Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông Nam Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về với thời những lưu dân Việt đi mở đất phương Nam, phản ánh
Trang 1sử văn học Việt Nam nhờ biết khai thác bản sắc độc đáo của văn hóa vùng miền, trong
đó, nổi tiếng hơn cả trong thế kỷ trước là Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Giá trị tác phẩm của hai nhà văn này được nhiều người nhận định trước hết là ở chỗ gắn bó sâu sắc với vùng đất quê hương qua việc phản ánh chân thực hình ảnh thiên nhiên và con người vùng đất phương Nam của Tổ quốc
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc là hai nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ sau 1945, sau thời đại của những nhà văn như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, một người ở miền tận cùng của đất nước mênh mang sông rạch, một người thì ở vùng đất rừng khô cằn, buồn tẻ Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông Nam Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về với thời những lưu dân Việt đi mở đất phương Nam, phản ánh thiên nhiên, cuộc sống và con người nơi đây với những nét độc đáo của riêng vùng đất Nam Bộ Trong lối cảm, cách nghĩ và nhất là văn phong của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cũng mang đậm chất Nam Bộ
Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, ghi nhận những cống hiến thầm lặng của họ trong việc thể hiện hình ảnh đất và người phương Nam, vì thế, có ý nghĩa góp phần trong việc nghiên cứu những thành tựu của văn học Nam Bộ trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, luận văn viết về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc nhưng chưa có công trình nào chuyên sâu về thể loại truyện ngắn của hai ông trong quan
hệ với đề tài văn hóa Nam Bộ Mặt khác, nhiều công trình chỉ mới nghiên cứu tổng quát các nhà văn Nam Bộ nói chung hoặc riêng lẻ về nhà văn Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc chứ chưa nghiên cứu hai nhà văn này trong thế liên hợp đối sánh Việc nghiên cứu
Trang 2chung cả Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không chỉ nhằm làm sáng tỏ những điểm tương đồng giữa họ về sự phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn cho thấy phong cách riêng của mỗi nhà văn trong nội dung cũng như hình thức thể hiện văn hóa miền Tây và miền Đông Nam Bộ
Tiến trình khẩn hoang vùng đất phương Nam góp phần mở ra vận hội mới cho dân tộc Những lưu dân thời mở cõi đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu để biến đất hoang thành ruộng đồng phì nhiêu, rồi chính họ lại tiếp tục dấn thân trong những cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm, gìn giữ nền độc lập của Tổ quốc, để đất nước được hòa bình, thống nhất, vững vàng đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hôm nay Do đó, việc nghiên cứu truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không chỉ
có ý nghĩa về mặt văn chương mà còn cả về mặt văn hóa nữa Tác phẩm của hai nhà văn này được dạy ở cấp phổ thông trung học, đại học và được đông đảo độc giả trong và ngoài nước yêu mến, chắc chắn sẽ góp phần giới thiệu văn hóa Nam Bộ như một phần quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hoá học
2 Lịch sử vấn đề
Trước và sau năm 1975, chủ yếu là ở miền Nam, các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo đã viết rất nhiều về cuộc đời và tác phẩm của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Tuy nhiên, phần lớn những bài viết đó chỉ mới ở dạng thẩm bình, cảm nhận chứ chưa nghiên cứu một cách có hệ thống về tác phẩm của hai nhà văn nói chung, truyện ngắn của họ nói riêng
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Sơn Nam
Trước năm 1975, việc tìm hiểu Sơn Nam chủ yếu mang tính chất giới thiệu chung, đáng kể nhất là nhận xét của nhà báo Nguiễn Ngu Í và nhà phê bình Tạ Tỵ
Nguiễn Ngu Í trong Sống và viết với… khẳng định vị trí của nhà văn Sơn Nam: “Sự nghiệp văn chương của anh cũng khá vững và có những nét độc đáo Bây giờ, hễ nói đến miền Nam thì người ta nhớ ngay đến Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam Còn với anh em văn nhân toàn quốc, anh cũng “có hạng” [96, tr.206]
Trang 3Khi nghiên cứu Sơn Nam, nhiều người chú trọng tới giá trị nội dung trong tác
phẩm của ông, nhất là hình ảnh thiên nhiên và con người Trong Mười khuôn mặt văn nghệ, Tạ Tỵ đã nói về Sơn Nam như sau: “Càng đọc anh, chúng ta càng nhận thấy rõ rằng thân phận con người Việt Nam được phản ánh qua những khung cảnh khắc khổ của thiên nhiên, của xã hội, cái thiên nhiên và xã hội dưới thời nô lệ như a tòng với nhau
để đè nén con người.” [249, tr.244]
Sau 1975, tác phẩm của nhà văn Sơn Nam được đưa vào giảng dạy ở bậc trung
học phổ thông với truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh hạ
Trên lĩnh vực xuất bản, có nhiều bài viết giới thiệu về Sơn Nam, như lời “Tựa”
của nhà thơ Viễn Phương viết cho tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, ông viết: “Đọc Hương rừng Cà Mau, đồng bào hiểu thêm được về thiên nhiên, về lịch sử, về đời sống, về con người của vùng đất xa xôi, huyền bí này Bàng bạc trong những trang sách này là một tình yêu quê hương đậm đà, đằm thắm.” [352, tr.2]
Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Lời giới thiệu” tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, tái bản năm 1998, thì cho rằng: “Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam là một quyển cảo thơm viết về những mảnh đời thường của đất, của nước, của rừng, ruộng và của những số phận con người tưởng chừng rất tầm thường nhưng dưới ngòi bút Sơn Nam đã vụt hiện thành những điểm sáng, lấp lánh trên bức tranh sơn thuỷ của miền cực Nam Tổ quốc.” [372, tr.4]
Trong “Lời giới thiệu” quyển Hồi ký của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ đã khẳng định: “Gần 60 năm cầm bút, trải qua bao thăng trầm vất vả, ông đã có một số lượng tác phẩm thật đồ sộ: gần 300 truyện ngắn, hàng chục tập sách biên khảo về người và đất Nam Bộ Ông thật xứng đáng với danh hiệu cao quý mà bạn đọc xa gần phong tặng: nhà Nam Bộ học.” [363, tr.3]
Lê Minh Đức trong “Lời giới thiệu” tập 26 truyện ngắn của Sơn Nam, cho rằng:
“Những cuốn sách và những bài báo của Sơn Nam đã giúp người ta đi trở lại những ngày đầu khai phá tìm hiểu những điều kiện thiên nhiên và xã hội của cuộc sống trong vùng, có khi cách nay nhiều thế kỷ, về cách thức làm ăn và sinh sống của con người những thời kỳ ấy.” [323, tr.3]
Trang 4Trong “Lời giới thiệu” cuốn Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa & Văn minh miệt vườn của nhà văn Sơn Nam, có đoạn viết: “Nói đến tác phẩm Sơn Nam là nói đến chủ đề Nam kỳ Lục tỉnh, về đất, về người, về lịch sử khẩn hoang và phát triển của Nam Bộ.” [356, tr.4]
Trong phần “Lời giới thiệu” của tập truyện ngắn Hai cõi U Minh, có đoạn viết:
“Truyện của Sơn Nam biểu lộ xu hướng đi sâu viết về người nông dân Nam Bộ, đặc biệt
là miền Tây Nam Bộ, từ Hà Tiên tới mũi Cà Mau, tức là miền đất được khai phá sau cùng.” [344, tr.5]
Trong “Lời giới thiệu” của cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam, có đoạn viết:
“Ngay từ những năm trước giải phóng, khi đất nước còn chia cắt, nhà văn Sơn Nam, bằng kinh nghiệm sống, với ưu thế tìm tòi, chắt lọc trong vốn tư liệu quý và trong cái cô đơn tìm lối dẫn về cội nguồn, về quá trình thiên di, sinh cơ lập nghiệp của lưu dân Việt trên vùng đất mới phía Nam ngót ba thế kỷ qua.” [339, tr.4]
Trong bài “Sơn Nam, nhà văn của vùng đất mới Nam Bộ”, Nguyễn Trọng Tín
nhận xét: “Nhà văn Sơn Nam là một trong hai người còn lại hiểu biết nhiều về Nam
Bộ Ông có nhiều cống hiến cho văn chương và là người đứng đầu trong số các nhà văn Nam Bộ Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn rất nhiều công trình khảo cứu về văn hoá Nam Bộ Đặc biệt, ông là người hiểu biết quá trình hình thành dải đất Nam Bộ
Từ hiểu biết uyên bác đó, ông lại thể hiện bằng những trang viết rất giản dị khiến nhiều tầng lớp độc giả đều đọc và dễ hiểu tác phẩm của ông.” 1
Còn trong bài viết “Những trang hồi ức về văn hoá của Sơn Nam”, Nguyễn
Trung Quốc có nhận xét: “Sơn Nam có vốn sống thật phong phú, có thể gọi ông là nhà Nam Bộ học Khi nhắc tới vùng đất ấy, ngòi bút Sơn Nam sinh động hẳn Hồi ký của ông cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu quý về vùng đất trù phú về lúa, cây trái, phong phú
về văn hóa dân gian.” 2
Trang 5Nguyễn Mạnh Trinh trong “Sơn Nam, ông già Ba Tri của đồng bằng Nam Bộ” đã
khẳng định: “Sinh hoạt một thuở của những người di dân Nam Bộ được sống lại trong Hương Rừng Cà Mau.” 1
Trong “Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học (Phỏng vấn người Sài Gòn)”, Phan
Hoàng đã viết: “Tất cả đã tạo nên tên tuổi Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học mà sự nghiệp gắn liền với vùng đất mới, trù phú và đầy hào khí Với ông, đi và viết như một nhu cầu sinh tồn Cho đến thời điểm bước vào kỷ niệm 300 Sài Gòn, Sơn Nam đã có trong tay mấy mươi tác phẩm giá trị về văn minh miệt vườn, về những người đi khai phá vùng đất mới và sáng tạo ra nền văn hoá truyền thống” [88, tr.59]
Huỳnh Công Tín trong bài viết “Nhà văn Sơn Nam - nhà Nam Bộ học” cho rằng:
“Ông còn làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà cả vài trăm năm về trước, từ chuyện khẩn hoang miền Nam, chuyện thời Đàng Cựu, đến lai lịch của từng vùng đất cụ thể: Sài Gòn, Gia Định, An Giang, Hà Tiên, Cần Thơ, Hậu Giang, Long Hồ, Vĩnh Long ” [237, tr.175]
Trần Hữu Dũng trong bài “Sơn Nam - Mấy độ qua đường phố, nghiêng mình nhớ đất quê” xác quyết: “Ông viết nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, khảo cứu phong tục tập quán, hồi ký… nhưng tất cả đều xoay quanh cái trọng tâm muôn thuở – miệt vườn, châu thổ sông Cửu Long.” [414, tr.8]
