MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, nhu cầu bảo hiểm cũng ngày càng cao. Quá trình phát triển mấy trăm năm của bảo hiểm đã ghi nhận vai trò và những đóng góp to lớn của bảo hiểm trong việc ổn định, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội, vị thế của bảo hiểm càng được nâng cao trong các ngành kinh tế quốc dân. Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra nhanh chóng đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của ngành bảo hiểm. Những thách thức của thị trường bảo hiểm là rất khó kiểm soát, cạnh tranh ác liệt và những thay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét đặc trưng của hoạt động bảo hiểm. Ở Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vài năm gần đây từ khi chúng ta chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm. Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và các sản phẩm bảo hiểm ngày càng được mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm được kí kết ngày càng nhiều. Tuy vậy, bảo hiểm Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng qui mô của nó và cũng chưa có một qui chế pháp lý vững chắc, một hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có hiệu quả. Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về vấn đề bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm, giúp cho các cán bộ pháp lý có thêm cách nhìn mới và hiểu rõ hơn về bản chất và những vấn đề cơ bản của hợp đồng bảo hiểm từ đó đề ra những hướng xây dựng luật cũng như áp dụng các qui phạm pháp luật về bảo hiểm một cách chính xác và hiệu quả. Nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM ”. Hợp đồng bảo hiểm là đề tài còn rất mới mẻ và có rất nhiều vấn đề phức tạp. Tuy đây chưa phải là một công trình nghiên cứu hoàn thiện song chúng tôi đã cố gắng đề cập đến những vấn đề chủ yếu, then chốt nhất của hợp đồng bảo hiểm nói chung có gắn với thực tiễn cho phù hợp. NỘI DUNG Chương 1: Khái quát về hợp đồng bảo hiểm 1.1.Khái niệm hợp đồng bảo hiểm 1.1.1. Khái niệm Theo điều 567 Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005 thì hợp đồng bảo hiểm được định nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm hiểu theo nghĩa chủ quan đó là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thoả thuận của các bên. Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ hợp đồng được. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì hợp đồng bảo hiểm mới hình thành. Cơ sở đầu tiên để hình thành hợp đồng bảo hiểm là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước. Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự “tự do” ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Thông thường trong hợp đồng bảo hiểm có hai bên tham gia: bên bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) cũng là bên được bảo hiểm. Còn trường hợp khác có ba bên tham gia khi hợp đồng được kí kết vì lợi ích của người thứ ba. Khi đó có bên bảo hiểm bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) người thứ ba (bên được bảo hiểm). Người thứ ba có các quyền và nghĩa vụ của người được bảo hiểm, trừ nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm gồm bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc. Với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, các bên tự do thoả thuận về các điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm. Có thể nói đây là loại hình bảo hiểm mà ý chí của các bên có quyền định đoạt cao. Còn đối với hợp đồng bảo hiểm bắt buộc,các điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm do pháp luật qui định. 1.1.2. Tính chất của hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm có một số tính chất chung trong khuôn khổ những quy định của luật pháp về hợp đồng dân sự, ngoài ra, nó còn có một số tính chất riêng biệt gắn liền với đặc trưng kinh tế kỹ thuật ngành bảo hiểm. Cụ thể như sau: Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận: Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập dựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giao kết trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ: Các bên ký kết đều có quyền và nghĩa vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Người bảo hiểm phải đảm bảo cho các rủi ro còn người được bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm có tính chất may rủi: Nếu không tồn tại rủi ro (sự kiện bảo hiểm) thì không có việc giao kết cũng như tồn tại hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm có tính chất tin tưỏng tuyệt đối: Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tình trạng tạo ra rủi ro cho nhau. Do đó, để tồn tại và có thể thực hiện thì hai bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau. Tính chất tin tưởng tuyệt đối và nguyên tắc trung thực tối đa chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề. Hợp đồng bảo hiểm có tính chất phải trả tiền: Mối quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên thể hiện ở mối quan hệ tiền tệ. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phí bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểmbồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Hợp đồng bảo hiển có tính chất gia nhập: Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng theo mẫu. Quy tắc bảo hiểm (nội dung chính của Hợp đồng) do người bảo hiểm soạn thảo trước, bên mua bảo hiểm sau đọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập vào. Hợp đồng bảo hiểm có tính dân sự thường mại hỗn hợp: Bên mua bảo hiểm có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân dân sự hay thương mại, người bảo hiểm cũng có thể là một pháp nhân dân sự (hội tương hỗ) hay thương mại (công ty bảo hiểm). Do đó, mối quan hệ giữa họ, cụ thể là hợp đồng bảo hiểm sẽ có thể có tính dân sự hay thương mại thuần túy hoặc dân sự thương mại hỗn hợp.
