1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình

115 2,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo báo cáo “Môi trường quốc gia năm 2011” chuyên đề về “chất thải rắn” của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, sự gia tăng dân số cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Hiện nay, rác thải ở Việt Nam đang là một thực trạng đáng lo ngại Cùng với

sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số cộng với sự lãng phí tài nguyên trong thói quen sinh hoạt của con người, rác thải có số lượng ngày một tăng, thành phần ngày càng phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại với môi trường và sức khỏe con người Theo báo cáo “Môi trường quốc gia năm 2011” chuyên đề về “chất thải rắn” của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, sự gia tăng dân số cùng với sự phát triển kinh

tế mạnh mẽ của đất nước trong những năm qua, lượng chất thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp, khu đô thị, làng nghề, nông thôn, y tế đã không ngừng gia tăng, trung bình khoảng 10% mỗi năm, trong đó theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% chất thải rắn từ đô thị, 17% từ sản xuất công nghiệp, còn lại là từ nông thôn, làng nghề và y tế Vấn đề xử lý rác thải mới chỉ đạt từ 80-82%, công tác thu gom hiện nay đã tăng đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn thực

tế Phần lớn chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn, thu gom lẫn lộn, việc tái chế, xử lý chưa khoa học, còn manh mún Vì thế gây ảnh hưởng đến môi trường, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Thành phố Thái Bình cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng đó

Ở thành phố Thái Bình tuy đã có đầu tư xử lý rác thải sinh hoạt (xây dựng nhà máy chế biến phân vi sinh và bãi chôn lấp rác) nhưng việc xử lý rác còn chưa được giải quyết triệt để như rác sinh hoạt chưa được thu gom xử lý hết và vệ sinh môi trường tại bãi chôn lấp chưa đảm bảo Bãi chôn lấp chưa được thiết kế hợp vệ sinh, gần như chỉ là nơi chứa rác sau xử lý của nhà máy Năng lực tổ chức quản lý còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ Vì vậy cần có những nghiên cứu để đưa ra các giải pháp cải thiện nâng cao hiệu quả trong việc quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tạo nên môi trường thực sự trong lành - sạch sẽ - an toàn

Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra và với mong muốn được tìm hiểu, nghiên cứu tìm ra giải pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt có tính phù hợp

Trang 2

cao đối với địa phương, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp

nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình” đã được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho thành phố Thái Bình

3 Phương pháp nghiên cứu và công cụ sử dụng

* Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu: thu thập số liệu hiện có liên quan

đến đề tài, thu thập tất cả các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, các công trình xử lý CTR sinh hoạt đã được vận hành

- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: nhằm thu thập số liệu thứ cấp về

tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý; tài liệu thực tế phát sinh CTR sinh hoạt; những vấn đề môi trường bức xúc

- Ph ương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong đánh giá

hiệu quả và đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt

* Công cụ ứng dụng:

- Tin học: sử dụng bản đồ để mô phỏng khu vực nghiên cứu và lưu trữ thông tin; sử dụng tin học trong tính toán cho kết quả nhanh hơn, chính xác hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Chất thải rắn sinh hoạt thành phố Thái Bình và xã Đông Mỹ là đối tượng nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi không gian vùng nghiên cứu là thành phố Thái Bình của tỉnh Thái Bình và xã Đông Mỹ

5 Nội dung của luận văn

Nội dung của luận văn tập trung vào 3 nội dung như sau:

1 Xây dựng cơ sở khoac học và thực tiễn cho việc đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho thành phố Thái Bình

Trang 3

2 Đánh giá được thực trạng của công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Thái Bình

3 Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho thành phố Thái Bình

Với 3 nội dung như trên, ngoài phần mở đầu và phần kết luận luận văn còn

có 3 chương như sau:

1) Chương 1: Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt và thực trạng quản lý, xử

lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Thái Bình

2) Chương 2: Nghiên cứu đề xuất mô hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt cho xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình

3) Chương 3: Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho thành phố Thái Bình

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ THỰC TRẠNG

QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

1.1 Tổng quan về công tác phân loại, thu gom, xử lý CTR sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam

1 1.1 Tổng quan về quản lý CTR sinh hoạt trên thế giới

1 1.1.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

Lượng rác thải sinh hoạt phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số và thói quen tiêu dùng của con người Ở mỗi quốc gia có tỷ lệ phát sinh rác thải khác nhau, cụ thể như sau: Bangkok là 1,6kg/người/ngày; Singapore là 2 kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2 kg/người/ngày; New York là 2,65kg/người/ngày

Theo số liệu thống kê của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm Nhật Bản có khoảng 450 triệu tấn rác thải Đối với rác thải sinh hoạt của các gia đình khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón

Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác thải tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ đô Matxcơva là 5 triệu tấn/năm

Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày Và tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn

là 1,8kg/người/ngày, Singapore, Hồng Kông là 0,8-10kg/người/ngày

Trang 5

Bảng 1.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước trên thế giới Tên nước Dân số đô thị hiện nay (% tổng số) Lượng phát sinh CTR đô thị hiện nay

(Nguồn: Bộ môn sức khoẻ môi trường, 2006 [2])

Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải rắn nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5kg/người/ngày

1.1.1.2 Tình hình quản lý, xử lý CTR sinh hoạt trên thế giới

Chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp chôn lấp, đốt, ủ phân compost với nhiều công nghệ được áp dụng như công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin, Tình hình áp dụng các phương pháp này ở một số nước trên thế giới như sau:

Trang 6

Bảng 1.2: Tỷ lệ % CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước

TT Tên quốc gia Tái chế Chế biến phân vi sinh Chôn lấp Đốt

Hiện nay một số nước phát triển trên thế giới đã có những mô hình phân loại

và thu gom, xử lý rác thải rất hiệu quả, cụ thể:

- California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau sau đó rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38USD/tấn Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế đáng kể lượng rác phát sinh Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyển chở rác

- Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng

biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ (giấy, vải, thủy tinh, kim loại, ) và rác còn lại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác vô cơ được đưa đến cơ sở tái chế hàng

Trang 7

hóa Rác còn lại được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh để phân giải chúng một cách triệt để, kết quả sẽ được sản phẩm là các cặn rác không còn mùi được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, có

tác dụng hút nước khi trời mưa (Dự án Danida, 2007) [8]

- Singapore là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để

có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được đưa về các nhà máy tái chế lại, còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy để thiêu hủy Tham gia vào công việc này có công ty và các khu dân cư, trong đó có hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra các hộ dân được khuyến khích tự thu gom

và vận chuyển rác thải, chẳng hạn đối với các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đô la Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đô la Singapore/tháng (Lê Huỳnh Mai và cs, 2009) [13]

- Trung Quốc: Tại đây phương hướng chủ đạo trong phát triển ngành công

nghiệp xử lý rác thải sinh hoạt là chuyển từ chôn lấp sang đốt phát điện Theo “Quy hoạch xây dựng hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố, thị trấn trong toàn quốc “5 năm lần thứ XII”” của Trung Quốc, tổng đầu tư xây dựng khoảng 263,6 tỷ NDT Cuối năm 2012 Trung Quốc có 142 nhà máy đốt rác phát điện đã được xây dựng và đưa vào vận hành hoạt động, tổng quy mô xử lý là 124 nghìn tấn, tổng công suất lắp đặt khoảng 2.600MW Dự kiến đến năm 2015, khả năng thiêu đốt rác thải phát điện trên toàn quốc có thể đạt 310 nghìn tấn/ngày [30]

1 1.2 Tổng quan về quản lý CTR sinh hoạt ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình phát sinh CTR si nh hoạt tại các đô thị của Việt Nam

Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra rất nhanh và trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên,

Trang 8

bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép lên môi trường với sự góp phần của các nhân tố như chất thải rắn sinh hoạt, đặc biệt chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp

Năm 2014 tổng lượng CTR sinh hoạt tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị là 6,9 triệu tấn/năm chiếm 54%, còn lại tập trung tại các huyện lỵ, thị xã, thị trấn Dự báo đến năm 2020 tổng lượng CTR sinh hoạt đô thị sẽ khoảng 22 triệu tấn/năm Lượng CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Việt Nam [29]

Đến năm 2015 dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh ước đạt khoảng 44

triệu tấn/năm, đặc biệt là CTR đô thị và công nghiệp

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng tới 0,9 kg lên 1,2kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 lên 0,65kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ

Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta với số liệu tổng hợp năm 2007 cụ thể tại bảng 1.3 như sau:

Bảng 1.3: Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh

ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

TT Loại đô thị

Lượng CTRSH bình quân/người (kg/người/ngày)

Lượng CTRSH phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm

(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008 [5])

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh

Trang 9

chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Bảng 1.4 thể hiện lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại các vùng địa lý của Việt Nam năm 2007 như sau:

Bảng 1.4: Lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị theo vùng địa lý

Việt Nam đầu năm 2007

TT Đơn vị hành chính

Lượng CTRSH bình quân/đầu người (kg/người/ngày)

Lượng CTRSH

đô thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm

(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008 [5])

Từ bảng 1.4 nhận thấy, các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm với mức chuẩn thải

là 0,75kg/người/ngày, tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Các

đô thị khu vực Đông Nam Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị cao nhất là 2.450.245 tấn/năm với mức phát sinh là 0,79kg/người/ngày

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đến năm 2015 khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37.000 tấn/ngày và năm 2020 là 59.000 tấn/ngày cao gấp 2-3 lần hiện nay

Trang 10

1 1.2.2 Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn Việt Nam

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nông thôn đang ở mức báo động, đã và đang gây ra những tác động mạnh mẽ và lâu dài đến sức khỏe cộng đồng Ở nhiều nơi do các làng nghề gây ra, có nơi do nước thải, chất thải từ sản xuất nông nghiệp như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, rác thải sinh hoạt

Theo báo cáo môi trường hàng năm, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn khoảng 40-55% trong đó khoảng 60% sô thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản

Rác thải phát sinh với khối lượng ngày càng nhiều, không kém gì khu vực đô thị, nhiều nơi rác thải chưa được thu gom, xử lý dẫn đến tình trạng rác thải đổ bừa bãi ven đường, ven đê, trôi dạt ở mương máng, sông ngòi, kênh rạch Để quản lý lượng rác thải ngày càng gia tăng như hiện nay, Việt Nam đã có những hành động và triển khai công tác quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt như sau:

1 1.2.3 Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

a Cơ chế quản lý

* Luật pháp và chính sách

Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý phù hợp với các hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng

- Luật Bảo vệ môi trường 2005

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn

- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

- Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y

tế, văn hóa, thể thao và môi trường

- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trang 11

- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi,

hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường

- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 12 năm 2007 Hướng dẫn một

số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn

- Thông tư số 08/2008/TT-BTC ngày 29 tháng 01 năm 2008 sửa đổi, bổ sung thông tư số 108/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 Hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn

- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19 tháng 05 năm 2008 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 Hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với họat động đầu tư cho quản lý chất thải rắn

- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020

- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 23/2005/CT-TTG ngày 21 tháng 6 năm

2005 về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp

Tuy nhiên, các văn bản nêu trên chủ yếu qui định và mới chỉ áp dụng cho khu vực đô thị Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức Số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn

Trang 12

lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, do đó công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo (Viện chiến lược chính sách, 2010) [22]

* Nhân lực làm công tác quản lý môi trường

Ở nước ta nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường hiện nay là 10.000 người, với tỷ lệ 13 cán bộ/1 triệu dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như: Trung Quốc: 20 cán bộ; Thái Lan là 30 cán bộ, Campuchia là 55 cán

bộ, Malaysia là 100 cán bộ, Singapore là 330 cán bộ Đối với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiêu, ví dụ như: Canada là 155 người, Anh là 204 người Trong số 10.000 cán bộ mới chỉ có khoảng 25% được đào tạo đúng chuyên môn Như vậy, nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường ở Việt Nam còn thiếu rất nhiều, đòi hỏi nhà nước cần tăng cường hơn nữa để đáp ứng được nhu cầu quản lý

trong thời gian tới (Nguồn: Báo cáo của Tổng cục môi trường tại Hội nghị Môi

trường toàn quốc lần thứ III, 17-18/11/2010)

b Tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã trong cả nước đã thành lập các công

ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc phân loại, thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lượng rác phát sinh, lượng rác thải còn lại được đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí

Tỷ lệ thu gom, xử lý trung bình CTR sinh hoạt ở các đô thị trên địa bàn toàn quốc năm 2012 là 83,5%, vùng nông thôn khoảng 20-30% Lượng CTR sinh hoạt ở nước ta có xu hướng phát sinh ngày càng gia tăng, trung bình khoảng 10%/năm [27]

Ở nông thôn đã thành lập các tổ dịch vụ thu gom rác thải nhưng chủ yếu là các tổ thu gom theo mô hình tự quản Ít địa phương thành lập được các hợp tác xã dịch vụ môi trường Nếu có, đa số các hợp tác xã này lại hình thành theo kiểu tự phát, chưa được hỗ trợ nên hoạt động kém hiệu quả và không bền vững

Mặc dù công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn ngày càng được chính quyền các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế Năng lực thu gom

Trang 13

và vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu cả về nhân lực và vật lực, mạng lưới thu gom còn yếu và thiếu Bên cạnh đó, do nhận thức chưa cao của người dân trong giữ gìn

vệ sinh môi trường nên hiện tượng đổ rác bừa bãi còn diễn ra phổ biến Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn, được thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp

c Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

* Phương pháp xử lý CTR sinh hoạt đang được áp dụng tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng một số công nghệ xử lý CTR sinh hoạt sau:

- Công nghệ đốt rác tạo nguồn năng lượng

- Công nghệ chế biến phân hữu cơ

- Công nghệ chế biến khí Biogas

- Công nghệ xử lý nước rác

- Công nghệ tái chế rác thải thành các vật liệu và chế phẩm xây dựng

- Công nghệ tái sử dụng các thành phần có ích trong rác thải

- Chôn lấp CTR hợp vệ sinh

- Ngoài ra còn một số công nghệ khác

Hiện nay dù ở đô thị hay nông thôn Việt Nam thì phương pháp chôn lấp CTR sinh hoạt vẫn là phương pháp phổ biến nhất Tại các đô thị trung bình 1 bãi chôn lấp/1 đô thị, riêng ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có từ 4-5 bãi chôn lấp

Ngoài phương pháp chôn lấp, ở các đô thị lớn của Việt Nam đã đầu tư công nghệ xử lý CTR sinh hoạt đa dạng tùy theo đặc điểm đô thị mà mỗi đô thị áp dụng những công nghệ xử lý riêng Như ở TP Vinh - Nghệ An có nhà máy xử lý rác Đông Vinh (TP Vinh - Nghệ An) sử dụng công nghệ Seraphin có công suất từ 80-

150 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (TP Huế - Thừa Thiên Huế) áp dụng công nghệ ASC, công suất 80-150 tấn/ngày, trong đó 85-90% rác thải được chế biến và tái chế, 10-15% rác thải chôn lấp, không phát sinh nước rỉ rác

* Hiệu quả xử lý CTR sinh hoạt tại Việt Nam

Thống kê hiện nay toàn quốc có 458 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành có quy mô trên 1.800ha nhưng trong đó chỉ có 121 bãi chôn lấp hợp vệ

Trang 14

sinh với diện tích 977 ha (tập trung ở các thành phố lớn) [26] Còn lại phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rác đang là nguồn gây

ô nhiễm môi trường và chiếm diện tích lớn Cũng giống như nhiều nước khác trong khu vực Nam và Đông Nam Á, tiêu huỷ chất thải ở các bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có kiểm soát là những hình thức xử lý chủ yếu ở Việt Nam

Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ thống xử lý

và tiêu huỷ chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài chính nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA Tự tiêu huỷ là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom

và tiêu huỷ chất thải Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải buộc phải áp dụng các biện pháp tiêu huỷ của riêng gia đình mình, thường là đem đổ bỏ ở các sông, hồ gần nhà họ, hoặc là vứt bừa bãi ven đường gây nên vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm mùi và có mầm bệnh trú ngụ có nguy cơ gây dịch bệnh cho người và sinh vật

Cả nước hiện nay có khoảng 26 nhà máy xử lý chất thải rắn tập trung tại các

đô thị, trong đó có 3 nhà máy sử dụng công nghệ đốt, còn lại phần lớn sử dụng công nghệ sản xuất phân vi sinh kết hợp chôn lấp Tổng công suất xử lý đạt khoảng 5.000 tấn/ngày Phương pháp đốt rác cũng gây huỷ hoại môi trường một cách nghiêm trọng và có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người do thải ra khí độc hại

Công nghệ chế biến phân hữu cơ mới được áp dụng ở khoảng 9% số đô thị

từ thị xã trở lên, tổng công suất hiện tại khoảng 1.400 tấn/ngày Tuy nhiên, hầu hết các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và công nghệ, thiết bị nhập ngoại chưa phù hợp với đặc điểm rác không được phân loại tại nguồn như ở nước ta

Gần đây, đã có một số công nghệ trong nước với nhiều ưu điểm như khả năng phân loại rác tốt hơn, đặc biệt là đã tái chế, tái sử dụng được phần lớn lượng chất thải, đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH-ASC, MBT-CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái chế và viên nhiên liệu Các công nghệ này đã được triển khai áp dụng tại các nhà

Trang 15

máy xử lý rác ở TP Vinh, TP Huế, Đồng Văn - Hà Nam,… bước đầu đạt được những kết quả nhất định

Các công trình xử lý CTR ở Việt Nam còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu quả, hiệu suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất Đối với CTR sinh hoạt tại vùng nông thôn ở Việt Nam thì chưa áp dụng dây truyền công nghệ vào trong quá trình xử lý mà chủ yếu xử lý theo phương pháp truyền thống là phương pháp chôn lấp, hiệu quả xử lý chất thải rắn sinh hoạt còn nhiều yếu kém

* Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh

Tại Hà Nội: theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi

trường đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một năm có trên dưới một triệu tấn Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công nhưng tất cả vẫn không thể thu gom nổi vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh Chính

vì vậy mà tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới chỉ khoảng 60% Hiện nay, Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn

đã thành lập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%), còn lại vẫn chủ yếu tổ chức chôn lấp hoặc đổ ra các bãi đất trống công cộng ngay tại địa phương

Tại Cần Thơ: ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải rắn

sinh hoạt mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom đạt thấp (khoảng 63% vào năm 2008, đến năm 2009 tỷ lệ này nâng lên không đáng kể), lượng rác còn lại được người dân thải vào các ao, sông, rạch Năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt; nhưng đối với các quận, huyện ngoại thành (Cờ

Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh ) việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiệu quả chưa cao

Tại TP Hồ Chí Minh: là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn đô

thị hàng năm tại TP Hồ Chí Minh rất cao Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi

Trang 16

trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.HCM đổ ra khoảng 5.800-6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500-700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150-200 tấn chất thải nguy hại, 9-12 tấn chất thải rắn y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn (Hoàng Thị

Kim Chi, 2009) [6]

Tại Đồng Nai: hiện nay toàn tỉnh có 4/7 khu xử lý rác thải sinh hoạt đang

trong quá trình triển khai thực hiện đưa vào sử dụng và 03 khu xử lý tập trung liên huyện, liên đô thị đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở Đồng Nai mới chỉ đạt 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt đang thải ra môi trường chưa được xử lý Trong đó, tổng khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 1.167 tấn/ngày, bao gồm 1.080 tấn chất thải sinh hoạt ngoài khu công nghiệp và 87 tấn rác trong khu công nghiệp Tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác, không có các điểm trung chuyển rác (Thùy Trang, 2010)

Tại Hưng Yên: theo thống kê của ngành môi trường tỉnh Hưng Yên, trung

bình mỗi ngày một người dân có 0,5 kg rác thải sinh hoạt, với dân số hiện nay của tỉnh khoảng 1,2 triệu người thì mỗi ngày toàn tỉnh có tới 600 tấn rác Tính đến năm

2009, toàn tỉnh đã quy hoạch được 627 bãi rác thải sinh hoạt quy mô thôn, xã Tuy nhiên, theo thống kê chưa đầy đủ của ngành thì mới chỉ thu gom, xử lý được gần 70% lượng rác thải Như vậy, mỗi ngày vẫn còn hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt bị xả trực tiếp ra môi trường (Vi Ngoan, 2009) [15]

1 1.3 Một số mô hình quản lý CTR sinh hoạt ở Việt Nam

- Mô hình quản lý nhà nước: Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị do các Công ty Môi trường đô thị đóng tại các tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị xã thực hiện Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại phương tiện, trang bị ban đầu do Nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom, xử lý chất thải theo định mức áp dụng Tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, đơn giá được áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh, thành phố

Trang 17

ban hành theo từng thời điểm Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp

có thu và được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định

- Mô hình quản lý tư nhân: bao gồm các Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành với hình thức tự nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý và trả công cho các thành viên Các tổ chức này sẽ được tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm thông qua các chế tài

- Phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Kiến Xương

- Phía Tây và Tây Nam giáp với Vũ Thư

- Phía Bắc giáp với huyện Đông Hưng

Thành phố Thái Bình có tổng diện tích tự nhiên là 67,71km2; bao gồm 10 phường và 9 xã Thành phố cách thủ đô Hà Nội 110km về phía Tây Bắc theo QL10, QL1 và 118k theo đường thủy sông Hồng; cách thành phố Hải Phòng 70km về phía Đông Bắc theo QL10; cách thành phố Nam Định 20km về phía Tây; cách thành phố Hưng Yên 40km về phía Tây Bắc theo QL39

Trang 18

Hình 1.1 Bản đồ vị trí địa lý thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Thành phố Thái Bình gồm 19 đơn vị hành chính, bao gồm 10 phường nội thành và 9 xã ngoại thành, trong đó:

- Khu vực nội thành gồm 10 phường: Lê Hồng Phong, Bồ Xuyên, Đề Thám,

Kỳ Bá, Quang Trung, Phú Khánh, Tiền Phong, Trần Lãm, Hoàng Diệu, Trần Hưng Đạo

- Khu vực ngoại thành gồm 9 xã: Đông Hoà, Vũ Chính, Vũ Phúc, Phú Xuân, Tân Bình, Vũ Đông, Vũ Lạc, Đông Thọ, Đông Mỹ

1.2.1.2 Địa hình

Thành phố Thái Bình có địa hình khá bằng phẳng, có cao độ 2,6m với độ dốc hơn 1%, độ cao phổ biến từ 1m - 2m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống Đông Nam

- Cốt cao nhất ở ngã tư đường Lý Bôn và Trưng Trắc là 3,5m

- Cốt thấp nhất ở khu vực đang canh tác là 0,5m - 1m

- Cốt bình quân trên dọc tuyến tim đường Lê Lợi là 2,8m Trên tuyến đường Trưng Trắc, Trần Hưng Đạo, Minh Khai, Kỳ Bá là 2,6m đến 2,64m

Thành phố Thái Bình

Trang 19

- Khu vực phía Hoàng Diệu chủ yếu là ao hồ, thùng đấu, địa hình thấp hơn cốt trung bình 0,45m

1.2.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn

- Tổng số giờ nắng bình quân 1.600 - 1.800 giờ mỗi năm Tổng nhiệt lượng 8.5000C/năm Nhiệt độ trung bình ở đây là 230

