện trạng công tác quản lí bảo vệ rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
* Đánh giá tác động của người dân tới khu bảo tồn và các hoạt động có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng của người dân
- Đối tượng sử dụng tài nguyên rừng
- Tác động của người dân tới tài nguyên rừng
+ Tác động tích cực
+ Tác động tiêu cực
- Tác động của con người lên sinh cảnh
* Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm tài nguyên rừng Khu bảo tồn
* Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực của người dân
Trang 263.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp kế thừa số liệu
- Tham khảo, kế thừa các số liệu về hiện trạng sử dụng đất đai xã Bản Thi tại ban địa chính của UBND xã
- Tiến hành thu thập số liệu về tình hình sử dụng tài nguyên rừng và các
vụ vi phạm, chặt phá rừng được tổng hợp trong các năm gần đây từ trạm kiểm lâm xã và hạt kiểm lâm huyện
* Điều tra phỏng vấn
- Điều tra thôn bản
Theo vị trí địa lý, xã Bản Thi là xã giáp với phía Nam của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Xã gồm 8 xóm, đề tài chọn 3 xóm gần rừng
để điều tra phỏng vấn (Phja Khao, Khuổi Kẹn, Kéo Nàng) theo phiếu điều tra với bộ câu hỏi được lập sẵn (phụ lục 1)
-Phỏng vấn người dân
Phương pháp phỏng vấn người dân có tham gia khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng theo phiếu điều tra được tiến hành tại các xóm trong xã
Điều tra dân sinh cho thấy, trong 3 thôn điều tra mỗi thôn có từ khoảng
20-50 hộ dân Chọn mỗi thôn 20 đến 35 hộ dân tiêu biểu để phỏng vấn với bộ câu hỏi được lập sẵn (phụ lục 2) Tổng trên 3 thôn phỏng vấn 90 hộ gia đình Các hộ gia đình được phỏng vấn là những hộ tiêu biểu có quan tâm tới tình hình khu bảo tồn và một số hộ nằm rải dọc tuyến đường toàn bộ xe lâm sản đi qua
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp định giải định tính và định lượng để phân tích số liệu Các số liệu sau khi phân tích được tổng hợp theo trình nội dung của đề tài dưới dạng bảng biểu
Trang 27Phần 4
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ rừng của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với diện tích là 1.788ha, diện tích vùng đệm là 7508 ha Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích khu bảo tồn, rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá.KBT Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm chủ yếu trên địa phận các xã Bản Thi, Xuân Lạc, Đồng Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
Về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học: có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm, hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam
* Bộ máy quản lý bảo vệ rừng
Theo quy định tại Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã thành lập Chi cục kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, tại các huyện, thị xã thành lập các Hạt Kiểm lâm Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng quy định: đối với vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài, sinh cảnh có diện tích trên 5.000 ha thì thành lập Ban quản lý rừng đặc dụng Do đó, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn Ngoài ra, Nghị định cũng quy định: “biên chế Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng thuộc biên chế công chức nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho Ban quản lý khu rừng đặc dụng theo quy định hiện hành với định biên tối đa 500 ha rừng đặc dụng có 01 công chức kiểm lâm”
Tuy nhiên, thực tế giám sát tại các khu vực nói trên cho thấy: Hiện tại, khu bảo tồn mới chỉ có 01 trạm gác tại Đồng Lạc và 01 trạm tại Kéo Mác (Yên Thịnh) nhưng đều cách rất xa khu bảo tồn Cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của lực lượng kiểm lâm còn khó khăn Trạm Kéo
Trang 28Mác mới chỉ có nhà trạm, không bàn ghế, giường, chiếu, kiểm lâm viên phải ngủ trên nền trạm Đối với lực lượng kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Các chế độ chính sách đối với công chức kiểm lâm cũng chưa được thực hiện, kinh phí hoạt động cấp theo định suất viên chức thuộc đơn vị sự nghiệp Công tác đào tạo cán bộ, công chức kiểm lâm chưa được quan tâm
