1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thơ nguyễn duy từ góc nhìn văn hóa

105 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến những công trình sau: Lê Nin trong Bàn về văn học và nghệ thuật, đã yêu cầu văn nghệ mới của chúng ta trong đó bao hàm cả văn học phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp c

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất một công trình nào khác

Huế, tháng 09 năm 2013

Tác giả

Trần Thị Lệ Minh

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tác giả luôn nhận được sự chỉ bảo, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ Ban Giám Hiệu Trường THPT Số 1 Quảng Trạch và các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn:

Khoa Ngữ Văn, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Huế;

- Các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;

Đặc biệt, với tình cảm chân thành và kính trọng nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Trần Thái Học, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp

đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn

bè đã động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này.

Huế, tháng 09 năm 2013 Tác giả luận văn

Trần Thị Lệ Minh

iii

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

A MỞ ĐẦU 2

1 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 4

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 12

B NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 15

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ 15

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 15

1.1 Không gian thiên nhiên làng quê 15

1.1.1 Hình ảnh cây tre Việt Nam 15

1.1.2 Hình ảnh ánh trăng gắn với kí ức, kỉ niệm của con người 18

1.1.3 Hình ảnh mảnh đất quê hương- nơi cội nguồn của sự sống 21

1.2 Không gian văn hóa sinh hoạt làng quê 24

1.2.1 Văn hóa lễ hội 24

1.2.2 Văn hóa sinh hoạt, phong tục tập quán 30

1.2.2.1 Phong tục tập quán quê hương 30

1.2.2.2 Cuộc sống sinh hoạt làng quê 35

CHƯƠNG 2 40

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ 40

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 40

2.1 Hình tượng con người trong thơ Nguyễn Duy 40

2.1.1 Con người cần cù, chịu thương chịu khó 40

2.1.2 Con người lạc quan, yêu đời 46

2.1.3 Con người thủy chung, tình nghĩa 49

2.2 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy 55

2.2.1 Cái tôi hồn quê truyền thống 55

2.2.2 Cái tôi hồn phố hiện đại 60

CHƯƠNG 3 64

DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ 64

PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 64

3.1 Sự kế thừa và cách tân thể thơ lục bát truyền thống 64

3.1 Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ của Nguyễn Duy 65

3.1.1 Sự kế thừa 65

Trang 5

3.1.2 Sự cách tân 69

3.2 Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy 76

3.2.1 Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên 76

3.2.2 Biện pháp tu từ sáng tạo tài hoa 79

3.3 Giọng điệu trong thơ Nguyễn Duy 81

3.3.1 Giọng kể chuyện tâm tình 82

3.3.2 Giọng tếu táo, hài hước 86

C KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC

A MỞ ĐẦU

1 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, là linh hồn sức sống của mỗi quốc gia dân tộc Có thể thấy, trong thế giới văn minh văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng Một nền văn minh phát triển không thể thiếu sự định hướng của văn hóa Văn hóa bao gồm nhiều thành tố, trong đó có văn học Trong lĩnh vực nghệ thuật, văn học được xem là nhân

Trang 6

tố quan trọng kết tinh văn hóa Mỗi tác phẩm văn chương đều chứa đựng trong nó giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại Chính vì thế, văn học là thành tố quan trọng của văn hóa.

Quan hệ văn học- văn hóa là một vấn đề vừa có tính lí luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong nghiên cứu văn hóa, văn học, cũng như lí luận văn học Việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa lâu nay đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đề cập đến Song để soi chiếu vào các tác phẩm cụ thể, sự nghiệp sáng tác của một nhà văn cụ thể chúng tôi thấy còn rất ít Đề tài này vừa giúp hiểu những khía cạnh lí thuyết của quan hệ văn học – văn hóa, vừa giúp tìm hiểu bản chất của văn học, chức năng của văn học, góp phần nghiên cứu, lí giải văn học, nhìn nhận kinh nghiệm và thúc đẩy sự phát triển của văn học trong quan hệ với văn hóa từ việc khảo sát những sáng tác cụ thể của nhà thơ Nguyễn Duy

1.2 Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại Nguyễn Duy làm thơ khá sớm, nhưng đến năm 1973 ông mới được độc giả

biết đến với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ

rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt nam Từ đó Nguyễn Duy đã xuất bản nhiều tập thơ

sáng giá trong tiến trình thơ Việt Nam: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và

em (1987), Đường xa (1989), Về (1994),…Có thể nói, ông đã có những đóng góp

quan trọng cho nền thơ Việt Nam Những vần thơ của ông tác động mạnh đến trái tim người đọc, góp phần xây dựng trong tâm hồn người Việt hiện đại tình cảm yêu mến, quý trọng, nâng niu, gìn giữ bản sắc của dân tộc mình Trong tình hình xã hội hiện nay, khi thơ ca Việt Nam luôn phải vận động trong ánh sáng nhập nhòa giữa cũ

và mới, thơ Nguyễn Duy đã có những đóng góp tích cực cho việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

1.3 Trong nhà trường phổ thông hiện nay, việc khám phá đánh giá tác phẩm, nhìn nhận thành công của nhà thơ từ góc nhìn văn hóa còn mới mẻ Thơ của Nguyễn Duy đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường ở bậc phổ thông, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá, được công chúng yêu thơ đọc và bình phẩm Song phần lớn sự nghiên cứu đó chỉ mới ở mức độ xem xét giá trị hiện thực, chỉ tập trung khai thác những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật mà chưa chú ý nhiều đến yếu tố văn hóa thể hiện trong tác phẩm

Trang 7

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa có một

ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong thơ Nguyễn Duy giúp ta hiểu thêm vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, lịch sử, văn hóa Việt Từ đó, góp thêm một cái nhìn khái quát về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy Thấy được sự đóng góp và vị thế của Nguyễn Duy trong nguồn mạch phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại Đặc biệt vận dụng vào việc giảng dạy thơ Nguyễn Duy ở nhà trường phổ thông: hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức văn hóa được kết tinh trong tác phẩm văn học, chú ý đến yếu tố văn hóa trong văn học

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Vấn đề mối quan hệ văn hóa – văn học, có nhiều nhà nghiên cứu cả

trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã quan tâm đề cập tới Có thể kể đến những công trình sau:

Lê Nin trong Bàn về văn học và nghệ thuật, đã yêu cầu văn nghệ mới của

chúng ta (trong đó bao hàm cả văn học) phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp

của văn hóa dân tộc và thế giới, “văn hóa vô sản phải là sự phát triển lô gich của tổng số những kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách thống trị của xã hội tư

bả, của xã hội bọn địa chủ, của xã hội bọn quan liêu” [59, tr.192].

Hồ Chí Minh thường trăn trở, khuyên nhủ văn nghệ sĩ phải tìm hiểu sâu vốn

văn hóa dân tộc, làm sao để quần chúng nhân dân tiếp nhận được văn hóa: “Văn học và nghệ thuật phải luôn luôn tìm tòi những con đường để làm sao có thể diễn tả một cách chân thực hơn và chân chính hơn cho nhân dân nghe về những mối lo âu

và những suy nghĩ của nhân dân” [38, tr.68].

Trong Cùng bạn đọc, Trường Chinh cũng nhấn mạnh sự gắn kết hữu cơ

giữa thơ với văn hóa dân tộc: “…vì sao thơ lại có tác động to lớn như thế? Vì nó diễn tả một cách chân thật và rung động những tâm tư và tình cảm sâu sắc nhất của một giai cấp hoặc một dân tộc trong những thời kì lịch sử nhất định” [13, tr.299] Theo ông, “Văn nghệ của mỗi dân tộc phải là sự phản ánh, là sự thể hiện sinh động tâm hồn của dân tộc” [13, tr.22].

Phạm Văn Đồng cũng đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với văn học, vai trò của văn học nghệ thuật đối với việc tạo nên các giá trị

văn hóa: “Cái cao quí của một đất nước, một dân tộc là ở giá trị văn hóa Văn học,

Trang 8

nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị cao quí ấy” [46, tr.34].

Mikhail M.Bakhtin trong Một số vấn đề cần lưu ý khi nghiên cứu văn học

quá khứ trình bày: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học phải gắn bó chặt chẽ với

lịch sử văn hóa Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn bó với các nhân tố xã hội kinh tế, vượt qua đầu văn hóa Những nhân tố xã hội kinh tế tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung,

và chỉ thông qua văn hóa, cùng với văn hóa mới tác động tới văn học” [60, tr.361].

Trần Đình Sử trong bài viết Vai trò sáng tạo văn hóa của văn học, vai trò

sáng tạo ấy thể hiện rõ nhất trên bốn phương diện: 1/ Lấy việc sáng tạo, biểu hiện con người làm đối tượng trung tâm, văn học trước hết phát huy vai trò sáng tạo những mô hình nhân cách; 2/ Văn học có vai trò “phê phán văn hóa”; 3/ Văn học có vai trò lựa chọn văn hóa; 4/ Văn học có vai trò sáng tạo văn hóa [75, tr.891-892-893-894]

Đỗ Thị Minh Thúy trong Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học cho rằng:

‘‘Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị…tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân

tố đại diện cho văn hóa’’ [90, tr.239].

Phan Trọng Thưởng trong bài báo Văn hóa – văn nghệ, cho rằng: “Văn học

là một thành tố chính của văn hóa (…) gắn bó hữu cơ với văn hóa (…); sáng tạo văn học cũng có nghĩa là sáng tạo văn hóa Văn học luôn được xem là công cụ chuyển tải văn hóa, là phương tiện lưu giữ các giá trị văn hóa” [88, tr.76].

Trường Lưu trong Văn học trong hành trình văn hóa, khẳng định: “Sáng

tạo của lĩnh vực nghệ thuật nào cũng là một khâu trong toàn bộ đời sống văn hóa, nhưng nghệ thuật văn chương bao giờ cũng được xem như một lĩnh vực đặc biệt của nghệ thuật nói chung” [46, tr.34].

Trang 9

Phan Ngọc trong bài viết Về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, đã so

sánh mối quan hệ văn học – văn hóa của một số nước trên thế giới và đưa ra ý kiến:

“là người Việt Nam trong đó văn hóa thể hiện trước hết ở văn học” [53, tr.12].

Đỗ Lai Thúy trong Từ cái nhìn văn hóa, đã tiến một bước gần hơn với thực

tiễn nghiên cứu khi nhìn nhận, đánh giá một số tác phẩm văn học cũng như phong cách của một số nhà văn từ góc nhìn văn hóa [89]

Đặng Minh Hằng trong Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học khẳng

định: “Văn hóa góp phần tạo nên lịch sử dân tộc Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc, tức là đời sống và mọi mặt của dân tộc ấy thì lại đều được phản ánh trong văn học, và mặt khác, văn học đã góp phần tạo dựng nên nền văn hóa dân tộc và là tấm gương phản ánh nền văn hóa đó” [58, tr.693].

Cũng bàn về vai trò tác động trở lại của văn học đối với văn hóa, Đinh Gia

Khánh trong bài viết Văn học góp phần tạo nên những giá trị văn hóa hàng đầu

của dân tộc cho rằng văn học có vai trò sáng tạo văn hóa, đồng thời qua văn học,

những phạm trù có giá trị của văn hóa được bảo lưu và phát triển Từ đó, ông khẳng

định: “một trong những đóng góp quan trọng nhất của văn học đối với đời sống xã hội là góp phần tạo nên những giá trị văn hóa của dân tộc” [42].

Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết Văn hoá như là nguồn mạch sáng tạo và

và khám phá văn chương cho rằng: ‘‘Trong lịch sử vận động và phát triển của

văn chương, văn chương đặt trong mối liên hệ mật thiết, được so sánh đối chiếu khi thì với đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm hồn con người, khi thì với xã hội, tự nhiên, cuộc sống’’ [35].