Nhà văn Trần Mạnh Hảo trong bài “Sơn Nam - Dề lục bình Nam Bộ” có viết:
“Sơn Nam là một nhà Nam Bộ học, một cuốn từ điển của thời đầu mở đất Đồng Nai Ông tiếp tục truyền thống văn chương của những Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ…” 2
Võ Phiến trong bộ Hai mươi năm văn học miền Nam (1994) có đánh giá về Sơn Nam: “Sự nghiệp văn chương của Sơn Nam được gầy dựng nên do chính cái ngộ ấy Bởi
Trang 6ông là người Nam, ông không để ý đó thôi Ông đã phát huy cá tính miền Nam một cách tài tình mà không hay Tài tình mà vô tình.” [171, tr.154]
Trong công trình Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1998), ở tập 2, Sơn
Nam được nhắc đến với tư cách như là một trong những nhà văn tiêu biểu có những đóng góp lớn cho văn học Nam Bộ giai đoạn 1954-1975 [65, tr.168]
Trong tác phẩm Nhìn lại một chặng đường văn học (2000), một công trình nghiên
cứu về văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, nhà nghiên cứu văn học Trần
Hữu Tá nhận xét: “Đất nước, lịch sử và con người Nam Bộ đã được Sơn Nam say sưa phản ánh trong tập truyện Hương rừng Cà Mau” và: “Tác giả đã không tách những nỗ lực chinh phục thiên nhiên của người dân miền Nam khỏi tinh thần chiến đấu anh dũng
để bảo vệ quê hương đất nước của họ.” [197, tr.72]
Lê Phương Chi trong Tâm tình văn nghệ sĩ, cho rằng: “Ông đã làm sống lại hào khí miền Tây Nam Bộ, thời Tổ tiên ta di dân lập ấp, và ông dựng lại những cảnh tượng
bi hùng của ông cha ta trong công cuộc khai hoang tranh đấu giành sự sinh tồn với thiên nhiên, giành từng tấc đất ngọn rau để giành đất, lấn biển mở rộng bờ cõi.” [28, tr.132]
Trong Tự điển Văn học (2004), ở mục từ “Sơn Nam”, Trần Hữu Tá nhận xét:
“Con người và vùng đất nê địa Cà Mau cứ hiện lên trên từng trang viết của ông, cuốn hút, say người Ông kể lại một cách sinh động cảnh nhân dân dũng cảm trừ rắn, bắt cá sấu, chống trả quyết liệt và chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt Trong gian khổ, tinh thần những người tay lấm chân bùn ấy vẫn bình thản, hồn nhiên.” [199, tr.1566]
Bùi Đức Tịnh trong quyển Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (2005), nhận định: “Trong các truyện của Sơn Nam nổi bật trên bức tranh làng mạc quê hương là những người nông dân đôn hậu, chất phác, dũng cảm, đã đem tất cả sức sống khai phá
và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và Tổ quốc.” [239, tr.564]
Nguyễn Thị Thanh Xuân trong Tiếng vọng những mùa qua, viết về Sơn Nam như sau: “Phạm Anh Tài, ngay từ “Tây đầu đỏ” và “Bên rừng cù lao Dung” đã thể hiện những nét riêng trong cách dẫn truyện cũng như lối xây dựng nhân vật và tài tả cảnh
Đó là cách dẫn truyện tự nhiên và rất có duyên, không hề lộ ra sự sắp xếp; đó là sự khắc
Trang 7hoạ người nông dân Nam Bộ rất đậm đà bản sắc từ ngoại hình đến ngôn ngữ; đó là sự
am hiểu và quan sát tỉ mỉ về đất miền Nam.” [265, tr.233]
Hoài Anh, trên Tạp chí Văn hoá, số 7, trong bài “Sơn Nam, người đánh đàn độc huyền kể chuyện Nam Bộ”, có nhận xét: “Anh Sơn Nam là một con người Nam Bộ chân chất, thẳng thắn, một nhà văn, nhà văn hoá của Nam Bộ mà những trang viết cũng giản
dị, đầy ắp chất sống, thấu đáo nhân tình như chính lời nói hằng ngày của anh.” [6,
tr.25]
Văn Giá trong sách Bình văn (Trần Hòa Bình, Lê Duy, Văn Giá), ở bài “Chủ
nhân của rừng tràm” đã nhìn nhận Sơn Nam là nhà văn sáng tác bằng tâm hồn và vốn
kiến thức sành sỏi về “tính nết, thổ ngơi, sản vật, lịch sử và địa bàn cư trú của nhân dân vùng Đất Mũi.” [21, tr.148]
Gần đây, có một số luận văn nghiên cứu về Sơn Nam, như: Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975 của Lê Thị Thùy Trang (luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) [245], Văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện của Sơn Nam của Đinh Thị Thanh Thuỷ (luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh) [233]…
Khi nhà văn Sơn Nam qua đời, có rất nhiều bài viết đăng trên các báo ghi lại cuộc đời và những quan hệ, những kỷ niệm giữa nhà văn với bạn bè, đồng nghiệp, ngợi ca tác phẩm của ông Các bài viết trên đã tái hiện rất rõ chân dung nhà văn: hồn hậu, giản dị, thanh bần, chân tình và lạc quan
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc là nhà văn sáng tác rất sớm, từ những năm bốn mươi của thế
kỷ trước Ở miền Nam trước năm 1975, tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được trích giảng
trong các sách Giảng văn ở bậc trung học phổ thông
Trên các báo và tạp chí thời gian này có một số bài phỏng vấn, bài điểm sách, bài nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc của Nguyễn Ngu Í [96, tr.217] ghi nhận Bình Nguyên Lộc sáng tác về quê hương như để trả món nợ với vùng đất Đồng Nai; Nguyễn Hiến Lê
viết bài “Điểm sách” của Bình Nguyên Lộc trên tạp chí Bách Khoa số 61, năm 1967 [113, tr.73-78]; Cô Phương Thảo (Vũ Hạnh) trên tạp chí Bách Khoa số 82, năm 1968 có
Trang 8bài phê bình tác phẩm Ký thác của Bình Nguyên Lộc, khẳng định tình yêu quê hương và sắc thái địa phương trong tác phẩm [73]; Bàng Bá Lân trong Văn thi sĩ hiện đại (1968) cho rằng: “Bình Nguyên Lộc chính là sự tiếp nối Hồ Biểu Chánh về thể loại tiểu thuyết của miền Nam ở thế kỷ trước” [109]; Lê Phương Chi phỏng vấn Bình Nguyên Lộc
(1972) nhiều vấn đề chung quanh cuộc đời nhà văn, trong đó có quan niệm về văn chương, cách viết truyện của Bình Nguyên Lộc [28]; Nguyễn Nam Anh có bài phỏng
vấn “Nhà văn Bình Nguyên Lộc” đăng trên Giai phẩm Văn số 199 ra ngày 01-4-1972, trong đó khẳng định Hương gió Đồng Nai, tác phẩm đầu tay, đã được nhà văn viết với cả tấm lòng yêu thương quê hương [8]; tạp chí Thời tập số 25 ra ngày 10-10-1974 có dành
riêng số đặc biệt về Bình Nguyên Lộc Trong số này có nhiều bài viết rất có giá trị như các bài của Trần Văn Nam, Cao Huy Khanh v.v [150]; [101]
Sau năm 1975, có một số bài viết về Bình Nguyên Lộc như của các tác giả Viễn Phương, Trang Thế Hy, Thanh Việt Thanh, Nguyễn Mẫn… Nhà thơ Viễn Phương đã
gợi lại những kỷ niệm về Bình Nguyên Lộc qua bài “Thương một nhành mai” [178];
Trang Thế Hy ghi lại những kỷ niệm với Bình Nguyên Lộc và khẳng định đây là con
người rất gắn bó với xứ sở quê hương (Văn nghệ Tp HCM, số Xuân 2005); Thanh Việt
Thanh đã khẳng định truyện ngắn là thể loại sở trường và thành công nhất của Bình Nguyên Lộc [203, tr.9]; Nguyễn Mẫn thì cho rằng Bình Nguyên Lộc là nhà văn của tình yêu: tình yêu quê hương, tình yêu nam nữ và tình yêu con người [134, tr.16]
Trong Nhìn lại một chặng đường văn học, Trần Hữu Tá khi viết về văn học
miền Nam giai đoạn 1954-1975, có nhắc đến Bình Nguyên Lộc [197, tr.23]
Năm 2002, tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được in lại trong Tuyển tập Bình Nguyên Lộc do Nguyễn Q Thắng tuyển chọn và giới thiệu [433] Tiếp theo, Nguyễn Q Thắng còn giới thiệu cuộc đời và tác phẩm của Bình Nguyên Lộc trong Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 2 [212] và trong “Bình Nguyên Lộc với Hương gió Đồng Nai” (2010) [215]
Trong Từ điển văn học (Bộ mới), tại mục từ “Bình Nguyên Lộc”, T.Khuê có giới thiệu sơ lược cuộc đời và nêu giá trị một số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như Nhốt gió, Rừng mắm, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc… rồi nhận
Trang 9định: “Trước Bình Nguyên Lộc, dường như chưa có một nhà văn Việt Nam nào viết về sự khai phá đất hoang của dân tộc Việt, về đất và nước một cách bát ngát và sâu xa đến thế.” [199, tr.133]
Năm 2004, Nguyễn Lương Hải Khôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ: Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc, bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh Luận văn đã chỉ ra những nét riêng trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn thi pháp
Năm 2005, người viết luận án này cũng đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ
với đề tài Văn hoá và con người Nam Bộ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc tại Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Nhìn chung, có thể thấy, đa số các bài viết, các công trình thường nhận xét khái quát về cuộc đời, nội dung tác phẩm của Sơn Nam, của Bình Nguyên Lộc chứ hầu như chưa có bài viết hay công trình nào tìm hiểu thấu đáo về văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện ngắn của hai ông Từ đó, có thể nói, đề tài luận án là mới mẻ, là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hoá học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là đặc điểm, giá trị của truyện ngắn của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc về phương diện thể hiện văn hóa Nam Bộ; phân tích, lý giải, đánh giá những đặc điểm, giá trị ấy trong bối cảnh miền Nam vào những năm đầu của thế kỷ trước
Phạm vi khảo sát của luận án này là toàn bộ truyện ngắn đã được công bố và hiện còn giữ được của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Dĩ nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi tập trung vào những tác phẩm thể hiện rõ những yếu tố văn hóa Nam
Bộ, cụ thể là những tác phẩm viết về con người và thiên nhiên miền Tây và miền Đông Nam Bộ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 10- Hướng tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa học: Đây là hướng tiếp cận trong
những năm gần đây được một số nhà nghiên cứu, phê bình Việt Nam và nước ngoài vận dụng với ý thức tự giác và cố gắng thử nghiệm một số phương pháp, thao tác mới Nghiên cứu truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ hướng tiếp cận này, chúng tôi
hy vọng sẽ góp phần khẳng định vị trí, giá trị tác phẩm của hai nhà văn từ một phương diện mới, góc độ xem xét mới có tính liên ngành