Bên cạnh những khó khăn khách quan về cơ sở vật chất, về công tác đào tạo cán bộ của lượng kiểm lâm, những bất cập trong chế độ chính sách thì một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép còn phổ biến tại khu bảo tồn đó là một bộ phận cán bộ kiểm lâm còn hạn chế về năng lực, chưa thật sự trách nhiệm với chức trách nhiệm vụ được giao, chưa thường xuyên bám sát cơ sở, địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ, công tác phối hợp với chính quyền địa bàn còn lỏng lẻo… Công tác quản lý, truy quét các hoạt động khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép đã được thực hiện trên cơ sở thiết lập các hệ thống chốt chặn, tuy nhiên hiệu quả chưa cao Do ý thức của một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý, bảo vệ rừng, chính quyền địa phương không đủ phương tiện, kinh phí cho công tác tham gia, phối hợp truy quét Việc quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng trong khu vực vùng lõi chưa chặt chẽ nên người dân ở ngoài vẫn dễ dàng vào khai thác trái phép Việc quản lý, sử dụng cưa xăng chưa có quy định rõ ràng nên việc khai thác lâm sản trái phép vẫn có điều kiện thực hiện và ngày càng tinh vi hơn Công tác quản lý các cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản ở các địa bàn chưa thật sự chặt chẽ, còn nhiều
cơ sở sản xuất, chế biến gỗ hoạt động gần khu vực khu bảo tồn Việc quản
lý súng săn tại các địa bàn nói trên chưa triệt để và đồng bộ, tình trạng sử dụng súng săn để săn bắn động vật vẫn còn
* Các hoạt động quản lý bảo vệ rừng
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên trên địa bàn Khu bảo tồn thời gian qua đã có nhiều cố gắng, UBND tỉnh đã ban hành các quyết định phê duyệt quy chế quản lý và bảo vệ rừng tại các Khu bảo tồn; ban hành quy định về việc xử lý, tiêu huỷ tang vật vi phạm trong khai thác khoáng sản… đã
Trang 29tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng Kiểm lâm, Ban quản lý khu bảo tồn thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng
Công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được các địa phương, Hạt Kiểm lâm và Ban quản lý Khu bảo tồn quan tâm thông qua các buổi tuyên truyền, ký cam kết, phát tờ rơi, quy chế tới chính quyền các cấp và người dân địa phương…(Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc tổ chức tuyên truyền về quản lý bảo
vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học cho 13 thôn, 05 xã vùng đệm khu bảo tồn) Khu bảo tồn đã phối hợp với chính quyền địa phương trong việc thực hiện các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên như: phối hợp xây dựng quy chế phối hợp quản lý bảo vệ và phát triển khu di sản thiên nhiên, phối hợp tuần tra, truy quét các tụ điểm khai thác, vận chuyến trái phép lâm sản, khoáng sản
Tuy nhiên, thực tế hiện nay do những khó khăn về điều kiện sống, trình
độ nhận thức của người dân còn hạn chế nên tình trạng khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp, số vụ vi phạm pháp luật về khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép có chiều hướng gia tăng Tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc các đối tượng khai thác lâm sản trái phép đã lợi dụng một số hộ gia đình sinh sống trong vùng lõi để cất giấu tang vật, công cụ khai thác lâm sản trái phép Đời sống các hộ dân trong khu vực còn nhiều khó khăn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhận thức và điều kiện canh tác còn lạc hậu, diện tích canh tác ít, thậm chí không có đất ruộng để canh tác nên phụ thuộc nhiều vào việc khai thác khoáng sản, lâm sản và săn bắt động vật hoang dã
Trang 30Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã xảy ra 3 vụ phá rừng với 11 cây gỗ nghiến bị chặt hạ, những vụ này "lâm tặc" đều sử dụng cưa xăng Ban Quản lý Khu Bảo tồn cho biết, hiện đã khoanh vùng được hơn chục đối tượng thường xuyên có hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép hoạt động trong Khu bảo tồn Nhưng đơn vị thiếu trang thiết bị và công cụ hỗ trợ nên công tác tuần tra, bảo vệ rừng đang gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, việc bảo vệ rừng cần sự đồng tình, ủng hộ cao hơn nữa từ phía người dân Cụ thể
là người dân cần hiểu rõ hơn về Quy chế quản lý cưa xăng trong vùng lõi vườn Quốc gia và các khu bảo tồn, sử dụng cưa đúng mục đích, cùng chung tay với lực lượng kiểm lâm tham gia giữ rừng và tố giác tội phạm
4.2 Đánh giá mức độ tác động của người dân tới khu bảo tồn và các hoạt động có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng của người dân
4.2.1 Đối tượng khai thác và sử dụng tài nguyên rừng
Đề tài đã điều tra, phỏng vấn về tình hình khai thác tài nguyên rừng của người dân và kết quả tổng hợp theo độ tuổi lao động được chia ra thành 4 nhóm:
- Người già: >50 tuổi
Họ là những người mà sức khỏe lao động yếu nhưng lại có kinh nghiệm trong lao động sản xuất và thu hái lâm sản Các sản phẩm thu hái chủ yếu là thu hái cây thuốc, lấy rau và thức ăn gia súc…các công việc đó không phải đi sâu vào rừng, tốn ít công sức nhưng đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết trong việc thu hái Thường chủ yếu khai thác là nam giới, nữ giới thường tham gia lấy rau, măng, thu hái cây thuốc,…