Trang 1MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, nhu cầu bảo hiểm cũng ngàycàng cao Quá trình phát triển mấy trăm năm của bảo hiểm đã ghi nhận vai trò và nhữngđóng góp to lớn của bảo hiểm trong việc ổn định, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
xã hội, vị thế của bảo hiểm càng được nâng cao trong các ngành kinh tế quốc dân Ngàynay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, quá trình toàn cầuhoá, khu vực hoá diễn ra nhanh chóng đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của ngành bảo hiểm.Những thách thức của thị trường bảo hiểm là rất khó kiểm soát, cạnh tranh ác liệt và nhữngthay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét đặc trưng của hoạt động bảo hiểm
Ở Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vài năm gần đây từ khichúng ta chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và các sảnphẩm bảo hiểm ngày càng được mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm được kí kết ngày càngnhiều Tuy vậy, bảo hiểm Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng qui mô của nó vàcũng chưa có một qui chế pháp lý vững chắc, một hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo cơ sởpháp lý cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có hiệu quả Vớimong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về vấn đề bảo hiểm vàhợp đồng bảo hiểm, giúp cho các cán bộ pháp lý có thêm cách nhìn mới và hiểu rõ hơn
về bản chất và những vấn đề cơ bản của hợp đồng bảo hiểm từ đó đề ra những hướng xâydựng luật cũng như áp dụng các qui phạm pháp luật về bảo hiểm một cách chính xác vàhiệu quả Nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM ”
Hợp đồng bảo hiểm là đề tài còn rất mới mẻ và có rất nhiều vấn đề phức tạp Tuyđây chưa phải là một công trình nghiên cứu hoàn thiện song chúng tôi đã cố gắng đề cậpđến những vấn đề chủ yếu, then chốt nhất của hợp đồng bảo hiểm nói chung có gắn vớithực tiễn cho phù hợp
NỘI DUNG
Trang 2Chương 1: Khái quát về hợp đồng bảo hiểm 1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm
Theo điều 567 Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005 thì hợp đồng bảo hiểm được định
nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm,
còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi vàchấm dứt các quyền và nghĩa vụ bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm hiểu theo nghĩa chủ quan
đó là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thoả thuận của các bên Nếu chỉ có mộtbên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thànhmột quan hệ hợp đồng được Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữacác bên thì hợp đồng bảo hiểm mới hình thành Cơ sở đầu tiên để hình thành hợp đồngbảo hiểm là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ
có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phùhợp với ý chí của Nhà nước Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng
sự “tự do” ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của
Với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, các bên tự do thoả thuận về các điều kiện bảohiểm và mức phí bảo hiểm Có thể nói đây là loại hình bảo hiểm mà ý chí của các bên cóquyền định đoạt cao Còn đối với hợp đồng bảo hiểm bắt buộc,các điều kiện bảo hiểm vàmức phí bảo hiểm do pháp luật qui định
1.1.2 Tính chất của hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm có một số tính chất chung trong khuôn khổ những quy địnhcủa luật pháp về hợp đồng dân sự, ngoài ra, nó còn có một số tính chất riêng biệt gắn liềnvới đặc trưng kinh tế - kỹ thuật ngành bảo hiểm Cụ thể như sau:
Trang 3- Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận: Hợp đồng bảo hiểm được thiết lậpdựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giaokết trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội.
- Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ: Các bên ký kết đều có quyền và nghĩa
vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Người bảo hiểm phải đảmbảo cho các rủi ro còn người được bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm
- Hợp đồng bảo hiểm có tính chất may rủi: Nếu không tồn tại rủi ro (sự kiện bảohiểm) thì không có việc giao kết cũng như tồn tại hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm
- Hợp đồng bảo hiểm có tính chất tin tưỏng tuyệt đối: Mối quan hệ giữa bên muabảo hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tình trạng tạo ra rủi ro cho nhau Do đó,
để tồn tại và có thể thực hiện thì hai bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau Tính chất tintưởng tuyệt đối và nguyên tắc trung thực tối đa chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề
- Hợp đồng bảo hiểm có tính chất phải trả tiền: Mối quan hệ quyền và nghĩa vụgiữa hai bên thể hiện ở mối quan hệ tiền tệ Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phíbảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm/bồi thường khi có sự kiện bảohiểm xảy ra
- Hợp đồng bảo hiển có tính chất gia nhập: Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồngtheo mẫu Quy tắc bảo hiểm (nội dung chính của Hợp đồng) do người bảo hiểm soạn thảotrước, bên mua bảo hiểm sau đọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập vào
- Hợp đồng bảo hiểm có tính dân sự - thường mại hỗn hợp: Bên mua bảo hiểm cóthể là một thể nhân hoặc pháp nhân dân sự hay thương mại, người bảo hiểm cũng có thể
là một pháp nhân dân sự (hội tương hỗ) hay thương mại (công ty bảo hiểm) Do đó, mốiquan hệ giữa họ, cụ thể là hợp đồng bảo hiểm sẽ có thể có tính dân sự hay thương mạithuần túy hoặc dân sự - thương mại hỗn hợp
1.2 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm
Đối với hợp đồng dân sự chủ thể của hợp đồng là những “người” tham gia vàoquan hệ hợp đồng đó Phạm vi “người” tham gia vào hợp đồng bao gồm: cá nhân (côngdân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợptác và trong trường hợp đặc biệt là Nhà nước