- Phương pháp thi pháp học: Luận án tìm hiểu, khảo sát thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, qua đó, làm nổi bật không chỉ hiện thực được phản ánh mà cả quan niệm về con người và cuộc đời của hai nhà văn nói trên
- Phương pháp hệ thống: Truyện ngắn của hai nhà văn Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc được xem xét như một hệ thống các yếu tố nội dung và nghệ thuật, trong quan hệ tác giả - tác phẩm - thực tại - độc giả; và đến lượt nó, hệ thống văn chương này lại trở thành một yếu tố trong văn hóa vùng, văn hóa dân tộc như những hệ thống lớn hơn, bao trùm
- Phương pháp so sánh: Để làm nổi bật đặc trưng văn hoá vùng cũng như phong
cách tác giả trong nội dung cũng như hình thức nghệ thuật thể hiện của truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, luận án áp dụng phương pháp so sánh: so sánh Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc; so sánh Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc như những nhà văn của Nam Bộ với một số nhà văn tiêu biểugắn bó cùng đề tài văn hoá Bắc Bộ hay văn hóa Trung Bộ
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt văn học trong mối tương quan với các yếu tố
xã hội và lịch sử, từ đó phân tích truyện ngắn Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc trong quan hệ với văn hóa Nam Bộ
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Vận dụng hướng tiếp cận văn hoá học - văn học trong nghiên cứu truyện ngắn của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, luận án có đóng góp về văn học sử cũng như về
lý luận, về phương pháp nghiên cứu
5.2 Qua phân tích nội dung và hình thức thể hiện không gian văn hoá, thời gian văn hoá, tính cách văn hoá Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên
Trang 11Lộc, luận án làm rõ những đặc điểm và những đóng góp của hai nhà văn đối với văn học, văn hoá Nam Bộ nói riêng; văn học, văn hóa Việt Nam nói chung
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận án chia thành bốn chương:
Chương 1: “Những vấn đề chung”, trình bày cơ sở lý luận của đề tài và khái quát
về truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc trong mối quan hệ với văn hóa Nam Bộ
Ba chương tiếp theo (Chương 2: “Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với không gian văn hóa Nam Bộ”, Chương 3: “Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với thời gian văn hóa Nam Bộ”, Chương 4: “Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc ”) tìm hiểu sự thể hiện ba chiều kích cơ bản của văn hóa Nam Bộ (không gian văn hóa, thời gian văn hóa, chủ thể văn hóa) trong thế giới nghệ thuật (với ba phương diện cơ bản là không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và nhân vật) của các truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan hệ văn học - văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học Trước hết, về văn học, hiện nay, có nhiều định nghĩa về văn học Một cách vắn tắt, có thể xem văn học là một loại hình nghệ thuật, dùng ngôn từ làm phương tiện xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện cuộc sống và con người
Định nghĩa về văn hóa có phần phức tạp hơn Các nhà nghiên cứu từng thống kê đến hơn bốn trăm định nghĩa với nội hàm, ngoại diên khác nhau về văn hóa Cách hiểu của ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, được cộng đồng quốc tế chấp nhận
(tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa họp tại Venise), ông cho rằng “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [Tạp chí Người đưa tin UNESCO, tháng 11 / 1989, tr 5] Một nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Định nghĩa này chú ý tới tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử
của văn hóa
Như chúng ta đều biết, văn học là tiếng nói từ trái tim của con người, là sự suy nghĩ và cảm nhận của con người về cuộc sống Hơn nữa, văn học còn thể hiện khả năng nhận thức và cách ứng xử của con người trước môi trường thiên nhiên và xã hội, trong không gian và thời gian
Còn văn hoá là sản phẩm đặc thù của con người, ra đời và tồn tại cùng với loài người Theo nghĩa rộng, văn hoá là những giá trị mà con người tạo ra trong quá trình tác động vào tự nhiên và xã hội Văn hoá bộc lộ ở cách thức, trình độ sinh hoạt, tổ chức, ứng xử; ở quan hệ nhiều mặt của con người với thế giới: tự nhiên, xã hội, bản thân Văn hoá
là cách sống, quy luật sống của một cộng đồng, là khả năng lựa chọn các ứng xử, các giải
Trang 13pháp của cộng đồng trong những tình huống hệ trọng, có ý nghĩa bước ngoặt của đời sống, của lịch sử
Như vậy, có thể nói, con người sáng tạo ra văn học, thông qua văn học mà phản ánh văn hóa Văn học là công cụ thể hiện văn hóa và ghi lại bóng dáng con người qua các thời đại Văn học còn góp phần quan trọng trong việc bổ sung những giá trị văn hóa làm cho cuộc sống ngày càng phong phú hơn Tác phẩm văn học có thể giúp con người nhận thức rõ hơn về cuộc sống, ý thức về cộng đồng, truyền thống lịch sử Trong quy luật phản ánh, văn học không phản ánh toàn bộ đời sống mà phản ánh một cách có chọn lọc Chính ở đây, văn học còn có vai trò điều chỉnh và định hướng văn hoá
Chính vì có sự tác động lẫn nhau nên quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn vận động theo nhịp sống của thời đại; mặt khác, văn học tuy là một bộ phận trong cấu trúc tổng thể của văn hóa, nhưng nó không phải là một bộ phận thụ động, chịu sự tác động một chiều Do đó, văn học vừa phản ánh văn hóa, vừa là một nhân tố tích cực trong hệ thống văn hóa, thúc đẩy văn hoá phát triển
Văn học, với vai trò là một nhân tố năng động của văn hóa, sẽ phản kháng những hiện tượng đi ngược lại văn hóa dân tộc để từ đó nêu một cách thức phù hợp đối với việc chọn lựa, phê phán, sáng tạo, thậm chí tiếp biến những hiện tượng văn hóa Văn học lúc này thúc đẩy sự biến đổi của văn hóa, làm cho văn hóa chuyển động, phải nhận thức lại cho phù hợp với yêu cầu thời đại, và quan trọng nhất là phù hợp với những đòi hỏi và sự tiến bộ của con người
Từ đó cho thấy văn học và văn hóa có mối quan hệ tương tác nhiều chiều Văn học như một bộ phận trong văn hóa tinh thần của một nền văn hóa Văn học phản ánh văn hóa Văn học chịu sự chi phối và ảnh hưởng của văn hóa, đồng thời văn học cũng tác động trở lại đối với việc giữ gìn, phát triển văn hóa
Văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết, nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có nhiều triển vọng bổ sung cho những cách tiếp cận xã hội học, mỹ học, thi pháp học…Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng
để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm văn học
Trang 14Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Trần Đình Sử viết: “Nội dung văn hóa trong văn học mang tính chất toàn bộ Nó bao gồm mọi phương diện văn hóa cụ thể như chính trị, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, thị hiếu, ẩm thực, trang phục, tập quán, cử chỉ… Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể bắt gặp vô vàn biểu hiện văn hóa trong đó.” [193, tr.9]
Văn hóa và văn học, suy cho cùng, đều phản ánh và thể hiện những góc nhìn
về con người Điều này được Lê Trí Viễn khẳng định: “Nói văn học, nói văn hoá gì, chung quy là nói con người.” [dẫn lại: 240, tr.182]
Nhà văn M Gorki từng nói “Văn học là nhân học” Trong bất kỳ tác phẩm văn
học nào, con người vẫn là đối tượng trung tâm để nhà văn phản ánh, con người đó tồn tại trong môi trường không gian và thời gian cụ thể Con người với tính cách là một thực thể văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ căn bản: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình
Giữa con người và văn hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau, chính con người
đã sáng tạo ra văn hoá; đồng thời con người lại là sản phẩm của văn hoá Con người
kế thừa những thành tựu văn hoá ở thế hệ trước, “Con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội” (Mác) Con người luôn mang những giá trị văn hoá, do đó, con người
cũng là đại biểu thể hiện giá trị văn hoá do chính mình sáng tạo ra
Văn học và văn hóa quan hệ chặt chẽ như vậy nên tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa học chắc chắn là một hướng đi hứa hẹn nhiều triển vọng Hướng nghiên cứu này được khá nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng như ở nước ta vận dụng với ý thức tự giác ngày càng rõ nét
Một trong những lý thuyết nghiên cứu văn hóa sớm được các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới quan tâm là lý thuyết Văn hóa - Lịch sử của Hippolyte Taine (1828-1893) Theo Hippolyte Taine, “Ba động lực đầu tiên” có vai trò quyết định đối với đặc điểm một nền văn hóa cũng như tính cách con người trong nền văn hóa đó, là (1) chủng tộc, (2) môi trường và (3) thời điểm Với ba động lực này, Taine đã nhấn mạnh những điểm quan trọng
về (1) chủ thể văn hóa, (2) không gian văn hóa và (3) môi trường văn hóa
Trang 15Trường phái Văn hóa và Nhân cách mà đại diện tiêu biểu là Ruth Fulton Benedict (1887-1948), Margaret Mead… chú ý tới kiểu thức (pattern) / cấu hình (configuration)
văn hóa Theo Benedict, “Một nền văn hóa là một kiểu thức ít nhiều bền vững và nhất quán, hòa hợp của những tư tưởng và hành động” Quan điểm lý thuyết này có ảnh
hưởng đến hướng tiếp cận bản sắc văn hóa cũng như đặc điểm tính cách con người được thể hiện trong văn học
Tiếp tục trong nỗ lực giải mã các nền văn hóa, các nhà Tân Benedict, trong đó có Clifford Geertz (1926-?), đã phát triển luận thuyết về Văn hóa với tư cách văn bản
(Culture as text) Theo Geertz, có thể và cần thiết “đọc những thực hành văn hóa như những văn bản”, nhiệm vụ của nhà nghiên cứu văn hóa là cắt nghĩa những “từ vựng”,
“ngữ pháp” quan trọng đặc thù của một nền văn hóa nhất định giúp hiểu bản chất của nó