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, nhiều ý kiến khác nhau bàn về văn hóa – văn học Tuy nhiên, các bài viết hầu hết đều còn đề cập đến mối quan hệ văn hóa – văn học một cách chung chung mà chưa gắn với những tác phẩm văn học cụ thể

2.2 Những bài viết, bài nghiên cứu về Nguyễn Duy, và thơ của

Nguyễn Duy:

2.2.1 Có thể nói người có công phát hiện và giới thiệu thơ Nguyễn Duy là Hoài Thanh Ông đã nhận ra “một thế giới quen thuộc” trong thơ Nguyễn Duy và cảm nhận được một điều “chừng nào anh đã nhìn ra cái hương vị cuộc sống xưa trên đất nước chúng ta” [81, tr.225-232]

Trang 10

2.2.2 Sau bài viết của Hoài Thanh mười năm, xuất hiện một số bài phê bình

nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy trên các báo và tạp chí: Văn học, Nhà văn, Văn nghệ, Tiền phong, Giáo viên nhân dân Có thể chia các bài viết này thành hai loại:

loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu biểu và loại bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy

2.2.2.1 Trong các bài viết về những bài thơ, tập thơ tiêu biểu của Nguyễn

Duy, các tác giả đã phát hiện được nét riêng độc đáo của từng tác phẩm Trong Hơi

ấm ổ rơm, Vũ Quần Phương cho là “tấm lòng thơm thảo, nhường cơm xẻ áo của nhân dân ta” [63, tr.154] Trong Đò Lèn, Trịnh Thanh Sơn cho là “những thước

phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt” [73, tr.14]; Đỗ Lai Thúy thì cho là sự “giải cổ tích hóa”, là

“cốt cách hiện đại” [89, tr.379-384] Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm “nỗi

ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người” [67, tr.162] Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đặng Hiển cho là “đã động thấu đến những tình cảm thiêng liêng

nhất, sâu xa nhất và thân thương nhất của chúng ta - tình cảm đối với mẹ” [36,

tr.34] Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã khẳng định đó là những biểu

hiện của “phẩm chất con người” [96, tr.289]

Tập thơ của Nguyễn Duy được nhiều nhà phê bình chú ý là Ánh trăng- tác

phẩm được nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn 1984 Nếu như Lê Quang Trang chú

ý đến sự thống nhất giữa những yếu tố đối lập và sở trường thơ lục bát thì Từ Sơn lại tâm đắc với chất hiện thực, chất dân tộc và những cảm xúc nồng nàn Nhận xét

về nội dung tập thơ, Từ Sơn viết: “Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài

thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh” [74, tr.2] Cùng ý kiến đó, Lê Quang Hưng đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về tập

thơ Ánh trăng: “Ánh trăng trước tiên vẫn là tiếng nói của một người lính, tiếng nói

tìm đến những người lính – những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện…Đúng như Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những đồng đội…” [40, tr.156] Trên cơ sở đó, Lê Quang Hưng chỉ ra sức hấp dẫn của tập

thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần

của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [40, tr.158] Đến với thơ Nguyễn Duy, nếu như Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân thể loại và

Trang 11

giọng điệu thì Lê Quang Hưng lại đối sánh Ánh trăng với các tập thơ trước đó của

ông để khẳng định đây là “một bước tiến dài” [92, tr.198- 212] Nhà thơ Tế Hanh

cũng có nhận xét khi đọc tập thơ Ánh trăng: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy

anh là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất” [33, tr.3]

Dù mỗi nhà nghiên cứu có những nhìn nhận đánh giá ở những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung những ý kiến trên đã chỉ ra: cảm hứng trong thơ Nguyễn Duy xuất phát từ sự trân trọng, yêu thương, phát hiện ra vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ đặc biệt là những gian khổ thấm đẫm máu, mồ hôi, nước mắt của người dân lao động Đó chính là sự trải nghiệm, là tâm sự của chính bản thân Nguyễn Duy

2.2.2.2 Trong các bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy của Hoài Thanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thụy Kha, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Quang Sáng, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Minh Tuấn, Phạm Thu Yến, các tác giả đều có khuynh hướng đi sâu tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Duy

Về phương diện đề tài, Nguyễn Quang Sáng nêu ý kiến: “ Trong thơ Duy có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [68, tr.91] Tế Hanh cho rằng: “Những câu thơ viết về anh bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất” [33, tr.3] Vũ Văn Sỹ có những nhận xét khá tinh tế:

“Nguyễn Duy thường nắm bắt những cái mong manh nhưng vững chắc trong đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân cua lấm tấm ruộng bùn, Và rồi hồn thơ Nguyễn Duy neo đậu được ở đó” [77, tr.69] Còn Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý nghĩa khái quát: “Bao dung nên giàu có” [56, tr.280] Nguyễn Đức Thọ chỉ chú ý một khía cạnh trong thơ Nguyễn Duy: “Có lẽ sau cụ Tú Xương, tôi chưa thấy ai ca ngợi vợ tài như Nguyễn Duy” [86, tr.82-90]

Về phương diện cảm hứng chủ đạo, Vũ Văn Sỹ đã mượn ngay câu thơ của Nguyễn Duy để kết luận về cảm hứng chủ đạo trong thơ ông: “Nguyễn Duy- người thương mến đến tận cùng chân thật” [77] Nguyễn Quang Sáng nêu nhận xét cụ thể hơn: “Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước mình bằng tình cảm rất cụ thể với

Trang 12

người dân Thơ Nguyễn Duy có niềm tự hào chính đáng về nhân dân mình, cùng với nỗi buồn thương chính đáng” [68, tr.97].

Phương diện được các tác giả quan tâm nhiều nhất và có ý kiến tương đối thống nhất là thể loại Lê Quang Trang khẳng định “Anh vốn là người sở trường về

sử dụng thơ lục bát” [92, tr.200]…Nguyễn Thụy Kha cho rằng: “Sẵn cái chất hóm hỉnh, dân dã, sâu sắc hơi chua cay chút chút, Duy quả là thiện nghệ trong cái trò

“6&8” này” [41, tr.204] Và nếu năm 1986, Lại Nguyên Ân còn e dè khi cho rằng:

“Ngay cả những bài lục bát, ta cũng thấy có cái gì bên trong như muốn cãi lại vẻ êm nhẹ mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống” [2, tr.11] thì đến năm 1999, Vũ Văn Sỹ đã mạnh mẽ khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hoá chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hoá, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [77, tr.74] Trần Đăng Khoa cũng đã chỉ ra sự đổi mới của Nguyễn Duy: “Câu thơ vừa phóng túng ngang tàng lại vừa uyển chuyển, chặt chẽ với một bút pháp khá điêu luyện Nguyễn Duy là người có công trong việc làm mới thể thơ truyền thống này” [43] Có thể thấy, mỗi tác giả đánh giá thơ lục bát của Nguyễn Duy ở một khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến này đều thống nhất cho rằng thơ lục bát Nguyễn Duy thực sự có vị trí cao

so với các sáng tác lục bát đương thời

Ngôn ngữ - vốn là một phương diện rất quan trọng trong việc tìm hiểu nghệ thuật thơ Nguyễn Duy nhưng lại chưa có sự thống nhất cao Theo Nguyễn Quang Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian” [68, tr.96], Phạm Thu Yến lại có ý kiến khác: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa

“ngôn ngữ đời thường” và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” [100, tr.79] Còn với Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ” [56, tr.283] Hồ Văn Hải thì khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục bát Nguyễn Duy” [30, tr.6 ]

Phương diện giọng điệu, nhìn chung có nhiều ý kiến chưa thống nhất, đặc biệt là “nụ cười khúc khích”, “sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương bướng”, chất “ngang tàng”, “tếu táo”, “bụi” trong thơ Nguyễn Duy từ những năm tám mươi đến nay Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu trong

Trang 13

thơ Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ tình Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương bướng” Với Lại Nguyên Ân, giọng điệu đó làm cho thơ tình “bớt đi cái tha thiết héo ruột héo gan vốn thường có ở những khí chất yếu, những tâm trạng

u sầu lối cũ” “tăng thêm cái khoẻ khoắn mạnh mẽ vốn là đặc điểm của con người

thời nay” [2, tr.11] Phạm Thu Yến thì cho rằng: khuynh hướng hài hước, trào lộng

là một trong những biểu hiện của thi pháp ca dao và đã nhẹ nhàng phê bình Nguyễn Duy đôi khi “quá đà”, khiến người đọc phải “ái ngại” [100, tr.76-82]

Trong các bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, thì bài viết Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân của Chu Văn Sơn là một bài viết công phu, cung cấp cho

người đọc một cái nhìn về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy Trong đó hai từ

“thảo dân” được dùng với nghĩa: “Cái từ xưa này đang được làm mới, với những sắc thái thú vị của thì hiện tại, bởi một phong cách ngôn ngữ mà Duy đang phải lòng- ngôn ngữ “cơm bụi” Từ đó biện giải “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân”, chỉ ra bản chất “thảo dân” ấy ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy [70, tr.38-53]

2.2.3 Như vậy, qua các bài nghiên cứu, phê bình thơ Nguyễn Duy nêu trên, chúng tôi nhận thấy: Các tác giả đã chỉ ra được một số đặc điểm nổi bật về nội dung, nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy Nhìn chung, những bài viết trên mới đi vào tìm hiểu một bài thơ, tập thơ hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào đó trong thơ Nguyễn Duy Hiện chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa Vì thế đó là phần đất trống mà chúng tôi hy vọng có thể khai phá Với luận văn này, chúng tôi hy vọng góp thêm tiếng nói tìm hiểu một cách có hệ thống về thơ của ông, chỉ ra nét đặc sắc của thơ Nguyễn Duy dưới góc nhìn văn hoá Tuy nhiên, tất cả những bài viết ấy đều

là những gợi mở quí giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng

Vận dụng mối quan hệ văn học – văn hóa để khai thác thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa, trên bình diện nội dung và nghệ thuật: không gian nghệ thuật, hình tượng nhân vật, phương thức thể hiện

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trong phạm vi của một đề tài luận văn, chúng tôi giới hạn khảo sát những

tác phẩm thơ của Nguyễn Duy đã được in ở trong các tập thơ: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Về (1994), Bụi (1997).

- Ngoài ra, để có cơ sở đối sánh, chúng tôi còn nghiên cứu tác phẩm của các nhà thơ khác Qua đó thấy được nét tương đồng và đóng góp riêng của Nguyễn Duy

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

4.3 Phương pháp so sánh

So sánh thơ Nguyễn Duy với một số tác giả khác để thấy dấu ấn văn hóa nổi bật trong thơ Nguyễn Duy Từ đó khẳng định giá trị của yếu tố văn hoá độc đáo đặc sắc trong thơ ông

Trang 15

4.4 Phương pháp điều tra phân loại

Văn hóa là khái niệm rộng và biểu hiện sinh động, đa dạng trong đời sống con người Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu những yếu tố văn hóa được thể hiện qua tác phẩm để từ đó rút ra những nhận xét thỏa đáng

4.5 Phương pháp liên ngành

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để soi chiếu thơ Nguyễn Duy ở nhiều góc độ và tìm ra những nét nổi bật nhất trong mối quan hệ văn hóa – văn học

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Luận văn chúng tôi là một công trình nghiên cứu có hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học thông qua thơ của Nguyễn Duy Tìm hiểu dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi muốn chỉ ra vai trò của văn hóa đối với văn học Đồng thời qua đó, ta sẽ hiểu rõ hơn về quan hệ giữa hiện thực lịch sử và sáng tạo văn học

5.2 Luận văn góp phần tìm hiểu, nghiên cứu thơ Nguyễn Duy dưới góc nhìn văn hóa Từ đó thấy được bản sắc riêng của thơ Nguyễn Duy trong tiến trình của thơ ca Việt Nam hiện đại Đồng thời chúng tôi muốn khẳng định sức sống văn hóa Việt trong xu thế hội nhập

5.3 Người viết cũng hi vọng từ những tư liệu và kết quả của luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Nguyễn Duy ở nhà trường phổ thông

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được triển khai trong ba chương:Chương 1: Dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ không gian nghệ thuật.Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ hình tượng nhân vật.Chương 3: Dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương thức thể hiện Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 16

Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Và đây là

khái niệm khá tiêu biểu của PGS- TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [82, tr.10].