C - 270C, cao nhất là 380

C - 390C, thấp nhất 40C - 50C

- Lượng mua trung bình từ 1.500 1.900mm, độ ẩm không khí dao động 70% 90%

Gió: Vận tốc trung bình của các tháng tương đối đồng đều: Vgió = 2-2,5m/s Riêng 2 tháng cuối năm Vgió = 9-10m/s

- Bốc hơi:

+ Lượng bốc hơi cao nhất trong ngày: 13,8mm

+ Lượng bốc hơi thấp nhất trong ngày 0,1mm

+ Lượng bốc hơi trung bình 770mm

1.2.2.2 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Thái Bình rất phong phú Mật độ sông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ Nguồn cung cấp hàng tỷ m3 nước từ con sông lớn như sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình, cộng vào đó lượng mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn (hàng tỉ tấn) Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở mọi nơi trong thành phố

Trang 20

1.2.2.3 Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 67,7135km2 Trong đó, nội thành chiếm 19,7075km2, ngoại thành chiếm 48,006km2 Đất xây dựng đô thị 12,9km2

Địa chất khu vực thành phố Thái Bình là vùng trầm tích sông biển Khu vực

từ sông Trà Lý về phía Vũ Thư gồm các lớp đặc trưng sau:

- Trên cùng là lớp đất nhân tạo gồm các chất hữu cơ và gạch ngói vỡ, có chiều dày từ 0,6 - 1m

- Lớp sét dẻo mỏng màu vàng dày 0,3 - 0,4m

1.2.2.4 Điều kiện thủy văn

Thành phố có mật độ sông ngòi, ao hồ lớn chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông lớn nhất chảy qua địa phận thành phố là sông Trà Lý, dài 9km, chiều rộng từ 150 - 200m Cao độ đáy sông -6,5m, cao độ mặt đê +5,2m Mực nước trung bình +2,8m, thấp nhất +0,48m, lớn nhất +4,8m Lưu lượng dòng chảy trung bình 896m3/s, lượng phù sa lớn Chế độ thủy văn của thành phố phụ thuộc vào chế độ thủy văn của sông Trà Lý

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 ước đạt 37.188 tỷ đồng, tăng 8,8%

so với năm 2012 Tổng giá trị sản xuất ước tăng 9,74% GDP bình quân đầu người năm 2012 là 24,8 triệu/người, năm 2013 là 26,1 triệu/người

- Sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông - lâm - thủy sản vẫn duy trì ổn định và

có bước tăng trưởng

Trang 21

- Sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) năm 2013 ước đạt 30.523

tỷ đồng, tăng 11,87% so với năm 2012, đạt 99,4% kế hoạch năm 2013 (30.695 tỷ đồng)

- Thương mại - dịch vụ: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ năm 2013 ước đạt 23.040 tỷ đồng, tăng 11,58% so với năm trước, đạt 92,2% so với kế hoạch năm

2013 (25.000 tỷ đồng)

1.2.3.2 Cơ cấu kinh tế

Theo Niên giám thống kê năm 2013, cơ cấu kinh tế thành phố Thái Bình năm 2013:

- Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3,2%

- Ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 63,8%

- Dịch vụ - thương mại chiếm 33,0%

Hình 1.1 : Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2013 của thành phố Thái Bình

Cơ cấu kinh tế thành phố Thái Bình chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng Điều đó chứng tỏ thành phố Thái Bình đang có chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hòa chung cùng với sự chuyển mình của đất nước

1.2.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm đều đạt trên 12,5%/năm Mức tăng trưởng trung bình 3 năm 2010, 2011 và 2012 đạt 13,89%/năm

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố được thể hiện trong bảng 1.5:

Trang 22

B ảng 1.5: Tăng trưởng kinh tế qua các năm của thành phố Thái Bình

TT Ch ỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

4 Tăng trưởng kinh tế

(Ngu ồn: [23])

Kèm theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề phát sinh rác thải càng ngày càng đa dạng, phong phú về thành phần và số lượng, trong đó rác thải công nghiệp sẽ ngày càng tăng, tính độc hại ngày càng lớn, sự ảnh hưởng ngày càng sâu

rộng và hiểm họa gia tăng không ngừng

1.2.3.4 Hạ tầng giao thông

Thành phố Thái Bình có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, nằm bên

bờ sông Trà Lý thuận lợi giao thông đường thủy Hiện thành phố đã hoàn thành đường vành đai S1, đường S2 hiện đang thi công

Đường vành đai phía Nam thành phố Thái Bình có điểm đầu giao cắt với

Quốc lộ 10 (xã Đông Mỹ) và điểm cuối giao cắt với Quốc lộ 10 cũ (phường Phú Khánh) với tổng chiều dài nghiên cứu lập quy hoạch là 20km, bề rộng quy hoạch đảm bảo hình thành tuyến phố khang trang, sạch đẹp, hiện đại

1.2.3.5 Dân số, y tế, giáo dục, văn hóa

Trang 23

- Dân số quy đổi là 77.998 người, trong đó nội thành là 64.667 người và ngoại thành là 13.331 người

Tỷ lệ tăng dân số qua các năm được thể hiện ở bảng 2.2:

Bảng 1.6: Tỷ lệ tăng dân số qua các năm của thành phố Thái Bình

- Các cơ sở y tế tuyến thành phố: Bệnh viện Đa khoa thành phố, Trung tâm y

tế thành phố với tổng số giường bệnh là 80 giường

- Các cơ sở y tế tuyến phường, xã: bao gồm 19 trạm y tế trong các phường,

xã với 95 giường bệnh

Cùng với mạng lưới y tế tuyến tỉnh, thành phố và tuyến phường, xã, trên địa bàn thành phố còn có các cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập như bệnh viện Đa khoa Lâm Hoa và bệnh viện Đa khoa Hoàng An

c Giáo dục

Tính đến năm 2012, tổng số cơ sở giáo dục đào tạo cấp khu vực và cấp đô thị trên địa bàn thành phố là 12 cơ sở, bao gồm:

- Trường Đại học: có 3 trường (Đại học Y Thái Bình, đại học Thái Bình và

đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh chi nhánh tại Thái Bình)

Trang 24

- Trường Cao đẳng: có 3 trường (Cao đẳng Y Thái Bình, cao đẳng Văn hóa

nghệ thuật, cao đẳng Sư phạm Thái Bình)

- Trường Trung học chuyên nghiệp: có 6 trường (trường Trung cấp nghề 319

Bộ Quốc phòng, Trung cấp nghề Sở LĐTB-XH, Trung cấp Lái xe Sở GTVT, Trung cấp Sư phạm mầm non, Trung cấp Xây dựng Thái Bình, Trung cấp nghề cho người khuyết tật) [23]

Đây cũng là một nguồn thải chất thải rắn mang nét đặc trưng là thải tập trung,

chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng

1.2.4 Định hướng phát triển kinh tế-xã hội thành phố Thái Bình

Theo Quy hoạch phát triển thành phố Thái Bình đến năm 2030 với mục tiêu xây dựng thành phố trở thành vùng kinh tế chủ lực trong chiến lược phát triển kinh

tế, xã hội toàn tỉnh, thành phố sẽ được quy hoạch rõ nét các khu chức năng như công nghiệp, khu đô thị, khu trung tâm hành chính, văn hóa thể thao, y tế, giáo dục, thương mại dịch vụ, giải trí nhằm gia tăng tiện ích cho dịch vụ đô thị Bổ sung thêm các khu công viên, cây xanh và phân bố về các khu vực trung tâm, các cực phát triển của thành phố Dựa trên nhu cầu phát triển của dân số sẽ xây dựng mỗi khu đô thị mới có diện tích 50-60ha và bố trí đầy đủ công trình công cộng Các công trình

có yêu cầu vệ sinh môi trường như khu xử lý rác thải, nước thải, nghĩa trang đề xuất

bố trí ra khỏi khu vực nội thành; sẽ tăng cường cải tạo các khu vực ô nhiễm môi trường, chất thải bệnh viện; tận dụng các tuyến sông, dòng chảy hiện có kết hợp với trồng cây xanh để phát triển du lịch sinh thái