Từ đây, quan điểm về Văn hóa như văn bản liên quan đến các lý thuyết Cấu trúc luận, Hậu hiện đại luận… được quan tâm và có ý nghĩa quan trọng đối với cả nghiên cứu văn hóa lẫn nghiên cứu văn học
Trên thế giới, nổi tiếng nhất trong số các nhà nghiên cứu thành công với hướng tiếp cận văn hóa học - văn học phải kể đến Ia.V Propp (1895-1970) và M M.Bakhtin
(1895-1975) Qua hai công trình Hình thái học truyện cổ tích và Những nguồn gốc lịch
sử của truyện cổ tích thần kỳ, Propp đã soi sáng cấu trúc chung của vô vàn những truyện
cổ tích thần kỳ và cho thấy gốc rễ của cấu trúc này trong quan hệ với văn hóa truyền
thống, cụ thể với nghi lễ thành đinh Trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Bakhtin
đã lấy nguyên lý đối thoại để cắt nghĩa phương diện tổ chức ngôn từ cũng như xây dựng
hệ thống nhân vật thể hiện những quan niệm về thế giới trong tác phẩm văn học Trong
Sáng tác của François Rabelais với văn hóa dân gian Trung đại và Phục hưng, Bakhtin
lý giải thi pháp Rabelais trong quan hệ với lễ hội trào tiếu dân gian
Ở Việt Nam, trước 1945, Trương Tửu đã áp dụng hướng tiếp cận văn hóa khi
nghiên cứu ca dao Việt Nam (Kinh Thi Việt Nam), Nguyễn Du (Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du) và Nguyễn Công Trứ (Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ)… Cách tiếp
cận văn học từ góc nhìn văn hoá cũng được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu quan tâm, ứng dụng như trong các công trình về văn học Việt Nam thời trung đại của Trần Đình
Trang 16Hượu, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn…Trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Trần Đình Hượu đã chọn Nho giáo để tìm hiểu một số vấn đề của văn học trung đại Trần Ngọc Vương tiếp tục bằng các công trình: Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá…, nhiều tác phẩm văn học trung đại như Truyện Kiều, Bình Ngô đại cáo… đã được Trần Nho Thìn tiếp cận từ góc độ văn hoá học Lê Nguyên Cẩn có công trình Tiếp cận Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa Gần đây, Đỗ Lai Thuý vận dụng hướng nghiên cứu này đối với văn học trung đại và hiện đại mà tiêu biểu là Từ góc nhìn văn hoá, Hồ Xuân Hương: hoài niệm phồn thực…
Sự quan tâm đến hướng nghiên cứu này, về mặt lý luận, ở Việt Nam, mới khởi
sắc gần đây, có thể thấy qua những bài viết của các tác giả như Trần Đình Sử (Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc), Nguyễn Văn Dân (Tiếp cận văn học bằng văn hóa học), Đỗ Lai Thúy (Mối quan hệ văn hóa - văn học), Trần Lê Bảo (Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học), Lê Nguyên Cẩn (Tính văn hóa của tác phẩm văn học), Huỳnh Như Phương (Văn học và văn hóa truyền thống), Đỗ Thị Minh Thúy (Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học), Nguyễn Văn Hiệu (Mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học), Cao Kim Lan (Văn học và ngữ cảnh văn hóa)…
Trong bài “Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc”, Trần
Đình Sử đã từ kinh nghiệm nước ngoài nhận diện “những hướng nghiên cứu (văn học) mới trong tầm nhìn văn hóa” với ba định hướng chủ yếu: (1) nghiên cứu thi pháp văn hóa; (2) nghiên cứu văn học trong quan hệ với các truyền thống văn hóa, văn học trong quan hệ với chính trị, với “sinh thái tinh thần” của xã hội; (3) nghiên cứu văn học trong quan hệ với văn hóa đại chúng Về phương pháp, đây là hướng nghiên cứu liên ngành, kết hợp các phương pháp dân tộc học (ethnography), phân tích văn bản (textual approaches), nghiên cứu tiếp nhận (recepion studies), phương pháp xã hội học…
Vận dụng hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học trong đề tài luận
án, chúng tôi tập trung vào hai điểm cốt lõi: (1) phân tích những phương diện văn hóa Nam Bộ đã được Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc lựa chọn phản ánh (2) lý giải nội dung, nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm của họ bằng những yếu tố văn hóa Nam Bộ
Trang 171.1.2 Văn hóa vùng và vùng văn hóa Nam Bộ
Xin được bắt đầu bằng khái niệm văn hóa vùng Trong công trình Văn hoá vùng
và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, Ngô Đức Thịnh đã định nghĩa: “Văn hóa vùng là một thực thể văn hoá, hình thành và tồn tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện trên toàn bộ các mặt của đời sống, tuy nhiên nổi bật hơn là trong lĩnh vực ứng xử, giao tiếp, lối sống, các hoạt động văn hoá nghệ thuật, tâm lý, phong cách… của con người Những đặc trưng văn hoá đó hình thành và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do
cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với cùng một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa họ có mối quan hệ giao lưu văn hoá mật thiết.” [227, tr.163]
Theo phân vùng của Ngô Đức Thịnh, Nam Bộ là một trong bảy vùng văn hóa của Việt Nam Văn hóa vùng Nam Bộ hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa Việt Nam từ miền đất gốc ở Bắc Bộ, Trung Bộ được lưu dân Việt mang theo trong quá trình khẩn hoang, trải qua các biến cố lịch sử và biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong bối cảnh tự nhiên cũng như quá trình chung sống, sự pha trộn với văn hoá của những tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa…,quá trình giao lưu tiếp biến mạnh
mẽ với văn minh phương Tây và hội nhập quốc tế… đã hình thành, phát triển văn hoá Nam Bộ với những nét riêng, có nhiều khác biệt so với các vùng văn hoá khác, nhất
là văn hoá truyền thống Bắc Bộ
Với tư cách là một vùng văn hoá mang tính chất như một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam thống nhất, văn hoá Nam Bộ mang những nét chung của bản sắc văn hoá Việt Nam đồng thời mang những nét riêng của một vùng văn hóa đặc thù
1.1.2.1 Không gian văn hoá
Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của đất nước về phía Nam, phía Tây tiếp giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia Vị trí địa - văn hóa của Nam Bộ tạo cho nó có những đặc điểm riêng, thuận tiện trong việc tiếp nhận, giao thương với khu vực và thế giới
Về địa hình, Nam Bộ nằm gọn trong lưu vực của hai con sông: Đồng Nai và Cửu Long, với hai tiểu vùng (miền) chính: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Miền Đông chủ
Trang 18yếu là vùng đất bazan màu mỡ và đất phù sa cổ, thoát nước tốt, thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp trong khi miền Tây với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho việc trồng lúa nước, khai thác thủy hải sản
Về khí hậu, Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa Miền Tây Nam
Bộ còn có thêm mùa nước nổi, kéo dài từ ba đến bốn tháng, bắt đầu từ tháng chín Mùa nước nổi tuy có những khó khăn nhưng đồng thời cũng đem đến cho người dân nơi đây nhiều nguồn lợi như tôm cá, phù sa và nguồn nước tưới mát cho những cánh đồng mênh mông mỗi năm
Điều kiện tự nhiên vừa ưu đãi vừa có những thách thức nói trên đã góp phần quan trọng tạo nên cách ứng xử hòa hợp với tự nhiên của người Nam Bộ
1.1.2.2 Chủ thể văn hoá
Nam Bộ là vùng đa văn hóa nhất nước Ở vùng đất này, người Việt cộng cư cùng với những tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa, Mạ, Stiêng, Chơro, Mơnông… tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng với cấu trúc chủ thể đa tộc người, trong đó người Việt chiếm đa số
Từ xưa đến nay, các dân tộc trên vùng đất Nam Bộ cùng nhau chung sống hoà bình, tôn trọng nhau và quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc diễn ra liên tục, không ngừng làm giàu thêm những sắc thái phong phú cho mỗi nền văn hóa…
1.1.2.3 Thời gian văn hoá
Thời gian văn hóa Nam Bộ có thể được chia làm ba giai đoạn: (1) Giai đoạn trước khi người Việt đến khai hoang – từ trước thế kỷ XVII, (2) Giai đoạn khẩn hoang –
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, (3) Giai đoạn tiếp xúc với Phương Tây và hội nhập quốc
tế - từ thế kỷ XIX đến nay
Thứ nhất là giai đoạn trước khi người Việt đến khai hoang Trên miền đất là Nam
Bộ ngày nay đã có dấu tích của những nền văn hóa cổ phát triển (Óc Eo)
Thứ hai là giai đoạn khẩn hoang Khoảng cuối thế kỷ XVII, đã có những người Việt đầu tiên tới khai phá vùng đất phương Nam Người Việt tiến về phương Nam chính
là do sự thôi thúc tất yếu của lịch sử Nước ta phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp Trung Quốc, một đất nước rộng lớn, phía Tây gặp rừng núi đầy hiểm trở Để phát triển, chỉ còn
Trang 19lại phía Nam với đất đai bằng phẳng, khí hậu ôn hoà, chưa được khai phá nhiều nên những lưu dân thuở trước đã từng bước tiến về phương Nam, chinh phục vùng đất này
Qua nhiều đợt, người Việt từ miền Bắc và miền Trung với di dân cá nhân lẻ tẻ hoặc
do nhà nước tổ chức, đã tiến về phương Nam lập nghiệp Họ mang theo trong hành trang truyền thống văn hóa của miền đất gốc nhưng mặt khác cũng sẵn sàng chấp nhận thay đổi, sáng tạo để phù hợp với miền đất mới Để lại và quên đi những lầm than và áp bức ở vùng đất cũ, những lưu dân đi mở cõi dễ dàng đồng cảm với nhau, không câu nệ và coi những người cùng hoàn cảnh là anh em, coi vùng đất Nam Bộ là quê hương mới Đất Nam Bộ mênh mông đã trở thành nơi dung chứa cho những thân phận ly hương
Lưu dân người Việt cùng với người Chăm, người Khmer, người Hoa …nối tiếp nhau chung tay khai khẩn, đào kinh, canh tác, định cư, buôn bán… dần dần biến vùng đất hoang vu này thành những vùng nông nghiệp trù phú và những đô thị sầm uất Trong bối cảnh đó, văn hoá Nam Bộ được hình thành như một sự dung hợp mà cốt lõi là văn hoá Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Khmer, Hoa và cả phương Tây sau này
Nam tiến là một cuộc chinh phục lâu dài, đầy cam go và thử thách Nơi đây chính
