Ý nghĩa thực tiễn - Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý của huyện BắcQuang nói riêng, tỉnh Hà Giang nói chung và các địa phương khác có điềukiện tương tự có thể xây dựng c
Trang 1-o0o -Tên đề tài:
NGUYỄN CÔNG TOÀN
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢCÔNG TÁC BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ LIÊN HIỆP, HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Khoa: Kinh tế & PTNT Khóa học: 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2-o0o -Tên đề tài:
NGUYỄN CÔNG TOÀN
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢCÔNG TÁC BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ LIÊN HIỆP, HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Lớp: K46 - PTNT - N02 Khoa: Kinh tế & PTNT Khóa học: 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Kiều Thị Thu Hương
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng và mục đích sử dụng các loại đất năm 2017
của khu vực nghiên cứu 27
Bảng 4.2: Đặc điểm của hộ nghiên cứu 28
Bảng 4.3: Diện tích bình quân các loại đất của các HGĐ điều tra phân theo các thôn.29 Bảng 4.4: Diện tích bình quân các loại đất của các HGĐ điều tra phân theo loại hộ 29
Bảng 4.5: Thu nhập của hộ gia đình điều tra khảo sát phân theo thôn .30
Bảng 4.6: Thu nhập của hộ gia đình điều tra khảo sát phân theo nhóm hộ .31
Bảng 4.7: Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ rừng của các HGĐ phân loại theo thôn 32 Bảng 4.8: Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ rừng của các loại HGĐ .33
Bảng 4.9: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của điạ phương .34
Bảng 4.10: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý của xã Liên Hiệp 35
Bảng 4.11: Kết quả công tác quản lý, bảo vệ rừng qua các năm của Xã liên Hiệp 37
Bảng 4.12: Tổng hợp công tác phát triển rừng năm 2017 38
Bảng 4.13: Tổng hợp tiền Chi trả DVMTR năm 2017 39
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm về rừng 4
2.1.2 Phân loại rừng 4
2.1.3 Vai trò của rừng 5
2.1.4 Khái niệm về quản lý và bảo vệ rừng
7 2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
2.2.1 Công tác bảo vệ phát triển rừng trên thế giới
8 2.2.2 Công tác bảo vệ phát triển rừng tại Việt Nam
12 2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 17
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1.Chọn địa điểm nghiên cứu 21
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 22
3.3.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 23
Trang 73.3.4 Phương pháp đối chiếu so sánh 23
3.3.5 Phương pháp thống kê mô tả 23
PHẦN 4: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Liên Hiệp 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 25
4.2 Thực trạng của công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở xã Liên Hiệp huyện Bắc Quang 26
4.2.1 Diện tích và mục đích sử dụng các loại đất 26
4.2.2 Khái quát chung về các hộ gia đình điều tra khảo sát 27
4.2.3 Tình hình triển khai thực hiện một số công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở xã Liên Hiệp huyện Bắc Quang 33
4.2.4 Đánh giá kết quả của công tác quản lý, bảo vệ rừng đến phát triển rừng ở xã Liên Hiệp huyện Bắc Quang 36
4.2.5 Vai trò của các bên liên quan trong quản lý bảo vệ rừng xã Liên Hiệp 39
4.3 Các thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở xã Liên Hiệp huyện Bắc Quang 41
4.3.1 Thuận lợi 41
4.3.2 Khó khăn 42
4.3.3 Cơ hội 43
4.3.4 Thách thức 43
4.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng đối với người dân trên đia bàn 44
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Bảo vệ và phát triển rừng đang được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm,
vì rừng giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Rừng được coi
là lá phổi xanh của trái đất vì lá cây rừng hấp thụ CO2 và nhả ra khí O2 để duytrì sự sống của con người và những cá thể sống khác Hơn nữa rừng còn bảo vệmôi trường sống của con người, bảo tồn các nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinhhọc, hạn chế thiên tai, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất pháttriển Rừng cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống con người và gópphần bảo tồn những nét văn hóa truyền thống, lịch sử của các cộng đồng…Biết được tầm quan trọng đó của rừng Đảng và nhà nước đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật và các chương trình, dự án nhằm bảo vệ và phát triểnrừng, sự nỗ lực đó đã đạt được kết quả tương đối khả quan đó là độ che phủ củatán rừng tăng lên hàng năm Tuy nhiên, chất lượng rừng vẫn ngày càng suygiảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp, chuyển đổimục đích sử dụng rừng và đất rừng Nguyên nhân chủ yếu là do công tác bảo
vệ và phát triển rừng tại địa phương chưa đạt hiệu quả tích cực, các ưu đãi dànhcho người quản lý, bảo vệ rừng chưa thực sự khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệtài nguyên rừng Vì vậy, chủ thể nào được giao quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng cũng tìm cách nhanh chóng khai thác tài nguyên rừng Để giải quyết tìnhtrạng trên chúng ta cần tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tácbảo vệ và phát triển rừng, sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, vănhóa, xã hội của từng vùng
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía bắc của nước ta, Hà Giang
có diện tích tự nhiên là 788.437 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là345.860 ha với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơndương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa,lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo
Trang 9quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo
vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cungcấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và
sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh Trong đó Liên Hiệp là một
xã nằm ở khu vực vùng núi thấp thuộc huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang, xãLiên Hiệp có diện tích tự nhiên là 5.502,41ha, tổng diện tích đất lâm nghiệp là4.483,44 ha, trong đó rừng sản xuất 2.391,72 ha, đất rừng phòng hộ 2.091,72
ha Trong những năm gần đây, do điều kiện kinh tế xã hội đang phát triển, đượcĐảng và nhà nước quan tâm xã đã áp dụng nhiều văn bản pháp luật, các chươngtrình dự án nhằm bảo vệ và phát triển rừng, sự nỗ lực đó đã đạt được hiệu quảtích cực là độ che phủ của tán rừng tăng lên hàng năm Tuy nhiên chất lượngrừng của xã vẫn ngày càng suy giảm, cấu trúc thiếu ổn định, khả năng cung cấp