Văn hóa là cơ sở, nền tảng cho văn học ra đời và phát triển Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hóa Thực tiễn cuộc sống và nền văn hóa dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn học nghệ thuật Hiện thực đời sống - nơi tiềm tàng những giá trị văn hóa vô cùng phong phú, luôn tác động tới nhận thức, tư tưởng nhà văn Nói cách khác, nhà văn kiếm tìm giá trị văn hóa từ hiện thực cuộc sống để tái hiện, tái tạo trong tác phẩm văn chương theo phong cách riêng Như vậy, một tác phẩm văn học ra đời là kết quả của sự khúc xạ, chưng cất các giá trị văn hóa Khi nói tới văn hóa của một dân tộc, người

ta không thể không nghĩ ngay đến nền văn học của dân tộc đó, bởi “văn học là một

bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa”

Văn học phản ánh, lưu giữ và sáng tạo văn hóa Thực tế cho thấy, văn học của bất kì dân tộc nào cũng đều phản ánh và lưu giữ văn hóa dân tộc đó Văn học như là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Không chỉ phản ánh văn hóa, văn học còn là sự hội tụ kết tinh các nguồn văn hóa Văn học, thông qua bạn đọc góp phần cải tạo, thúc đẩy văn hóa phát triển Văn học còn có vai trò sáng tạo văn hóa, làm phong phú gấp bội những tinh hoa văn hóa vốn có Văn học nơi chứa đựng những tư tưởng văn hóa, những nhận thức thẩm mỹ về muôn mặt của

Trang 17

đời sống con người của nhà văn Có thể nói, đằng sau những nhà văn lớn là cả một nền văn hóa của nhiều thế kỷ Văn học là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa.

Như vậy, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa và người đọc là một người hưởng thụ văn hóa Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội và sáng tạo văn học nghệ thuật là bộ phận quan trọng, nòng cốt của văn hoá Nó có khả năng truyền cảm mạnh mẽ và có sức sống lâu bền khi biết đi sâu vào tư tưởng đạo đức, đời sống bên trong của con người

Có thể nói, phương diện văn hoá trong văn học ngày càng được quan tâm bởi giữa văn hoá và văn học có mối liên hệ mật thiết Văn học phản ánh đời sống, thực chất cũng là một phán đoán về văn hoá Văn hoá là một phương diện bên trong quy định hành vi, suy nghĩ, cảm nhận của con người trong từng thời kỳ Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào chúng ta đều tìm thấy những biểu hiện của văn hoá trong đó Văn hóa và văn học đều phản ánh đời sống con người nên mọi lĩnh vực trong đời sống đều là đối tượng của văn hóa- văn học, trong đó con người là chủ thể

Trong phạm vi của luận văn, để làm công cụ cho việc triển khai vấn đề, chúng tôi đồng ý với cách hiểu về văn hoá theo định nghĩa của PGS.TS Trần Ngọc Thêm Theo cách hiểu này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu dấu ấn văn hóa qua sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy để thấy những giá trị văn hóa Việt kết tinh trong thiên nhiên, cuộc sống, và con người nơi đây Qua đó, khẳng định sức sống và

sự phong phú của văn hóa Việt Nam Từ nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa- văn học, chúng tôi tập trung khảo sát mối quan hệ đó trong thơ Nguyễn Duy ở những bình diện như đã nêu trong phần cấu trúc luận văn

Trang 18

CHƯƠNG 1 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

1.1 Không gian thiên nhiên làng quê

Trong tâm thức mỗi con người Việt Nam, sự gắn bó giữa con người và tự nhiên là một tất yếu của cuộc sống Không huyền bí cao xa, không bao la rộng lớn đến sơn cùng thủy tận đến hút cả tầm mắt, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy là những gì gần gũi mộc mạc nhất Thiên nhiên ở đây rất bình dị nhưng lại chở cả hồn thiêng của dân tộc, cả một bề dày văn hóa của quê hương Nếu không phải là văn hóa nông nghiệp lúa nước, cội nguồn của nền văn hóa dân tộc thì làm sao có những hình ảnh rất quen thuộc ấy Nhà thơ đã hướng mỹ cảm vào văn hóa dân tộc, mà trong đó thiên nhiên làng quê là một thành tố Điều đặc biệt, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy không chỉ đơn thuần là thiên nhiên khách quan mà đã trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo Hình ảnh thiên nhiên làng quê như ánh trăng, cây tre, mảnh đất với những đặc trưng rất riêng đã mang tính biểu tượng văn hóa độc đáo trong sáng tác Nguyễn Duy Trong sáng tác của mình, Nguyễn Duy không đơn thuần miêu tả vẻ đẹp bên ngoài của thiên nhiên Ông trải lòng mình với cảnh vật, soi chiếu thiên nhiên từ nhiều hoàn cảnh, nhiều chiều kích khác nhau, từ đó mang đến những ý nghĩa mới mẻ cho những hình ảnh vốn quen thuộc, mở ra cho người đọc những liên tưởng mới mẻ đầy thú vị Có thể nói, nền văn hóa Việt Nam với đặc trưng lớn nhất là văn hóa nông nghiệp đã được Nguyễn Duy phản ánh thông qua những bức tranh thiên nhiên bằng thơ Bởi vậy, tiếng thơ Nguyễn Duy đã đưa tâm hồn người đọc trở về với những giá trị văn hóa đã tỏa bóng hàng ngàn năm trong tâm hồn dân tộc

1.1.1 Hình ảnh cây tre Việt Nam

Bức tranh thanh bình của làng quê Việt Nam luôn gắn với những hình ảnh đặc trưng mang đậm sắc thái dân tộc: mái đình, cây đa, cánh cò, sáo diều, con trâu, luỹ tre Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn

bó máu thịt thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre trở thành hình ảnh thiêng liêng chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền,

Trang 19

có sự cộng sinh cộng cảm hơn cả Cây tre là nét đặc sắc nhất của Làng xã Lũy tre mang tính biểu tượng cho tinh thần tự trị, tự quản của làng Luỹ tre trở thành thành luỹ kiên cố của làng bất khả xâm phạm “đốt không cháy, trèo không được, đào không qua” Bao đời nay, lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa làng Cùng với việc bảo vệ chống tai hoạ đến từ bên ngoài, luỹ tre còn là một thứ ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, một cách biểu thị sự độc lập và bảo vệ tính riêng biệt độc đáo của làng…Chính vì vậy, hình ảnh lũy tre luôn có một vị trí nhất định trong đời sống tâm hồn của người dân đất Việt.

Cũng chọn cây tre làm đối tượng phản ánh, Nguyễn Duy đã khai thác và

miêu tả theo cách riêng của mình Cây Tre Việt Nam trong thi tưởng Nguyễn

Duy biểu tượng cho khí phách con người Việt được chắt lọc, kết tinh trong suốt

chiều dài lịch sử Đây là một phát hiện độc đáo, một đặc trưng nghệ thuật của

Nguyễn Duy và đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc Không kiêu hãnh

như tùng bách, không kiêu sa như các loài hoa hương sắc, loài tre mộc mạc, bình dị

mà có sức sống mãnh liệt: “Thân gầy guộc, lá mong manh/Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi/Ở đâu tre cũng xanh tươi/Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu” Vượt lên

những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đất sỏi, đất vôi,…tre vẫn thích nghi để xanh tươi, trường tồn, và dựng nên thành luỹ vững bền không sức mạnh nào có thể tàn phá huỷ diệt Đến lượt con người lại nhận ra sự tương hợp kỳ lạ giữa phẩm chất của tre với cốt cách của chính mình Tre không mọc riêng lẻ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre Phải chăng điều đó làm nên nét đẹp hài hoà của làng quê và con người Việt? Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt Người Việt dù ở đâu, vẫn sinh tồn, vẫn “xanh tươi” như sức sống của lũy tre làng Sự sống

bền bỉ của tre giống như sức sống bất diệt của con người Việt Nam: “Có gì đâu, có

gì đâu/ Mỡ màu ít, chắt dồn lâu hoá nhiều/ Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù” Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở

mọi vùng đất Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng

năng, chịu thương, chịu khó, bám đất bám làng.“Vươn mình trong gió tre đu/Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành” Cây tre hay hình ảnh và cốt cách người Việt chúng

ta Vượt lên nỗi vất vả nhọc nhằn và cả những đau thương, con người Việt Nam vẫn ngời sáng tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống

Trang 20

Hình ảnh của cây tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí Tre cùng người trải qua bao thăng trầm của lịch sử, trải qua bao cuộc chiến tranh giữ nước, giành độc lập tự do dân tộc Tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người

Việt Nam: “Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh/ Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm /Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm”, “Thương nhau tre chẳng ở riêng/ Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người/ Chẳng may thân gãy cành rơi/ Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng” Trong vô vàn những khó

khăn, tre vẫn truyền lại nguyên cái gốc cho con như bao thế hệ người Việt đi trước vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống đạo lý dân tộc Đó là tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, tình yêu thương đùm bọc, chia sẻ trong lao động, trong đấu tranh cũng như khi khó khăn hoạn nạn

“Tre già, măng mọc” đó là quy luật lẽ thường của tự nhiên Điều quý giá nhất là tre để lại “cái gốc” cho con, cũng như ý thức về tạo dựng, giữ gìn phát huy những truyền thống tốt đẹp đã được các thế hệ người Việt Nam vun đắp và truyền thừa, làm nên sức mạnh dân tộc Cũng vì thế mà dân tộc Việt Nam luôn kiên cường chiến thắng, không khuất phục trước kẻ thù ngoại xâm, vượt qua mọi thử thách với

ý chí tự chủ tự lực, tự cường, như loài tre “Không đứng khuất mình bóng râm”,

“Đâu chịu mọc cong”, từ khi sinh ra đã vươn thẳng và “nhọn như chông lạ thường” Phải chăng đó là một huyền thoại mà nhà thơ Nguyễn Duy đang kể với

chúng ta Huyền thoại về cây tre Việt Nam và cũng là huyền thoại về sức sống của con người Việt Nam từ ngày xửa ngày xưa cho đến hôm nay và mãi mãi về sau Cây tre trong thơ Nguyễn Duy vì vậy đã trở thành hình ảnh biểu tượng đẹp về khí phách kiên cường, bất khuất của người Việt Nam

Cùng viết về cây tre làng thân thuộc, nhưng nhà thơ Nguyễn Bính lại có một cách cảm nhận khác với Nguyễn Duy Trong thơ Nguyễn Bính, lũy tre làng - đó là

nơi gội mát, nuôi dưỡng tâm hồn con người: “Còn nhớ năm xưa đuổi bướm vàng/Mải vui quên cả nắng chang chang/Tuổi thơ ngây sống trong như mộng/Trong lũy tre xanh: Giới hạn làng” (Sống lại) Ông đã cảm nhận được từ lũy

tre một vẻ đẹp thanh khiết, một sự bình yên thanh thoát như nếp sống tự ngàn xưa của chốn làng quê Việt Nam Như một nguồn sữa của quê hương, lũy tre đã tiếp sức cho tâm hồn và vẻ đẹp của làng quê, tạo nên sức sống của làng quê thanh bình và

Trang 21

thi vị: “Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy /Bắt đầu là cái thắt lưng xanh” (Mùa xuân xanh) Dẫu được nhìn với cảm quan của người nghệ sĩ lãng mạn giai đoạn 1932-

1945 nhưng hình ảnh lũy tre trong thơ Nguyễn Bính còn mang dấu ấn văn hóa làng

xã dưới ý nghĩa của tính tự trị Trong khi Nguyễn Duy lại tập trung chú ý về tính cộng đồng của người Việt từ hình ảnh cây tre Như vậy, nếu hình ảnh cây tre trong thơ Nguyễn Bính giúp ta cảm nhận cái đẹp ở cảnh sắc, ở cuộc sống thanh bình chân chất mộc mạc ở làng quê thì cây tre xuất hiện trong thơ Nguyễn Duy giúp ta hiểu thêm về khí phách sức sống con người Việt Nam

1.1.2 Hình ảnh ánh trăng gắn với kí ức, kỉ niệm của con người

Cuộc sống của con người nông nghiệp luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, cho nên con người là một “tiểu vũ trụ” trong lòng “đại vũ trụ”, con người và đất trời

có thể hòa hợp với nhau trong mối tương cảm, tương thông (thiên - nhân tương dữ, thiên - nhân tương cảm) Con người tìm thấy ở thiên nhiên sự gần gũi, có mối liên

hệ mật thiết

Được nuôi dưỡng từ cái nôi văn hóa Bắc Bộ, Nguyễn Duy lớn lên trên mảnh đất với những cánh đồng lúa bạt ngàn thẳng cánh cò bay, những dòng sông chở nặng phù sa…Thế giới tự nhiên không biết tự bao giờ trở thành người mẹ nuôi dưỡng, chở che, là người bạn thủy chung với con người Có lẽ điều đó ăn sâu vào tâm thức nhà thơ như một lẽ tự nhiên, tự nhiên như hơi thở, khí trời Vì thế, ta có thể nhận thấy mảng màu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy không chỉ đơn thuần là thiên nhiên khách quan mà trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo Thiên nhiên trở thành người bạn thủy chung của con người Theo đó, vầng trăng cũng không

huyền bí xa lạ mà trở nên gần gũi, thân thiết với con người Vầng trăng (Ánh trăng)

của Nguyễn Duy là người bạn đường gắn bó với cuộc sống con người, cùng sẻ chia những niềm vui lẫn nổi buồn, cả hạnh phúc lẫn khổ đau Trăng gắn liền với kỉ niệm

thời thơ ấu ở làng quê: “Hồi nhỏ sống với đồng/với sông rồi với bể” Trong những

năm tháng gian lao nơi chiến trường, trăng thành người bạn chia sẻ ngọt bùi, đồng

cam cộng khổ mọi gian nan thiếu thốn, mọi buồn vui: “Hồi chiến tranh ở rừng /Vầng trăng thành tri kỉ” Trăng gắn bó sâu nặng với con người mà không trở lực

nào có thể ngăn cách Vầng trăng của Nguyễn Duy thật sự trở thành “tri kỉ” với người lính trong những năm tháng máu lửa