là miền “đất hứa” với tự do, hạnh phúc và tình người nở hoa Đánh giá về ý nghĩa to lớn của công cuộc khai phá Nam Bộ đối với sự phát triển của Việt Nam, nhà văn Nguyên
Ngọc đã viết: “Bằng cuộc đi dài dũng cảm đó của cha ông, Tổ quốc ta đã được nhân lên gấp đôi về lãnh thổ Và chắc hẳn không chỉ là về lãnh thổ Chính trong cuộc đi dài này, văn hoá Việt Nam đã phát triển bằng biến động và hấp thụ hết sức phong phú, để vừa là chính nó, thậm chí chính nó sâu sắc hơn, vừa trở nên đa dạng, giàu có hơn rất nhiều, mở rộng hy vọng cho tương lai.[155, 7] Li Tana, Giáo sư Đại học Quốc gia Australia, viết: “Đàng Trong trở thành đầu tàu thay đổi mang tính lịch sử, và kéo trọng tâm quốc gia - dù là được nhìn theo nghĩa chính trị, kinh tế hay thậm chí văn hoá - về hướng Nam
từ thế kỷ XVII cho đến khi người Pháp áp đặt sự cai trị.” [196, tr.179]
Thứ ba là giai đoạn tiếp xúc với Phương Tây và hội nhập quốc tế Văn hóa phương Tây đã đến với Nam Bộ sớm nhất, trực tiếp nhất, mạnh mẽ nhất so với cả nước,
nó gắn với cuộc xâm lăng của hai thế lực thực dân, đế quốc lớn là Pháp và Mỹ Nam Bộ
Trang 20kiên cường trong kháng chiến cũng là Nam Bộ đi đầu trong tiếp thu ảnh hưởng văn minh phương Tây, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngày nay, Nam Bộ vẫn là nơi năng động nhất nước trong việc hội nhập toàn cầu
Về thời gian văn hóa, như vậy, Nam Bộ vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam, lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây Nam Bộ là vùng văn hóa linh hoạt, năng động, hiện đại hóa mạnh nhất nước
Những đóng góp của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đối với văn học Nam Bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung chính là sự thể hiện một cách nghệ thuật những đặc trưng văn hóa vùng qua không gian, thời gian và chủ thể văn hóa
1.2 Nhà văn Sơn Nam với văn hóa Nam Bộ
1.2.1 Cuộc đời của Sơn Nam
Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài (theo khai sinh là Phạm Minh Tày, do nhân viên ký lục ghi sai), sinh ngày 11-12-1926, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, mất ngày 18-8-2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh Thuở nhỏ, ông học tiểu học
ở Rạch Giá, sau đó học trung học tại trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ Năm 1945, tốt nghiệp Thành chung, Sơn Nam về lại Rạch Giá với ý định tìm một chân thư ký thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ Sau đó, Sơn Nam gia nhập Thanh niên Tiền phong, một tổ
chức cách mạng, tham gia cướp chính quyền ở địa phương, rồi xếp bút nghiên, mang nóp với giáo ra bưng biền trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến
Ban đầu, Sơn Nam làm Phó Bí thư Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Rạch Giá, rồi được điều về công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh, sau về công tác tại phòng Chính trị Quân khu 9 Năm 1950, ông chuyển qua làm cán bộ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Kỳ
Chính cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt ở rừng U Minh và vùng tứ giác Long Xuyên là nguồn tư liệu sống cho các trang viết của Sơn Nam sau này Chín năm kháng chiến ở bưng biền, nhà văn Sơn Nam có dịp tìm hiểu về thiên nhiên, lịch sử và đời sống con người vùng châu thổ sông Cửu Long, hiểu được tính khẳng khái, ngoan cường đấu tranh cho sự sinh tồn của con người ở vùng đất mới Lúc này, ông viết nhiều trên
báo Tiếng súng kháng địch và tạp chí Lá lúa - một tạp chí văn nghệ thời chống Pháp
Trang 21Ông được hai giải thưởng Văn nghệ Cửu Long vào năm 1951-1952 với truyện ngắn Bên rừng cù lao Dung (giải Nhất) và năm 1953-1954 với ký sự Tây đầu đỏ (giải Nhì)
Sau hiệp định Giơnevơ, nhà văn Sơn Nam được tổ chức phân công ở lại Rạch Giá tiếp tục hoạt động văn nghệ và báo chí trong lòng địch Sau thời gian bị tạm giam tại một trung tâm “cải huấn” đặc biệt dành cho những người kháng chiến cũ, ông được trả tự do, sau đó lên Sài Gòn làm báo, viết văn, hoạt động cùng các nhà văn kháng chiến khác như Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang Lúc này, Sơn Nam là ký giả nổi tiếng trong
báo giới, với nhiều bài đăng trên các tờ Công lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống… và đặc biệt là tờ Nhân loại, một tờ báo đã quy tụ được nhiều cây bút yêu nước, có tinh thần
cách mạng, đặt dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Sài Gòn Với Luật 10/59, chính quyền họ Ngô khủng bố phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, thống nhất đất nước
và trả thù những người kháng chiến, Sơn Nam đã bị bắt giam ở nhà tù Phú Lợi ( Bình Dương ) đến mười tám tháng (1960-1961) và bị câu lưu tại Tổng Nha Cảnh sát mấy tháng sau đó
Năm 1974, một lần nữa Sơn Nam bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trong ngày
“Ký giả ăn mày” (10-10-1974) chỉ vì ông và các trí thức Sài Gòn có tư tưởng yêu nước,
tiến bộ phổ biến công khai trên các báo những hà khắc, kềm kẹp của luật báo chí mới ra đời lúc bấy giờ
Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, Sơn Nam có dịp đi đến nhiều miền, cùng với cái nhìn nhạy bén trước những bước chuyển mình của đất nước, ông lại miệt mài ghi chép và viết So với giai đoạn trước, Sơn Nam quan tâm nhiều hơn đến việc biên khảo về văn hóa Nam Bộ như: lễ hội, phong tục tập quán, đời sống… các vùng miền
Sơn Nam là một trong những nhà văn của miền Nam được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam trong đợt đầu tiên sau năm 1975 Năm 1982, lần đầu tiên Sơn Nam ra Hà Nội tham dự Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam Sau khi về hưu, ông tiếp tục cuộc hành trình, rong ruổi khắp các nẻo đường, ngõ ngách để quan sát và viết, đồng thời cùng tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật như: ra Hà Nội làm khách mời của Hội nghị các nhà văn Trẻ, theo đoàn làm phim đi Huế, về miền Tây Ngoài ra, ông liên tục tham gia
Trang 22các hội thảo về lịch sử văn hóa Sài Gòn Do làm việc quá nhiều, sau khi hoàn thành hai
tập biên khảo “Sài Gòn lục tỉnh xưa” và “Ấn tượng 300 năm”, nhà văn Sơn Nam ngã
bệnh vì kiệt sức
Sau một thời gian điều trị trong bệnh viện do bị tai nạn giao thông, nhà văn Sơn Nam trở về căn nhà thuê ở Gò Vấp, sáng sáng lại ra Nhà truyền thống Gò Vấp hoặc đến nghiên cứu ở các đình miếu, đêm về lại ngồi gõ lọc cọc bên chiếc máy đánh chữ cũ kỹ những gì đã nghe, đã thấy trong ngày Ông sống và viết miệt mài như thế cho đến cuối cuộc đời
Nhắc đến phong cách sống của Sơn Nam, người ta thường nghĩ đến một trí thức lớn nhưng có đời sống giản dị Sơn Nam được mệnh danh là “ông già đi bộ” Ông từng
nói: “Tôi là người tạo được chút ít tăm tiếng trong giới văn nghệ nhờ cái nghề đi bộ Đi
bộ rất có ích cho cái việc gọi là “lao động trừu tượng” Sơn Nam vừa đi bộ vừa ngẫm
nghĩ để rồi sau đó cho ra đời những trang văn bình dị mang đậm hơi thở của cuộc sống đời thường
Khi trả lời nhà báo phỏng vấn, Sơn Nam khẳng định ông cầm bút vì sinh kế, song điều thiêng liêng hơn mà ông không nhắc đến, đó là lòng đam mê văn nghệ Lòng đam
mê ấy đã tạo nên sức sống và góp phần làm nên bút lực sung mãn của ông Cuộc đời của Sơn Nam gắn bó thiết tha với vùng đất Nam Bộ, nhất là Sài Gòn và miền Hậu Giang quê hương ông Bởi vậy, các công trình biên khảo và sáng tác văn chương, nhất là truyện ngắn, Sơn Nam thường viết về vùng đất này
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam
Tiếp bước các nhà văn lớp trước, Sơn Nam là một trong số rất ít nhà văn thành công khi viết về văn hoá Nam Bộ Tác phẩm của ông thường tập trung viết miền Tây Nam Bộ và Sài Gòn xưa, qua đó thể hiện nét đẹp riêng của miền đất này, mà nổi bật nhất
là tái hiện lịch sử khẩn hoang, thiên nhiên và con người nơi đây
1.2.2.1 Quan điểm sáng tác của Sơn Nam
Khi mới đặt chân lên Sài Gòn, Sơn Nam được Bình Nguyên Lộc, thuộc lớp nhà văn đàn anh, khuyên nên viết về đất và người vùng Hậu Giang và Sơn Nam đã nghe theo lời khuyên chân tình ấy Tác phẩm của ông được các báo chọn đăng và được nhiều người đọc
Trang 23bấy giờ chú ý Những tác phẩm của Sơn Nam dù viết ở thể loại nào cũng đều được nhà văn
hướng về đất nước, về dân tộc với buổi đầu Tổ tiên đi khai phá, chính ông khẳng định: “Lịch
sử Nam Bộ là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi Đời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang mở đất, nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và là sở trường của tôi.” 1
Ngay từ những trang viết đầu tiên cho đến cuối cuộc đời, Sơn Nam xác định nguồn cảm hứng cho sáng tác của mình chính là cuộc khẩn hoang ở Nam Bộ Trong bài
Nhà văn Sơn Nam: Cả đời viết về cuộc khẩn hoang Nam Bộ, Tuổi trẻ Chủ Nhật, 14/03/2004, ông nói: “Tôi định hướng ngay từ buổi đầu đến với nghề viết: viết về cuộc khẩn hoang miền Nam Cả đời tôi đã đi theo định hướng đó và bây giờ vẫn tiếp tục…định hướng như vậy vì tôi đã sinh ra, lớn lên và sống ở vùng đất U Minh.”
Sơn Nam viết văn như một cách để bày tỏ tình yêu quê hương và lưu giữ hình ảnh của quê hương mình Cũng trong bài Nhà văn Sơn Nam: Cả đời viết về cuộc khẩn
hoang Nam Bộ, Tuổi trẻ Chủ Nhật, 14/03/2004, ông tiếp tục khẳng định: “Muốn viết văn tốt, cần phải khảo cứu Miền Nam chưa có lịch sử, cho nên tôi phải khảo cứu về con người và vùng đất Nam Bộ thì mới có thể viết về con người và vùng đất đó…” Cụ thể, ông chủ trương lối viết văn gắn với sử và địa: “Văn chương phải gắn bó với sơn thủy, với núi sông Tôi hiểu là gắn bó với sử và địa Chuyện sử của Nam Kỳ và đặc biệt phía Hậu Giang còn mù mờ lắm.”
Trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Thuý Nga trên báo Tuổi trẻ chủ nhật, ngày 18-01-1996, nhà văn nói: “Ở đất Nam Bộ, dã sử lớn nhất là việc khẩn hoang,
đó là một thiên hùng ca Tôi lấy việc khẩn hoang, việc chống thực dân Pháp, chống điền chủ để viết.”