gỗ, tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là
do hiệu quả của công tác bảo vệ, phát triển rừng tại xã chưa đạt hiệu quả cao
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng tại xã Liên Hiệp, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 101.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Khóa luận có thể giúp sinh viên vận dụng được các kiến thức đã học vàothực tiễn
- Khóa luận có thể là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá thựctrạng tác động của chính sách và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quảcác chính sách của nhà nước và địa phương về quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng đối với người dân ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói chung và ngườidân xã Liên Hiệp nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý của huyện BắcQuang nói riêng, tỉnh Hà Giang nói chung và các địa phương khác có điềukiện tương tự có thể xây dựng các hoạt động trong công tác quản lý, bảo vệ vàphát triển rừng một cách hiệu quả và phù hợp với người dân địa phương hơntrong thời gian tới
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trongquá trình thực hiện các công tác bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm về rừng
Rừng là quần xã sinh vật, trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Quần
xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn Giữa quần xã sinh vật và môi trường, cácthành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảokhác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác [1]
Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệlẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khíquyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quanđịa lý
Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnhquan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, độngvật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệsinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của
tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu[1]
vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái [1]
- Rừng phòng hộ: Là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước,bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khíhậu, bảo vệ môi trường [1]
Trang 12+ Rừng phòng hộ đầu nguồn: Rừng ở nơi phát sinh hoặc bắt nguồn nướctạo thành các dòng chảy cấp nước cho các hồ chứa trong mùa khô, hạn chế lũlụt, chống xói mòn, bảo vệ đất Gồm những rừng có sẵn trong tự nhiên, chủyếu là rừng hỗn giao gồm nhiều tầng, không đều tuổi, mật độ dày, cây có rễsâu, bền, chắc.
+ Rừng phòng hộ ven biển: Được thành lập với mục đích chống gió hạn,chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở,bảo vệ các công trình ven biển
+ Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái: Nhằm mục đích điều hòakhí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu dulịch [1]
2.1.3 Vai trò của rừng
2.1.3.1.Vai trò của rừng đối với môi trường
- Khí hậu: Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làmgiảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủcủa tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai tròhết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mànhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu Thực vật sống
mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớncarbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng
có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu và ổn địnhkhí hậu
- Đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ởvùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất
là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng,mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêuđược duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ, điều này thể hiện ở qui luật phổbiến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt
Trang 13- Tài nguyên khác: rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn Rừng
có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượngnước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất,hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các consông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượngnước sông suối vào mùa mưa) Rừng có vai trò rất lớn trong việc: chống cát diđộng ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cảihóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâm sản Rừng là nơi cư trú của rất nhiều cácloài động vật, rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, dalông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
2.1.3.2.Vai trò của rừng đối với kinh tế.
- Lâm sản: rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu củangười tiêu dùng Từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo rahàng trăm mặt hàng đa dạng và phong phú như trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ laođộng, thuyền bè truyền thống, Cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại,…Tùy vào đặc điểm tính chất của từng loại cây mà chúng ta có sản phẩm phùhợp Chẳng hạn gỗ huỳnh; săng lẻ; sao có đặc tính nhẹ, bền, có thể xẻ ván dài,ngâm trong nước mặn không bị hà ăn nên được làm ván các loại thuyền đi trênbiển Gỗ Lim, gỗ Sếu là thứ gỗ bền thiên niên nên thường được dùng làm đìnhchùa, cung điện, chỉ ghép mộng chứ không đóng đinh mà vẫn giữ được côngtrình hàng thế kỷ…
- Dược liệu: Rừng là nguồn dược liệu vô giá Từ ngàn xưa, con người đãkhai thác các sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe.Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dược liệu rừng” nhằmkhai thác có hiệu quả hơn nữa 23 nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng
và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y
- Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụngmột cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành
Trang 14gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng cócảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinhthần mà còn tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương Thông quá đó,người dân đã gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ
và phát triển rừng Thêm một vấn đề đặt ra về môi trường bị ảnh hưởng bởi hoạtđộng du lịch và làm thế nào để quản lí môi trường nói chung và của các loàiđộng vật [1]