Theo Quy hoạch xây dựng thành phố Thái Bình đến năm 2030 phát triển thành phố sẽ theo hướng đô thị hóa từng phần, theo từng giai đoạn Giai đoạn từ nay đến năm 2020 sẽ tập trung phát triển cực Bắc và phía Tây Bắc thành phố và giai đoạn đến năm 2030 hoàn chỉnh phát triển quy mô như dự báo

Thành phố đã thực hiện được trên 660 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng cơ bản với hơn 140 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được quy hoạch đồng bộ, nhiều dự án quan trọng được phê duyệt xây dựng như quy hoạch mở rộng đầu nối giao thông nội đô (đường vành đai phía Nam, Ngô

Trang 25

Quyền, Đốc Đen, Trần Lãm, Lê Quý Đôn) Hệ thống cấp thoát nước được quy hoạch chung Các công trình phúc lợi công cộng như công viên 30/6, Kỳ Bá, quảng trường 14/10 tiếp tục được đầu tư, cải tạo và nâng cấp Quy hoạch 510ha dành cho các khu, cụm, điểm công nghiệp Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Phong Phú, Trần Lãm, Sông Trà; 120ha xây dựng các khu chung cư, đô thị mới Quy hoạch chi tiết trung tâm các xã, phường như Kỳ Bá, Quang Trung, Đông Thọ, Phú Xuân và Hoàng Diệu [24]

1.3 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt ở thành phố Thái Bình

1.3 1 Nguồn gốc phát sinh và phân bố

1.3 1.1 Chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn tại thành phố Thái Bình được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:

Hình 1.3 : Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải rắn ở thành phố Thái Bình

C hất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của

con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ - thương mại

Trong lượng lớn rác thải sinh hoạt này, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ có thể sơ chế tái sử dụng, còn phần lớn phải hủy bỏ hoặc phải qua một quá trình chế biến phức tạp mới có thể tái sử dụng

Nông nghiệp, hoạt động xử

Trang 26

- Chất thải từ hoạt động xây dựng: chất thải phát sinh từ quá trình thi công

công trình xây dựng dân dụng, công trình phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi Rác thải xây dựng như đất đá, gạch vỡ đổ ra bãi chôn lấp

- Chất thải từ đường phố, ngõ xóm: Phần lớn rác thải ở đường phố, ngõ xóm là

do các khu dân cư sống ven các trục đường đổ thải bừa bãi hoặc do người dân thiếu ý thức khi đi chợ sớm, đi làm tiện thể mang rác vứt ven đường Đây là nguồn thải khó kiểm soát do tính chất lưu động, không cố định của nguồn thải

- Ch ất thải từ các khu, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp:

chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ sản xuất công nghiệp bao gồm chất thải công nghiệp không nguy hại, chất thải rắn nguy hại và chất thải rắn sinh hoạt của công nhân làm việc trong các nhà máy

- Chất thải từ các chợ: chất thải phát sinh từ các hoạt động buôn bán hàng

ngày ở các chợ trong thành phố, bao gồm cả các chợ tạm được thu gom đưa về nhà máy

- Chất thải y tế: chất thải từ các bệnh viện và trung tâm y tế hay còn gọi là rác

thải nguy hại được thu gom riêng và đưa đi xử lý ở nơi khác, không đưa về nhà máy

xử lý Nhà máy chỉ xử lý rác thải sinh hoạt của bệnh nhân

1.3.1.2 Tổng lượng CTR khu vực nội thành thành phố Thái Bình

Theo thống kê số lượng và lượng chất thải rắn thu gom, xử lý trên địa bàn thành phố Thái Bình năm 2012 theo tài liệu [9] ta có bảng thống kê sau:

Bảng 1.7: Tổng lượng chất thải rắn khu vực nội thành thành phố Thái Bình

Tổng lượng CTR phát sinh trên địa bàn thành phố (tấn/ năm)

Tổng lượng CTR được thu gom,

xử lý (tấn/năm)

Tỷ lệ CTR được thu gom, xử

Trang 27

1 Chất thải sinh hoạt 47.000 46.000 97,87 Bình quân xử lý

công trình xây dựng 146.000 138.700 95,00 Bình quân xử lý 380 tấn /ngày

lý chính là chôn lấp chưa được phân loại và xử lý bằng công nghệ cao

1.3.2 Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt

- Các chất cháy được gồm: Giấy, rác thực phẩm (kể cả thịt nhưng không tính phần xương, vỏ sò), hàng dệt, gỗ, cỏ, rơm, rạ, chất dẻo, da và cao su

- Các chất không cháy được gồm: Kim loại đen (sắt và hợp kim), kim loại màu, thủy tinh, đá và sành sứ (không bao gồm xương và vỏ sò)

- Các chất hỗn hợp: Các chất hỗn hợp có kích thước lớn hơn 5mm, các chất có kích thước nhỏ hơn 5mm

Theo tài liệu cung cấp của công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình cho thấy:

- 5% là rác thải có nguồn gốc vô cơ như nhựa, thủy tinh, vải, túi nilon, đất, phế thải xây dựng,…

- 95% là rác thải có nguồn gốc hữu cơ

1.3 3 Thực trạng phân loại CTR tại thành phố Thái Bình

1.3 3.1 Phân loại rác tại nguồn

Ở thành phố Thái Bình hầu hết rác thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn, chỉ có một số loại rác thải có khả năng tái chế như giấy vụn, nhựa phế liệu,

Trang 28

kim loại, thủy tinh, được người dân phân loại ra và tận dụng để bán cho người thu gom phế liệu

Phân loại rác tại nguồn chưa được người dân triển khai thực hiện hoặc thực hiện vẫn còn sơ sài và mang tính tự phát với mục đích tận dụng rác thải có khả năng tái chế Ngoài rác thải có khả năng tái chế, tất cả các thành phần rác thải sinh hoạt khác thường được các hộ gia đình bỏ chung vào túi nilon rồi thải ra môi trường

Khối lượng rác thải thu gom, xử lý lớn; đòi hỏi chi phí chi trả cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tăng

Tuy vậy, việc phân loại chủ yếu là do những người đi nhặt rác phân loại Chất thải rắn sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn là do:

- Người dân chưa được hướng dẫn kỹ thuật phân loại rác tại nguồn Công tác

vệ sinh môi trường của tỉnh, thành phố mới chỉ tuyên truyền khuyến khích nhân dân

tự phân loại rác tại nguồn mà chưa đưa ra lộ trình cụ thể để thực hiện công việc này

- Việc áp dụng phương pháp xử lý rác thải hữu cơ như ủ phân compost, làm hầm biogas còn nhiều hạn chế; chủ yếu là các xã thuộc thành phố mới thực hiện được còn trong khu vực nội thành đều mang đi chôn lấp hết Tuy chi phí xây dựng cho bể ủ phân compost và hầm biogas này không lớn, yêu cầu khoảng cách từ nhà dân tới bể và hầm có khoảng cách nhất định và nhiều lúc còn gây mùi nên số gia đình áp dụng còn rất ít

Phân loại rác tại nguồn là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc xử lý, tái chế rác thải, góp phần đáng kể trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải

1.3 3.2 Phân loại rác tại bãi chôn lấp

Việc phân loại rác tại khu vực bãi chôn lấp của thành phố Thái Bình được chia

làm 2 khu vực:

a Phân loại rác tại các bãi chôn lấp thuộc 9 xã vùng ven thành phố

Ngoài bãi chôn lấp (BCL) rác của thành phố còn có 6/9 xã vùng ven thuộc thành phố có bãi chôn lấp rác tập trung

Việc vận chuyển rác thải về bãi của các xã thuộc thành phố được đổ thẳng xuống hố chôn lấp mà không được phân loại rác dẫn đến hố chôn lấp nhanh đầy,

Trang 29

tuổi thọ BCL giảm, chi phí cho xử lý rác thải tăng Nguyên nhân của việc chưa phân loại rác này là do:

- Rác thải không được phân loại tại nguồn, rác từ các hộ gia đình, cơ quan, trường học, với đủ các loại thành phần rác được để chung trong cùng một túi nilon nên rất khó khăn cho người phân loại

- Tần suất thu gom rác của các xã trung bình 2 lần/tuần nên khi rác được thu gom, vận chuyển đến bãi rác, rác thải hữu cơ đã bị phân hủy một phần tạo mùi hôi thối, vì vậy không thể tiến hành phân loại được

- Tiền lương trả cho người thu gom thấp Cụ thể với hai hình thức là 3.000 đồng/1 người hoặc 7.000 đồng/hộ.tháng như hiện nay chỉ đủ để trả công thu gom, vận chuyển rác Phân loại rác là công việc độc hại, với tiền lương thấp như vậy sẽ không đáp ứng được nhu cầu

- Hiện tại các bãi rác này không thiết kế khu phân loại rác mà chỉ là bãi trống

để tập trung rác

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các xã sẽ ngày càng tăng nếu không được phân loại, sẽ tạo sức ép lên môi trường và sức ép cho bãi chôn lấp

b Phân loại rác thải tại bãi chôn lấp của thành phố

Rác được vận chuyển đến bãi rác của nhà máy bằng xe ép rác và được phân loại trên sàng quay Tại hệ thống sàng quay này những loại rác to sẽ đi lên trên mặt sàng và những loại rác hạt nhỏ mịn sẽ đi xuống dưới sàng (được chuyển sang làm phân bón)

Rác to được vận chuyển lên trên mặt sàng sẽ được đội ngũ công nhân phân loại tại sàng:

- Những loại rác có thể tái chế, thu gom đem bán được

- Những loại rác có thể đem đi đốt được

- Phần còn lại đem đi chôn

1.3.3.3 Đánh giá thực trạng phân loại CTR sinh hoạt ở thành phố Thái Bình

- Chất thải rắn (CTR) tại thành phố Thái Bình gia tăng nhanh chóng về lượng, thành phần ngày càng phức tạp và vẫn chưa được phân loại tại nguồn, gây khó khăn

Trang 30

cho công tác xử lý Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn còn nhiều bất cập như sau khi người dân phân loại, CTR lại bị đổ chung vào cùng một xe vận chuyển

- Các bãi chôn lấp tại các xã vùng ven thành phố thiết kế không đạt đúng tiêu chuẩn cho phép, rác đưa đến không được phân loại mà chất thành đống rồi san ủi chứ không theo ô chôn lấp, khiến cho công việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại bãi chôn lấp gặp nhiều khó khăn gây nên hiện tượng rác quá tải và mọc lên những bãi rác nổi ven đường mà không được sự đồng ý của nhà nước

- Trong quá trình phân loại rác tại nhà máy, rác chưa được phân loại một cách triệt để nên khi đem đi chôn lấp còn lẫn nhiều tạp chất khó phân hủy hoặc các tạp chất xúc tác với nhau tạo ra chất thải độc hại gây ảnh hưởng tới môi trường

- Ý thức của người dân về giữ gìn vệ sinh chung còn chưa cao cho nên rác thải không đổ vào thùng hay nơi quy định mà thường vứt bừa bãi ra môi trường xung quanh, xuống ao, hồ, cống rãnh hay đổ ngay trên đường phố không chỉ gây nên sự chậm trễ cho quá trình thu gom của công nhân vệ sinh môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân đô thị Tình trạng đổ rác bừa bãi vẫn còn ở nhiều tuyến phố Chất thải xây dựng vẫn đổ trên các khu đất trống, ven đường, Rác thường xuyên ứ đọng tại các khu vực nội thành nhất là vào các ngày lễ tết khi lượng rác thải tăng lên rất nhiều Ở một số khu vực công cộng như chợ, rác thải được thu gom thành đống nhưng chưa được chuyển đi ngay, vừa gây mất vệ sinh vừa gây mất

mỹ quan thành phố

- Kinh phí đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường thấp

- Tiền lương chi trả cho người thu gom thấp không đảm bảo cuộc sống hàng ngày và không đáp ứng được nhu cầu công việc

- Nguồn nhân lực tham gia bảo vệ môi trường còn thiếu kinh nghiệm, trình

độ chuyên môn thấp không đáp ứng được nhu cầu bảo vệ môi trường

1.4 Đánh giá thực trạng quản lý, xử lý CTR sinh hoạt tại thành phố Thái Bình

1.4 1 Đánh giá thực trạng công tác thu gom

1.4 1.1 Phương tiện thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt

Trang 31

Để phục vụ công tác thu gom rác thải tại các xã, phường ở thành phố, công ty

TNHH MTV Môi trường và công trình Đô thị đã bố trí các loại xe phục vụ thu gom

và vận chuyển rác như sau: xe gom rác đẩy tay, xe cải tiến và xe ép rác

Số lượng xe bao gồm:

Xe gom rác đẩy tay có 156 xe (52 xe/1 đội VSMT x 3 đội VSMT)

Xe cải tiến có 3 xe và xe ép rác có 5 xe

Hình 1.4 : Xe thu gom rác đẩy tay dung tích 0,8m 3

Các phương tiện thu gom của các xã vùng ven thuộc thành phố do các đội tự

quản đảm nhiệm Chính vì vậy phương tiện thu gom, vận chuyển rác tại các địa bàn

trong thành phố chưa được nắm vững và quan tâm Phương tiện thu gom còn nhiều

hạn chế về thành phần, có những xã điều kiện môi trường được quan tâm thì xe chở

rác cũng được nâng cấp lên thành xe cải tiến đẩy tay

Bên cạnh đó, phương tiện thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt ở các xã còn

chưa được đảm bảo yêu cầu vệ sinh, đặc biệt xe chở rác cũ, xe bị hỏng nhưng vẫn

được nhân dân tận dụng để vận chuyển rác; xe cải tiến chưa đúng quy cách cũng

được đưa vào sử dụng Xe cũ nát, thùng xe thủng, nước rỉ rác rò rỉ ra ngoài trong

quá trình vận chuyển, thành xe thấp, không có bạt che, rác thải đầy dẫn đến tình

trạng rơi vãi rác ra ngoài gây ô nhiễm môi trường Đây cũng là vấn đề môi trường

cần quan tâm, khắc phục trong thời gian tới

Ở một số xã thuộc thành phố, đường vào bãi rác tập trung còn lầy lội và chật

hẹp Điển hình là 9 xã vùng ven

Trang 32

Hình 1.5 : Đường vào bãi rác

xã Đông Mỹ

Hình 1.6 : Xe cải tiến chở rác

vào bãi rác

Vì vậy, cần phải có sự khảo sát về địa hình, cơ sở hạ tầng giao thông, quãng

đường vận chuyển để lựa chọn xe chở rác cho phù hợp

1.4.1.2 Tình hình tổ chức thu gom CTR sinh hoạt thành phố Thái Bình

* Tình hình thu gom

Hiện nay, tình hình hoạt động thu gom CTR ở thành phố Thái Bình được cụ

thể như sau:

- Với các hộ gia đình sống tại mặt đường thải rác ra đường, hè phố, gốc cây,

cột điện Công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình bố trí

nhân lực quét rác đường phố và thu gom các loại rác

- Với các hộ gia đình sống trong ngõ, tại các tổ, thôn xóm được thu gom bởi

lực lượng thu gom rác do các tổ, xã, phường bố trí và tập kết tại các bãi tập trung

rác thải Công ty cử lao động đến xúc và vận chuyển đến nơi quy định để xử lý với

nội dung:

+ Công ty đảm nhận việc quét thu gom rác tại lòng đường, vỉa hè tại các tuyến

phố, vận chuyển đến nơi xử lý Kinh phí hoạt động của công ty lấy từ ngân sách tỉnh,

thành phố

+ Các phường tự tổ chức thu gom rác thải của các hộ gia đình tại các ngõ

nhỏ, khu dân cư và vận chuyển đến điểm tập kết rác thải tập trung (thường gọi là bể

rác) Công ty sẽ bố trí lực lượng để xúc rác từ các điểm tập kết rác lên phương tiện