Hợp đồng bảo hiểm gồm có hai chủ thể là bên bảo hiểm và người tham gia bảohiểm (người mua bảo hiểm) cũng đồng thời là người được bảo hiểm Trong trường hợphợp đồng được kí kết vì lợi ích của người thứ ba thì có ba bên tham gia hợp đồng là: bênbảo hiểm - người tham gia bảo hiểm (người mua bảo hiểm) và người thứ ba (người đượcbảo hiểm)
Trang 41.2.1 Bên bảo hiểm
Bên bảo hiểm là tổ chức tham gia hợp đồng bảo hiểm thu phí bảo hiểm đồng thờichịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểmxảy ra gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm
1.2.2 Người tham gia bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm là các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm do có nhu cầubảo hiểm hoặc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm theo qui định của pháp luật, là người trựctiếp ký kết hợp đồng bảo hiểm với bên bảo hiểm nhằm đảm bảo sự an toàn cho các đốitượng là tài sản, tính mạng, sức khoẻ của mình hay của người khác
Trong xã hội có nhiều loại hình tổ chức như: doanh nghiệp, cơ quan Nhànước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị,… tất cả các tổ chức này đều cóthể trở thành chủ thể tham gia bảo hiểm mà không phụ thuộc họ có tư cách pháp nhânhay không, là tổ chức trong nước hay tổ chức nước ngoài
Đối với cá nhân để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm thì phải cónăng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và phải thoả mãn các điều kiện được quiđịnh trong từng chế độ bảo hiểm cụ thể Cá nhân là chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm
có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài
Đối với hợp đồng mà người tham gia bảo hiểm kí kết nhằm bảo vệ lợi ích của bảnthân thì người tham gia bảo hiểm cũng đồng thời là người được bảo hiểm, còn đối với hợpđồng được kí kết vì lợi ích của người thứ ba thì người được bảo hiểm là người thứ ba
1.2.3 Người thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm người thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm xuất hiện khi hợp đồng bảohiểm được kí kết vì lợi Ích của người thứ ba
Người thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm là người vì lợi ích, quyền lợi củangười đó khiến người tham gia bảo hiểm kí kết hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng tạo ra hai mối quan hệ pháp lý: thứ nhất giữa người tham gia bảo hiểm
và bên bảo hiểm, thứ hai giữa bên bảo hiểm và người thứ ba
Giao kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi Ích của người thứ ba phải đáp ứng một số điềukiện khi thì liên quan đến các bên giao kết, khi thì liên quan đến người thứ ba
Trước hết, giữa các bên giao kết phải có một hợp đồng, trong đó bên tham gia bảohiểm đã chuyển tất cả các quyền lợi của mình do hợp đồng mang lại cho người thứ ba
Đối với người thứ ba có hai vấn đề đặt ra:
Trang 5- Có thể giao kết cho một người không xác định được không?: Trường hợp này
có thể được chấp nhận với điều kiện là người thứ ba hưởng lợi phải có thể xác định đượcvào ngày mà sự thực hiện hợp đồng có hiệu lực đối với họ Vậy điều trở ngại cho sự hữuhiệu của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích của người thứ ba không phải làngười thứ ba không được xác định trong hiện tại mà vì người đó không thể xác
định trong tương lai, hay nói cách khác đi không bao giờ có thể xác định được Ví dụ:
một tổ chức xuất khẩu hàng hoá đem bảo hiểm hàng hoá gửi đi cho một thương gia, nhưng thay vì ghi người được bảo hiểm là thương gia nọ, tổ chức này lại ghi rằng người được bảo hiểm là chủ sở hữu cuối cùng của hàng hoá với mục đích là để đề phòng khi hàng hoá bị mất hay hư hao dọc đường thì người mua lại hàng hoá đó có thể được hưởng tiền bồi thường của hãng bảo hiểm
- Có thể thực hiện hợp đồng cho một người chưa sinh ra đời không?: Sự giao
kết cho một người thứ ba tương lai phải coi là sự hữu hiệu nhưng hiệu lực của sự giaokết bị đình chỉ cho tới khi người thứ ba ra đời Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọngười ta có thể giao kết vì quyền lợi của con cháu đã sinh hay sắp sinh ra
1.3 Sự kiện bảo hiểm
Bên bảo hiểm chỉ phải thực hiện hợp đồng bảo hiểm tức là thực hiện trách nhiệmbồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm Sự kiện bảo hiểm
có thể hiểu là những rủi ro gây ra tổn thất thiệt hại cho đối tượngđược bảo hiểm đã đượccác bên kí kết hợp đồng bảo hiểm thoả thuận
Điều 571 Luật dân sự định nghĩa: Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật qui định mà khi có sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm
1.3.1 Rủi ro bảo hiểm
Rủi ro là khả năng có thể gây ra hư hỏng, thiệt hại hoặc huỷ hoại chođối tượng được bảo hiểm Rủi ro được bảo hiểm có thể do thiên tai hoặc do con ngườigây ra và rủi ro đó phải có khả năng gây ra thiệt hại Các bên tham gia hợp đồng bảohiểm bao giờ cũng đặc biệt quan tâm đến thoả thuận về sự kiện bảo hiểm trong đó có rủi
ro được bảo hiểm vì nó có ý nghĩa quyết định cho vấn đề có bồi thường hay không bồithường Quá trình lịch sử phát triển của bảo hiểm đã ngày càng hoàn thiện những nguyêntắc của hoạt động bảo hiểm trong đó việc xác định những rủi ro được bảo hiểm cho từngnghiệp vụ bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng vì nó phải làm sao bảo đảm lợi ích của
Trang 6khách hàng mà lại đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của bên bảo hiểm Một số nguyêntắc bảo hiểm mà được coi là nền tảng của hoạt động bảo hiểm:
- Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro khách quan : theo nguyên tắc này,
chỉ những rủi ro tham gia bảo hiểm mới có thể được bảo hiểm Những rủi ro do ngườiđược bảo hiểm cố ý gây ra không thuộc sự kiện bảo hiểm vì rõ ràng hành vi cố ý đó làmột sự gây thiệt hại cho xã hội không đúng với mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm Đây làmột nguyên tắc mà nghiệp vụ bảo hiểm nào cũng ghi nhận Cần hiểu rằng không phảimọi trách nhiệm đều đổ hết lên công ty bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm cũngphải có trách nhiệm trong việc không để xảy ra rủi ro hoặc hạn chế hậu quả của rủi rotrong phạm vi khả năng của mình do đó khi họ cố ý gây ra rủi ro để hưởng bảo hiểm thì