2.1.3.3 Vai trò của rừng đối với xã hội.
- Ổn định dân cư: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sảnxuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thunhập cho người dân Giúp dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó với rừng hơn
Từ đó người dân sẽ ổn định nơi ở, sinh sống
- Tạo nguồn thu nhập: Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập chongười dân
+ Cây rừng được dân khai thác làm nguyên vật liệu Thông qua hoạt độngmua bán trao đổi giữa dân và các công ty, đại lý, nhà phân phối Không chỉ ởtrong nước, các sản phẩm còn được xuất khẩu ra thị trường ngoài làm tăng giátrị sản phẩm Vì vậy, thu nhập người dân cũng tăng lên
+ Hoạt động du lịch được mở rộng là nguồn thu nhập mới cho dân
+ Rừng mang lại thực phẩm, dược liệu tự nhiên có giá trị cho con người
2.1.4 Khái niệm về quản lý và bảo vệ
rừng
“Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là tổng hợp các hoạt động của cácchủ thể có thẩm quyền nhằm sắp xếp, tổ chức để giữ gìn và phát triển bền vữngtài nguyên rừng”
Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng trong việc gìngiữ và phát triển nguồn tài nguyên rừng Vai trò của hoạt động quản lý, bảo vệrừng nhằm bảo đảm giá trị phòng hộ và cân bằng sinh thái của tài nguyên rừng;bảo đảm giá trị nhằm bảo tồn đa dạng sinh học; bảo đảm giá trị kinh tế của tàinguyên rừng
Trang 15- Pháp luật quản lý và bảo vê tài nguyên rừng là một lĩnh vực pháp luậtbao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động quản lý và bảo
vệ nguồn tài nguyên rừng
- Đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật về QL BVTNR gồm cácnhóm quan hê xã hội liên quan đến hoa động quản lý tài nguyên rừng của cácchủ thể trong xã hội
Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý tài nguyênrừng bằng việc ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xãhội liên quan đến quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên rừng;
tổ chức thực hiện các quy định pháp luật và bảo đảm cho các quy đi h pháp luâ
đó được thực thi hiệu quả Các chủ thể khác được nhà nước giao, cho thuê tàinguyên rừng để thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng
Phương pháp điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ tàinguyên rừng là sự kết hợp giữa các phương pháp mệnh lệnh, phương pháp thỏathuận và phương pháp hướng dẫn (Nguyễn Hải Âu , 2001) [2]
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
2.2.1 Công tác bảo vệ phát triển rừng trên thế giới.
Di cư và đa dạng sắc tộc ngày càng đặt ra những câu hỏi mới cho chínhsách và nghiên cứu về rừng và thiên nhiên, đặc biệt là về sự bình đẳng của cácvùng tự nhiên, cách tiếp cận trong chính sách và nghiên cứu về các nhóm dântộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa ở bốn nước Tây Âu gồm Vương quốc Anh(Anh), Hà Lan, Đức và Đan Mạch cho thấy rằng mối liên kết mạnh mẽ giữalịch sử nhập cư, truyền thống quốc gia và văn bản chính sách về bảo vệ rừng tựnhiên Ở Đức và Đan Mạch nhấn mạnh sử dụng các giá trị khác nhau của cácnhóm dân tộc, sự hiểu biết và sự khác biệt văn hóa trong các mô hình giải trí,các kinh nghiệm của nhóm dân tộc thiểu số được lồng ghép vào lập kế hoạch vàthiết kế chiến lược quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững Có sự khác biệt
về khía
Trang 16cạnh chính sách trong việc tiếp cận với phong tục tập quán của nhóm dân tộcthiểu số về tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các nước đó.
Mặc dù một loạt các chính sách bảo vệ môi trường trong các khu rừng tựnhiên ở miền nam Ghana đều tồn tại ở dạng văn bản, trong thực tế hầu hết chỉđược áp dụng trong tích trữ gỗ phục vụ mục đích thương mại, các chính sách vềmôi trường có ảnh hưởng rất ít đến những người sống gần với rừng và được ápdụng không thường xuyên Các chính sách này chỉ quan tâm đến các giá trị màrừng đem lại cho các giá trị thương mại mà không quan tâm, chấp nhận chocộng đồng sử dụng tài nguyên cho sinh kế của họ Điều đó dẫn đến những mâuthuẫn mà cần có lời giải dựa trên những truyền thống, phong tục của cộng đồngđịa phương Chính sách môi trường đã có thể gây hại đến sinh kế của ngườinghèo sống trong và xung quanh khu vực rừng, những khu vực được cho lànhạy cảm về tinh thần Mâu thuẫn về chính sách môi trường, chính sách tiếpcận tài nguyên rừng của người dân địa phương để bảo vệ cuộc sống của họ,đảm bảo vấn đề công bằng xã hội và hiệu quả của các chính sách (WirongrongDuangjai, 2015) [10]
Theo Thrupp et al.(1997), canh tác nương rẫy là một hệ thống canh tácnông nghiệp có tính chu kỳ về không gian và thời gian Những nghiên cứutrước đây của các nhà nhân chủng học ở Indonesia và Thái Lan đã khẳng địnhrằng hiệu quả của canh tác nương rẫy dựa hoàn toàn vào mức độ đa dạng vàgiàu có của tài nguyên rừng hơn là các nguồn đầu tư đầu vào (như phân bón,nước) như canh tác lúa nước ở vùng đồng bằng (Geertz, 1963) Từ những năm