Sơn Nam “tự chọn cho mình cách viết truyện theo kiểu dã sử hiện đại và khảo cứu về lịch sử khẩn hoang vùng đất mới Nam Bộ Cách viết này được nhiều độc giả quan tâm, lại không khiêu khích chính quyền đương thời Người đọc tinh tế cũng dễ nhận ra
1 Dương Thanh- “Sơn Nam: Bản sắc nước mắm, cá kho không bao giờ phai”
d%E1%BA%A5t-m%E1%BB%9Bi-nam-b%E1%BB%99/)
Trang 24(http://thoangsaigon.com/2010/05/s%C6%A1n-nam-nha-van-%E1%BB%A7a-vung-sự đánh động tinh thần yêu nước, tưởng nhớ cội nguồn tiên tổ trong những trang viết của tôi” [363,tr.63] Ông đặc biệt tâm đắc với quan niệm của G.Lukacs: “Lối thoát của nhà văn khi bị áp bức tối đa, duy nhất chỉ một con đường là viết truyện dã sử hoặc huyền thoại” Không ít sáng tác của Sơn Nam phảng phất màu sắc dã sử, huyền thoại vì theo
ông, lịch sử khẩn hoang và cuộc kháng chiến chống Pháp chính là một huyền thoại thâm trầm và vĩ đại của dân tộc!
Sơn Nam quan niệm khi viết về nguồn cội của dân tộc, của quê hương, để hiểu biết sâu sắc, khách quan thì không chỉ hướng nội mà còn cần nhìn ra bên ngoài, đặt nền văn hóa của mình trong mối tương quan với các nền văn hóa khác của khu vực và thế giới, giữ gìn văn hóa truyền thống đồng thời học tập tinh hoa văn minh hiện đại
Theo bài Tựa cho tập sách Người Quảng Nam, ông viết: “Viết về vùng đất mình sinh ra
là chọn con đường đi đúng hướng, để qua đó sống lại với đời sống tâm linh nguồn cội Đời sống tâm linh là cần, nhưng cái tâm linh dạt dào sức sống ấy phải thúc đẩy con người nhìn ra thế giới, với các nước láng giềng Tự tôn với cái “tâm linh thuần tuý” của mình là tự sát Phải tạo ra cái vật chất, phải có khoa học kỹ thuật, phải tồn tại và tồn tại cho bằng được.”
Những lời dặn dò của Sơn Nam rất bổ ích cho các thế hệ nhà văn trẻ vì trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, điều cần thiết trước hết là phải giữ gìn được bản sắc của dân tộc mình Chính bản sắc dân tộc sẽ tạo nên phong cách riêng, ghi được dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Nhà văn Sơn Nam nhờ biết khai thác và nâng cao bản sắc văn hóa Nam Bộ mà ông đã có một chỗ đứng xứng đáng trong làng văn Việt Nam
1.2.2.2 Đề tài văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Sơn Nam (từ góc nhìn thể loại)
Sơn Nam cả đời viết về đất và người Nam Bộ, tác phẩm của ông được viết bằng nhiều thể loại khác nhau, sau đây là một số thể loại cơ bản
Về biên khảo, Sơn Nam viết nhiều sách khảo cứu về Sài Gòn - Gia Định và về miền Tây Nam Bộ với số lượng đến 30 cuốn Nhờ những biên khảo này mà bạn bè, người đọc tôn vinh ông là nhà Nam Bộ học, bởi ở ông là cả một pho sử liệu - tự điển sống về văn hóa, lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán của con người vùng đất phương Nam
Trang 25từ thời khẩn hoang cho đến hôm nay Có thể nêu ra một số tác phẩm chính như: Nói về miền Nam (1967), Gốc cây, cục đá và ngôi sao (1969), Văn minh miệt vườn (1970), Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên Địa hội và cuộc Minh Tân (1971), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973), Cá tính miền Nam (1974), Tìm hiểu đất Hậu Giang (1974), Gia Định xưa (1984), Nguyễn Trung Trực (viết chung với Lê Đình Kỵ,1987), Lịch sử An Giang (1988), Lăng Ông Bà Chiểu và lễ hội dân gian (1990), Đình miếu và lễ hội dân gian (1992), Bến Nghé xưa (1992), Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa (1993), Biển cỏ miền Tây (1993), Người Sài Gòn (1994), Sài Gòn lục tỉnh xưa (1998), Ấn tượng
300 năm (1998) v.v
Những biên khảo trên một phần Sơn Nam tra cứu từ tài liệu, nhưng quan trọng hơn là nhờ ông trực tiếp đi thực tế, rồi được ông ghi lại bởi một ngòi bút tài năng, giàu lòng yêu quê hương nên nội dung những cuốn biên khảo ấy luôn hấp dẫn, đem lại cho người đọc nguồn tri thức văn hoá phong phú về đất phương Nam
Chẳng hạn, Văn minh miệt vườn là một cuốn sách thể hiện tầm nhìn văn hoá của
Sơn Nam “Miệt vườn” chỉ những vùng đất cao, thấm nước ngọt, thuận lợi cho việc lập vườn, trồng cây Nơi đây, cách sinh hoạt được tổ chức có khác nếu so với những nơi người dân sinh sống bằng nghề nông Người dân miệt vườn hay miệt ruộng tuy khác nhau về cách thức làm ăn nhưng đều nặng lòng với nơi chôn nhau cắt rún Đó là nét văn hóa đặc trưng dễ nhận thấy ở người dân vùng đất này Sự hình thành miệt vườn đã tạo nên hệ sinh thái mới, đẩy lùi tình trạng sình lầy, thú dữ lan tràn, giúp con người có cuộc sống ổn định Vườn cây
mở ra, dân miệt vườn thêm đông đúc, nhà cửa khang trang, xóm làng trù phú Cảnh sông nước, vườn, ruộng nối liền nhau, trên bến dưới thuyền là sự đổi mới hoàn toàn so với thời dân cư thưa thớt, sông rạch ngăn cách việc giao thông, đi lại trước đây
Sơn Nam gọi châu thổ sông Cửu Long là Văn minh Miệt Vườn, văn minh sông nước hay văn minh sông rạch để nói lên tính chất cá biệt của sông nước miền Nam, chỗ
nào cũng sông, cũng rạch, một nét đặc thù chỉ có ở miền Nam Về mặt địa lí của miệt
vườn, nhà văn Sơn Nam xác định: “Miệt vườn là vùng Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, sau này là một phần của Cần Thơ Vùng miệt vườn là nơi có mật độ dân số cao nhứt, theo
Trang 26bản đồ phân phối cư dân Và cũng phù hợp với vùng phù sa ven sông ít phèn, theo bản
đồ thổ nhưỡng.”1
Về sáng tác, Sơn Nam viết các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn và ký
Về tiểu thuyết, ông có khoảng mười cuốn Có thể kể ra đây một số tác phẩm
chính như: Chim quyên xuống đất (1963), Vọc nước giỡn trăng (1965), Hai cõi U Minh (1965), Ngôi nhà mặt tiền (1992), Âm dương cách trở (1993)… Theo đánh giá của các nhà phê bình, so với các thể loại khác của Sơn Nam, tiểu thuyết của ông “không có tiếng vang gì đáng kể” [199, tr.1565]
Truyện ngắn được xem là thể loại thành công nhất của Sơn Nam Đây cũng là thể
loại mà nhà văn tâm đắc nhất, chính Sơn Nam cho rằng: “Truyện ngắn là thể loại mà tôi tạm so sánh như một cái cành, với lá, hoa linh tinh hoặc cái đọt non, trong khi tiểu thuyết là một cội cây toàn vẹn Viết truyện ngắn, phải vận dụng nội lực nhằm toát lên cái phong thái nô đùa, thong dong, ngây ngô, nhưng là cái ngây ngô khổ luyện, có định hướng.” [354, tr.6]
Theo thống kê chưa đầy đủ, Sơn Nam đã viết khoảng hơn 300 truyện ngắn Những truyện ngắn của Sơn Nam ban đầu được đăng trên các báo, về sau mới in thành
tập, có khoảng mười tập, mà nổi tiếng nhất là tập Hương rừng Cà Mau Bấy giờ, trên tờ Nhân loại, những câu chuyện viết về đồng quê của Sơn Nam liên tục được đăng và ít lâu sau, mục “Hương rừng Cà Mau” xuất hiện thường kỳ Năm 1962, nhà văn Sơn Nam đã tập hợp 18 truyện ngắn, cho in thành tập Hương rừng Cà Mau, sau đó tập truyện được tái bản nhiều lần Năm 2001, Nhà xuất bản Trẻ tái bản tập truyện này với nhan đề Hương rừng Cà Mau - tập 1 Nhà xuất bản Trẻ còn tuyển các truyện ngắn khác của ông in thành Hương rừng Cà Mau - tập 2 ( 26 truyện) và Hương rừng Cà Mau - tập 3 ( 21 truyện)
Trong truyện ngắn Sơn Nam, không gian nghệ thuật là bối cảnh sông nước mênh mông, hiu quạnh mang nét đặc trưng về miền đất cực Nam của Tổ quốc Những truyện
ngắn như: Mùa len trâu, Một cuộc bể dâu, Tình nghĩa giáo khoa thư, Hương rừng, Người mù giăng câu v.v…của tác giả đã đưa người đọc vào một thế giới của những
1 Trần Xuân An – “Miệt vườn qua cái nhìn của nhà văn Sơn Nam”
(http://namkyluctinh.org/a-vh-vminh/tranxuanan-vanminhmietvuon.htm)
Trang 27người đi khai hoang gian khổ, buồn tẻ, hiu quạnh Từ chuyện bắt cá sấu, đánh cọp, giành giật với thiên nhiên từng mảnh đất để canh tác đến cách sống mộc mạc, chân tình; từ những mùa lúa, mùa nước nổi , tất cả đã hình thành nên tính cách đầy nghĩa khí của người Nam Bộ Có thể nói, truyện ngắn Sơn Nam chính là tấm lòng của nhà văn đối với quê hương, đồng bào, với những nét đẹp văn hoá chỉ riêng miền Tây Nam Bộ mới có
Có lần trả lời một nhà báo phỏng vấn, Sơn Nam cho rằng: “Hương rừng Cà Mau thành công ở chỗ nó phần nào dựng lại được phong tục, lối sống, suy nghĩ và tình cảm của người dân miền Nam ở buổi đầu đi khẩn hoang Một giai đoạn đầy gian truân, khổ
ải của cha ông, nhưng cũng rất vinh quang, rất đẹp và dạt dào tình cảm Câu chuyện về những người đi khẩn hoang gợi lên cái tình người dân dã, keo sơn, cái tình quê hương đồng bào khắc khoải.” 1
Đọc truyện của Sơn Nam, chúng ta không chỉ thưởng thức giá trị nghệ thuật văn chương và xao xuyến rung động vì những tình cảm chân thành, mà còn hiểu biết thêm về nhiều phương diện văn hoá sống động và phong phú của vùng đất mới Nếu ai đó chưa một lần đặt chân đến đây, thì những trang viết của Sơn Nam chính là lời giới thiệu tốt nhất để giúp họ hiểu thêm về văn hoá, cuộc sống, con người của vùng đất thấm đẫm tình yêu thương này
Đối với thế Ký, tuy viết không nhiều nhưng Sơn Nam cũng có tác phẩm thành
công, đáng kể nhất là ký sự Tây đầu đỏ, giải Nhì giải thưởng Văn nghệ Cửu Long của
Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ năm 1953-1954
Bên cạnh văn xuôi ( biên khảo, sáng tác ) như vừa nêu, Sơn Nam còn làm thơ
Hiện chỉ còn giữ được một bài thơ : bài “Thay lời tựa” viết cho tập truyện Hương rừng
Cà Mau của chính ông Đây là một bài thơ hay, từ lâu được nhiều nhà phê bình ngợi
khen, trong đó có những câu đặc sắc như:
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
1 Đào Tăng – “Sơn Nam ngoại sử”
(truyenky.vn/showthread.php?t=7000)
Trang 28Nắng mưa miền cố thổ
Và sau khi ông mất, hai câu cuối của bài thơ trên đã được khắc trên bia mộ:
Phong sương mấy độ qua đường phố,
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê
Về bài thơ này, Viễn Phương có nhắc lại trong Lời giới thiệu tập Hương rừng Cà Mau: “Hơn nữa, bài thơ ấy, ngày xưa cũng như hôm nay vẫn gợi trong tôi một nỗi nhớ mênh mông, thăm thẳm đối với vùng đất U Minh muỗi mòng đỉa vắt, tràm đước bạt ngàn, dớn choại âm u, đỏ ngầu dòng nước.”