đó là hành vi trục lợi và họ đã không thực hiện trách nhiệm của mình do vậy mà chính họphải gánh chịu rủi ro đó
- Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro có tính ngẫu nhiên: điều đó có nghĩa là
những rủi ro được bảo hiểm không phải là những rủi ro xảy ra có tính tất yếu trên thực tế.Những rủi ro đã biết trước chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại không thuộc sự kiện bảo hiểm vìbảo hiểm chỉ có thể nhận bảo hiểm những rủi ro mang tính chất bất ngờ không lườngtrước được
Trên thực tế nếu rủi ro phát sinh do hành vi của chính người tham gia bảo hiểmthực hiện thì rủi ro đó phải được xem xét trong mối liên hệ với lỗi và động cơ của người
thực hiện hành vi mới được coi là rủi ro được bảo hiểm Ví dụ: trong hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì Bảo Việt sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất xảy ra do chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng điều lệ giao thông đường bộ như: xe không có giấy phép lưu hành; lái xe không có bằng lái hoặc có bằng lái không hợp lệ; lái xe uống rượu bia, sử dụng ma tuý hoặc các chất kích thích khác trong khi điều khiển xe; xe chở chất cháy, chất nổ trái phép; xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách qui định; xe đi vào đường cấm hoặc đi đêm không có đèn Chỉ trong
một số loại bảo hiểm cá biệt, bên bảo hiểm mới chịu trách nhiệm trả tiền bảo hiểmcho người được bảo hiểm khi rủi ro do chính hành vi của họ gây ra với lỗi cố ý Điềunày được qui định rõ trong từng hợp đồng bảo hiểm cụ thể, căn cứ vào đặc điểm của loại
bảo hiểm đó, đặc điểm của đối tượng bảo hiểm Ví dụ: theo chế độ bảo hiểm nhân thọ
thời hạn 5 năm và 10 năm thì đối với trường hợp người được bảo hiểm chết do tự tử, nhiễm vi rót HIV, nếu hợp đồng bảo hiÓm đã có hiệu lực từ 2 năm trở lên thì bên bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm theo mức qui định
Trang 7Sự kiện bảo hiểm là một yếu tố không thể thiếu của hợp đồng bảo hiểm và do tínhchất quan trọng của nó mà các công ty bảo hiểm thường xây dựng các qui tắc bảo hiểmcho từng nghiệp vụ bảo hiểm trong đó có hai vấn đề then chốt là phạm vi bảo hiểm và cácđiểm loại trừ bảo hiểm Các khách hàng cũng có thể thoả thuận cùng doanh nghiệp bảohiểm về những điểm riêng biệt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của mình
Phạm vi của bảo hiểm chính là những sự kiện được bên bảo hiểm chấp nhận bảohiểm Bên bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm khi và chỉ khi rủi ro xảy ra đó thuộc phạm vibảo hiểm Hay nói đúng hơn là có sự lựa chọn nguyên nhân dẫn đến rủi ro Không phảimọi nguyên nhân gây ra rủi ro đều được bảo hiểm mà chỉ một số nguyên nhân nhất định
mà gây ra rủi ro mới được bên bảo hiểm bồi thường Ví dụ: phạm vi bảo hiểm trong bảo
hiểm tai nạn con người là những trường hợp người được bảo hiểm bị chết hay thương tật
do tai nạn bất ngờ hoặc do có hành vi cứu người, tài sản của Nhà nước, của cá nhân hoặc tham gia chống các hành động phạm pháp Trong bảo hiểm hoả hoạn bên bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường nếu tài sản được bảo hiểm bị hư hỏng hoặc huỷ hoại do bị cháy Nếu do những nguyên nhân khác thì bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm
Các điểm loại trừ bảo hiểm (hay còn gọi là những sự kiện không thuộc sựkiện bảo hiểm) cũng được qui định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm nhằm làm rõ ràng hơnranh giới trách nhiệm của bên bảo hiểm và để giúp khách hàng hiểu rõ được phạm vi quyềnlợi của mình Nó sẽ chỉ ra những thiệt hại, những nguyên nhân, những lĩnh vực hoạt động,những vùng địa lý, mà công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm Bởi lẽ những điều nàytrước hết để đảm bảo an toàn cho hoạt động quá lớn vượt quá khả năng thanh toán củacông ty bảo hiểm, hay những nguyên nhân mà làm mất đi nguyên tắc bảo hiểm kháchquan, ngẫu nhiên, Bên cạnh đó nó còn có mục đích nhằm hạn chế bớt những rủi ro tươngđối rộng có thể xảy ra cho đối tượng bảo hiểm từ đó mà giữ được phí bảo hiểm ở mức hợp
lý Bởi lẽ công ty bảo hiểm khi đưa ra mức phí bảo hiểm bao giờ cũng phải tính toán trên
cơ sở xác suất xảy ra rủi ro Nếu rủi ro càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và khi đó sẽ córất ít người chịu được mức phí cao như vậy Những điểm loại trừ làm giảm khả năng xảy rarủi ro nên tất nhiên phí bảo hiểm cũng được giảm xuống Trong các hợp đồng bảo hiểm,những rủi ro xảy ra do các nguyên nhân chiến tranh, bạo loạn thường được liệt vào nhữngđiểm loại trừ vì những rủi ro này có tính chất thảm hoạ tàn khốc và hậu quả rất lớn mà mộtmình công ty bảo hiểm không thể gánh chịu (riêng đối với bảo hiểm hàng hải có ngoại lệ làcác rủi ro trên có thể trở thành rủi ro được bảo hiểm nếu người tham gia bảo hiểm cóthoả thuận bảo hiểm thêm những rủi ro này)
Trang 81.3.2 Tổn thất
Nhìn chung những rủi ro khi xảy ra đều gây tổn thất nhưng cũng có khi rủi ro lạikhông dẫn đến tổn thất Sự kiện bảo hiểm là những rủi ro gây tổn thất cho đối tượng bảohiểm Hơn nữa, tổn thất đó phải là hậu quả của rủi ro, rủi ro là nguyên nhân chính, trựctiếp của tổn thất
Tổn thất có thể hiểu là những thiệt hại, sự biến đổi theo chiều hướng tiêu cực củađối tượng bảo hiểm Một tổn thất khi muốn được bảo hiểm thì phải thoả mãn những điềukiện chính: sự thiệt hại phải chắc chắn, phải chưa được bồi thường và phải là hậu quảtrực tiếp của các rủi ro được bảo hiểm
Sự thiệt hại phải chắc chắn: điều đó không có nghĩa là bắt buộc thiệt hại đó phải
đã xảy ra, một sự thiệt hại tương lai cũng có tính chắc chắn nếu nhất định sẽ xảy ra và cóthể ước lượng được Trái lại một sự thiệt hại không chắc chắn sẽ xảy ra hoặc chỉ có tính
cách giả định thì không thể được bồi thường Ví dụ: một người kí hợp đồng bảo hiểm để