1967, Spencer đã mô tả canh tác nương rẫy ở khu vực Đông Nam Á không chỉ
là một hệ thống (canh tác) đơn thuần, mà là một sinh kế “gắn kết một hệ thốngphức tạp đa thành phần về động cơ, yếu tố, mục đích, vận động của văn hóatruyền thống, thói quen, tác động chính trị và các nhu cầu đời sống khác”.Những nghiên cứu sau đó đã khẳng định nhu cầu cần phải có một cách tiếp cậnliên ngành thì mới có thể hiểu được tính phức tạp của hành vi canh tác nương
Trang 17rẫy, bởi vì “đó không chỉ là cách để đáp ứng nhu cầu cơ bản của từng hộ giađình trong toàn bộ xã hội canh tác nương rẫy” (Spencer, 1967) Khi nghiên cứu
về hoạt động canh tác nương rẫy của cộng đồng người Karen ở miền núi TháiLan, Grandstaff (1980) đã khám phá thấy rằng người dân bản địa ở đó “sở hữumột lượng thông tin nhiều đến mức ngạc nhiên về môi trường sống của họ cũngnhư phương pháp thích ứng và kỹ năng thực hành ở mức cao trong quá trình raquyết định phức tạp để canh tác, sản xuất” (Theo Nguyễn Việt Dũng và cs,2007) [8]
Khu rừng ở Fengshui nơi rất phổ biến các dân tộc thiểu số sinh sống ở khuvực nông thôn ở tỉnh Quý Châu của Trung Quốc, rừng nơi đây có ý nghĩa biểutượng tinh thần và được quản lý chặt chẽ Các giá trị về lịch sử, nhận thức vềquản lý rừng, coi rừng là một khối tài sản khổng lồ, rừng giúp cộng đồng đoànkết hơn,… Nên các khu rừng được cộng đồng địa phương trân trọng và gìn giữ.Rừng Fengshui hoạt động như một hình thức của cộng đồng ''dựa vào bảo tồnthiên nhiên '' trong đó duy trì các giá trị của rừng tự nhiên, các tính năng đặcbiệt và khả năng chống chống xói mòn đất Các quy định của chính quyền địaphương đã được người dân hưởng ứng và đã được kết hợp đưa vào trong xâydựng chính sách lâm nghiệp hiện đại của Trung Quốc nhưng các khu rừng nàyđóng một vai trò quan trọng trong đời sống nông thôn
Chính phủ Trung Quốc hiện đang triển khai chương trình phục hồi rừnglớn nhất thế giới, diện tích đất canh tác ở những khu vực có độ dốc lớn đượcchuyển thành đất rừng, có hàng nghìn hộ được trợ cấp để thực hiện chươngtrình này Nhà nước phát huy quyền tự chủ và sự tham gia của địa phươngtrong khi thực hiện chương trình, các chính sách về lâm nghiệp có sự thay đổi,cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sở được gia tăng về quyền lực trongviệc ra quyết định về quản lý và sử dụng rừng Mặc dù vậy, hiệu quả về kinh tế,
xã hội của chương trình là chưa cụ thể, rõ ràng, sinh kế của người dân chưađược cải thiện, nhưng chính sách đã giúp cho diện tích rừng được tăng lên, các
Trang 18giá trị của rừng được cải thiện Điều đó cho thấy các chính sách về lâm nghiệptiếp cận từ dưới lên thường có hiệu quả tích cực, đặc biệt ở những vùng đồngbào dân tộc thiểu số [11].
Tại Nigeria lâm nghiệp cộng đồng có thể giúp đỡ để đảm bảo quản lý rừngbền vững và phát triển, các cộng đồng địa phương có mối quan hệ mật thiết vớicác khu rừng và có thể là các đối tác trong nỗ lực phát triển rừng nếu các nhucầu, mong muốn, nguyện vọng và nhận thức của những người tham gia đượcđáp ứng Nó được thừa nhận ở đây mà không có chiến lược để bảo tồn hoặcquản lý các hệ sinh thái rừng trên cơ sở duy trì sẽ thành công, trừ khi nhu cầucủa các phần thuận lợi nhất và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội được xem xét.Bài viết này nhấn mạnh rằng với lâm nghiệp, cộng đồng người dân địa phương
có thể được thực hiện để biết rằng việc mở rộng liên tục của các doanh nghiệp
là đẩy con người ra khỏi sự cân bằng với tài nguyên rừng bị thu hẹp và các dịch
vụ môi trường bị suy giảm, rừng là một vấn đề toàn cầu ngay lập tức Nhữngthách thức của ngành lâm nghiệp trong việc đảm bảo quản lý rừng bền vữngnhư được nhấn mạnh trong bài báo bao gồm thiếu chuyên môn, kinh phí, cáccuộc xung đột, và sự sẵn sàng của các ủy ban lâm nghiệp và nhân viên Nhữngngười khác bao gồm thiếu sự cam kết với mục tiêu của sự hợp tác của các bênliên quan, hỗ trợ đầy đủ từ sự lãnh đạo của cộng đồng cũng như toàn cầu hóahiện nay của nền kinh tế thế giới; tự do hóa và tư nhân hóa nền kinh tế quốc giatác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, con đường phía trướcbao gồm bảo đảm quyền lâu dài của cộng đồng địa phương, kinh phí đầy đủ,quản lý xung đột hiệu quả, nghiên cứu và xây dựng năng lực trong lâm nghiệpcộng đồng cũng như các thiết lập của đơn vị dự án phát triển lâm nghiệp cộngđồng tại các liên bang, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương sẽ huyđộng và nâng cao nhận thức trong cộng đồng
Vùng dân tộc và miền núi cũng thường là các vùng có lợi thế phát triểnlâm nghiệp, chính vì thế khuyến khích phát triển lâm nghiệp được coi là một
Trang 19công cụ quan trọng thu hút đầu tư vào khu vực này Nhiều nghiên cứu như: Mr I Elorrieta 2002 về “Biện pháp trồng rừng trong chương trình phát triểnnông thôn ở Navarra”, Nuchanata Mungkung (2012) về “Phân tích kinh tếlượng đối với chương trình bảo vệ nguồn tài nguyên rừng ở vùng đầu nguồnMae Salong ở Thái Lan” [10].