Trang 22

Trăng trong thơ Nguyễn Duy chính là hình ảnh thiên nhiên đẹp Thiên nhiên với tất cả những gì gần gũi, hồn nhiên, tươi mát Một thiên nhiên rộng lớn, khoáng đạt, chan hòa Một mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên và con người cũng được

mở ra Trong đó con người sống với thiên nhiên, sống giữa thiên nhiên và gắn bó máu thịt với thiên nhiên: “với đồng”, “với sông”, “với bể”, “với rừng” Trong không gian thân thương của làng quê, ta nhận ra niềm say mê, sảng khoái, hả hê của con người được chan hoà, ngụp lặn trong cái mát lành của quê hương Con người được hưởng cái mát dịu ngọt ân tình của thiên nhiên, hoà mình với thiên nhiên qua ánh trăng lai láng trên cánh đồng, dòng sông, bãi biển Trong sự cộng sinh chan hòa

ấy, con người tự nhận xét mình “hồn nhiên như cây cỏ” giữa mẹ tự nhiên, như là một bộ phận của Tự nhiên

Trong cảm quan của người nghệ sĩ Nguyễn Duy, thiên nhiên không chỉ là người bạn cùng chia sẽ buồn vui mà còn là chỗ dựa nâng đỡ tinh thần con người

Vẻ đẹp của thiên nhiên có khả năng vẫy gọi thiên lương con người Khi con người đến với thiên nhiên cũng là thời khắc con người nghiệm ra những bài học của cuộc sống, về tình người, về đạo đức, về lẽ phải, tìm lại nghĩa tình muôn đời của người Việt Bởi vậy, ánh trăng, với lí tính khách quan của nó - là mang đến ánh sáng mát

mẻ huyền diệu cho con người và cuộc đời, khi bước vào địa hạt thơ ca Nguyễn Duy

đã mang tính biểu tượng cho nguồn sáng thanh lọc tâm hồn con người

Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần truyền thống Một phần vô tâm đã lấn át lí trí của con người, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ Con người ta khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản của cuộc sống, đó

chính là tình cảm con người Người lính trong Ánh trăng cũng vậy Người lính đã

quên đi những năm tháng tưởng chừng không thể nào quên Đó là những ngày tháng gian khổ, những năm tháng chiến tranh ác liệt nhưng chan chứa nghĩa tình Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên nhiều chiến trường đã vô tình lãng quên quá khứ

Có thể nói, với mỗi chúng ta vầng trăng là một vật thể bình thường mà thiên nhiên, đất trời ban tặng- nguồn sáng trong đêm Nhưng với Nguyễn Duy, vầng trăng

Trang 23

không những là hình ảnh của quê hương mà nó còn là một quan toà lương tâm trong tận sâu thẳm tâm hồn nhà thơ Ánh trăng làm thức tỉnh con người Tình huống gặp lại trăng là bước ngoặt tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong tình cảm và suy nghĩ

của người lính với vầng trăng: “Vội bật tung cửa sổ/Đột ngột vầng trăng tròn”

Vầng trăng đến đột ngột đã làm sáng lên cái góc tối ở con người, đánh thức sự ngủ quên trong điều kiện sống của con người đã hoàn toàn đổi khác Ánh trăng soi rọi

tâm hồn, khiến con người bừng tỉnh: “Trăng cứ tròn vành vạnh/kể chi người vô tình/ánh trăng im phăng phắc/đủ cho ta giật mình” Đối diện với vầng trăng, con

người có thể nhận ra mình, nhận ra sự đổi thay của mình Trước vầng trăng, người lính “giật mình” nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống Cái

“giật mình” của người lính phải chăng là sự thức tỉnh lương tâm của con người? Chỉ

im lặng thôi “vầng trăng” đã thức tỉnh, đánh thức con người sau một cơn mê dài đầy

u tối Trăng níu kéo con người ta bên bờ vực trụy lạc, tha hóa Nó làm cho con người ta thức tỉnh, sám hối và giác ngộ, ý thức lại những điều Thiện- Ác trong bản thân mình và trong xã hội Nếu ai đó có lúc quên đi những điều thiêng liêng tốt đẹp của quá khứ thì phải có những lúc giật mình tỉnh thức trong hiện tại mới mong đạt được những ân nghĩa tốt lành ở tương lai Bởi đó là chân lí đã trở thành đạo lí sống thủy chung của người Việt ta: “Uống nước nhớ nguồn”

Nếu như trăng trong Đồng chí (Chính Hữu), Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận)

chỉ soi vào phần tươi đẹp cuộc sống con người, vào chính diện của cuộc đời, thì trăng trong thơ Nguyễn Duy lại soi rọi vào góc khuất tâm hồn của con người để thức tỉnh lương tri, giúp người ta biết sống ân nghĩa, thủy chung Thế mới biết sự cảm ứng và tương thông giữa con người với thiên nhiên kì diệu đến chừng nào Và đây cũng là một nét văn hóa đặc trưng của con người Việt Nam ta trong cách ứng xử với tự nhiên Thơ của Nguyễn Duy không chú tâm khai thác cái đẹp của trăng, nhưng ánh trăng trong thơ ông vẫn mãi làm day dứt người đọc - sự day dứt về những điều được

và mất, nên và không khi sống trong cuộc đời Ánh trăng thể hiện cái nghĩa tình muôn đời của người Việt cứ khắc khoải nơi đáy lòng của người đọc Ánh trăng như một tấm gương soi để con người thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng Bởi vậy, trăng trong thơ Nguyễn Duy thực sự là nguồn sáng thanh lọc tâm hồn con người

Trang 24

Vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn, bất diệt thể hiện vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của cuộc sống Vì vậy, con người cần phải có văn hóa khi ứng xử với tự nhiên, biết tôn trọng và sống hài hòa với tự nhiên Bởi tự nhiên cũng góp phần làm cho cuộc sống đẹp hơn gấp nhiều lần Đó có lẽ là thông điệp mà ta có thể nhận ra đằng sau những vần thơ về thiên nhiên của Nguyễn Duy Điều đó cũng lí giải vì sao những dòng viết về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy là những dòng trĩu nặng tình cảm ưu ái dành cho thiên nhiên.

1.1.3 Hình ảnh mảnh đất quê hương- nơi cội nguồn của sự sống

Đọc thơ Nguyễn Duy, người yêu thơ nhận ra chất quê mặn mà, đằm thắm trong những hình ảnh quen thuộc Trước Nguyễn Duy, đã bao người làm thơ về đất Hình ảnh đất xuất hiện trong thơ ca có lẽ vì chất thô mộc giản dị của cuộc sống đời thường mà nó tạo ra Nhưng trong thơ Nguyễn Duy, gắn với không gian thiên nhiên làng quê hình ảnh đất đã xuất hiện với tần số cao và có giá trị, ý nghĩa mang tính biểu tượng Chính chất thô mộc, giản dị, gần gũi với cuộc sống của người dân quê

mà hình ảnh đất đã tạo nên một nét riêng trong thơ Nguyễn Duy, thể hiện phong cách của nhà thơ

Xuất phát từ nét nghĩa gốc, đất là chất rắn làm thành líp trên cùng của bề mặt trái đất, hình ảnh đất trong thơ Nguyễn Duy đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ Đó là thế giới của sự thân quen bình dị, của sự tĩnh tại bất biến Ở đó, những giá trị tinh thần đã được ngưng kết lại, trường tồn cùng với thời gian Trong thơ Nguyễn Duy, đất là nơi qui tụ những vẻ đẹp đơn sơ mà kỳ diệu của thiên nhiên, cuộc sống con người Khi viết về thiên nhiên, ông thường quan tâm đến cây tre, cây sim, hoa lau, hoa lúa Những loài cây, loài hoa mọc lên từ những miền đất khô cằn khô cằn với vẻ đẹp không phô ra rực rỡ mà ẩn chìm trong sắc tím, trong thân gầy guộc lá mong manh Nguyễn Duy đã phát hiện đằng sau màu xanh vĩnh cửu của luỹ tre, sắc tím của hoa và vị thơm mọng của quả sim đều bắt nguồn từ sự chắt chiu màu mỡ ở những mảnh đất khô cằn Một dòng nước xanh tuôn lặng lẽ dưới hố

bom sâu kia với Nguyễn Duy là biểu hiện của: “Đau thương mấy vẫn ngọt lành bên trong” của đất mẹ (Đất đỏ nước xanh) Màu đất của con đường vắt ngang cánh

rừng Hướng Hoá như “cái đầu trọc lóc” vì bị bom dội trong mắt Nguyễn Duy là

“màu đỏ rực vắt ngang mây” (Con đường qua Bến Mới) Nguyễn Duy thấy trong

Trang 25

đất là hình ảnh của một nguồn sống dồi dào mãnh liệt:“Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào” (Đánh thức tiềm lực) Cái ngọt ngào chỉ có trong lòng đất Một nguồn lực mà con người cần phải cần cù, chịu khó lao động để tìm ra: “Cha cúi lom khom tìm gì trong đất kia? /- Cha đi tìm hạt gạo…”(Với đồng bằng) Hạt gạo nuôi sống con

người và đất tiềm tàng khả năng làm ra những hạt ngọc quí giá kia Nguyễn Duy thấy tiềm ẩn trong đất khả năng vô tận, nguồn sống dồi dào của đất Ở đây ta thấy

có sự gặp nhau giữa hình ảnh đất trong thơ Nguyễn Duy và ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa nhân loại Hình ảnh đất tượng trưng cho chức năng người mẹ, cho thiên tính nữ “ngọt ngào” Trong không gian thiên nhiên làng quê, đất đai luôn gắn

bó với mỗi người dân lao động Nhắc đến đất đai, đồng ruộng, người ta nghĩ ngay đến những người nông dân, những con người nơi đồng quê gắn cả cuộc đời mình với mảnh đất Đất đai và người nông dân có sự gắn bó dường như máu thịt

Trong thơ Nguyễn Duy, đất cũng chính là cội nguồn- là nơi khắc ghi muôn đời những vẻ đẹp bình dị nhưng rất đỗi thiêng liêng đối với mỗi con người Có thể

nói, gắn với hình ảnh của đất là hiện thực cuộc sống làng quê Việt: “Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất”, “Bao nhiêu thời vỡ đê trắng, mất đồng” (Đánh thức tiềm lực) Nguyễn Duy đã đưa người đọc đến với bức tranh làng quê, với cuộc sống

nghèo nàn đầy khó khăn, thiếu thốn Cùng những căn nhà vách đất là thiên tai, lũ lụt, hạn hán Cuộc sống mà ở đó kí ức tuổi thơ của mỗi đứa trẻ sống ở làng chỉ có

lấy vầy đất làm trò chơi, làm niềm vui của mình: “lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày”(Đánh thức tiềm lực) Cuộc sống nghèo nàn niềm vui của con người cũng toát lên một sự nghèo khó Đằng sau cái nhìn “cúi đầu xuống gặp chân mình lấm đất”(Trăng sông Tiền), đằng sau cái bàn chân lấm đất kia là cả một nổi ngậm ngùi

đến xe xót của người dân quê cho cảnh lam lũ, lấp lám “đầu trần chân đất” Đất cũng chứng kiến làng quê trong những năm tháng chiến tranh đầy nhọc nhằn đau

đớn: “Khói ngòm suốt dải Trường Sơn/ bom tuôn xuống đất đất tuôn lên trời” (Nắng) Đất trong thơ Nguyễn Duy là nơi giao tranh ác liệt giữa sự sống và cái chết