Trang 33

vận chuyển, vận chuyển đến nơi xử lý Kinh phí cho việc tổ chức thực hiện này của các xã phường được cân đối từ thu phí vệ sinh của các hộ dân

Công tác thu gom tương đối tốt vì các xã, phường đều bầu ra các đội tự quản thu gom rác từ các hộ gia đình bằng xe đẩy tay, sau đó đưa lên xe đưa đến điểm tập kết hoặc bãi rác nổi đã quy định Song do ý thức của người dân và do địa hình đường xá, do phương tiện và thiết bị thu gom còn hạn chế như thiếu xe đẩy tay, ngõ nhỏ xe lớn không vào được gây khó khăn cho khâu vận chuyển dẫn tới chi phí vận chuyển sẽ cao nên mức phí thu cho mỗi gia đình tăng, nhiều gia đình phản đối dẫn tới hiệu quả thu gom rác chưa cao

Hình 1.7 : Quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt

thành phố Thái Bình

Theo sơ đồ trên cho thấy:

- CTR đường phố như: giấy, chai, lọ, vỏ trái cây, được nhân viên vệ sinh

môi trường quét hàng ngày vào các ca làm việc, đưa vào thùng thu gom, sau đó được vận chuyển bằng xe chuyên dùng đưa đến BCL của thành phố

- CTR sinh hoạt ở các xã vùng ven thành phố được người dân để vào túi

nilon hay thùng chứa rác gia đình Sau đó rác được nhân viên vệ sinh môi trường của xã thu gom bằng xe thô sơ như xe kéo tay, xe phục chế phụ cho việc thu gom rác của xã đưa đến điểm tập trung Tiếp đó đưa lên xe chuyên dùng của công ty

Rác sinh hoạt ở các khu

vực dân cư xa đường

Rác đường phố

Các cơ quan công sở

trường học, bệnh viện,

khu công nghiệp

Rác sinh hoạt ở các khu

vực dân cư gần đường

Xe nâng thùng

Bãi rác thành phố Thái Bình

Trang 34

TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình đem đến BCL của thành phố để xử lý

- CTR sinh hoạt ở các khu dân cư gần đường lớn: rác này được các hộ gia

đình bỏ vào túi nilon hay thùng chứa rác của gia đình đem đổ vào các thùng rác ở đường lớn, sau đó đến giờ quy định nhân viên của công ty sẽ đưa rác ở các thùng tập trung về một điểm rồi đưa lên xe chuyên dùng đưa đến BCL của thành phố

- Chất thải ở các khu vực công cộng như công viên, khu vui chơi và rác thải

tại các cơ quan, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp của thành phố được nhân viên môi trường tại các khu vực đó quét dọn hàng ngày, hót vào thùng chứa rác đưa thẳng lên xe chuyên dùng vận chuyển rác và đem đi chôn lấp ở bãi rác của thành phố Do lượng rác ở bệnh viện ngày càng lớn (rác thải nguy hại) nên lượng rác này được thu gom riêng đem đi xử lý

* Nhân lực huy động trong thu gom

Tổng số công nhân tham gia công tác vệ sinh môi trường công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình quét và thu gom rác là 125 người chia làm 3 đội (đội 1: 45 người; đội 2: 36 người; đội 3: 44 người) Số người này chỉ quét và thu gom rác tại 10 phường, không quét tại các xã Trung bình số người thực hiện tại 1 phường là 13 người

3 đội vệ sinh môi trường thu gom rác thực hiện như sau:

- Quét rác đường phố bằng thủ công, thực hiện 363 ngày/năm

- Quét, gom rác đường phố ban ngày bằng thủ công, thực hiện 363 ngày/năm

- Duy trì dải phân cách bằng thủ công, thực hiện 26 lần/năm

- Tua vỉa hè dọn phế thải gốc cây, cột điện, thực hiện 12 lần/năm

* Vị trí, địa điểm và khối lượng rác được thu gom tại thành phố Thái Bình

Số lượng địa điểm điểm tập kết rác thải và các hình thức thu gom rác được thể hiện ở bảng 1.8, 1.9, 1.10

Trang 35

Bảng 1.8: Các điểm tập kết rác thải tập trung (có xây tường bao)

Diện tích 100m 2 /bãi

TT Địa điểm Khoảng cách đến Nhà máy (km)

KL rác thời điểm nhiều nhất (tấn/ngày)

KL rác Trung bình (tấn/ngày)

(Nguồn: Công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình, 2014)

Bảng 1.9: Các điểm tập kết rác thải tập trung (không xây tường bao)

TT Địa điểm Khoảng cách đến Nhà máy (km)

KL rác thời điểm nhiều nhất (tấn/ngày)

KL rác Trung bình (tấn/ngày)

2 Phường Tiền Phong

(Nguồn: Công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Thái Bình, 2014)

Trang 36

Bảng 1.10: Các điểm thu gom rác từ xe đẩy tay lên xe ép rác

TT Địa điểm Khoảng cách đến Nhà

máy (km)

KL rác thời điểm nhiều nhất (tấn/ngày)

KL rác Trung bình (tấn/ngày)

Ghi chú

1 Chợ Bo - Phố Trần Thái

Đội

vệ sinh

1

2 Cổng công ty - đường

4 Điểm canh nước đê Trần

9 Ngã tư Lê Đại Hành giao

10 Đại học Y khoa - đường

Trang 37

* Quy trình thu gom rác

- Quét, gom rác đường phố bằng thủ công, vận chuyển rác thải bằng xe ép rác đến nơi quy định để xử lý

- Xúc, gom rác tại các điểm tập kết rác thải tập trung lên phương tiện vận chuyển, vận chuyển đến nơi quy định để xử lý

- Xúc rác phế thải xây dựng tại đường, hè phố lên ô tô tự đổ 5 tấn bằng thủ công, vận chuyển đến nơi quy định để xử lý

- Quét rác đường phố bằng cơ giới (thực hiện trong phạm vi 22,75 km -

đường có đủ điều kiện về bề rộng lòng đường để xe quét rác lưu thông được)

1.4.1.3 Vấn đề tồn tại trong công tác thu gom CTR sinh hoạt thành phố Thái Bình

a Vấn đề tồn tại trong công tác thu gom CTR sinh hoạt thành phố Thái Bình

* Thu gom tại khu vực nội thành của thành phố

Công tác thu gom gần như cũng đã được quan tâm hơn Hàng ngày vẫn có tổ thu gom đến thu gom rác tại từng phường Phương tiện thu gom chủ yếu là xe đẩy tay thủ công Xe đẩy tay được chở đến bãi tập kết rác Các điểm tập kết rác chưa tuân thủ đúng quy định, vẫn đổ tràn lan ra đường

Hình 1.8 : Một điểm tập kết rác tại

TP.Thái Bình n gay chân cầu Thái Bình

Hình 1.9 : Rác được đổ ra lòng đường

Trang 38

* Thu gom tại các xã vùng ven thành phố

- Phương tiện thu gom còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Nhiều phương tiện cũ không đảm bảo tiêu chuẩn, không phù hợp với tuyến đường thu gom

và đường vào trong bãi rác, do một số đường vào còn nhỏ, hẹp

- Các xóm của nhiều xã vẫn chưa thành lập tổ thu gom dẫn đến tình trạng rác thải đổ bừa bãi ven đường, rác nổi trên sông, mương máng thủy lợi gây ách tắc dòng chảy, phát tán chất thải gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng tới đời sống người dân

- Hoạt động thu gom chưa liên tục, hay bị gián đoạn

- Lượng rác được thu gom từ xe đẩy tay lên xe ép rác hầu như được thu gom trong ngày nên hạn chế được vấn đề ô nhiễm Tuy nhiên tại một số điểm, một số xe rác đẩy tay nhiều lúc không được đưa lên xe ép rác trong ngày vì xe ép rác đến muộn, do vậy cần phải tuân thủ theo đúng thời gian quy định