Các diễn đàn quốc tế và hiệp định toàn cầu thừa nhận vai trò quyết địnhcủa các cộng đồng địa phương và những đối tượng phụ thuộc vào rừng kháctrong công tác quản lý rừng bền vững Các hiệp định này nhấn mạnh sự thamgia và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan trong cộng đồng địa phương về sựtham gia của cộng đồng, các nhóm phụ thuộc vào rừng, người dân tộc thiểu số
và các chức năng xã hội của rừng dường như không được bao hàm trong chínhbản thân kế hoạch chi tiết của cộng đồng kinh tế ASIAN
Indonesia là một trong những quốc gia vượt trội về thương mại lâm sảntrong khối Asian, đã ban hành hệ thống cấp giấy chứng nhận gỗ hợp pháp cấpquốc gia, có cơ chế cho vay lãi suất thấp cho các hoạt động phát triển rừng củacộng đồng, rừng thôn bản, rừng tư nhân, doanh nghiệp chế biến [12]
2.2.2 Công tác bảo vệ phát triển rừng tại Việt Nam.
Trên phạm vi toàn quốc, nước ta đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diệntích rừng Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31 triệu ha năm
2008 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm) Diện tích rừng trồng mới tăng
từ 50.000 ha/năm lên gần 240.000 ha năm 2008, diện tích rừng tự nhiên đượckhoanh nuôi bảo vệ phục hồi nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng hộ vàbảo tồn đa dạng sinh học của rừng
Ngành Lâm nghiệp đã tham gia tích cực vào việc tạo thêm việc làm, tăngthu nhập cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người (như tại Bắc Kạn,thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ thoát nghèo chiếm 32,8% tổng thu nhập,nhóm hộ khá là 16,8%; tại Tây Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộkhá là gần
40%, nhóm hộ nghèo là 17%); đáp ứng phần lớn nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho
Trang 20tiêu dùng nội địa Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói, giảm nghèocòn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm; thu nhập của người làm nghềrừng thấp và chưa ổn định (tại Thanh Hoá, thu nhập bình quân từ lâm nghiệpcủa nhóm hộ khá đạt khoảng 461 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ thoátnghèo đạt 786 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ nghèo đạt 241 nghìn đồng/người/năm), đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng, đờisống của cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp còn rất khó khăn (Nguyễn VănNam, 2009) [3].
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, đến năm 2020lâm phận ổn định của quốc gia sẽ là 14,3 triệu ha, bao gồm 5,7 triệu ha rừngphòng hộ, 2,3 triệu ha rừng đặc dụng và 6,3 triệu ha rừng sản xuất Còn lại 1,9triệu ha là diện tích vườn rừng, nông lâm kết hợp và cây nông nghiệp trồng trênđất lâm nghiệp Toàn bộ 16,2 triệu ha đất lâm nghiệp đều có đủ 3 chức năngphòng hộ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp lâm sản tạo sinh kếcho người làm nghề rừng, đặc biệt là các dân tộc ít người ở miền núi
Diện tích rừng trồng mới hàng năm tăng từ 50.000 ha đến 200.000 ha Trữlượng rừng trồng đạt khoảng 60.000.000 m3 và sản lượng gỗ khai thác năm
2008 đã đạt 4 triệu m3/năm và khoảng 1 triệu ster củi Đây là nguồn nguyên liệuchủ yếu cung cấp cho công nghiệp giấy, gỗ trụ mỏ, ván nhân tạo, dăm gỗ xuấtkhẩu và đáp ứng phần lớn nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho tiêu dùng, góp phầngiảm sức ép đối với khai thác gỗ rừng tự nhiên (Vũ Biệt Linh, 2006) [4]
Tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền vững (theo Tổng cục
Thống kê, tốc độ phát triển của ngành Lâm nghiệp năm 2010: 4,7%, năm2011:
5,2%, năm 2012: 3,4%, năm 2013: 2,95%, năm 2014: 3,9%, năm 2015: 2,6%),lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khaithác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường.Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứngđược nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn chocông nghiệp chế biến và xuất khẩu
Trang 21Năm 2015, độ che phủ của rừng đạt 40,84% trong đó rừng tự nhiên là hơn10,175 triệu ha, rừng trồng là hơn 3,886 triệu ha Sản lượng khai thác gỗ rừngtrồng tăng khoảng 2.000.000 m3/năm, cung cấp một phần nguyên liệu cho côngnghiệp giấy, mỏ, dăm gỗ xuất khẩu và củi đun, góp phần giảm sức ép vào rừng
tự nhiên (Trần Văn Con, 2006) [5]
Trong giai đoạn 2011- 2015, các nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng thựchiện theo quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và địnhmức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn
2011 - 2015 Các Quyết định: số 147/2007/QĐ- TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007
về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 và số66/2011/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2011 về sửa đổi bổ sung một số điềucủa Quyết định số
147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ
Thống kê từ năm 1991 đến năm 2008, tổng diện tích rừng bị mất là399.118 ha, bình quân 57.019 ha/năm Trong đó, diện tích được Nhà nướccho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng là 168.634 ha; khai tháctrắng rừng (chủ yếu là rừng trồng) theo kế hoạch hàng năm được duyệt là135.175 ha; rừng bị chặt phá trái phép là 68.662 ha; thiệt hại do cháy rừng25.393 ha; thiệt hại do sinh vật hại rừng gây thiệt hại 828 ha 4]
Trong cuốn “Phục hồi các hệ sinh thái bị thoái hóa – Tổng quan kết quả
nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam” [5] đã chỉ ra một số tồn tại trong chính
sách và việc thực thi chính cách quản lý bảo vệ rừng, cụ thể như sau:
- Việc xử lý vi phạm pháp luật về rừng, đất đai khó khăn, thường kéo dài,
do người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm hầu hết là người tại chỗ và ngườinghèo, không phát hiện được kẻ xúi giục, kẻ đầu cơ đất; địa bàn xảy ra phá rừng
là vùng sâu, vùng xa, khó thu thập chứng cứ và xác định người có hành vi viphạm; quy định pháp luật và chế tài xử lý còn nhẹ đối với kẻ phá rừng
- Công tác khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi hiệuquả còn thấp, người nhận khoán vẫn nhận tiền, nhưng không thực hiện các hoạtđộng
Trang 22bảo vệ rừng, rừng vẫn bị phá, nhưng chưa quy được trách nhiệm cụ thể; côngtác bảo vệ rừng chưa tiến hành một cách toàn diện, cấp chính quyền địa phươngchưa có các giải pháp hữu hiệu đối với công tác bảo vệ rừng.
