1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu. (8điểm)

25 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó hợp đồngdân sự bị vô hiệu khi không thỏa mãn một trong các điều kiện được quy địnhtại Điều 122 BLDS, là: - Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự; - Mục đíc

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Hợp đồng dân sự là một sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưu dân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước Các bên được tự

do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự “tự do” ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Hợp đồng dân sự sẽ vô hiệu nếu không hội tụ đủ các điều kiện vềhình thức và nội dung do pháp luật quy định, một hợp đồng dân sự vô hiệu thì không thể phát sinh hiệu lực Đây là một vấn đề tưởng chừng như đơn giản, song trên thực tế lại rất phức tạp Để tìm hiểu sâu hơn những quy định

của pháp luật vấn đề này, em xin chọn đề tài “Đánh giá quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu.”

Trang 2

B NỘI DUNG

I Hợp đồng dân sự vô hiệu.

1 Khái niệm hợp đồng.

Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dân sự khái quát,

ngắn gọn như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Đặc điểm của hợp đồng dân sự:

- Là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý là: phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia

- Mang tính ý chí, là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên tham gia hợp đồng ý chí này phù hợp với ý chí của nhà nước.

- Mục đích của hợp đồng dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng.

Thứ nhất, hợp đồng dân sự là một hành vi pháp lí, là sự thể hiện ý chí củacon người làm phát sinh các hệ quả pháp lí Hợp đồng là một loại hành vipháp lí cơ bản và thông dụng nhất Hợp đồng là một hành vi pháp lí, hơn thếnữa đó là một hành vi pháp lí đặc biệt: sự thỏa thuận giữa các đương sự Cácbên trong hợp đồng ít nhất phải có ý chí tạo lập giữa họ một quan hệ pháp lítrong đó một người phải thi hành một đòi hỏi cho người khác Như vậy, hợpđồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ xác định là sự thỏathuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong muốn của họ Nguyêntắc này tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các nước Hợp đồng được xáclập do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn… là không phù hợp với ý muốn của cácbên Một hợp đồng muốn tồn tại hợp pháp (được pháp luật công nhận, bảovệ) và phát sinh hiệu lực cần phải hội tụ ba yếu tố đó là: sự thỏa thuận giữa

Trang 3

các bên cam kết, năng lực của các bên cam kết và đối tượng xác thực cho sựcam kết

2 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu.

Hợp đồng dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý màcác bên mong muốn Đây là nguyên tắc chung mà pháp luật các nước đềughi nhận Ở Việt Nam để xác định hợp đồng dân sự vô hiệu phải căn cứ vàoquy định tại Điều 410, 127 và Điều 122 Bộ luật dân sự Theo đó hợp đồngdân sự bị vô hiệu khi không thỏa mãn một trong các điều kiện được quy địnhtại Điều 122 BLDS, là:

- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

- Hình thức giao dịch phù hợp với qui định của pháp luật

Điều 410 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của

Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2 Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

3 Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.”

Tính vô hiệu của hợp đồng dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phátsinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập

Trang 4

hợp đồng dân sự đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên mong muốn có khi xác lập hợp đồng dân sự đó.BLDS quy định bảy trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu Đây chỉ là nhữngtrường hợp vô hiệu nói chung Ngoài ra, Điều 411 quy định về hợp đồng dân

sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện thực hiện được, cụ thể: “

Trong trường hợp ngay từ thời điểm ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này vô hiệu.”

Vô hiệu theo nghĩa thông thường được hiểu là : “ không có hiệu lực,

không có hiệu quả” Như vậy hợp đồng dân sự vô hiệu chính là hợp đồng không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý.