Tất cả phơi bày ra trên mặt đất, đất là nơi chịu nhiều thương tổn, bị xẻ dọc bị đào xới, là một nhân chứng cho sự khốc liệt của chiến tranh và cả sự chịu đựng hi sinh thầm lặng của người dân Cùng tồn tại mãi với thời gian, Đất cũng như một chứng nhân lịch sử chứng kiến tất cả sự kiện của lịch sử tâm hồn con người Lịch sử của dân tộc là lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, bởi vậy “trang sử đất” là

Trang 26

trang sử hiện lên “ngoằn ngoèo” những “trận mạc”, những trận địa, những chiến hào Ở đó, con người với sức mạnh của mình đã chiến đấu giành độc lập tự do cho

cả dân tộc Như vậy, Đất như cái nền vĩ đại để hiện thực cuộc sống khắc vào đó những vẻ đẹp không chỉ của thiên nhiên mà còn của con người Đất trong thơ Nguyễn Duy đó là thế giới của sự bất biến, vĩnh cửu, là nơi lưu giữ những kỉ niệm,

lưu giữ những gì tốt đẹp của con người: “cái năm tháng mong manh mà vững chãi/ con dấu đất đai tươi rói mãi nơi này” (Tuổi thơ) Dù là đi đến bất cứ nơi đâu, con

người vẫn luôn đứng trên bề mặt đất để tồn tại sinh sống Mỗi một mảnh đất đối với mỗi con người đều có một ý nghĩa riêng, một dấu ấn riêng Khoảng thời gian tuổi thơ của mỗi đời người, thời thơ dại với bao kỉ niệm dễ bị cuốn trôi đi theo thời gian, chìm vào trong quên lãng Nhưng cái năm tháng vốn mong manh dễ bị cuốn tan đi

ấy đã được lưu giữ trong từng thớ đất đai Đất đai, bởi vậy là biểu tượng cho sự trường tồn vĩnh hằng trước sự trôi chảy của thời gian

Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Duy là cuộc hành trình qua nhiều miền đất Nguyễn Quang Sáng đã yêu mến ví Nguyễn Duy như “một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài thì ở trong tàu lúc nào cũng nghe cái

gõ lộp cộp của nó, nó đòi đi” [67, tr.88] Và trong cuộc hành trình này, Nguyễn Duy không phải trong vai “người bộ hành phiêu lãng” (Thế Lữ) mà đã hoá thân vào đất đai, sông nước để diễn tả được “những cảnh sắc, thần thái riêng riêng” [67, tr.84] của từng miền đất Bởi vậy, Đất trong thơ Nguyễn Duy còn mang bản sắc riêng của từng miền quê Những dấu ấn riêng của từng làng quê đều lắng đọng trong hồn đất Cũng là đất “lặng im dưới chân ta”, nhưng trong thơ ông, đất mỗi miền quê hiện ra với những sắc thái khác nhau Nguyễn Duy đã viết rất hay về đồng bằng Bắc Bộ

Đây là đất Thanh Hoá, quê hương ông- nơi “chôn nhau cắt rốn” của nhà thơ: “vỏ ốc trắng những luống cày khô ải /bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua” (Tuổi thơ) Còn đây là đất Quảng Trị: “đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ / cơn gió lào rát ruột lắm ai ơi” (Đánh thức tiềm lực) Và đây là đất châu thổ sông Cửu Long: “đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển / cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi”(Đánh thức tiềm lực) Dường như trong mỗi câu thơ Nguyễn Duy viết đều lắng đọng “hồn”

của từng vùng đất, làng quê

Như vậy, đất hiện lên trong thơ Nguyễn Duy không chỉ là hình ảnh thiên nhiên thuần túy quen thuộc mà đã được nhà thơ “lạ hoá” bằng những nét nghĩa mới,

Trang 27

in đậm dấu ấn của bản thể cái tôi trữ tình Đất là biểu tượng lưu giữ hồn quê Đây thực sự là một thành công độc đáo của Nguyễn Duy bởi “từ một cái hữu hình mà nó thức dậy được những cái vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở ra được cả một cái diện không gian thời gian, trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” [39, tr.37] Đất trong thơ ông mang vẻ đẹp giản dị mộc mạc, là thế giới tĩnh tại và bình ổn Đất như cái nền vĩ đại để hiện thực cuộc sống khắc vào đó những vẻ đẹp đơn sơ mà kỳ diệu của thiên nhiên và con người Việt Nam Đất là nơi sâu thẳm lưu giữ hồn quê, bởi khi đến với Đất, hoà mình vào Đất, con người nhận được ở đất tình yêu thương, sự chở che nhân ái Từ tính biểu tượng của đất cũng cho thấy phong cách nhà thơ hướng về cội nguồn dân tộc, tìm về với những giá trị văn hóa truyền thống Nó thể hiện bản sắc tâm hồn của đất nước làm nông nghiệp, gắn bó với đất đai.

Tóm lại, hệ thống hình ảnh thiên nhiên của làng quê như cây tre, ánh trăng, mảnh đất…trong thơ Nguyễn Duy đã trở thành giá trị biểu tượng cho quê hương Đứng ở góc độ văn hóa của đời sống tâm linh những hình ảnh đó nói riêng và làng quê Việt Nam nói chung là ngọn đèn rực sáng trong tâm hồn bao thế hệ người dân Việt Nam, hướng những tâm hồn tự nguyện đi theo dòng chảy của những giá trị truyền thống mà tổ tiên ta cả ngàn đời nay khơi nguồn và dựng xây Tất cả những giá trị ấy được tạo dựng bởi một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, tinh tế, ở một tấm lòng tha thiết với cảnh vật, với làng quê Việt Nam Đọc thơ ông có thể cảm nhận được ý thức trân trọng tự nhiên, tình cảm ưu ái mà con người dành cho tự nhiên Thơ Nguyễn Duy lắng sâu trong lòng người bởi ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt Có lẽ vì vậy khi đến với không gian thiên nhiên làng quê trong thơ Nguyễn Duy, người đọc nào cũng thấy lòng mình dường như lắng lại

1.2 Không gian văn hóa sinh hoạt làng quê

1.2.1 Văn hóa lễ hội

Xã hội Việt Nam cổ truyền là xã hội nông nghiệp Chính đời sống nông nghiệp đã chi phối rất lớn đến những nhu cầu cần thiết trong đời sống hằng ngày của cư dân nông nghiệp Là những nông dân, sống với nghề trồng lúa nước nên nhu cầu về đời sống tâm linh trở thành nhu cầu lớn nhất đối với họ Lễ hội được hình

Trang 28

thành Lễ hội nuôi dưỡng đời sống văn hoá của cả cộng đồng, là nơi thắt chặt tình cảm bởi vì không ở đâu sợi dây vô hình liên kết giữa cá nhân và cộng đồng bền chặt như ở nơi đây Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Sinh

hoạt lễ hội có vị trí rất quan trọng “trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam Nếu cây đa giếng nước, sân đình là những thành tố gắn bó thân thiết với mỗi người từ thuở thiếu thời cho đến lúc giã biệt cõi đời, thì lễ hội lại là thành tố văn hóa gắn bó không những thân thiết mà vừa thiêng liêng, lại vừa mãnh liệt gần gũi” [9, tr.112]

Dường như lễ hội đã trở thành biểu tượng thiêng liêng cho một nét văn hóa đẹp ở làng quê Việt Nam; là một biểu tượng văn hóa in đậm nét trong thơ ca Thơ Nguyễn Duy đã tập trung tái hiện lễ hội dân gian truyền thống của dân tộc trên mảnh đất xứ Thanh Đó là lễ hội Đền Sòng-lễ hội văn hóa tâm linh vào loại lớn nhất của vùng quê Thanh Hóa

Lễ hội Đền Sòng xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân Việt Lễ hội để tưởng nhớ ngày Mẫu Liễu giáng trần cứu nhân độ thế, hay còn gọi là ngày “rước bóng Đền Sòng” Nguyễn Duy đã làm sống lại không khí ngày hội quê, ghi lại dấu

ấn trong thơ của mình Hồn thơ ông như bị hút vào không khí chung của làng quê

vào hội mùa xuân “Những ai có dịp sống ở làng, nhất là làng quê miền Bắc đều dễ

có cảm nhận rằng Hội làng là một lễ hội sinh động sâu sắc lôi cuốn mọi người vào cuộc vận động quần thể náo nức ấy một cách tự nguyện và say mê đến mức nào”… [98, tr.37] Toàn cảnh náo nức của lễ hội được tái hiện sinh động: “Phiêu bồng dạt ngã ba Bông/đền Hàn đền Thị đền Sòng đền quê /thần linh nườm nượp trở về” (Tôi

và em, và ) Không chỉ có vậy, Nguyễn Duy còn đưa ta trở về kí ức tuổi thơ đầy kỉ

niệm - về “thần hồn” của một vùng quê xưa Các địa danh thân thuộc của quê hương thân yêu từng gắn bó với tâm hồn của tác giả thời thơ bé, từng in dấu chân trong những ngày lễ hội được nhắc lại xiết bao nỗi ân tình: chùa Trần, đền Hàn, đền Cây Thị, đền Sòng…Nguyễn Duy đã gợi lên ở người đọc những rung động về cái hồn nhiên, trong sáng, ngộ nghĩnh của một cậu bé nơi làng quê trước đây: với đôi

chân đất của con nhà nghèo, vẫn háo hức trong mùa lễ hội "Đền Sòng thiêng nhất

xứ Thanh" (Tản Đà), giáp giới với tỉnh Ninh Bình thế mà chú bé vẫn lặn lội “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng” (Đò Lèn) Bàn “chân đất” đã trở thành hình ảnh không

thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát

Trang 29

lạnh đến vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi Đi hội, xem hội thực

sự là niềm hạnh phúc mê say với những ai đã trải qua năm tháng sống ở làng quê Nguyễn Duy đã cảm nhận được điều đó một cách sâu sắc bằng cả niềm vui sướng của chính mình

Có thể nói, lễ hội dân gian truyền thống đã được nhà thơ xứ Thanh ban cho

sự trường tồn trên những trang thơ Lễ hội Đền Sòng trong thơ Nguyễn Duy đã ghi dấu ấn biết bao nhiêu sinh hoạt văn hóa dân gian Nhưng cái hồn quê sâu đậm nhất làm nên khuôn mặt văn hóa của làng quê mà Nguyễn Duy đặc biệt nâng niu chính

là nghệ thuật hát Chầu văn Đọc Đò Lèn, gợi lên kí ức tuổi thơ của cậu bé Duy đắm

chìm vào những trò chơi; ngụp lặn trong miên man những tượng Phật, chùa Trần, đi

lễ đền Sòng, hay xem hát Chầu văn: “mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm /điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng” (Đò Lèn) Chẳng biết từ bao giờ, không chỉ

với cậu bé Duy mà cả du khách về dự hội đền Sòng đều bị cuốn hút và say hồn với những làn điệu Chầu văn Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu thánh của văn hóa thờ Mẫu Giai điệu của hát văn với ba hệ thống làn điệu riêng Cồn- Dọc- Xá, khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi:

“xanh xanh đỏ đỏ bừng bừng /tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời” (Cung văn)

Chính vì thế hát chầu văn luôn tạo ra một không khí tươi vui, háo hức, tưng bừng chứ không ai oán trầm lắng như ca trù Hát văn giống như những vũ điệu của thánh thần, dìu dặt và mê hoặc lòng người Dập dìu trên nền nhịp phách lúc ẩn lúc hiện; nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình…Điệu hát khiến cả cung văn cùng các con

nhang đệ tử như tỉnh như say trong sự hòa quyện đồng điệu: “phím dây từng bậc lên trời /rủ nhau quên tóc rối bời cỏ rơm” (Cung văn) Bởi vậy giai điệu tiếng đàn,

giọng hát Chầu văn có một sức quyến rũ đặc biệt với con người khi tìm đến với cõi tâm linh Chính sự gắn bó máu thịt với vùng đất xứ Thanh, thơ Nguyễn Duy hiện rõ từng cảnh vật, con người cùng bao giá trị văn hóa tinh thần hàng nghìn đời mà cha ông để lại Người đọc qua đó mặc sức mà ngắm nhìn, thưởng thức và rồi yêu thích thực sự nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của vùng quê thân thương này

