Sựchuyển giao đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên,trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó.Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 qu
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu……… ……2
Nội dung………3
1 Hợp đồng dân sự:……….3
1.1 Khái niệm:……….3
1.2 Đặc điểm:……… 4
2 Hình thức hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành:… 6
1.1 Hình thức miệng:……… 7
1.2 Hình thức văn bản:………8
1.3 Hình thức hành vi cụ thể:………10
1.4 Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử):……… 10
3 Thực trạng và giải pháp:………11
1.1 Thực trạng:……… 11
1.2 Giải pháp:………17
Kết luận………19
Danh mục tài liệu tham khảo……… 20
Trang 2MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải thamgia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập vớinhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhưchuyển giao tài sản, quyền tài sản hoặc một nghĩa vụ nào đó nhằm đáp ứngnhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng,…Quan hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự Sựchuyển giao đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên,trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó.Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏathuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ dân sự” Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự làviệc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng chỉđược pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy địnhcủa nhà nước, một trong các điều kiện đó là quy định về hình thức của hợpđồng
Trang 3Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự
mà trong đó các bên tự do trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuậncùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định Theo phương diệnnày hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ởdạng khái quát Nếu định nghĩa ở dạng cụ thể thì hợp đồng dân sự là sự thỏathuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền nghịa vụcủa các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việchoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó mộthoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng (Điều 1 Pháp lệnhhợp đồng dân sự) Sự liệt kê bao giờ cũng rơi vào tình trạng không đầy đủ và
để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sựxảy ra trong thực tế, BLDS đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn: “Hợpđồng dân sự là sử thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấmdứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” – Điều 388 BLDS năm 2005 Như vậy,hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản,thực hiện một công việc cho bên kia mà còn có thể là sự thỏa thuận để thay
Trang 4đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồngdân sự là hai khái niệm không đồng nhất với nhau
1.2 Đặc điểm:
Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự thìhợp đồng dân sự có hai nét cơ bản đó là : Sự thỏa thuận giữa các bên và làmphát sinh hậu quả pháp lý
Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồngphải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chícủa các bên Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kếthợp đồng, nhưng không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội
Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khicân nhắc, thảo luận Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắtbuộc phải được nhất trí hoàn toàn) được thể hiện ở chỗ không có một ý kiếnđối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với nhữngvấn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm củacác bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranhchấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùngnhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích củacác bên Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và đượcgọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi
là hợp đồng viết hay hợp đồng thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi
là hợp đồng hay hiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí Yếu tốthỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thốngnhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợpđồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chấtcủa luật dân sự so với các ngành luật khác
Trang 5Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự : Chủ thể giao kết, thực hiện hợpđồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giaodịch pháp lý song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiệnhợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theoquy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủthể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, nănglực hành vi dân sự…).
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lậpthay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ trongphạm vi hợp đồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồngdân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1) quy định hợp đồng dân sự là sự thỏa thuậncủa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ củacác bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặckhông làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặccác bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể cácquyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền vànghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là nhữngquyền và nghĩa vụ để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng,
đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợpđồng dân sự và các hợp đồng kinh tế, thương mại Yếu tố này giúp phân biệthợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế : Mục đích của hợp đồng kinh tế khicác bên chủ thể tham gia là mục đích kinh doanh (nhằm phát sinh lợi nhuận)trong khi đó hợp đồng dân sự các bên tham gia nhằm thỏa mãn nhu cầu sinhhoạt, tiêu dùng Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là các thương nhân,các công ty, đơn vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng kýkinh doanh)
Trang 62 HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH:
Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện
ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác hình thức củahợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định.Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào
độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất địnhtrong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể
Để đảm bảo được tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫnnhau trong hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng, chế định hợp đồngtrong Bộ luật Dân sự 2005 được xây dựng theo hướng là nền tảng chung chopháp luật về hợp đồng, có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợpđồng trong mọi lĩnh vực Về hình thức hợp đồng, Điều 401 Bộ luật Dân sự
2005 quy định :
“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng
đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp có quy định khác.”
Theo Khoản 1 Điều 124 BLDS 2005 quy định về hình thức giao dịch
dân sự: “1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.