bảo hiểm tính mạng của mình, khi người này bị tai nạn nhưng không chết ngay mà theo kết quả giám định do công ty bảo hiểm tiến hành thì sau một tháng nữa người đó chắc chắn sẽ chết Trường hợp này thiệt hại (tính mạng) chưa xảy ra nhưng cũng chắc chắn
và như vậy phải được bồi thường
Sự thiệt hại phải chưa được bồi thường hoặc bồi thường chưa đủ Có ba loại bảohiểm là bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm con người và bảo hiểm tài sản Đối với bảo hiểmtrách nhiệm, dĩ nhiên nạn nhân đã được công ty bảo hiểm bồi thường thì không thể kiệnngười gây ra tai nạn để đòi bồi thường thêm một lần thứ hai, vì khi bồi thường cho nạnnhân, công ty bảo hiểm đã đại diện cho người gây ra tai nạn Hoặc khi người gây ra tainạn đã bồi thường đầy đủ cho nạn nhân thì nạn nhân cũng không có quyền đòi công tybảo hiểm bồi thường nữa
Sự thiệt hại phải là hậu quả trực tiếp của rủi ro được bảo hiểm Nếu thiệt hại là do
những nguyên nhân khác thì cũng không được bảo hiểm Ví dụ: một chủ tàu bảo hiểm
cho tàu của mình, khi đi trên biển gặp bão và tàu bị đắm nhưng thiệt hại này không phải
do bão gây ra mà là do tàu đã quá cũ không còn khả năng đi biển do vậy sẽ không được bồi thường
Việc tính toán mức tổn thất đều phải dựa vào giá trị thiệt hại thực tế của tai nạn,tổn thất Trong một số hợp đồng bảo hiểm tài sản, đặc biệt là bảo hiểm hàng hải người tacòn phân biệt tổn thất chung, tổn thất riêng, tổn thất toàn bộ, tổn thất bộ phận Việc phânbiệt này có ý nghĩa trong giải quyết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Trang 9- Căn cứ vào qui mô và mức độ tổn thất: tổn thất được chia thành tổn thất toàn bộ
và tổn thất bộ phận
+ Tổn thất bộ phận: là việc hàng hoá bị mất mát hoặc giảm giá trị và giá trị sử dụng
ở một mức độ nhất định Các trường hợp hàng hoá bị mất mát thì dễ xác định giá trị tổnthất còn sẽ rất khó xác định chính xác đối với hàng hoá bị giảm giá trị và giá trị sử dụng.Cũng cần phân biệt tổn thất bộ phận với sự hao hụt tự nhiên của hàng hoá Có nhiều hànghoá có đặc tính bị hao hụt một cách tự nhiên Ví dụ: xăngcó thể bị bay hơi, muối có thể bịchảy nước, đó hoàn toàn là do đặc tính tự nhiên của hàng hoá không phải là rủi ro và do
đó không được tính số hao hụt tự nhiên vào tổng số tổn thất để đòi bảo hiểm bồi thường.Các bên khi bảo hiểm hàng hoá có hao hụt tự nhiên thường thoả thuận khấu trừ theo một tỷ
lệ nào đó để loại trừ hao hụt tự nhiên ra khỏi tổn thất được bồi thường
+ Tổn thất toàn bộ: là hàng hoá bị mất hết hoặc bị phá huỷ hoàn toàn làm cho mấthẳn giá trị sử dụng Tổn thất ở đây là mức độ lớn nhất không có khả năng khôi phục lại.Tổn thất toàn bộ khác tổn thất toàn bộ ước tính Tổn thất toàn bộ ước tính là dạng tổn thấtkhông thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hay vì chi phí cứu hàng, tu bổ lại hàng hoá,tài sản có thể vượt quá giá trị bảo hiểm (giá trị của tài sản, hàng hoá đó) Trong trườnghợp xác định tổn thất toàn bộ ước tính thì chủ hàng (người được bảo hiểm) có quyềntuyên bố từ bỏ hàng để được bồi thường như tổn thất toàn bộ Người bảo hiểm phải bồithường toàn bộ giá trị tài sản, hàng hoá đồng thời được quyền sở hữu hàng hoá đó
- Căn cứ vào các quyền lợi có mặt: có hai loại là tổn thất riêng và tổnthất chung
+ Tổn thất riêng: là tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ ngẫu nhiên gây ra chỉ liênquan đến từng quyền lợi bảo hiểm riêng biệt Tổn thất riêng chỉ gây ra thiệt hại cho quyềnlợi của một vài chủ hàng, chủ tài sản trong số rất nhiều chủ hàng, chủ tài sản Tổn thấtriêng có thể là tổn thất bộ phận, có thể là tổn thất toàn bộ Tổn thất riêng rơi vào chủ hàngnào thì chủ hàng đó phải gánh chịu Tổn thất riêng có thể được bảo hiểm hoặc khôngđược bảo hiểm tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm
+ Tổn thất chung: là những tổn thất về tài sản vật chất và những chi phí phát sinh
do hành động bảo vệ lợi ích chung của con người trong những tình huống, điều kiện cấpbách để cứu tàu và hàng hoá Tổn thất chung được phân bổ cho tất cả các quyền lợi cómặt cùng gánh chịu bao gồm thiệt hại về vật chất và các chi phí có liên quan
Các yếu tố xác định tổn thất chung:
Tình huống phải đặc biệt cấp bách, có nguy cơ thực sự đe doạ chuyến hàng
Trang 10 Nguyên nhân của tổn thất phải do hành động hy sinh cố ý để bảo vệ lợi Ích chungcủa con người
Tổn thất phải nhằm mục đích cứu vãn cả hành trình
Tổn thất và chi phí bỏ ra phải hợp lý, phải phù hợp với hoàn cảnh
Ví dụ: như hành động hy sinh quyền lợi của một số Ýt để đảm bảo quyền lợi chung của các chủ hàng trong hành trình
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu những hy sinh dưới đây được coi là tổnthất chung:
Tàu gặp bão hay bị địch đuổi phải vứt một số hàng xuống biển làm nhẹ tàu cho tàuchạnh nhanh thoát nạn, hàng vứt xuống biển là tổn thất chung
Tàu bị cạn, muốn ra khỏi cạn phải thúc máy chạy quá sức bị nổ nồi hơiđược coi là tổn thất chung
Tàu bị nạn thiếu nhiên liệu phải lấy bàn ghế của tàu để đốt thay nhiên liệu là tổnthất chung
Tàu bị cháy phải bơm nước để dập tắt, hàng bị hỏng do ngấm nước
Nguyên nhân dẫn đến tổn thất trong những trường hợp trên mang tính chủquan, hoàn toàn là ý chí tự nguyện của con người Song có thể hiểu rằng việc làm này làrất cần thiết để cứu cho chuyến hàng khỏi cơn nguy hiểm đe doạ cả tính mạng vàhàng hoá Nó được coi là sự hy sinh chứ không phải là một hành động có hại vì nếukhông hành động như vậy thì tổn thất sẽ lớn hơn Những trường hợp này được công tybảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm theo mức đóng góp vào tổn thất chung
1.4 Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm: đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là những thực thể có thể bị rủi roxâm hại (con người, tài sản) hoặc là trách nhiệm pháp lý do rủi ro mà phát sinh nghĩa vụdân sự về đền bù vật chất (trách nhiệm dân sự)
Chính vì sự an toàn hay bảo toàn cho đối tượng này mà các bên kí kết hợp đồngbảo hiểm