Cũng như mọi lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội Đền Sòng diễn ra nhiều cuộc tế lễ, đặc biệt là lễ Rước bóng Mẫu, cô Bơ, cô Chín…lấp lánh vẻ đẹp nghệ thuật và tâm linh huyền bí Mùi hương hoa huệ cùng khói trầm bay đã gợi ra một không gian linh thiêng, không gian tâm thức, không gian cầu nối giữa cõi đời

Trang 30

phàm tục và cõi tâm linh huyền ảo Quyện trong mùi thơm của hoa huệ, điệu hát văn trầm bổng, sâu lắng là những giá đồng làm say lòng người Hoa huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn và bóng cô đồng “lảo đảo” dường như đã in sâu vào tâm hồn tuổi

thơ của Nguyễn Duy để rồi được khắc vào vần thơ Đò Lèn: “mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm/điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng” Đạo Mẫu quan niệm Thần

Thánh không hiện hình tướng mà chỉ có “bóng” Trong nghi thức hầu đồng, người ngồi đồng thể nhập vào trạng thái ngây ngất của tâm lý trong tiếng nhạc hầu để Bóng Thánh ngự vào Chính các màn diễn xướng này tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội Nó là sự thăng hoa từ đời sống hiện thực và trần

tục, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày Đời sống tâm

linh với người dân như một cõi riêng, một điểm tựa về tinh thần, để họ thoát tục, lãng quên phiền muộn trong đời thực, phiêu bồng vào cõi mơ ước Tính thiêng liêng của lễ hội hướng tâm hồn con người đến sự trong sáng đẹp đẽ; hướng con người về cái cao cả - chân thiện mỹ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng

Nếu ai có may mắn một lần được tham gia nghi lễ hầu đồng hẳn sẽ không khỏi trầm trồ thích thú trước trang phục và trang sức của các cô Đồng, bà Đồng mỗi khi thể nhập một vị Thánh Có bao nhiêu giá đồng thì tương ứng với ngần ấy bộ trang phục và trang sức đi kèm Hình ảnh các cô Đồng, cậu Đồng dường như càng

“đẹp” hơn trong các màn vũ đạo đặc sắc Ba mươi sáu giá đồng sẽ tương ứng với ba mươi sáu vũ điệu khác nhau Lễ hội thiêng liêng là vậy, nhưng lễ hội lại thấm đượm chất đời, tươi nguyên nhựa sống Giờ khắc lễ hội cũng là giờ khắc thăng hoa của

những con người đi hội, xem hội: “thần linh nườm nượp trở về/chắp tay lạy thánh tôi mê cô đồng” (Tôi và em, và ) Không chỉ bản thân người thể nhập “bóng

Thánh” - những người tham dự nghi lễ phấn khích, hào hứng mà người đi xem lễ hầu đồng cũng dường như càng xốn xang, càng náo nức đến phải “mê cô đồng”- những con người thật đang thác mình vào thế giới tâm linh huyền ảo, đưa con người hợp nhất với Thần linh

Thơ Nguyễn Duy đã miêu tả hội Đền Sòng trang trọng và sôi động, ẩn chứa

cả một hành trình văn hóa của một xứ sở Đó không đơn thuần là sự nhìn thấy và ghi lại, mà là kết quả của cả một hành trình văn hóa dân tộc lắng đọng trong tâm thức nhà thơ Âm hưởng thiêng liêng và rộn ràng của lễ hội Đền Sòng làm nên âm hưởng rộn ràng và thiêng liêng trong thi phẩm Nguyễn Duy Nếu lễ hội là nơi để

Trang 31

con người trở về với cội nguồn văn hóa cổ truyền, thì lễ hội trong thơ Nguyễn Duy chính là nơi bảo lưu và trao truyền các giá trị văn hóa đó cho muôn đời sau Thơ Nguyễn Duy tiếp tục khẳng định vẻ đẹp và ý nghĩa của cuộc sống con người không thể tách rời tâm thức và cội nguồn văn hóa dân tộc.

Một trong những lễ hội cổ truyền có sức sống mãnh liệt nhất từ xưa đến nay trong đời sống dân tộc, đó là lễ Tết Nguyên Đán “Tết là một lễ hội tưng bừng náo nhiệt, say sưa như một thứ bùa mê, nó cuốn hút hàng chục triệu người vào lòng nó một cách vui vẻ, tự nguyện êm ái” [69, tr.95- 96] Cho nên dù ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì người Việt Nam vẫn luôn nhớ lũy tre làng, nhớ cây đa, bến nước, sân đình, nhớ ngày lễ Tết Người dân Việt, nhất là những người ở nông thôn ngày xưa rất tha thiết với Tết Người ta đón Tết một cách nồng nàn, đợi Tết một cách trịnh trọng, và vui Tết một cách náo nhiệt hân hoan Trong thơ Nguyễn Duy, Tết là không gian văn hóa chứa đựng những giá trị tinh thần Ở không gian đó, những giá trị văn hóa dân tộc luôn được giữ gìn và nuôi dưỡng

Xuân về người ta vui với niềm vui ngày tết, với không khí rộn ràng chào đón mùa xuân Không khí đón Tết càng trở nên rộn ràng hơn trong thơ Nguyễn Duy Những vần thơ viết về Tết của Nguyễn Duy không nhiều nhưng đã mang tất

cả không khí đón xuân đầy nhộn nhịp, rộn ràng đến với người đọc: “Cả trần gian

tí tởn /đón xuân sang tưng bừng”(Pháo Tết) Sức xuân và không khí Tết cứ dâng

đầy, “tưng bừng” lan toả lung linh trong từng câu chữ Cùng với tiếng pháo nổ râm ran, sắc pháo bay lẫn trong sắc hoa đào tươi thắm khiến Tết như vui hơn,

không khí tết càng tưng bừng hơn trên những trang thơ Pháo Tết Mọi người như

quên đi những nhọc nhằn, gác lại những lo toan để vui đón Tết Với những câu thơ

ăm ắp sắc màu và hình ảnh, Nguyễn Duy đã gợi ra không khí tưng bừng, phấn khởi của con người trong ngày Tết Người đọc như bị cuốn hút vào dòng chảy của những vần thơ dồi dào bút lực, của những hình ảnh rực rỡ, tinh khôi thuần khiết trong ngày xuân quê nhà

Ở thơ Nguyễn Duy, dấu ấn văn hóa làng quê Việt Nam đặc trưng không chỉ

có hình ảnh sinh hoạt lễ hội dân gian, mà còn ở không khí của ngày Tết quê hương Cảm nhận không khí Tết của mỗi miền quê cũng để lại những cảm xúc cho Nguyễn Duy viết lên thành những vần thơ mộc mạc Nếu như Tết của miền Bắc là chút rét

Trang 32

cuối của mùa đông, gom chút lạnh để thêm phần ấm áp trong mỗi căn nhà, để quây

quần cả gia đình vui sum họp; thì Tết miền Nam lại khác: “Nắng chang chang cũng thịt mỡ dưa hành /cũng có một mùa đông trong tủ lạnh /quạt máy xua khói nhang bay đỏng đảnh” (Tết nam nhớ tết bắc) Xuân về ngập tràn nắng Người xa quê đón

Tết bằng sự chiêm nghiệm nỗi nhớ quê ngày Tết Mâm cơm Tết giữa tiết trời nắng

gắt vẫn đậm thói quen xưa với “thịt mỡ dưa hành”, “cũng có một mùa đông trong

tủ lạnh” như thể mùa đông đã về và tết đang gõ cửa Nhưng “thiếu cái gì mà tết cũng như chưa?” Phải chăng thiếu đi sự mặn mà đằm thắm sâu sắc của cái rét miền

Bắc hay thiếu một quê nhà ấm áp Với Nguyễn Duy, về quê ăn Tết là để chúng ta cảm nhận được hết những giá trị văn hóa truyền thống về Tết cổ truyền của dân tộc

mà trong đó không khí Tết là một trong những giá trị không thể thiếu Tìm về với không khí Tết ở ngay trên quê hương mình, phải chăng là tìm về với một nét văn hóa đã ăn sâu vào tâm cảm mỗi người như một phần không thể mất trong tinh hoa văn hóa dân tộc Đọc thơ Nguyễn Duy ta càng hiểu hơn ý nghĩa nhân văn cao đẹp

của ngày Tết quê hương Nói như Vũ Bằng: “về quê ăn Tết, đối với tất cả người Việt Nam là trở về nguồn cội để cảm thông với ông bà tổ tiên, với anh em họ hàng, với đồng bào thôn xóm; về quê ăn Tết tức là để tỏ cái tinh thần lạc quan ra chung quanh mình, tỏ tình thương yêu cởi mở và biểu dương những tinh thần, những kỷ niệm thắm thiết vì lâu ngày mà quên đi mất” [8, tr.254].

Bằng tiếng thơ của mình, Nguyễn Duy đã rất thành công trong việc diễn tả niềm khát khao được hưởng những hương vị ngọt ngào, đặc sắc của cái tết Việt Nam Có thể nói, lễ hội cổ truyền như một dòng nước mát lành, dịu ngọt chảy mãi

từ trong cội nguồn văn hóa dân tộc, xuyên suốt trong hành trình văn hóa Việt Nam cho đến hôm nay và mai sau Đọc thơ Nguyễn Duy, cùng những lễ hội cổ truyền đất Việt như: Lễ hội Đền Sòng, lễ Tết Nguyên Đán…ta như trở về với văn hoá dân tộc; tận hưởng những giây phút thiêng liêng, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng Và những vần thơ Nguyễn Duy thực sự đã đi vào lòng người đọc Việt Nam bởi vì nó đã chạm đến cái phần như là vô thức và vô cùng da diết trong mỗi người dân Việt

Trang 33

1.2.2 Văn hóa sinh hoạt, phong tục tập quán

1.2.2.1 Phong tục tập quán quê hương

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn hoá nông nghiệp Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương Bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cập đến một bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tục tập quán “Phong” là nền

nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục” là thói quen lâu đời Phong tục tập quán “là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội lâu đời, được đại đa số người thừa nhận và làm theo” [84, tr.143] Những phong tục tập quán ấy cũng góp phần hình

thành nên sự đặc sắc của văn hoá nông thôn, sự đặc sắc của văn hoá dân tộc

Tết Việt Nam chứa đựng và mang đậm bản sắc của dân tộc Đó là thời gian

mà những phong tục tập quán được thể hiện rõ nhất Trong thơ Nguyễn Duy, tết đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc rất dân tộc Mọi sinh hoạt phong tục của ngày tết đều được tác giả đưa vào thơ Có thể nói, bản sắc văn hóa được thể hiện đậm đặc qua những trang thơ viết về tết Với ý thức trân trọng và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, thơ Nguyễn Duy ghi lại những giá trị văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức qua bao thế hệ của người dân thôn quê

Người Việt Nam luôn hướng về ngày Tết với ý nghĩa thiêng liêng, trang

trọng Bên cạnh việc ăn Tết, nghỉ Tết bao giờ cũng gắn liền với thưởng Tết Trong

đó, thú chơi hoa cây cảnh ngày Tết đã trở thành một nghệ thuật, một nét đẹp gắn với bản sắc văn hóa dân tộc Nó không những thể hiện sự tinh tế của tâm hồn

người Việt, nó còn mang ý nghĩa sâu xa: Mùa xuân sẽ mang tài lộc đến cho con người Có thể nói đây là nét đẹp của lối sống con người hòa đồng với thiên nhiên Đào và Mai là hai loại cây gắn bó với Tết của người Việt Trong thơ Nguyễn Duy, ngày Tết ở vùng quê bị lụt dẫu nước lụt trắng đồng nhưng người dân quê vẫn có xôi

gấc, cành hoa đào đón Tết với bạn mình: “Bạn đón tôi hoa đào và xôi gấc” (Tết ở vùng quê bị lụt) Phải chăng những vất vả nhọc nhằn của cuộc sống đều lắng lại

trước ngày Tết thiêng liêng Và người Việt dù điều kiện vật chất thiếu thốn, khó khăn nhưng không vì thế mà họ kém đi lòng hào hiệp mến khách Tấm lòng mộc mạc nhưng đáng quí của người dân Việt vẫn thiết tha với tâm hồn thơ Nguyễn Duy Theo quan niệm người xưa, hoa đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa Màu đỏ

Trang 34

chứa đựng sinh khí mạnh mang lại sự may mắn, an lành, hạnh phúc và thịnh vượng cho gia chủ Cánh hoa đào màu hồng rực rỡ làm ấm cúng hơn không khí đón xuân, gieo vào lòng người niềm vui, hi vọng vào năm mới tốt đẹp Trong khó khăn, con người vẫn luôn hi vọng về một tương lai Thơ Nguyễn Duy đã ghi lại nỗi lòng ước

mong của bao người dân đất Việt từ sắc đỏ hoa đào: “Bạn ơi dù có thế nào/giữ cho nhau sắc hoa đào ngàn năm”(Dân ơi! ).