- Trung niên: 25- 50 tuổi
Đây là đối tượng chính tham gia vào thu hái lâm sản cũng là đối tượng chính tác động chủ yếu đến tài nguyên rừng Các sản phẩm họ thu hái mang tính chất nặng nhọc như khai thác gỗ, săn bắt động vật, lấy củi…những công việc này chủ yếu là đàn ông tham gia, phụ nữ thường tham gia vào lấy củi, măng, rau
- Thanh niên: 16-25 tuổi
Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nhưng số người tham gia vào thu hái lâm sản là khá nhiều và chủ yếu là nam giới
Trang 31- Trẻ em: <16 tuổi
Nhóm tuổi này chưa có kinh nghiệm trong lao động sản xuất do chủ yếu các em còn trong độ tuổi đi học, tác động vào rừng chủ yếu của các em là lấy củi và lấy măng hộ gia đình
Kết quả điều tra phỏng vấn người dân về sự phân công lao động theo
độ tuổi được tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 4.1 Thống kê độ tuổi lao động ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên rừng
> 50 tuổi 25 - 50 tuổi 16 - 25 tuổi < 16 tuổi
(Theo số liệu phỏng vấn người dân) Theo bảng tổng hợp các phiếu điều tra các hộ gia đình trong xã có thể
thấy được sự phân công lao động có tác động đến tài nguyên rừng như sau:
- Đối với công việc khai thác gỗ, đây là một công việc nặng nhọc và rất nguy hiểm vì vậy mà đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe, cho nên chủ yếu là nam giới trung niên và thanh niên có độ tuổi từ 16 - 50 tuổi thường xuyên tham gia hoạt động khai thác, hai nhóm người này chiếm tỷ lệ khoảng 79,5% tổng lực lượng lao động Nhóm người trên 50 tuổi tham gia hoạt động này ít chỉ chiếm khoảng 20,5% và trẻ em dưới 16 tuổi đang trong độ tuổi đi học không tham gia vào các hoạt động này
- Săn bắt động vật: nhóm tuổi trên 50 tuổi tham gia săn bắt với số lượng chiếm khoảng 23% còn lại 77% là nhóm tuổi trung niên và thanh niên Các sản phẩm từ săn bắt chủ yếu là: các loài chim, Rắn, Gà rừng, Sóc, Rùa và thỉnh thoảng còn bắt hay bẫy được Hươu, Cầy, Vòi, Dúi, Chồn…Đa số họ sử dụng để làm thực phẩm phục vụ cho sinh hoạt của mình, có một số ít đem đi bán Theo người dân
Trang 32thì 1kg Rắn hổ mang bành có giá: 150.000/kg, Rắn ráo có giá: 30.000/kg… Người dân ở đây thường đi săn theo nhóm hoặc thỉnh thoảng đi một mình
- Lấy củi: Do hầu hết các hộ gia đình trong xã sử dụng nhiên liệu chính
là gỗ củi nên hàng ngày các hộ vẫn tiến hành đi lấy củi đều đặn và thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của gia đình Các hộ gia đình thường đi lấy cây gãy, cành khô… Nhóm thanh niên, trung niên là những người thực hiện công việc lấy củi chính trong gia đình họ chiếm khoảng 79% tổng lực lượng lao động, ngoài ra được sự hỗ trợ một phần của người già và trẻ nhỏ
- Lấy rau, măng: công việc không đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và không nặng nhọc nên các thành viên trong gia đình đều có thể làm được Việc thu hái măng giúp gia đình giảm bớt được gánh nặng về nguồn thực phẩm hàng ngày
- Thu hái cây thuốc: Thường thì chỉ có những người chuyên bốc thuốc nam hoặc những người già nhận biết được các loại cây thuốc trong xã là người có nhiều kinh nghiệm trong việc thu hái cây thuốc hơn cả mới lấy được thuốc chiếm khoảng 80% là thuộc độ tuổi người già và trung niên
- Cây cảnh trong địa bàn xã tiến hành nghiên cứu thì có ít sự tác động, các cây chủ yếu là lấy về chơi chứ ít mang bán Các loại cây cảnh thường được lấy về là: Lan, Si rừng, Sanh rừng…và nhóm tuổi hay đi lấy cây cảnh là những người thuộc độ tuổi già và trung niên Các hoạt động khai thác và sử dụng nguyên liệu làm thủ công cũng không diễn ra thường xuyên, chủ yếu là phụ nữ đi lấy nguyên liệu làm đồ thủ công để sử dụng cho mục đích làm đồ dùng gia đình
Như vậy có thể thấy rằng đối tượng tác động mạnh nhất đến tài nguyên rừng là nhóm lao động ở độ tuổi 25-50 tuổi chiếm 56,9% tổng lao động, đây
là lực lượng lao động chính của gia đình do tình trạng thiếu việc làm nên thời gian rảnh rỗi họ thường vào rừng để khai thác lâm sản Nam giới thì vào rừng khai thác gỗ, săn bắt…là những công việc đòi hỏi sức khỏe, nữ giới thì vào rừng lấy củi, lấy măng, lấy rau và các thực phẩm khác từ rừng Sau đó đến nhóm lao động ở độ tuổi >50 vì họ là những người có rất nhiều kinh nghiệm
và kiến thức về cây thuốc vì thế họ thường vào rừng lấy củi, lấy thức ăn cho gia súc, lấy các loại cây trong rừng về làm thuốc Nhóm lao động ở độ tuổi 16
- 25 cũng là những đối tượng có tác động mạnh vào rừng, nam giới có thể đi