Trong báo cáo “Đánh giá các văn bản pháp luật và chính sách liên quan
đến công tác quản lý các khu rừng đặc dụng tại Việt Nam”[9] trong khuôn khổ
Dự án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên đã chỉ rarằng:
- Thực tế tại nhiều nơi ở Việt Nam, các nhóm dân tộc khác nhau, mangnhững đặc trưng văn hóa khác nhau, có những nhận thức và phản ứng với chínhsách phân quyền cũng khác nhau Bên cạnh đó, người dân đang sống ở nhữngvùng sinh thái, điều kiện địa lý hoặc những địa điểm khác nhau cũng có khảnăng có những phản ứng khác nhau trong quá trình thực thi chính sách
- Việc thực hiện chính sách giao đât giao rừng đã mang lại một số tác độngtích cực: nhiều chương trình, dự án đi kèm theo chính sách này đã giúp đỡ, hỗtrợ người dân địa phương, và nhận thức của người dân về sự cần thiết phải bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng được nâng lên Tuy nhiêncác chính sách này vẫn chưa đạt được những mục đích chính của chúng: quản
lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng tốt hơn
- Chính sách quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong quản lýnhà nước về rừng (Nghị định 245) đã góp phần ngăn chặn mọi hành vi hủy hoạitài nguyên rừng
- Chính sách về quản lý bảo vệ rừng, về phân chia lợi ích từ rừng (Quyết định
08/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý các loại rừng, Quyết định 186/2006/QĐ;TTg về quy chế quản lý rừng, Quyết định 178/QĐ-TTg về quyển hưởng lợi,…)
đã tạo ra một động lực khuyến khích các đối tượng nhận rừng và đất lâm nghiệpphát triển rừng có hiệu quả hơn, nhằm cụ thể hóa và làm rõ hơn những vấn đềnhư đối tượng hưởng lợi, tỷ lệ phân chia sản phẩm khai thác từ rừng giữa cácbên, hình thức phân chia sản phẩm…
Trong kỷ yếu Hội thảo “Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam: Chính sách
và thực tiễn” [7] đã chỉ ra rằng thấy việc xác lập cơ sở pháp lý một cách rõ ràng
về quản lý và chia sẻ lợi ích từ rừng cộng đồng là rất cần thiết vì:
Trang 23- Cộng đồng cùng tham gia quản lý rừng là một thực tiễn không thể phủđịnh, dù được thể chế hóa hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây làđặc trưng cơ bản của văn hoá và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời.
Do đó, việc thừa nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi chocông tác quản lý rừng Vấn đề này cần được nghiên cứu và bổ sung vào các bộluật để từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ pháp nhân trongquản lý, bảo vệ, sử dụng và kinh doanh rừng
- Sử dụng một phần rừng cho mục đích chung của cộng đồng như cung cấp
gỗ làm nhà, giữ nguồn nước, đáp ứng nhu cầu tâm linh, v.v Phải được xem làmột hình thức hưởng lợi của cộng đồng cần được thể chế hoá một cách rõ ràng
Sử dụng rừng cho mục đích chung của cộng đồng là rất cần thiết trong bốicảnh hiện tại và tương lai khi kinh tế hộ, kinh tế trang trại, sản xuất hàng hóaphát triển có thể là những nguy cơ làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng vàhưởng dụng tài sản chung của cả cộng đồng như đã xuất hiện ở nhiều nơi Thực
tế ở nhiều nơi cho thấy cộng đồng sử dụng hết đất công để dùng cho mục đíchchung, không có rừng để bảo vệ nguồn nước của cộng đồng, không có quỹcông để thực hiện phúc lợi
- Cần có đủ cơ sở pháp lý cho cộng đồng dân cư thôn có tư cách phápnhân quản lý, sử dụng lâm sản thương mại, nhất là đối với rừng tự nhiên đượcgiao cho cộng đồng quản lý Nhưng quy định về kỹ thuật trong phương ánkinh doanh rừng của cộng đồng cũng cần được sửa đổi sao cho phù hợp vớiđiều kiện của cộng đồng
Bài viết “Tác động của chính sách, pháp luật đến quản lý tài nguyên rừng
công bằng và bền vững” đã phân tích, bình luận để có cái nhìn toàn diện về
quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Xây dựng chính sách, phápluật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, với hai cấp độ: cấp quốc gia vàcấp địa phương; theo hai chiều hướng: tác động tích cực và tác động tiêu cựcđến quá trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Kết quả phân tích chỉ ra rằngvẫn còn một
Trang 24số những rào cản liên quan đến quản lý rừng công bằng và bền vững như việcchậm tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng; việc chậmban hành các quy định về phương pháp và cách thức định giá rừng, giao đấtgiao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan,
… Song những phát hiện chính nêu trên cho thấy quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động rất mạnh của chính sách vàpháp luật Điều này cũng có nghĩa là để quản lý rừng công bằng và bền vữngđòi hỏi chính sách, pháp luật về rừng phải có mức độ phù hợp cao hơn nữa sovới yêu cầu của thực tiễn (Vũ Thị Hạnh, 2014) [7]
2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên
quan.