3 Mục đích của các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu.

Việc quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu trong các văn bản pháp luậtnhằm đảm bảo những mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất, bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích chung và đạo đức của xã hội:

Hợp đồng dân sự được xem là vô hiệu khi có các dấu hiệu sau đây: đốitượng của hợp đồng bị cấm sản xuất, lưu thông, buôn bán; việc kí kết hợpđồng làm thiệt hại đến lợi ích chung của xã hội như thỏa thuận nhằm trốnthuế, việc kí kết hợp đồng chỉ để thực hiện mục tiêu khác (hợp đồng giả tạo)

và việc kí kết hợp đồng trái với đạo đức xã hội

Thứ hai, bảo vệ lợi ích của các bên trong giao kết hợp đồng dân sự:

Vì mục đích đó nên các trường hợp mà hợp đồng được giao kết do đedọa, lừa dối; hợp đồng được giao kết do nhầm lẫn hoặc chủ thể tham giagiao kết hợp đồng không có năng lực hành vi dân sự… thì hợp đồng sẽ bịcoi là vô hiệu

Thứ ba, bảo vệ tính ổn định của các hợp đồng dân sự: với một số loại

hợp đồng nhất định có tính chất đặc thù, pháp luật thường quy định một

Trang 5

số điều kiện khác như hợp đồng phải được lập bằng văn bản, hợp đồngphải được công chứng hoặc chứng thực…

4 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu.

a, Phân loại dựa vào tính chất của hợp đồng dân sự.

Gồm có hai loại đó là: vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

- Vô hiệu tuyệt đối bảo vệ lợi ích công, có thể do mọi người có lợi ích

nêu lên, nó không thể được xác nhận và không bị hạn chế về thời gian

- Vô hiệu tương đối vì chỉ nhằm mục đích bảo vệ người giao kết cho nên

chỉ người nào được pháp luật bảo vệ mới có quyền nêu lên Ngoài ra, sự

vô hiệu này có thể được xác nhận và chịu một thời hiệu ngắn hơn

Bộ luật Dân sự đã phân biệt giữa vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tươngđối khi quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợpđồng vô hiệu (Điều 136 BLDS) Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vôhiệu vì lí do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người giao kết không có năng lựchành vi hay không nhận thức được hành vi của mình là hai năm kể từngày giao kết hợp đồng Quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì lí

do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội, giả tạo haykhông tuân thủ các quy định về hình thức, không bị hạn chế về thời gian

b, Phân loại dựa vào hiệu lực của hợp đồng.

Gồm có hai loại đó là: vô hiệu toàn bộ và vô hiệu một phần

- Vô hiệu toàn bộ tức là toàn bộ nội dung của hợp đồng đều bị vô hiệu.

- Vô hiệu một phần tức là chỉ có một phần vô hiệu, nhưng không ảnh

hưởng đên hiệu lực của các phần khác, chỉ có phần vô hiệu không có hiệulực, còn các phần khác vẫn có hiệu lực thi hành

c, Phân loại dựa vào điều kiện có hiệu lực.

- Vô hiệu do chủ thể không có năng lực hành vi dân sự

- Vô hiệu do vi phạm nội dung và mục đích của hợp đồng

Trang 6

- Vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí tự nguyện

- Vô hiệu do vi phạm về hình thức

II Các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu theo Bộ luật Dân sự 2005.

1 Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu.

a, Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã

hội (Điều 128 BLDS 2005):

Ðiều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho

phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định

Ðạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với

người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng

Hợp đồng vi phạm quy định này thì đương nhiên vô hiệu, không phụthuộc vào ý chí của các bên tham gia

Tuy nhiên đánh giá về quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 ta thấy rằngtrong bộ luật còn chưa sử dụng thống nhất khái niệm về trái pháp luật hay viphạm điều cấm của pháp luật

b, Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 129 BLDS 2005):

Giả tạo là các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, nhưng lại cố ýbày tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ Khi đó, hợp đồng giả tạo

vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Ví dụ: A bán cho B một ngôi nhà Để trốn thuế, A đã giao kết với B mộthợp đồng tặng cho tài sản là ngôi nhà đó Trong trường hợp này, hợp đồngtặng cho sẽ bị vô hiệu, hợp đồng bán nhà vẫn có hiệu lực thi hành

Trong trường hợp hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngườithứ ba thì hợp đồng giả tạo đó đương nhiên bị vô hiệu

Trang 7

c, Hợp đồng vô hiệu do người tham gia ký kết hợp đồng không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 BLDS 2005):

Theo điều 130 BLDS : “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.”