Tết Nguyên Đán cũng “là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần” [84, tr.151] Nhà nghiên cứu văn hóa Đào Duy Anh chẳng phải đã từng nói về truyền thống tốt đẹp này: “Người Việt lấy tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên làm gốc, nên bàn thờ gia tiên được chú ý trước hết” [1, tr.382] Ngày Tết, cho dù ở thành thị hay thôn quê, giàu sang hay nghèo khó, trên

bàn thờ của mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên Chùm quả

trong thơ Nguyễn Duy được coi là mâm ngũ quả lung linh sắc màu rực rỡ dâng

cúng tổ tiên trong ngày tết: “Qủa để ăn thì chín/Qủa để thờ thì xanh” Màu xanh

của quả chuối ứng với mùa xuân (hành mộc) Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy

nắng sương, những gì tinh túy nhất của mùa xuân để đọng thành quả ngọt: “nải chuối thật ngon lành” ở đây còn mang ý nghĩa che chở, bao bọc của đất trời, hứng lấy may mắn cho con người Tiếp đến, “Quả hồng ưng ửng chín cây /ủ cho đỏ thắm cái ngày tất niên” Qủa hồng được chọn để đặt trên mâm ngủ quả không phải là

“hồng ngâm xanh lét” mà phải mang màu “đỏ thắm” Màu đỏ của hồng ứng với mùa hạ (hành hỏa) Một thứ quả với màu sắc mạnh mẽ, mang cả ước mong của người dân về sự thành đạt trong cuộc sống Nói đến mâm ngủ quả, không thể không

kể đến quả phật thủ: “Tay Phật xoè ra thành vô lượng /bao la mặt đất bầu trời”

Màu vàng của quả phật thủ tượng trưng hành thổ nên được đặt ở giữa, trong lòng nải chuối Phật thủ là loại quả có mười cánh múi chụm lên như mười ngón tay nên dân gian gọi là tay Phật Phật thủ được trưng lên bàn thờ với niềm cầu mong được bàn tay Phật “xòe ra” ban phúc lộc, chở che cho số phận con người trong “bao la mặt đất” Với khát khao mong ước đó nên người dân Việt khi không tìm được quả phật thủ họ lại tìm đến quả bưởi chín vàng căng tròn mát lành, hứa hẹn sự ngọt ngào may mắn Màu xanh của chuối trộn lẫn màu đỏ của hồng và xen lẫn màu vàng của phật thủ sẽ tạo nên nét sống động cho mâm trái cây chưng trên bàn thờ ngày tết Chưng bày mâm ngũ quả trên bàn thờ của gia đình trong những ngày Tết mang ý

Trang 35

nghĩa giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo của dân Việt Ước vọng về một cuộc sống đầy đủ an nhàn, sung túc và hòa hợp như năm sắc màu của thiên nhiên trong ngũ hành Chính vì vậy, người dân Việt dù ở phương trời nào, đến ngày Tết cổ truyền vẫn không bỏ qua phong tục này, như một sự nhắc nhở cho bản thân và cho con cháu về cội nguồn của mình.

Người Việt Nam có câu: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, dù nghèo khó đến đâu người ta cũng cố gắng xoay xở, vay mượn để được ăn uống no đủ trong mấy ngày Tết Chính từ quan niệm về màu đỏ là màu phát tài và may mắn biểu trưng cho mặt trời, cho chất Dương trong vạn vật nên chẳng biết từ bao giờ, xôi gấc

đã không thể thiếu trong mâm cơm ngày Tết Cũng như câu đối hồng điều xưa dán trên hàng cột, như tấm phong bao mừng tuổi óng ánh trang kim trên nền giấy đỏ, đĩa xôi gấc gần như một thành phần đương nhiên phải có của lễ vật người trần dâng tới thần linh, tổ tiên với nguyện ước vuông tròn Dẫu nước lụt đến trắng cả đồng nhưng người dân quê vẫn cố gắng xoay xở cho mâm cơm ngày Tết được tươm tất vẹn tròn Cảnh ngày tết ở vùng quê bị lụt trong thơ Nguyễn Duy, bởi vậy ngoài

cành hoa đào còn có cả đĩa xôi gấc: “Lụt trắng đồng mà không trắng lòng/Bạn đón tôi hoa đào và xôi gấc” (Tết ở vùng quê bị lụt) Vào bữa cơm tất niên hay trên mâm

cỗ cúng gia tiên ngày đầu năm mới, người Việt thường chuẩn bị một đĩa xôi gấc như niềm tin món ăn ngày Tết sẽ mang lại nhiều hạnh phúc trong tương lai Một đĩa xôi gấc được đơm chỉnh chu, cân đối, đầy đặn trên mâm cúng ông bà tổ tiên ngày Tết không những tạo ra sự dung hòa và thuận lợi cho năm mới mà còn gửi gắm những giá trị tinh thần của ngày tết truyền thống của dân tộc Trong mâm cỗ Tết của người Việt ngoài những món ngon, dưa hành muối là món ăn không thể thiếu:

“Nắng chang chang cũng thịt mỡ dưa hành” (Tết nam nhớ tết bắc) Đĩa dưa hành

thể hiện văn hóa truyền thống của nước nông nghiệp, món ăn đã được gắn liền với Tết Nguyên Đán cổ truyền của người Việt từ ngàn xưa Ẩm thực truyến thống của người Việt trong ngày Tết là “thịt mỡ - dưa hành - bánh chưng xanh” Dưa hành là món ăn bình dị, dân dã của người Việt Nam Vị chua giòn thơm của dưa hành cùng miếng thịt mỡ béo ngậy đã đủ đánh thức vị giác, đánh thức không khí Tết đang về trên khắp mọi miền đất nước ta Đôi khi những người xa quê thèm một chút dư âm ngày Tết, tìm về quê hương chỉ để được ăn bánh chưng với món dưa hành chua chua, mằn mặn Chỉ thế thôi đã thấy đậm đà tình quê hương, đơn sơ mà bền chặt

Trang 36

gắn bó của người Việt Không chỉ để ấm lòng, món dưa hành ngày Tết còn là một nếp văn hóa thể hiện qua dấu ấn ẩm thực của người Việt.

Nói đến Tết cổ truyền của dân tộc không thể không nhắc đến một phong tục truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam - tục đốt pháo Theo phong tục việc đốt pháo đêm giao thừa có ý nghĩa xua đuổi tà ma, xua đuổi mọi ưu phiền rủi ro của năm cũ Tiếng pháo cũng là cầu nối năm cũ với năm mới, thỉnh cầu một năm mới hồng phúc với những điều tốt đẹp (tống cựu nghênh tân) Tiếng pháo giòn giã, mùi khét của pháo, xác pháo phủ khắp trên những con đường trong những ngày Tết đã

đi vào lòng người, đi vào thơ ca như một bức tranh ngày Tết Tú Xương cũng dành

cho pháo những nét yêu thương bằng bức tranh xuân sống động, gần gũi: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột/Lòe loẹt trên vách bức tranh gà” (Xuân) Tiếng pháo

gợi nhớ cả không khí tết của miền quê những năm đói kém trong thơ Nguyễn

Khuyến: “Năm ba ngày nữa tin xuân tới/Pháo trước nhà ai một tiếng đùng” (Chợ đồng) Đọc bài thơ Pháo Tết của Nguyễn Duy, tất cả chúng ta đều dâng lên một cảm xúc tiếc nuối khó tả về một thời xa vắng Pháo Tết làm người đọc chợt se lòng,

nhớ cái Tết ngày xưa Nhớ tiếng pháo đùng đoàng, rộn rã Nhất là đêm giao thừa

tiếng pháo nổ vang trời, mùi khói pháo ngợp mọi nơi: “tiếng pháo rền vang xa” Cứ

đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời rộn rã tiếng pháo:

“tiếng pháo rền vang xa”, “lập loè ánh hoả châu”, “khét lẹt mịt mờ mây”, “xác pháo dày vỉa hè” Ai ai cũng đều rộn ràng háo hức bởi tiếng pháo Thơ Nguyễn

Duy đã ghi lại nét văn hóa quen thuộc trong ngày Tết của người Việt từ thập niên

1990 trở về trước Tiếng pháo nổ đì đùng trong đêm giao thừa giờ đã trở thành một phần ký ức không bao giờ quên trong tâm trí những người đã đi qua tháng năm

Tiếng pháo tết ấy giờ chỉ còn trong hoài niệm Nhưng với Pháo tết, Nguyễn Duy

vẫn khiến người đọc giật mình bâng khuâng nhớ hương sắc Tết ngày xưa

Trong đời sống tâm linh của người Việt, tục đốt nhang (thắp hương) đã trở thành thuần phong mĩ tục và được gìn giữ lưu truyền qua nhiều thế hệ Tục đốt nhang cũng là phong tục đẹp trong ngày Tết cổ truyền dân tộc Nén hương đã đi vào đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam Những sợi khói nhang cuộn tròn, phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời; là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng Nén nhang thơm dâng đất trời

Trang 37

tiên tổ đã trở thành nét đẹp văn hóa người Việt: “Nén nhang khấn trời/Nén nhang khấn đất” (Thắp nhang và khấn) đem lại cho mọi người sự thanh thản, bình yên

trong tâm hồn Đối với người Việt Nam chúng ta, dù ở thành thị hay nông thôn, mỗi lần Xuân về, Tết đến mọi người đều thắp trên bàn thờ nhà mình một nén nhang để

tỏ lòng thành kính đối với ông bà Tổ tiên, để cầu nguyện an vui, hạnh phúc cho mọi

người: “tốt lành lời chúc sang xuân/Nén nhang bái tổ khấn thầm…dân ơi!” (Dân ơi! ) Là con người mang tình yêu quê hương sâu đậm, trước cảnh xóm làng bị

thiên tai lũ lụt, cái nghèo cứ đeo bám, nỗi vất vả hằn trên gương mặt khắc khổ của người dân quê, ông thấy thương vô cùng Ở mảnh đất Sài Gòn phồn hoa nhưng tâm trí nhà thơ lại hướng về quê hương với niềm đau đáu, khắc khoải, bồn chồn Nén hương thơm “bái tổ” mà ông thắp lên trên trang thơ ấy là cầu mong sự bình yên đến với người dân - những con người luôn được Nguyễn Duy yêu đến mức cắn răng mà đau, mà vọng tưởng

Không chỉ kết tinh trong những ngày lễ Tết, phong tục tập quán của người dân Việt còn thể hiện trong những thú vui ẩm thực thường ngày Đó là phong tục hút thuốc lào ở quen thuộc của làng quê Cùng với miếng trầu, hút thuốc lào thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của người Việt Hút thuốc lào làm cho người ta gần gũi, cởi mở với nhau hơn Nó cũng làm người ta ấm lên trong những ngày đông lạnh giá, làm nguôi vơi bớt nỗi buồn bởi họ hàng bạn bè làng xóm Và chính nó làm Nguyễn Duy lại nhớ về người cha thân yêu của mình Hình ảnh người cha và mùi thơm khói thuốc ngày xưa là một kỉ niệm khó quên

“ám” mãi trong lòng ông: “Tôi qua lắm núi nhiều sông/khói ngày xưa ám trong lòng còn cay” (Thuốc lào) Bằng những ngôn từ giản dị, Nguyễn Duy đã ghi lại

cái thú của việc hút thuốc lào Căn “nhà tôi” mà Nguyễn Duy vẻ lên trong thơ của

mình cũng dựng theo nếp sinh hoạt để tiện “ghé qua” mời nhau điếu thuốc: “Nhà tôi, đó không cổng và không cửa/Ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào/Cha tôi trổ rất nhiều cửa sổ/Gió nồm nam thoải mái ra vào” (Cầu Bố) Buổi sáng sớm ngủ dậy,