Theo Điều 569 Bộ Luật dân sự qui định: đối tượng của bảo hiểm bao gồm con
người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo qui định của pháp luật
1.4.1 Đối tượng bảo hiểm là tài sản
Không phải tất cả các loại tài sản đều có thể là đối tượng được bên bảo hiểm nhậnbảo hiểm Bởi vì trong đời sống xã hội, trong nền kinh tế có nhiều loại tài sản Đó có thể làtài sản hữu hình hoặc là tài sản vô hình Tài sản hữu hình là tài sản có hình thái vật chất cụ
Trang 11thể, có thể xác định được giá trị theo các cách thức thông thường Tài sản vô hình là nhữngtài sản không có hình thái vật chất cụ thể, được biểu hiện dưới các hình thức như bảnquyền nhãn hiệu hàng hoá, các quyền lợi tài chính, việc xác định giá trị rất khó khăn,phức tạp Bởi vậy bên bảo hiểm thường chỉ nhận bảo hiểm đối với những tài sản có thể xácđịnh chính xác giá trị Trong thực tế, các hợp đồng bảo hiểm tài sản có đối tượng bảo hiểmthường có giá trị lớn và nguy cơ bị rủi ro xâm hại cao Đối với những tài sản có giá trị quálớn như tàu biển, máy bay thì người ta có thể chỉ bảo hiểm đối với một bộ phận của vật nhưthân tàu, thân máy bay, vì như vậy thì khách hàng mới có thể trả được phí bảo hiểmkhông quá cao và cũng đảm bảo khả năng bồi thường của công ty bảo hiểm
Bảo hiểm tài sản phát triển mạnh trên thế giới và ở Việt Nam, các nghiệp vụ bảohiểm tài sản ngày càng đa dạng, mở rộng ứng với sự đa dạng của các đối tượng là tài sản
Ví dụ trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới thì đối tượng bảo hiểm là chiếc xe cơ giới
Hiện nay ở Việt Nam phổ biến là các loại bảo hiểm tài sản sau:
- Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
- Bảo hiểm thân tàu, thuyền
- Bảo hiểm về đầu tư, xây dựng, lắp đặt
- Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
- Bảo hiểm về tín dông
- Bảo hiểm cháy
- Bảo hiểm trộm cướp,
1.4.2 Đối tượng bảo hiểm là con người
Con người là thành phần cơ bản của đời sống xã hội Chính vì vậy, con người là đốitượng của nhiều loại bảo hiểm và bảo đảm xã hội Con người là đối tượng của bảo hiểmđược xem trên các phương diện: tính mạng, sức khoẻ, khả năng hoạt động của con người
Vì đối tượng bảo hiểm là tính mạng, sức khoẻ của con người nên không thể xácđịnh được giá trị của đối tượng bảo hiểm
Ở Việt Nam hiện nay chỉ riêng Bảo Việt đã có tới 24 sản phẩm bảo hiểm conngười và đang có xu hướng mở rộng gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn conngười, bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật Đặc biệt lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ làlĩnh vực mới đang phát triển rầm rộ và được coi là sản phẩm khai thác chiến lược, xuấthiện nhiều ngôi sao khai thác ở hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
và doanh số của loại hình này tăng vùn vụt Ở các nước khác trên thế giới, các công tybảo hiểm còn nhận bảo hiểm các bộ phận trên cơ thể con người với số tiền nhiều khi rất
Trang 12lớn Những nhân vật nổi tiếng như các ca sĩ, diễn viên điện ảnh, ngôi sao bóng đá, cóthể tham gia bảo hiểm cho đôi chân, giọng hát, khuôn mặt, của mình
1.4.3 Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý mà pháp luật qui định áp dụngđối với người có hành vi trái pháp luật hay có lỗi gây thiệt hại cho người khác phải bồithường thiệt hại
Khi người gây thiệt hại cho người khác phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thì
có thể ảnh hưởng đến đời sống hoặc hoạt động bình thường của người đó hoặc là việc bồithường vượt quá khả năng tài chính của họ Bởi vậy chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự
là một biện pháp xử lý rủi ro cho người có trách nhiệm dân sự khi họ phải thực hiện hành
vi bồi thường cho người bị thiệt hại Tuy vậy, không phải tất cả các loại trách nhiệm dân
sự đều là đối tượng của bảo hiểm Xuất phát từ lợi ích kinh doanh của doanh nghiệpbảo hiểm và mục tiêu của hoạt động bảo hiểm mà pháp luật của các nước đều quiđịnh, chỉ những trách nhiệm dân sự phát sinh có nguyên nhân là rủi ro khách quan mới cóthể là đối tượng bảo hiểm
Pháp luật Việt Nam qui định, trách nhiệm dân sự là đối tượng của bảo hiểm gồm
có hai loại: trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba (trách nhiệm dân sự ngoài hợpđồng) và trách nhiệm dân sự trong hợp đồng phát sinh do rủi ro khách quan
Theo chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng thì đối tượng bảo hiểm
là trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba là người có lợi ích bị xâm hại Vì vậy trongquan hệ bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bên bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm đốivới phần trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm Mặt khác giữa bên bảo hiểm,bên được bảo hiểm trách nhiệm dân sự với người thứ ba không có quan hệ hợp đồng màgiữa họ chỉ có mối quan hệ phụ thuộc phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm giữa bên bảo hiểmvới người tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Mối quan hệ phụ thuộc giữabên bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm với người thứ ba chỉ trong phạm vi thanh toán tiềnbảo hiểm
Ví dụ: trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bên bảo hiểm sẽ bồi thường thay cho bên tham gia bảo hiểm khoản tiền mà bên tham gia bảo hiểm có trách nhiệm pháp lý phải bồi thường những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của bên thứ ba do sự hoạt động của xe cơ giới gây ra
Trách nhiệm dân sự của các tổ chức, cá nhân trong hợp đồng phát sinh do nhiềunguyên nhân như hành vi cố ý vi phạm hợp đồng, do rủi ro khách quan, nhưng theo quy
Trang 13định của pháp luật thì đối tượng bảo hiểm chỉ gồm những trách nhiệm dân sự của người
tham gia bảo hiểm phát sinh do nguyên nhân là những rủi ro khách quan Ví dụ: doanh
nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm đối với trách nhiệm dân sự của bên vận chuyển hành khách đối với hành lý của hành khách do phương tiện giao thông gặp tai nạn.