Người không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi khôngđầy đủ không thể có đủ điều kiện để tự do thể hiện ý chí Vì vậy hợp đồngcủa họ phải được xác lập dưới sự kiểm soát của người khác hoặc do ngườikhác xác lập Tuy nhiên, hợp đồng do những người này xác lập không mặcnhiên bị coi là vô hiệu mà chỉ vô hiệu khi có yêu cầu của những người đạidiện cho họ

Tuy nhiên, đánh giá về quy định tại điều 130 BLDS 2005 ta thấy rằngđiều 130 mới chỉ qui định mang tính chất một chiều là bảo vệ những người

bị hạn chế năng lực chủ thể nhưng chưa tính đến trường hợp cần phải bảo vệngười tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng với người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi nhưng khôngbiết và không buộc phải biết đối tác là người chưa thành niên, người mấtnăng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi Bộ luật Dân sự 2005cũng chưa quy định về thời điểm bắt đầu mà người đại diện có quyền yêucầu tuyên bố hợp đồng do người bị mất năng lực hành vi, hạn chế năng lựchành vi xác lập Thời điểm này là thời điểm cá nhân bị mất năng lực hành vithực sự hay là thời điểm Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi? Bên cạnh đócòn chưa xây dựng được chế tài áp dụng đối với trường hợp rủi ro cho bên

Trang 8

giao kết với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến đủ 18 tuổi có tài sảnriêng mà sau khi giao kết hợp đồng tài sản riêng không còn.

d, Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 BLDS 2005)

Nhầm lẫn là việc các bên hiểu sai về nội dung của hợp đồng mà các bên

tham gia gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Nếu bên bị nhầm lẫnchứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vôhiệu

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giaodịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bênkia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên

bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu Tuy nhiênlỗi ở đây chỉ có thể là lỗi vô ý Nếu sự nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tácthì khi đó sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối

Ta thấy Điều 131 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: hợp đồng có thể bịtuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn nhưng chưa đưa ra định nghĩa chính xác về

"nhầm lẫn", chưa phân loại được các yếu tố nhầm lẫn trong hợp đồng và từ

đó có chế tài xử lý khác nhau, không đề cập tới trường hợp nhầm lẫn về chủthể của hợp đồng, không quy định chế tài xử lý trong trường hợp nhầm lẫn

từ hai bên chủ thể của hợp đồng

e, Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 BLDS 2005)

Lừa dối trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ

ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượnghoặc nội dung của hợp đồng dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

Ðe dọa trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba

làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha,

mẹ, vợ, chồng, con của mình

Trang 9

Bộ luật Dân sự đã nêu ra quy định chung khái quát về hành vi đe dọanhưng chưa phân tách rõ ràng về phạm vi và điều kiện của hành vi đe dọanày Bên cạnh đó, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005 có cụm từ "phải thực hiệngiao dịch" khiến cho nhiều người có cách hiểu chưa thống nhất Về đốitượng của đe dọa: Pháp luật đã liệt kê ra hết các đối tượng có thể bị xâm hại:tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc củacha, mẹ, vợ, chồng, con của mình nhưng chưa đầy đủ Sự chưa đầy đủ đượcthể hiện trong trường hợp đối tượng của sự đe dọa có thể là tài sản của Nhànước, tổ chức xã hội và nhìn chung phạm vi người được bảo vệ do bị đe dọacần được bổ sung.

Ngoài ra phạm vi hành vi được xem là lừa dối theo Bộ luật Dân sự 2005chưa được quy định đầy đủ Pháp luật hiện hành mới chỉ coi những hành vi

cố ý của một bên trong hợp đồng làm cho bên kia hiểu sai mà không thừanhận sự im lặng hoặc không thông tin khi có nghĩa vụ thông tin đến ngườicùng giao kết hợp đồng là lừa dối

f, Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133 BLDS 2005).

Trường hợp này chỉ áp dụng đối với những người có năng lực hành vidân sự Nếu người đó đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhậnthức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên

bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu Việc phân định trách nhiệm bồi thườngthiệt hại phụ thuộc vào lỗi của các bên tham gia hợp đồng

g, Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134 BLDS 2005).