“rít” một điếu thuốc ngon, hớp một ngụm trà nóng mới cảm nhận được hết cái đê

mê, sung sướng Nguyễn Duy đã miêu tả cảm giác ấy bằng cả thơ của mình:

“Sớm mai đánh bệt trước thềm/Đứ đừ phun khói thuốc lên tận trời” Đó là cái lý

do mà nhiều người không sao bỏ được thuốc lào: “Nhớ ai như nhớ thuốc lào/đã

chôn điếu xuống lại đào điếu lên” Cách hút cũng là một nghệ thuật: “Rít còi phụt

Trang 38

khói rõ cao /trời lao đao đất lao đao lờ đờ/Ngẩng đầu đưa khói vào mây/nghênh ngang hiền triết điếu cày thăng thiên” (Thuốc lào) Từ bao đời nay, con người vẫn

dan díu, thuỷ chung đam mê hút thuốc lào Hút thuốc lào còn là sự thưởng thức, thể hiện nét văn hóa của người Việt Hơn thế, nó còn được nâng lên thành “nghệ thuật” đi vào thơ ca dân tộc

1.2.2.2 Cuộc sống sinh hoạt làng quê

Thơ Nguyễn Duy không chỉ phản ánh những phong tục đã trở thành nếp sống, mà cả những sinh hoạt của người dân quê một thời cũng được tác giả chiếm lĩnh và thể hiện Từ bữa cơm quê, đến công việc đồng áng, cuộc sống làng quê đều

là cảm hứng cho những tứ thơ ông Với người Việt, ăn uống là một văn hóa- “Văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên” [84, tr.187] Nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Việt

Nam bắt nguồn từ chính dấu ấn của nền nông nghiệp lúa nước Với Nguyễn Duy, trong bữa cơm quê hằng ngày của mẹ, hạt gạo là thứ không thể thiếu để nuôi sống

con người: “Mẹ ta vo gạo thổi cơm /Ba ông táo sứt lửa rơm khói mù” (Về làng)

Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, những năm đói kém mất mùa, cái đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên Con người phải đối mặt với hiện

thực, bát cơm quê lại được chiêm cả ngô và khoai mới đủ ấm lòng: “gạo chiêm ghế ngô gạo mùa độn khoai (Xó bếp), “Ta hiểu miếng ăn còn độn sắn độn ngô” (Khẩu súng trên tay ta) Nạn đói là một nỗi kinh hoàng với con người Củ dong, củ riềng

cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương trong hoài niệm tuổi thơ

của con người: “cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng” (Đò lèn) Trong bữa ăn

của bà với cháu chỉ là “củ dong riềng luộc sượng” thay cơm Câu thơ đưa người đọc đến với hiện thực đói khát, đến người bà ngày đêm lam lũ vì cuộc sống mưu sinh đời thường mà cũng chỉ bữa đói, bữa no Sự chân thực trong bữa cơm ngày đói được Nguyễn Duy miêu tả khiến người đọc không khỏi bồi hồi, rung cảm đến tận tâm can Trong thơ của Nguyễn Duy dấu ấn văn hóa ẩm thực Việt hiện lên qua

những bát canh rau đặc trưng mang đậm hương vị quê nhà: “râu tôm nấu với ruột bầu /húp suông…/cơm nếp cứ thơm canh cua cứ ngọt/con cá kho dưa quả cà kho tép” (Xó bếp) Món ăn tuy dân dã, bình dị, nhưng chứa đựng cả một giá trị lịch sử

và văn hóa Phải chăng nét đẹp của văn hóa ẩm thực Việt Nam đã bắt đầu từ những điều mộc mạc và giản dị như thế Không chỉ dừng lại giới thiệu ẩm thực Bắc bộ,

Trang 39

Nguyễn Duy còn đưa người đọc đến với ẩm thực của phương Nam trên những trang

thơ của mình Trong bài thơ Ông già sông Hậu, tác giả viết về món ăn người Nam

Bộ đãi khách rất đặc sắc, rất riêng: “Khoanh rắn hổ nướng vàng trên lửa rạ/thịt rắn

xé trắng ngần mâm lá sen xanh non” Mảnh đất phương Nam nơi nào cũng kênh

rạch chằng chịt, cộng thêm nhiều lùm cây, cỏ lác là nơi trú ẩn lý tưởng của những loài bò sát như rắn rùa, lươn Từ những loài bò sát đặc sản, người dân Nam bộ đã sáng tạo chế biến những món ăn mang đặc trưng hương vị của vùng quê sông nước

Món rắn nướng được coi là “khoái khẩu”, “điền giã” với giới lưu linh: “rượu trong veo, muối tiêu và ớt đỏ/chủ khách cụng ly ngay bờ cỏ chân cồn” Món thịt rắn

nướng còn giữ nguyên vị ngọt ngào, vị béo ngậy hòa lẫn mùi thơm của khói Đó là mùi vị thiên nhiên hoang dã nơi đồng quê sông nước được kết tinh, hòa quyện tạo thành một khẩu vị mang đặc trưng riêng Có thể nói, thời gian chảy trôi khiến con người hối hả bận bịu với những nỗi lo Cuộc sống cuốn con người theo bộn bề công việc, nhưng những lúc lắng lòng, một con người sinh ra từ làng như Nguyễn Duy lại nhớ đến cháy lòng các món ăn dân dã nơi làng quê Hương vị ngọt ngào của quê hương như thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn nhà thơ để rồi bật lên thành tiếng thơ ngọt lịm, trong trẻo Từ việc giới thiệu những món ăn của người Bắc Bộ đến những món ăn gắn bó thân thiết với con người vùng sông nước Nam Bộ, thơ Nguyễn Duy

đã làm thức và sống lại tình quê ấm áp yêu thương trong mỗi con người

Nói về dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy, không thể không nói đến cuộc sống sinh hoạt làng quê Một trong những đặc điểm của xã hội Việt Nam cổ truyền

là dựa trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp lúa nước, với tổ chức xã hội nền tảng là làng Trong tâm thức người Việt, văn hóa làng xã là một yếu tố rất quan trọng Nói đến văn hóa sinh hoạt làng quê là nói đến những tập quán sinh hoạt đã trở thành nếp, thành thói quen được lưu giữ từ xưa đến nay

Cuộc sống sinh hoạt làng quê xuất hiện trong thơ Nguyễn Duy đã có giá trị

như những biểu tượng văn hóa trong thơ “Có một văn hóa làng xã rất quan trọng trong tâm thức người Việt” [54, tr.243] nên dấu ấn về sinh hoạt làng quê đã in dấu

khá rõ vào thơ Thơ Nguyễn Duy như một bức tranh tổng hợp về cuộc sống sinh hoạt làng quê mà bề sâu của nó là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Một bức tranh

về mùa gặt ở nông thôn miền Bắc những năm hợp tác hóa nông nghiệp đã đi vào

thơ Nguyễn Duy bằng những đường nét không thể lẫn Bài thơ Tiếng hát mùa gặt,

Trang 40

là một khúc hát sinh hoạt mùa màng của thôn quê: “Gió nâng tiếng hát chói chang/Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời” Cùng với cái nắng chói chang, là

những lưỡi liềm hái cần mẫn “liếm ngang chân trời” Chưa hết, không gian mùa gặt

còn mở ra ở trong thôn xóm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình” Những náo nức của mùa gặt đã đánh thức cả ánh trăng vốn

tĩnh lặng Dưới ánh trăng, trong nhịp máy quay rộn rã, những hạt lúa chín mẩy chảy tràn trông như thể “vàng tuôn” Vẻ đẹp của ánh trăng ngàn đời nơi thôn dã đã gặp

gỡ vẻ đẹp của sự no ấm đời thường Không khí lao động những ngày mùa cũng vô cùng tất bật, hối hả nhưng vui vẻ, hứng khởi tràn trề bởi một vụ lúa bội thu Từ cảnh gặt lúa trên cánh đồng cho đến cảnh tuốt lúa trong đêm trăng và cả cảnh phơi thóc, tất cả tạo nên không khí đầm ấm thanh bình ở chốn thôn quê khi mùa gặt đến Nhà thơ đã đưa bức tranh mùa gặt chút không khí của hội hè Cùng viết về không khí ngày mùa nơi thôn quê, nhà thơ Thu Bồn lại nhớ đến tiếng chày giã gạo nhịp nhàng vang động rộn rã xóm thôn Ông tả cảnh tuốt lúa, phơi ngoài cót, và những

cử chỉ quen thuộc của người nông dân bên hạt lúa: “Lúa đã chắc chưa em ngồi ăn trắc…/ Dưới ánh mặt trời em gằn em sảy” (Tiếng chày) Nếu thơ Nguyễn Duy đưa

ta trở về với nếp sinh hoạt của làng quê làm nông, thì trong thơ Thu Bồn người đọc còn tìm thấy bóng dáng của những miền quê dâu, tằm, tơ, lụa Âm thanh của những

làng dệt tạo ra một nét đặc trưng riêng: “Tiếng thoi dệt trên bờ Tư Phú/Dải lụa vàng phơi trên cát vàng tơ” (Mùa xuân về quê mẹ) Cùng với những nong tằm đang

lớn dần trong đêm để sớm mai nhả tơ vàng lấp lánh, là âm thanh rào rào râm ran của khung cửi, máy dệt dưới sự điều khiển của người thợ chăm chỉ sớm khuya Âm thanh gợi lên nhịp sống sinh hoạt làng quê Với Thu Bồn, nó in sâu trong kỷ niệm tan chảy thành những vần thơ thật đẹp

Trong thơ Nguyễn Duy, đằng sau cảnh sinh hoạt thanh bình, yên ả là bóng dáng của một miền quê nghèo cực Cảnh sinh hoạt làng quê được tái hiện thường gắn liền với những vất vả, nhọc nhằn Đọc thơ Thu Bồn, hình ảnh miền quê nghèo hiện rõ trong ngôi nhà của mẹ Những ngôi nhà xây bằng “đất sét, phên trét phân trâu”, những mảnh liếp gầy che luồng gió thổi gợi niềm thương mến thiết tha mà quặn thắt Và cái màn khói đen đặc của bếp lửa thổi bằng rơm trấu chứ chẳng phải

là khói lam chiều quen thuộc: “Căn nhà ta ở/ Khói đen/ Lập lòe ngọn lửa mới nhen”(Quê hương) để rồi: “Đi suốt nụ cười, phía sau tay bắt/ Vẫn lan man cùng

Ngày đăng: 04/12/2014, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
2. Lại Nguyên Ân (1986), “Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình”, Báo văn nghệ, (15), tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình”, "Báovăn nghệ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
3. Lại Nguyên Ân (2004), “Nhà quê và thơ lục bát”, Báo Văn nghệ, (1+2), tr. 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà quê và thơ lục bát”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2004
4. Lại Nguyên Ân (2004), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
5. M. Bakhtin (1990), Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của khoa học văn học
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1990
6. M. Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Trần Lê Bảo (2009), “Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học”, "Tạp chíNghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2009
8. Vũ Bằng (2006), Thương nhớ mười hai, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thương nhớ mười hai
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
9. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hóa dân gian Việt Nam- những suy nghĩ, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam- những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NxbVăn hóa Dân tộc
Năm: 1999
10. Trần Hòa Bình- Lê Dy -Văn Giá (2003), Bình văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình văn
Tác giả: Trần Hòa Bình- Lê Dy -Văn Giá
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá- Thông tin
Năm: 2001
12. Khánh Chi (1994), “Với Nguyễn Duy- những bài thơ lục bát là phần quí giá nhất của mình”, Báo Đại đoàn kết, (43), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với Nguyễn Duy- những bài thơ lục bát là phần quí giá nhất của mình”, "Báo Đại đoàn kết
Tác giả: Khánh Chi
Năm: 1994
13. Trường Chinh (1997), Tuyển tập văn học- tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học- tập 2
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
14. Ngô Thị Kim Cúc (1997), “Như hạt- bụi- người”, Báo Thanh niên, (193), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Như hạt- bụi- người”, "Báo Thanh niên
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 1997
15. Nguyễn Văn Dân (2004), “Tiếp cận văn học bằng văn hóa học”, Tạp chí Văn học (số11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học bằng văn hóa học”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
16. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
17. Nguyễn Duy (1973), Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát trắng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1973
18. Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
19. Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và em
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1987
20. Nguyễn Duy (1989), Đường xa, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường xa
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1. Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ của Nguyễn Duy - thơ nguyễn duy từ góc nhìn văn hóa
3.1. Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ của Nguyễn Duy (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w