1.5 Phân loại hợp đồng bảo hiểm
Dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau mà hợp đồng bảo hiểm được phân làm nhiều loại:
1.5.1 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm gồm có ba loại cơ bản:
- Hợp đồng bảo hiểm con người
- Hợp đồng bảo hiểm tài sản
- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
1.5.1.1 Hợp đồng bảo hiểm con người
Hợp đồng bảo hiểm con người là những hợp đồng mà đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ, khả năng lao động của con người
- Đặc điểm:
+ Đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ của con người nên không thể xácđịnh được giá trị của đối tượng bảo hiểm Do đó số tiền bảo hiểm do các bên thoả thuậntrước trong hợp đồng
+ Hợp đồng bảo hiểm con người được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện + Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắc thếquyền (chuyển yêu cầu bồi hoàn) nghĩa là bên bảo hiểm sau khi trả tiền bảo hiểm chongười được bảo hiểm thì không có quyền yêu cầu đối với người thứ ba
Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên bảo hiểm phải trả tiÒn bảo hiểm cho bên đượcbảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ Nếu bên được bảo hiểm chết thì tiềnbảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm con người được phân làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ và bảohiểm con người khác
* Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ của con người Đây làmột hình thức kết hợp tiết kiệm với bảo hiểm Tính chất tiết kiệm thể hiện ở chỗ ngườitham gia bảo hiểm chắc chắn nhận được tiền bảo hiểm vào thời điểm kết thúc hợp đồng.Ngoài ra nếu công ty bảo hiểm đầu tư có lãi thì người tham gia bảo hiểm sẽ được chia lãi
từ kết quả đầu tư
Trang 14Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho trường hợpchết của người được bảo hiểm không phải là người sở hữu đơn bảo hiểm khi được người
đó đồng ý bằng văn bản Doanh nghiệp bảo hiểm bị cấm ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọcho trường hợp chết của trẻ em dưới 16 tuổi trừ trường hợp cha mẹ người bảo trợ hợppháp đồng ý bằng văn bản
* Hợp đồng bảo hiểm con người khác
Gồm có ba nhóm:
- Hợp đồng bảo hiểm tai nạn hoặc sinh mạng con người nói chung
- Hợp đồng bảo hiểm tai nạn hoặc sinh mạng một số đối tượng đặc biệt Vídụ: học sinh, hành khách tham gia giao thông trên các phương tiện giao thông, thuyềnviên của các tàu thuyền đánh cá,
- Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch
Người tham gia bảo hiểm chỉ trở thành người được bảo hiểm khi người đó có têntrong giấy chứng nhận bảo hiểm do bên bảo hiểm cấp và được hưởng quyền lợi bảo hiểmkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm
1.5.1.2 Hợp đồng bảo hiểm tài sản
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là những hợp đồng mà có đối tượng bảo hiểm là tài sản Phổ biến các hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện vì trướchết nó gắn với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm Tuỳ nhu cầu bảo hiểm mà ngườitham gia bảo hiểm chủ động chọn những rủi ro cần bảo hiểm cho tài sản của mình cũngnhư mức phí bảo hiểm cần nép cho bên bảo hiểm để được đền bù khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm Theo Điều 579 Bộ Luật dân sự qui định: trong trường hợp quyền sở hữu đối với tài
sản bảo hiểm được chuyển cho người khác, thì chủ sở hữu mới đương nhiên thay thế chủ
sở hữu cũ trong hợp đồng bảo hiểm, kể từ thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Chủ
sở hữu cũ là bên mua bảo hiểm phải báo cho chủ sở hữu mới về việc tài sản đã được bảo hiểm, báo kịp thời cho bên bảo hiểm về việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản, nếu là bảo hiểm tự nguyện thì chủ sở hữu mới có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng
Các hình thức bảo hiểm chủ yếu đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản gồm có:
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam
- Bảo hiểm thân máy bay
- Bảo hiểm tàu, thuyền
Trang 15- Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới
- Bảo hiểm công trình xây dựng
- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
- Bảo hiểm trộm, cướp
- Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi,
Hợp đồng bảo hiểm tài sản mang tính chất là hợp đồng bồi thường Nguyên tắc chungđược áp dụng cho các loại hợp đồng bảo hiểm tài sản là số tiền bồi thường mà bên bảo hiểmtrả không vượt quá giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm và nơi xảy ra tai nạn
1.5.1.3 Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng mà đối tượng bảo hiểm làtrách nhiệm dân sự mà người có trách nhiệm phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho người thứ ba theo thoả thuậnhoặc theo qui định của pháp luật, thì bên bảo hiểm phải bồi thường cho bên mua bảohiểm hoặc trả trựct iếp cho người thứ ba theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm số thiệt hại
do bên mua bảo hiểm gây ra cho người thứ ba theo mức bảo hiểm đã thoả thuận hoặctheo qui định của pháp luật
Đặc điểm của bảo hiểm trách nhiệm dân sự là mang tính trừu tượng, khác hẳn cácđối tượng là tài sản và con người Bên bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm phần trách nhiệm dân
sự nên chỉ phải bồi thường những thiệt hại thuộc trách nhiệm của bên tham gia bảo hiểmchứ không phải bồi thường thiệt hại của chính người tham gia bảo hiểm cũng như khôngchịu trách nhiệm về hình sự
Hiện nay ở Việt Nam có các loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phổ biến như:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, thuyền