Điều 134 BLDSquy đinh : “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan

Trang 10

nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định

về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”

Theo nguyên tắc chung, các chủ thể được phép tự do lựa chọn hình thứccủa hợp đồng Chỉ những hợp đồng pháp luật quy định bắt buộc phải thểhiện bằng văn bản, phải có chứng thực, chứng nhận, mà các bên khôngtuân thủ mới bị vô hiệu Khi các bên có yêu cầu thì tòa án xem xét và “ buộccác bên thực hiện các quy định về hình thức của hợp đồng trong một thờihạn nhất định” Chỉ khi các bên không thực hiện và hoàn tất các quy định vềhình thức của hợp đồng trong thời hạn do tòa án quyết định thì hợp đồngmới vô hiệu Bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên còn có một số vướng mắc trong quy định của Bộ luật Dân sự

2005 về vấn đề này Thứ nhất, quy định điều kiện về hình thức ở phần giaodịch dân sự tại Điều 122 và phần hợp đồng tại khoản 2 Điều 401 mâu thuẫnnhau gây nên sự hiểu lầm Thứ hai, do quá chú trọng về hình thức hợp đồng,điều kiện tuyên bố hợp đồng vô hiệu quá dễ dàng mà bên có yêu cầu tuyên

bố hợp đồng vô hiệu lợi dụng để trục lợi Và quy định tại Điều 136 Bộ luậtDân sự 2005 về thời hiệu khởi kiện hợp đồng vô hiệu do vi phạm quy định

về hình thức chưa hợp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên giaokết hợp đồng

h, Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 411 BLDS 2005).

Điều 411 BLDS 2005 qui định về trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu

do có đối tượng không thể thực hiện được Quy định này cũng được áp dụngđối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý

Trang 11

Theo khoản 1 Điều 411 BLDS 2005: “ Trong trường hợp ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thìhợp đồng này vô hiệu” Quy định này có thể hiểu đối tượng của hợp đồng cũng là một trong những điều kiện của hợp đồng, không có đối tượng thì tất nhiên sẽ không thể có hợp đồng dân sự.

Thực tiễn cũng cho thấy quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành đối với hợp đồng có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai trong nhiều trường hợp cũng chưa có sự xác định rõ ràng

2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

BLDS 2005 quy định hai loại thời hiệu yêu cầu toàn án tuyên vố giao dịch

vô hiệu trên cơ sở tính chất, mức độ phạm vi và tác động xấu của giao dịch dân sự đó đối với đời sống xã hội (Điều 136 BLDS 2005) đó là:

a Thời hiệu hai năm

Theo khoản 1 điều 136 BLDS 2005, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên vố giao dịch dân sự vô hiệu đối với các giao dịch: Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; giao dịch dân sự bị vô hiệu do nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa; do người các lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức là hai năm

kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

Sau khoảng thời gian hai năm nếu bên có quyền yêu cầu tòa án giao dịch dân sự này là vô hiệu không thực hiện thì quyền này sẽ tự động chấm dứt Quy định này của pháp luật ngoài nhưng lí do về mặt thời hiệu nó còn có một lí do khác đó là pháp luật không thể và cũng không có nghĩa vụ bảo vệ người có quyền khi mà chính người đó cũng không quan tâm nhiều đến quyền của mình

Trang 12

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian hai năm mà pháp luật quy định người

có quyền có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trên thực

tế cũng có thể xảy ra những sự kiện làm cản trở việc người đó thực hiện quyền của mình Trong những trường hợp này để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người có quyền khởi kiện pháp luật quy định khoảng thời gian xảy

ra những sự kiện là cho người có quyền khởi kiện không thể khởi kiện sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện (điều 161 BLDS 2005) những sự kiện này gồm:

Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện yêu cầu trong phạm vi thời hiệu

Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lí do chính đang khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong tường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết

b Thời hiệu không bị hạn chế

Để góp phần hạn chế đến mức tối đa những giao dịch dân sự vô hiệu do

vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo mà sự vi phạm các điều kiện có hiệu lực của nó gây nên những hậu quả xấu cho xã hội, BLDS 2005 có quy định nghiêm khắc thể hiện ở hai điểm sau:

- Theo khoàn 2 điều 136 BLDS 2005, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu không hạn chế

Ngày đăng: 22/12/2015, 11:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w