Trang 72.Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó.”
Như ta đã biết, hợp đồng dân sự cũng là một loại gia dịch dân sự nên nó
có đầy đủ các đặc điểm về hình thức của giao dịch dân sự như Từ những căn
cứ trên ta thấy, hình thức hợp đồng gồm: bằng lời nói, bằng văn bản, bằnghành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử) So với quy định
về hình thức hợp đồng dân sự của Bộ luật Dân sự 1995 tại Điều 400 thì quyđịnh về hình thức của hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 được bổ sung thêmmột hình thức mới: hình thức thông điệp dữ liệu
1.1 Hình thức miệng:
Thông qua hình thức này, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau
về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vinhất định với nhau Hình thức miệng được coi là có độ xác thực thấp nhất.Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao kết miệng vớinhau, bất cứ bên nào cũng có thể phủ nhận tất cả những cam kết trước đây củamình Tuy nhiên, đối với tất cả các quốc gia trên thế giới thì hình thức miệngvẫn được coi là hình thức hợp đồng có lịch sử lâu đời và được áp dụng phổbiến nhất trong các giao dịch dân sự Trước đây điều đó được lý giải là do sốlượng những người biết đọc, biết viết còn rất ít Ngày nay, hình thức miệngvẫn giữ nguyên được vai trò to lớn của nó Các trường hợp cơ bản phổ biến ápdụng hình thức miệng là:
- Hình thức miệng được áp dụng trong những trường hợp các bên thamgia giao kết hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau Độ tin cậy giữa các chủthể thường được xác lập thông qua các quan hệ ruột thịt, quan hệ hàngxóm láng giềng, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cùng học tập … Sự tintưởng giữa các chủ thể ở đây đóng vai trò như là một nhân tố chủ quan
Trang 8bổ xung thêm cho sự xác thực của hình thức miệng Trong nhiều trườnghợp do thiếu độ tin cậy nên các chủ thể không thể áp dụng được hìnhthức miệng.
- hình thức miệng được áp dụng với những hợp đồng có giá trị nhỏ Đốivới những hợp đồng có giá trị quá nhỏ ( ví dụ: mua mớ rau, bao diêm,mượn cái bút chì,…) thì các bên không có cách nào khác ngoài cách ápdụng hình thức miệng, nếu áp dụng các hình thức khác sẽ có thể tạo nênnhững chi phí quá lớn, mà giá trị hợp đồng quá nhỏ nên các chi phí đólàm cho việc ký kết hợp đồng trở nên vô nghĩa
- hình thức miệng được áp dụng đối với những hợp đồng mà có thể đượcthực hiện và chấm dứt ngay sau khi giao kết Ví dụ như đa số các hợpđồng bán lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng Sau khi thỏathuận miệng xong về giá cả, số lượng và chất lượng …thì hai bên thựchiện ngay thỏa thuận đó ( bên bán cân đong và bàn giao hàng, bên muanhận lấy hàng và trả tiền ) Đến đây hợp đồng coi như đã thực hiệnxong và chấm dứt
1.2 Hình thức văn bản:
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên cóthể ghi nhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản Trong văn bản đó,các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tênxác nhận vào văn bản Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hìnhthức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lí chắc chắn hơn so với hình thức miệng.Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầucủa mình đối với bên kia Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiệnkhông cùng lúc với việc giao kết thì các bên thường chọn hình thức này.Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản,coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình
Trang 9Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hìnhthức hợp đồng miệng Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung
đã thỏa thuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản Văn bản hợp đồng thườngđược soạn thành hai hay nhiều bản gốc giông nhau, đều phải có chữ ký củacác bên, mỗi bên được giữ một bản Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, cácbên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Các trườnghợp cơ bản áp dụng hình thức văn bản này là :
- Đối với hợp đồng có giá trị lớn
- Đối với hợp đồng mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng cóthể diễn ra trong một thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết (ví
dụ : hợp đồng gia công xây dựng nhà…)
- Khi giữa các bên chưa đạt được sự tin cậy nhất định
Tại Khoản 2 Điề 401BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó” Thông qua chỉ dẫn này ta thấy rằng hợp đồng bằng văn bản được
chia tiếp ra làm hai loại là : hợp đồng bằng văn bản thông thường và hợp đồngbằng văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận,chứng thực được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất và thường đượcpháp luật quy định đối với các trường hợp như đối với các hợp đồng có tínhchất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp hoặc với hợp đồng có đối tượng là nhữngtài sản mà nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát Những trường hợp đó đượcquy định cụ thể cho từng loại hợp đồng dân sự Tuy nhiên, trong trường hợppháp luật không có quy định thì các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau ápdụng hình thức văn bản có chứng nhận, chứng thực đó để giao kết hợp đồng
Trang 10Tuy nhiên nếu có vi phạm về hình thức thì cũng không bị coi là vô hiệu, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác.