Có thể nói, Sơn Nam vừa là nhà văn, nhà báo, vừa là nhà nghiên cứu văn hoá…
đa tài mà ở lĩnh vực nào ông cũng đều có những đóng góp không nhỏ Những tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện ngắn, mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn mộc mạc mà ý nhị, tinh tế
Với số lượng tác phẩm đồ sộ như vậy, Sơn Nam được xem như một đỉnh núi sừng sững trong rừng văn Nam Bộ Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Sơn Nam đã tạo
sự ngưỡng mộ cho đông đảo bạn đọc và các nhà văn trẻ, ông xứng đáng là một danh nhân văn hóa của Việt Nam
1.3 Nhà văn Bình Nguyên Lộc với văn hóa Nam Bộ
1.3.1 Cuộc đời Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 07-3-1914, tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hoà (nay là thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương); mất tại California, Hoa Kỳ, ngày 07-3-1987 Dòng họ ông vẫn giữ được bản gia phả mười đời sinh sống ở đất Tân Uyên, một vùng đất bên con sông Ðồng Nai hiền hoà Trong ý thức văn hoá, Bình Nguyên Lộc luôn hướng về nguồn cội, luôn truy nguyên nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc di dân vào miền Nam
Thuở nhỏ, ông học chữ Nho với một thầy đồ trong hai năm (1919-1920), sau đó học tiểu học ở trường làng (1921-1925) Năm 1928, ông thi đậu vào Trường Trung học Pétrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong, Tp Hồ Chí Minh), đậu Thành chung năm
1934 Sau vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông không thể tiếp tục học lên nữa Với tấm bằng Thành chung, ông thi vào ngạch thư ký hành chính và hơn một năm sau mới được
Trang 29tuyển dụng Ban đầu Bình Nguyên Lộc làm việc tại Kho bạc Thủ Dầu Một, sau đó chuyển xuống Kho bạc Sài Gòn (sau là Tổng nha Ngân khố)
Năm 1942, thầy ký Tô Văn Tuấn bắt đầu viết văn với bút danh Bình Nguyên Lộc Ông lấy bút danh này là để bộc lộ tình yêu quê hương đất nước, yêu nơi chôn nhau cắt rún Bình nguyên: Đồng [bằng]; Lộc: con Nai, tức Đồng Nai Ông muốn làm con nai hiền lành rong chơi trên cánh đồng văn chương miền Đông Nam Bộ Truyện ngắn đầu
tay của ông có tên là Phù sa đăng trên tạp chí Thanh niên của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, cũng trong năm này, ông hoàn tất tác phẩm Hương gió Đồng Nai
Năm 1944, Bình Nguyên Lộc bị bệnh thần kinh, ông phải nghỉ việc một thời gian Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông về sống ở quê nhà tại Tân Uyên Năm 1946 gia đình dời về Lái Thiêu, tại đây ông tham gia kháng chiến và là thành viên Hội Văn hoá Cứu quốc tỉnh Biên Hoà
Từ 1949 đến gần cuối đời, Bình Nguyên Lộc cùng gia đình dời về Sài Gòn, tiếp tục làm báo, viết văn Cũng như nhiều nhà văn khác, tuy về thành nhưng Bình Nguyên Lộc không trở lại đời công chức để phục vụ cho Pháp mà cùng với các nhà văn, nhà báo tiến bộ khác như Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang…có nhiều hoạt động nhằm ủng hộ cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp Việc này, về sau nhà văn Nguyễn Ngu Í có nói: “Bình Nguyên Lộc ở vào cái thế bắt buộc phải về thành vì ở trong khu kháng chiến, căn bệnh thần kinh hành hạ mà cuộc sống kháng chiến lại không đủ điều kiện để điều trị.” Việc về thành lại làm Bình Nguyên Lộc ray rứt mãi: “Nhưng rồi mình lại lọt vào cái thế phải về,
mà trở về thành là mình cảm thấy xót xa như kẻ đào ngũ Đối với dân tộc, mình thấy có tội phần nào” [96, tr.219]
Năm 1958, Bình Nguyên Lộc chủ trương tuần báo Vui sống Đây là một tờ báo
văn nghệ nhưng lại chủ trương áp dụng kiến thức phổ thông vào đời sống và nghiên cứu bệnh thần kinh Tuần báo này quy tụ được nhiều cây viết có tên tuổi nhưng chỉ ra được
10 số thì đình bản Năm 1960, Bình Nguyên Lộc cùng một số bạn bè thành lập Nhà xuất bản Bến Nghé với mục đích xuất bản các tác phẩm mang hương sắc Đồng Nai, Bến Nghé Trong thời gian từ 1960 đến 1970, ông làm chủ bút nhiều tờ nhật báo, cộng tác với nhiều tờ báo và sáng tác đều đặn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: năm 1957-1958, ông
Trang 30cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn hóa Ngày nay; làm chủ nhiệm tuần báo Vui sống (1958); phụ trách trang văn nghệ báo Tiếng chuông(1960-1963); chủ biên nhật báo Tin sớm (1964-1965)
Đặc biệt, từ 1960 đến 1975, Bình Nguyên Lộc chuyên viết feuilleton (tiểu thuyết đăng báo hàng ngày) cho các nhật báo, mà trước đó từ những năm 1951-1952 ông đã viết dạng này rồi Phần lớn những feuilletons đó có cốt truyện thuộc loại phiêu lưu, dã sử…và được ông ký dưới các bút hiệu như Phong Ngạn, Trình Nguyên Ðến năm 1956, ông mới bắt đầu viết feuilleton có cốt truyện tình cảm và ký bút hiệu Bình Nguyên Lộc Những năm 1960-1975 là giai đoạn mà Bình Nguyên Lộc viết feuilleton nhiều nhất, có lúc mỗi ngày ông viết tới 11 feuilletons, chỉ sau hai nhà văn Lê Xuyên và An Khê ( viết đến 12 feuilletons) Viết nhiều, lại phải câu khách, những tác phẩm đó
khó có thể đạt chất lượng nghệ thuật và giá trị tư tưởng cao: “Nghề nghiệp đã giết chết một số thiên tài ngay khi chưa kịp thành hình…Cả Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… cũng đều lần lượt chui vào cái máy chém của báo hàng ngày.” [260, tr.116]
Giai đoạn sống ở Sài Gòn, nhà văn Bình Nguyên Lộc đã tham gia một số tổ chức, phong trào như: năm 1966, ông tham gia phong trào đấu tranh chống văn hoá đồi trụy cùng với các nhà văn, nhà báo tên tuổi khác như: Thiếu Sơn, Nam Đình, Đông Hồ, Tô Nguyệt Đình, Kiên Giang…Lúc này, ông là thành viên trong Ban Chủ tịch Lực lượng Bảo vệ Văn hoá Dân tộc cùng với Thiên Giang, Thuần Phong…Từ năm 1970 cho đến 1974, ông là Hội viên Hội đồng Văn hoá Giáo dục miền Nam Sau 1975, Bình Nguyên Lộc ngưng cầm bút vì
bị nhiều chứng bệnh, trong đó nguy hiểm nhất là chứng cao huyết áp, hành hạ
Tháng 10 năm 1985, Bình Nguyên Lộc sang định cư tại Rancho Cordova, thuộc quận Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ và ông mất đột ngột tại đây vào năm
1987 vì một cơn đau tim
Có thể nói trọn cuộc đời (dù những năm cuối đời ông không sống ở quê nhà), Bình Nguyên Lộc luôn luôn hướng tất cả tâm tình về miền đất nơi ông sinh ra và lớn lên, nơi đã chứng kiến biết bao những thăng trầm trong cuộc đời ông: đất Đồng Nai Tác
phẩm đầu tay của ông là Hương gió Đồng Nai, tác phẩm quan trọng nhất đời ông là Phù
sa, công trình biên khảo đồ sộ nhất là Thổ ngơi Đồng Nai, tên nhà xuất bản do ông thành
Trang 31lập là Bến Nghé…Tất cả đều là hình ảnh của quê hương thân yêu, nơi ông được sinh ra
và lớn lên
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc
1.3.2.1 Quan điểm sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Giống như bút danh của mình, những trang văn của Bình Nguyên Lộc bắt nguồn
từ sự rung động trước cảnh đẹp quê hương như ông đã tâm sự: “Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và lòng nhớ nhung tha thiết của tôi với nó, chớ không phải vì ái tình, vì yêu đương tác động ”.1
Trong một lần trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi, Bình Nguyên Lộc tâm sự:
“Anh thấy đó, quê tôi đẹp như vậy và luôn nằm trong tiềm thức tôi, nên văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và cũng bắt nguồn từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi đối với nó, rồi thể hiện ra tác phẩm, chớ không phải vì ái tình hoặc vì yêu đương tác động” [28, tr.117] Bình Nguyên Lộc thừa nhận, nguồn cảm hứng ban đầu của mình
khi đến với văn chương chính là vẻ đẹp của quê hương và hình ảnh của quê hương có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của ông
Tâm thức luôn hướng về quê hương không chỉ bộc lộ qua sáng tác mà còn thể hiện qua những lần nhà văn Bình Nguyên Lộc đối thoại hoặc tâm sự với bạn bè Trong một bài viết của mình, Bàng Bá Lân khẳng định Bình Nguyên Lộc luôn tâm huyết với đề tài về quê
hương miền Nam, đồng cảm với những nhà văn cũng gắn bó với miền Nam như mình: “Tôi ích kỷ lắm nên tôi thương những người thương tôi Qua mấy bài thơ Trái sầu riêng, Trái măng cụt, Trái xoài…, tôi thấy rằng anh thương mến miền Nam của chúng tôi, tức là của tôi, tức là chính tôi, nên tôi thương mến anh.” [109, tr.168]
Cũng như Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc rất quan tâm tới văn hóa Nam Bộ tuy mối quan tâm và cách thể hiện của mỗi người có khác nhau Nếu như Sơn Nam quan tâm tới miền Nam thời mở cõi thì Bình Nguyên Lộc quan tâm tới hành trình di dân của lưu dân từ miền Bắc và miền Trung tiến về miền Nam Nếu như Sơn Nam là họa sĩ vẽ nên bản sắc văn hóa miền Tây thì Bình Nguyên Lộc là chiến sĩ bảo vệ văn hóa miền