- Rác tại điểm thu gom vẫn chưa được thu gom hết

b Vấn đề tồn tại trong công tác thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt tại thành phố Thái Bình

* Đối với khu vực nội thành của thành phố

Do trong khu vực các phường có nhiều ngõ hẻm nên việc thu gom rác tận nhà khá khó khăn, vì thế rác hầu như tập trung ở các ngõ to và đường lớn Gây ra việc mất mỹ quan và ô nhiễm tại các điểm để rác, ruồi muỗi và nước rỉ rác phát sinh trong khu vực Có những nhà do ngại mang rác ra điểm để đổ rác dẫn đến tình trạng rác để mấy ngày trong ngách gây mùi hôi thối, sau đó mới đem đi đổ

* Đối với khu vực các xã vùng ven của thành phố

- Các xã vùng ven thành phố do cách trung tâm thành phố khá xa nên việc vận chuyển rác và sự quan tâm của cơ quan quản lý còn nhiều hạn chế Vì vậy việc thu gom hầu như mang tính tự phát và phong trào môi trường của từng xã

- Do sự đầu tư kinh phí còn nhiều hạn chế nên phương tiện thu gom chưa đủ

để đáp ứng nhu cầu Ngân sách nhà nước mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ cơ sở vật

Trang 39

chất Hỗ trợ, phân bổ kinh phí còn chưa đồng đều giữa các xã, phường, còn mang ý chí chủ quan của người quản lý

- Do ở các thôn, xóm chưa có điểm đổ rác tập trung nên tổ thu gom không được thành lập, người dân đổ rác tự phát mà không bị quản lý Do sự khác nhau trong quy mô bãi chôn lấp dẫn đến sự khác nhau trong quy mô, hình thức thu gom

- Do thiếu sự quan tâm của cơ quan quản lý đối với lĩnh vực môi trường, có UBND xã quan tâm, sâu sát đến vấn đề môi trường của địa phương nhưng có những

xã lĩnh vực môi trường bị bỏ ngỏ

- Tiền lương của công nhân còn thấp nên công nhân thu gom chưa nhiệt tình với công việc, tình trạng công nhân bỏ việc, bỏ làm xảy ra thường xuyên ở các xã

Để giải quyết vướng mắc trên, thành phố Thái Bình cần phải xây dựng được

mô hình thu gom rác thải ở các phường và các xã cho phù hợp, khắc phục được vấn

đề tồn tại thì mới mang lại được hiệu quả cao trong công tác thu gom Đồng thời phải lên kế hoạch cụ thể như: lịch trình thu gom cụ thể cho từng xã, phường; lựa chọn tuyến thu gom sao cho hợp lý, thuận tiện nhất; tăng cường nhân lực thu gom

và cơ chế quản lý mô hình, đồng thời có biện pháp hỗ trợ nhằm thúc đẩy mô hình hoạt động hiệu quả

1.4.2 Đánh giá thực trạng công tác xử lý

1.4.2 1 Thực trạng nhà máy xử lý rác

Nhà máy xử lý rác thải và sản xuất phân bón Thái Bình đã được đưa vào khai thác sử dụng được hơn 10 năm nay, hiện tại nhà máy xử lý rác thải đã nằm ở địa bàn phường Tiền Phong thuộc nội thành thành phố Nhà máy đang xử lý khối lượng rác thải vượt gấp 2 lần so với thiết kế ban đầu Hiện tại lượng rác thải xử lý trung bình 140 tấn/ngày, còn với thiết kế ban đầu là 70 tấn/ngày Nhà máy đang trong tình trạng quá tải 4 lò đốt với các công suất: 0,5 tấn/h, 1 tấn/h, 2 tấn/h và mới trang bị thêm lò đốt rác công suất 4 tấn/h hoạt động liên tục 24/24h/ngày Các máy móc hoạt động trong môi trường độc hại và đặc biệt độc hại nên bị oxy hóa và ăn mòn rất nhanh, vì thế các trang thiết bị đều xuống cấp, một số trang thiết bị xuống cấp nghiêm trọng

Trang 40

Rác thải sau khi được thu gom vận chuyển về nhà máy xử lý rác Rác được phân loại qua hệ thống sàng quay, một phần được đem đi đốt (chiếm 90% tổng lượng rác) còn một phần đem đi chôn tại bãi chôn lấp rác của thành phố (chiếm 10% tổng lượng rác)

a Điểm tập kết rác

Tại điểm tập kết rác, rác được đổ trực tiếp xuống nền bê tông Nước rỉ rác chảy tràn ra ngoài gây ô nhiễm và khiến cho nhiều ruồi muỗi xung quanh khu tập kết Điểm tập kết được trang bị thô sơ, trời mưa to có thể bị ngập lụt trong nhà chứa

do nền nhà chứa không cao

Hình 1.10 : Điểm tập kết rác tại nhà máy xử lý rác Thái Bình

b Hệ thống sàng quay và bãi tập kết rác 1,2,3

Hệ thống sàng quay đã được phân loại rác hữu cơ và rác vô cơ nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế:

- Công nhân phân loại chưa tốt vì chủ yếu phân loại thủ công

- Số công nhân phân loại ít, chỉ có 13 người chia làm 2 ca

Hình 1.11 : Hệ thống sàng quay

Ngày đăng: 23/05/2015, 01:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1 .1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước trên thế giới Tên nước Dân số đô thị hiện nay - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
ng 1 .1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước trên thế giới Tên nước Dân số đô thị hiện nay (Trang 5)
Bảng  1 .3: Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
ng 1 .3: Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 (Trang 8)
Hình 1.1 . Bản đồ vị trí địa lý thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.1 Bản đồ vị trí địa lý thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (Trang 18)
Hình 1.1 : Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2013 của thành phố Thái Bình - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.1 Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2013 của thành phố Thái Bình (Trang 21)
Hình 1.3 : Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải rắn ở thành phố Thái Bình - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.3 Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải rắn ở thành phố Thái Bình (Trang 25)
Hình 1.4 : Xe thu gom rác đẩy tay dung tích 0,8m 3 - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.4 Xe thu gom rác đẩy tay dung tích 0,8m 3 (Trang 31)
Hình 1.5 : Đường vào bãi rác xã Đông Mỹ - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.5 Đường vào bãi rác xã Đông Mỹ (Trang 32)
Hình 1.7 : Quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt  thành phố Thái Bình - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.7 Quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt thành phố Thái Bình (Trang 33)
Bảng  1.8 : Các điểm tập kết rác thải tập trung (có xây tường bao) Diện tích 100m 2 /bãi - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
ng 1.8 : Các điểm tập kết rác thải tập trung (có xây tường bao) Diện tích 100m 2 /bãi (Trang 35)
Hình 1.8 : Một điểm tập kết rác tại  TP.Thái Bình n gay chân cầu Thái Bình - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.8 Một điểm tập kết rác tại TP.Thái Bình n gay chân cầu Thái Bình (Trang 37)
Hình 1.9 : Rác được đổ ra lòng đường - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.9 Rác được đổ ra lòng đường (Trang 37)
Hình 1.11 : Hệ thống sàng quay - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.11 Hệ thống sàng quay (Trang 40)
Hình 1.10 : Điểm tập kết rác tại nhà máy xử lý rác Thái Bình b. Hệ thống sàng quay và bãi tập kết rác 1,2,3 - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.10 Điểm tập kết rác tại nhà máy xử lý rác Thái Bình b. Hệ thống sàng quay và bãi tập kết rác 1,2,3 (Trang 40)
Hình 1.12 : Bãi tập kết 1 có 5 ngăn chứa rác - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.12 Bãi tập kết 1 có 5 ngăn chứa rác (Trang 41)
Hình 1.16 : Hệ thống kênh mương quanh khu vực bãi chôn lấp rác - “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Bình
Hình 1.16 Hệ thống kênh mương quanh khu vực bãi chôn lấp rác (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w