1.3 Hình thức hành vi:
Đối với hình thức này thì chỉ cần các bên thực hiện một hoặc một vài(không bắt buộc phải tất cả) hành vi là nghĩa vụ của hợp đồng thì hợp đồng đãđược coi là giao kết Ví dụ như: hợp đồng tặng cho tài sản như việc bỏ tiềnvào hòm công đức, như người tiêu dùng mua nước tại các máy bán nước tựđộng, hợp đồng được coi là ký kết khi người tiêu dùng thả tiền vào máy tựđộng và thực hiện một số các động tác cần thiết để nhận chai nước
1.4 Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử):
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc giao kết hợp đồngdưới hình thức văn bản giấy không còn là hình thức thích hợp khi các bên cókhoảng cách xa về mặt địa lý Chủ thể ở một quốc gia này có thể ký kết hợpđồng với chủ thể của một quốc gia khác mà không phải đi đến tận nơi gặpnhau trực tiếp để thương thảo hợp đồng Thông qua mạng Internet, các doanhnghiệp ở các địa phương khác nhau, ở các quốc gia khác nhau có thể nhanhchóng tìm kiếm được bạn hàng để thiết lập mối quan hệ làm ăn, mở rộng thịtrường Với chiếc máy tính nối mạng Internet, ngồi ở nhà chúng ta có thể dạoquanh thị trường một cách thoải mái vào bất cứ thời điểm nào trong ngày Khicần mua một món hàng, chúng ta chỉ cần liên lạc với cửa hàng qua hệ thốngmạng, sau đó sẽ có người mang món hàng đó đến tận nơi theo yêu cầu Sựphát triển mạnh mẽ của giao dịch điện tử kéo theo sự ra đời một hình thức hợp
đồng mới: hợp đồng điện tử- hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện
điện tử
Trang 113 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP:
1.1 Thực trạng:
Có thể nói, các quy định về hình thức hợp đồng trong Bộ Luật dân sự
2005 là đầy đủ, phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay, nó thúc đầy quátrình phát triển trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cũng như trongcuộc sống hàng ngày Những quy định chi tiết và hợp lý đó đã giúp ích rấtnhiều cho các cá nhân, pháp nhân hay tổ chức trong các mối quan hệ nhậtđịnh Bằng việc coi trọng yếu tố hình thức trong các hợp đồng dân sự là điềukiện có hiệu lực đã tạo ra cơ chế đảm bảo về quyền lợi của bên yếu hơn trongquan hệ hợp đồng, sự tồn tại của hợp đồng đã được chứng minh bằng pháp lý,
từ đó đảm bảo trật tự công cộng cũng như an toàn pháp lý cho các bên và cảngười thứ ba
Một trong những quy định mới về hình thức hợp đồng trong Bộ luậtdân sự 2005 đã đem lại hiệu quả cao là quy định định về hình thức bằng thôngđiệp dữ liệu (hợp đồng điện tử) Để tạo cơ sở pháp lý cho giao dịch điện tửphát triển, Bộ luật Dân sự năm 2005 được thông qua tại Kỳ thứ 7 Quốc hộikhoá XI, lần đầu tiên đã ghi nhận hình thức hợp đồng điện tử thông qua việc
thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu: “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu cũng được coi là giao dịch bằng văn bản” (khoản 1 Điều 124) Cũng tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội
Khoá XI, Luật Thương mại năm 2005 được thông qua, trong đó Điều 15 ghinhận nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt
động thương mại: “Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản" Và đặc biệt, tại kỳ họp
thứ 8 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Giao dịch điện tử 2005 Luật nàycông nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử, giá trị pháp lý của thông điệp