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự hàng không
- Bảo hiểm trách nhiệm của quĩ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kì hạn
1.5.2 Phân loại theo phương thức hoạt động
Hợp đồng bảo hiểm được chia thành: hợp đồng bảo hiểm tự nguyện và hợp đồngbảo hiểm bắt buộc
1.5.2.1 Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện
Theo Bộ Luật dân sự định nghĩa: hợp đồng bảo hiểm tự nguyện là sự thoả thuậngiữa các bên về các điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện mang tính dân sự cao bởi lẽ việc thiết lập nên quan
hệ hợp đồng hoàn toàn dựa trên nguyên tắc giao kết, thực hiện của hợp đồng dân sự: tự
Trang 16nguyện, bình đẳng trên cơ sở thoả thuận giữa các bên Tuy nhiên các công ty bảo hiểmthường đưa ra các qui tắc bảo hiểm mang tính chất là những tiêu chuẩn mẫu cho từngnghiệp vụ bảo hiểm Khi kí kết hợp đồng bảo hiểm, các khách hàng phải tuân thủ nhữngnội dung của qui tắc bảo hiểm của loại bảo hiểm mà họ tham gia, tất nhiên không loại trừkhả năng cho phép họ đưa ra những thoả thuận mới Nội dung của qui tắc bảo hiểmthường nêu lên những điều kiện chung nhất của một hợp đồng bảo hiểm, bao gồm nhữngđiều khoản về:
- Đối tượng bảo hiểm
- Phạm vi của bảo hiểm
- Tỉ lệ phí, hình thức thu phí
- Mức tự bảo hiểm, mức bồi thường
- Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
- Thủ tục bồi thường, thủ tục giải quyết tranh chấp
Ngoài những điều kiện chung, mỗi hợp đồng cụ thể còn có thể có những điều kiệnhay thoả thuận riêng, miễn là không trái luật và đạo đức xã hội Điều này rất quan trọng
vì nó tôn trọng quyền tự do bình đẳng của các chủ thể tham gia Hiện nay các công ty bảohiểm Việt Nam đã thực hiện rất nhiều hợp đồng bảo hiểm với các doanh nghiệp, các cánhân nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam Nhiều khi những khách hàng này muốn đượcbảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm của nước họ hay một nước thứ ba hoặc đưa ra những
đề nghị mới ngoài phạm vi điều kiện bảo hiểm của công ty bảo hiểm Việt Nam Các công
ty bảo hiểm sẽ xem xét các điều kiện này và có thể chấp nhận yêu cầu của họ
Hình thức pháp lý mà qua đó hai bên thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình làbản yêu cầu bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và bản chấp thuận yêu cầu đó củangười bảo hiểm Chấp thuận yêu cầu là sự đồng ý nhận bảo hiểm được trả lời cho phíangười tham gia biết Nếu yêu cầu không được chấp thuận cũng có nghĩa là bênbảo hiểm không nhận bảo hiểm, do đó không đi đến kí kết hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm được kí kết dưới hình thức văn bản như một hợp đồng dân sựthông thường, song đối với nhiều trường hợp có thể không có văn bản hợp đồng mà bênbảo hiểm phát cho bên kia giấy chứng nhận bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằngchứng pháp lý của việc giao kết một hợp đồng bảo hiểm
1.5.2.2 Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc
Trong đời sống xã hội, việc bảo hiểm đối với một số đối tượng không chỉ xử lý rủi
ro cho từng cá nhân, từng tổ chức mà còn liên quan đến lợi Ích của cộng đồng, của Nhà
Trang 17nước Thực tế đó đặt ra mét nhu cầu xã hội là bên cạnh chế độ bảo hiểm tự nguyện Nhànước cần duy trì chế độ bảo hiểm bắt buộc
Theo Bộ Luật dân sự định nghĩa: Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc là hợp đồng do
pháp luật qui định về điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm mà các bên phải có nghĩa
vụ thực hiện
Theo chế độ bảo hiểm bắt buộc, việc tham gia bảo hiểm và giao kết hợp đồng bảohiểm là nghĩa vụ mà pháp luật qui định đối với các pháp nhân và thể nhân có đối tượngbảo hiểm thuộc diện bảo hiểm bắt buộc Thông thường, nghĩa vụ giao kết hợp đồng bảohiểm bắt buộc còn được áp dụng đối với một số doanh nghiệp bảo hiểm Trong quan hệhợp đồng bảo hiểm bắt buộc thông thường pháp luật qui định điều kiện bảo hiểm và mứcphí bảo hiểm mà các bên có nghĩa vụ phải chấp hành
Theo qui định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm: Đối với nghiệp vụ bảo
hiểm bắt buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ qui tắc điều khoản, biểu phí hoặc khung mức phí bảo hiểm do Bộ Tài chính ban hành
Áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc là hiện tượng phổ biến ở nhiều nước.Chẳng hạn ở Nga từ thế kỷ XIX đã áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với một số tàicủa nông dân Sau năm 1930, nhiều nước Tây Âu và Mỹ áp dụng chế độ bảo hiểm bắtbuộc đối với ô tô, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Ở Việt Nam hiện nay, chế độ bảo hiểm bắt buộc chủ yếu áp dụng trong một số loạihình bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Có thể nói đối với hợp đồng bảo hiểm bắt buộc pháp luật có qui định rất chặt chẽ
và xét đến tính cần thiết của việc áp dụng đó để qui định việc triển khai hình thức này
Theo qui định của Chính phủ về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sựcủa chủ xe cơ giới nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của những người bịthiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra, đồng thời giúp chủ xe cơ giới khắcphục được hậu quả tài chính, góp phần ổn định kinh tế xã hội Tại điều cũng qui định:
doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới kể cả chủ xe là người nước ngoài sử dụng xe cơ giới trên lãnh thổ Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
Chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới gồm bảo hiểmtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe cơ giới gây ra đối với người thứ