Nhiều nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu và triển khai nhiều chươngtrình dự án về bảo vệ phát triển rừng như: chính phủ Trung Quốc hiện đangtriển khai chương trình phục hồi rừng lớn nhất thế giới, diện tích đất canh tác ởnhững khu vực có độ dốc lớn được chuyển thành đất rừng, có hàng nghìn hộđược trợ cấp để thực hiện chương trình này Nhà nước phát huy quyền tự chủ
và sự tham gia của địa phương trong khi thực hiện chương trình, các chính sách
về lâm nghiệp có sự thay đổi, cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sởđược gia tăng về quyền lực trong việc ra quyết định về quản lý và sử dụngrừng Mặc dù vậy, hiệu quả về kinh tế, xã hội của chương trình là chưa cụ thể,
rõ ràng, sinh kế của người dân chưa được cải thiện, nhưng chính sách đã giúpcho diện tích rừng được tăng lên, các giá trị của rừng được cải thiện
Nghiên cứu về các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa ở bốn nướcTây Âu gồm Vương quốc Anh (Anh), Hà Lan, Đức và Đan Mạch cho thấy rằngmối liên kết mạnh mẽ giữa lịch sử nhập cư, truyền thống quốc gia và văn bảnchính sách về bảo vệ rừng tự nhiên Nhiều nghiên cứu như: Mr I Elorrieta
2002 về “Biện pháp trồng rừng trong chương trình phát triển nông thôn ởNavarra”, Nuchanata Mungkung (2012) về “Phân tích kinh tế lượng đối vớichương trình bảo vệ nguồn tài nguyên rừng ở vùng đầu nguồn Mae Salong ở
Trang 25Thái Lan” Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu cơ chế chính sách,kinh nghiệm và các giải pháp quản lý sử dụng rừng bền vững có sự tham giacủa cộng đồng địa phương như nhóm dân tộc thiểu số, nhóm sử dụng rừng, lâmnghiệp cộng đồng, Quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng, trao quyền
ra quyết định cho người dân, bình đẳng giới trong quản lý sử dụng rừng, cácnghiên cứu này đã chỉ ra những mặt tích cực, những tồn tại hạn chế cũng như làthách thức trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng
Đối với các nghiên cứu trong nước như: Báo cáo “Đánh giá thực hiện 10
năm thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004” trong khuôn khổ hỗ
trợ của Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) đã chỉ ra những tồn tại,hạn chế, bất cập của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng cụ thể như sau: Luậtbảo vệ và phát triển rừng vẫn mang tính định hướng, tạo ra một lĩnh vực phápluật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn vàchồng chéo, tính minh bạch, tính khả thi chưa cao thể hiện chưa làm rõ cơ chếthực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữurừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng, các quy định về khaithác rừng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh củachủ rừng; cơ chế chính sách hưởng lợi còn nhiều bất cập, thiếu chính sáchkhuyến khích phát triển công bằng và thương mại lâm sản; cơ chế, chính sáchđầu tư, tín dụng, tài chính còn bất cập chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất lâmnghiệp
Trong cuốn “Phục hồi các hệ sinh thái bị thoái hóa – Tổng quan kết quả
nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam” đã chỉ ra tác một số tồn tại trong chính
sách và việc thực thi chính cách quản lý bảo vệ rừng, cụ thể như sau: việc xử lý
vi phạm pháp luật về rừng, đất đai khó khăn, thường kéo dài Công tác bảo vệrừng chưa tiến hành một cách toàn diện, cấp chính quyền địa phương chưa cócác giải pháp hữu hiệu đối với công tác bảo vệ rừng, đầu tư cho lâm nghiệpthấp lại dàn trải; vốn ngân sách đầu tư cho chương trình giống lâm nghiệp ở cácđịa phương thiếu, một số địa phương không đầu tư bổ sung nên kết quả thực
Trang 26hiện dự án còn bị hạn chế; hệ thống nhân giống và dịch vụ giống còn thiếu,chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Trong báo cáo “Đánh giá các văn bản pháp luật và chính sách liên quan
đến công tác quản lý các khu rừng đặc dụng tại Việt Nam”trong khuôn khổ Dự
án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên đã chỉ ra rằng:Các nhóm dân tộc khác nhau, mang những đặc trưng văn hóa khác nhau, cónhững nhận thức và phản ứng với chính sách phân quyền cũng khác nhau Việcthực hiện chính sách giao đât giao rừng đã mang lại một số tác động tích cực,nhiều chương trình, dự án đi kèm theo chính sách này đã giúp đỡ, hỗ trợ ngườidân địa phương, và nhận thức của người dân về sự cần thiết phải bảo vệ tàinguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng được nâng lên Tuy nhiên cácchính sách này vẫn chưa đạt được những mục đích chính của chúng: quản lý,bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng tốt hơn
Trong báo cáo “Đánh giá các chính sách có liên quan đến quản lý rừng tự
nhiên giao cho hộ gia đình ở vùng miền núi Bắc Bộ” của Viện nghiên cứu Lâm
nghiệp nhiệt đới (2011), chỉ ra những bất cập, thiếu minh bạch của các chínhsách chủ yếu có liên quan đến quan đến quản lý rừng tự nhiên giao cho hộ giađình làm cản trở động lực của người dân tham gia BV PTR tự nhiên
Bài viết “Tác động của chính sách, pháp luật đến quản lý tài nguyên rừng
công bằng và bền vững” đã phân tích, bình luận để có cái nhìn toàn diện về
quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Việc phân tích được tiến hành
từ hai cả hai phương diện: xây dựng chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiệnchính sách, pháp luật, với hai cấp độ: cấp quốc gia và cấp địa phương; theo haichiều hướng: tác động tích cực và tác động tiêu cực đến quá trình quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng Kết quả phân tích chỉ ra rằng vẫn còn một số những ràocản liên quan đến quản lý rừng công bằng và bền vững như việc chậm tiến độcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng; việc chậm ban hành cácquy định về phương pháp và cách thức định giá rừng, giao đất giao rừng chocộng
Trang 27đồng dân cư thôn bản, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan,… song những pháthiện chính nêu trên cho thấy quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là một trongnhững lĩnh vực chịu sự tác động rất mạnh của chính sách và pháp luật.
Nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện, kể cả trong nước và ngoài nước,
đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến đề tài như: Hệ thống chính sáchbảo vệ và phát triển rừng; Kinh nghiệm quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụngbền vững tài nguyên rừng; Sự tham gia của cộng đồng đia phương trong quản
lý sử dụng tài nguyên rừng; Quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng;Chia sẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên rừng Một số nghiên cứu tập trung vàonghiên cứu phân tích hệ thống chính sách bảo vệ và phát triển rừng về sự thayđổi trong phân loại và quy hoạch rừng, quy chế quản lý các loại rừng, quyền sởhữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng, hỗ trợ trong bảo vệ và phát triển rừng,chia sẻ lợi ích, Đồng thời các nghiên cứu này cũng phân tích và chỉ ra nhữngtồn tại hạn chế liên quan đến các lĩnh vực trên Một số nghiên cứu còn lại tậptrung nghiên cứu ảnh hưởng, tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng.Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực đến phát triểnkinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, của khu vực và trên phạm vi toànquốc
Xuất phát từ thực tiễn trên việc “ Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng tại xã Liên Hiệp, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” là rất cần thiết, vì chưa có một công
trình nghiên cứu nào liên quan đến công tác bảo vệ phát triển rừng tại nơi đây.Trong khi Liên Hiệp là một xã nằm ở khu vực vùng núi thấp thuộc huyện BắcQuang tỉnh Hà Giang Xã Liên Hiệp có diện tích tự nhiên là 5.502,41ha, tổngdiện tích đất lâm nghiệp là 4.483,44 ha, trong đó rừng sản xuất 2.391,72 ha, đấtrừng phòng hộ 2.091,72 ha, là khu vực có diện tích rừng lớn của huyện cầnđược bảo vệ và phát triển
Trang 28PHÂN 3:
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên
- Về thời gian: Đề tài bắt đầu thực hiện từ : 15/ 01/2018 đến 30 /05/2018
3.2 Nội dung nghiên
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1.Chọn địa điểm nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Liên Hiệp là một xã nằm
ở khu vực vùng núi thấp thuộc huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang Xã Liên Hiệp
có diện tích tự nhiên là 5.502,41 ha, tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã là4.483,44 ha, trong đó rừng sản xuất 2.391,72 ha, đất rừng phòng hộ 2.091,72ha.Những năm qua, xác định đẩy mạnh trồng rừng là một trong những thế mạnh
Trang 29thôn, bản với 964 hộ 4.228 nhân khẩu; gồm 8 dân tộc anh em cùng sinh sống,
Trang 30trong đó dân tộc Tày chiếm 60% Người dân phát triển kinh tế chủ yếu là sảnxuất nông - lâm nghiệp, trồng trọt kết hợp với chăn nuôi.
Nhu cầu và sự phụ thuộc của cộng đồng dân cư tại địa phương vào tàinguyên rừng là rất lớn, tài nguyên rừng thực sự không thể tách rời nhu cầu pháttriển kinh tế xã hội ở địa phương vì vậy tồn tại mà cơ quan quản lý Nhà nước
về rừng và đất lâm nghiệp đang gặp phải, đó là mâu thuẫn giữa cuộc sống củangười dân, nhất là đồng bào dân tộc tại chỗ, với việc quản lý, bảo vệ và pháttriển rừng Trước tình hình đó ta cần phải tìm kiếm các giải pháp thích hợp đểnâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng tại xã Liên Hiệp, huyệnBắc Quang, tỉnh Hà Giang nhằm góp phần giúp người dân làm giàu từ tàinguyên rừng, cải thiện và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng sẵn có,thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương tăng trưởng, vận dụng linh hoạt, hài hoàcác mô hình quản lý rừng cộng đồng, đảm bảo phù hợp với thực tiễn của địaphương
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu.
3.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp.
Thu thập thông tin thứ cấp là thu thập những thông tin có sẵn, được tổnghợp từ trước và đã được công bố Thu thập số liệu về tình hình lâm nghiệp trênđịa bàn, tình hình cơ bản của xã về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, báo cáocuối năm của xã Liên Hiệp năm 2015, 2016, 2017 để có số liệu cần thiết Thôngtin được thu thập qua các nguồn: Sách, báo, tạp chí, Internet, niên giám thống
kê, báo cáo tổng kết, kết quả nghiên cứu khoa học,… Các thông tin thu thậpđược từ các cơ quan: Bộ NN và PTNT, các hạt kiểm lâm, tổng cục thống kê
3.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp.
- Quan sát trực tiếp:
Quan sát trực tiếp một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện vớicác mối quan hệ và trong bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp cũng làmột cách tốt nhất để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương.Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp
để quan sát thực trạng sản xuất và khai thác lâm sản trên địa bàn