1 Nguyễn Mạnh Trinh - Bình Nguyên Lộc, nhìn từ con người và tác phẩm
www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=35278 - Hoa Kỳ
Trang 32Đông trước nguy cơ của văn minh đô thị Ông quan niệm, văn chương như một thứ vũ khí để bảo tồn văn hóa dân tộc Những tác phẩm của ông như là một hình thức đấu tranh giữ đất, giữ nước, giữ nền văn hóa Nam Bộ
Về hình thức thể hiện, Bình Nguyên Lộc giống Sơn Nam ở chỗ, chuyên viết về thiên nhiên và con người Nam Bộ bằng lối văn giản dị Văn chương Bình Nguyên Lộc không sáo rỗng, kiểu cách và hoa hoè Ông cho rằng, điều cốt lõi cho sáng tác của ông là ý tưởng gửi
gắm trong mỗi truyện, bên cạnh đó, quá trình dựng truyện ông luôn bám sát thực tế: “Tất cả những chi tiết trong hầu hết tác phẩm của tôi đều là có thật ở khắp nơi mà tôi đã tìm đến, đã gặp hoặc tôi cũng là một vai trong những sự việc xảy ra, chớ tôi không bịa được chi tiết Mà tôi chỉ bịa cốt truyện để trình bày cho phù hợp ý truyện của tôi, do tôi đã thu nhặt được những chi tiết cụ thể trong đời sống hằng ngày mà thôi.” [28, tr.37]
Bình Nguyên Lộc làm nghệ thuật nhưng ông mong muốn tác phẩm của mình phải có giá trị xã hội Theo ông, giá trị của tác phẩm văn học không chỉ ở nghệ thuật mà còn ở ý nghĩa của nó đối với đời sống Mối quan tâm xã hội của Bình Nguyên Lộc có vẻ rộng hơn Sơn Nam Nếu Sơn Nam chỉ quan tâm đến miền Tây thì Bình Nguyên Lộc phóng tầm nhìn xa hơn Ông đặt văn hóa Việt Nam trong mối tương quan với các nền văn hóa trong khu vực Ông không chỉ viết về nông thôn mà còn viết về thành thị Dù viết về đề tài nào, lúc nào ông cũng đau đáu trước nguy cơ mai một những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Bình Nguyên Lộc xứng đáng được xem là một chiến sĩ tiên phong trong phong trào bảo tồn văn hóa dân tộc ở miền Nam trước 1975
1.3.3.2 Đề tài văn hoá Nam Bộ trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc (từ góc nhìn thể loại)
Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc đồ sộ về số lượng và đa dạng về thể loại Ông không chỉ làm thơ, viết truyện dài, truyện ngắn, tùy bút mà còn viết biên khảo, viết báo…Một cách khái quát, có thể phân chia sáng tác của ông ở hai phương diện chính: biên khảo và sáng tác
Ở lĩnh vực biên khảo, Bình Nguyên Lộc tập trung nghiên cứu hai ngành khoa học: dân tộc học và ngôn ngữ học
Trang 33Về dân tộc học, Bình Nguyên Lộc có cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam được xuất bản năm 1971 Với tác phẩm này, tác giả đã góp phần vén lên tấm màn
bí mật từ lâu phủ kín nguồn gốc của dân tộc Việt Nam Theo tác giả, Tổ tiên của Việt tộc khởi nguyên từ vùng cao nguyên Tây Tạng, xuống miền Bắc Trung Quốc, về sau rời bỏ nơi đó ra đi Một số vượt biển, đến các nơi như Indonésia, Philippine, Malaysia…Số khác, đi dần xuống miền Nam Trung Quốc, sau tạo thành dân Bách Việt Người Việt là
sự pha trộn của các sắc dân này Từ khi được xuất bản, công trình này của Bình Nguyên Lộc đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý cũng như có nhiều ý kiến phản bác
Bình Nguyên Lộc còn được tôn vinh là nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, tiêu biểu là
tác phẩm Lột trần Việt ngữ (1972), thể hiện một cái nhìn mới về tiếng Việt Bình Nguyên
Lộc đứng trên quan điểm dân tộc học để tìm hiểu nguồn gốc và ngữ nguyên của tiếng Việt từ thời cổ đến thời hiện đại Bình Nguyên Lộc dùng ngôn ngữ để tìm nguồn gốc dân
tộc Việt Nam, một khía cạnh mà cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam khởi
dẫn nhưng chưa đi sâu vào chi tiết
Sáng tác văn chương là phần quan trọng nhất trong văn nghiệp của nhà văn Bình Nguyên Lộc, trong đó, truyện dài và truyện ngắn là những thể loại chủ yếu
Về truyện dài, phần lớn những tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đều đăng báo nhiều kỳ, phù hợp với thị hiếu người đọc, phần lớn là giới lao động, cho nên giá trị nghệ thuật những truyện dài đó thường không cao Bình Nguyên Lộc viết hơn năm mươi tiểu
thuyết và Đò dọc được xem là truyện dài thành công nhất
Nhìn lại sự nghiệp văn học của Bình Nguyên Lộc, ta thấy thể loại được xem là tâm huyết và thành công nhất của nhà văn chính là truyện ngắn Con số truyện ngắn của nhà văn lên đến hàng ngàn, trong đó có nhiều tác phẩm được xem là tuyệt tác, nằm rải
rác trong các tập Nhốt gió (1950), Ký thác (1960), Mưa Thu Nhớ Tằm (1965), Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (1966), Tình đất (1966), Thầm lặng (1967), Cuống rún chưa lìa (1969)
Tập truyện Nhốt Gió của ông được xem là con chim én báo hiệu mùa xuân Còn tập truyện Ký Thác (1960), trong đó có hai truyện Rừng Mắm và Ba Con Cáo, mới là mùa
xuân thật sự trong văn chương của ông Trong hàng loạt tác phẩm của nhà văn, các truyện
Trang 34ngắn như: Rừng Mắm, Hồn Ma Cũ, Rung Cây Dừa, Người Tài Xế Điên, Ba Con Cáo, Đôi Bạn Mắc Hoa Vông, Ba Sao Giữa Trời… được xem là những tuyệt tác văn chương
Riêng tập Cuống rún chưa lìa là sự tiếp tục Ký thác, nói về tình cảm thương nhớ
quê hương, sự gắn bó của con người với nơi sinh thành, bất kể nơi ấy giàu nghèo ra sao Hình ảnh của làng quê khi chưa bị chiến tranh tàn phá và lúc chiến tranh nổ ra gây nên cuộc ly hương vẫn luôn là nỗi ám ảnh trong tâm hồn của các nhân vật trong truyện và đó cũng là nỗi ám ảnh của chính nhà văn Nếu vì hoàn cảnh phải xa quê, họ sẽ thương nhớ hình ảnh quê nhà không nguôi dù nguyên nhân làm nên nỗi nhớ đó có thể chỉ là con ốc
gạo, mùi hương hành kho, mùi đất, hơi ấm của lửa… trong các truyện Hương hành kho, Chiếc khăn kỷ niệm, Lửa Tết, Thèm mùi đất, Về làng cũ…
Tập Mưa Thu Nhớ Tằm (1965) gồm 16 truyện và một kịch ngắn, phần lớn các
truyện trong tập đã được viết vào mùa thu 1956 Truyện viết về những mảnh đời và lòng
người trước nghịch cảnh cũng như sự đổi thay của thời gian trong các truyện Tre Phải Tàn và Quyển Gia Phổ…
Với tác phẩm Những bước chân lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, ông truy tìm nguồn gốc, dĩ vãng của Sài Gòn, một thành phố mới, còn ít tuổi, chưa
kịp có dĩ vãng rêu phong Đây là những bài bút ký của ông ghi chép về Sài Gòn đã đăng trên báo trước khi được xuất bản vào năm 1966
Từ năm 1967, trên tờ báo Thời thế, Bình Nguyên Lộc còn viết Sài Gòn 50 năm trước đăng nhiều kỳ, kể lại những chuyện xưa tích cũ về Sài Gòn Với cả tấm lòng thương
yêu gắn bó, ông đi lang thang khắp chốn đô thành, nghe nhìn tất cả những gì bắt gặp, vừa bằng giác quan, vừa bằng sự cảm nhận tinh tế nhất của người nghệ sĩ để ghi lại cả “cái hồn” của Sài Gòn vô hình nhưng sâu lắng trong từng chiếc lá me, một cánh diều hay ngôi miếu cũ… Phải nhiều yêu thương lắm, Bình Nguyên Lộc mới có thể nâng niu, chăm chút những gì nhỏ nhoi nhất mà mọi người đã lãng quên, không nhìn thấy, cho dù nó vẫn tồn tại giữa dòng đời Nhiều người đánh giá đây là tập bút ký rất thành công của tác giả và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho tình cảm tha thiết với Sài Gòn dĩ vãng của nhà văn
Nhân vật trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc phần lớn là những người nghèo, có nhiều nỗi bất hạnh Những nhân vật ở thành thị hầu hết đều có gốc gác ở
Trang 35nông thôn, rồi vì hoàn cảnh mà phải trôi giạt về thành thị Cuộc sống và tâm trạng của họ chứa đựng những vấn đề có tầm vóc lớn lao hơn số phận bé mọn, vô danh của họ, liên quan đến những vấn nạn của đất nước Đó chính là vấn đề văn hóa, yếu
tố cốt lõi cho sự sinh tồn của một dân tộc, một quốc gia
Đối với Bình Nguyên Lộc, nông thôn gắn liền với cuộc sống, số phận của những con người nghèo khổ, tội nghiệp, không tên tuổi, gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống lại
là nơi dễ dàng tìm thấy sự đùm bọc, yêu thương, nơi của bao ước vọng được nuôi dưỡng, của những tình cảm, sự hi sinh cao đẹp và là chỗ dựa cho đời sống tinh thần, cho sự hình thành nhân cách Thế giới nông thôn đi vào truyện ngắn của ông là một thế giới phong phú, đa dạng được cụ thể bằng mùi vị, âm thanh, hình ảnh mà vì nó, người ta có thể bỏ lại sau lưng tất cả để quay về
Đọc truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, người đọc dễ nhận thấy tình yêu thắm thiết của ông với quê hương đất nước, lòng hoài niệm về những hình ảnh xưa cũ của đồng quê, niềm tưởng nhớ công lao khó nhọc của tiền nhân Qua những tình cảm ấy, nhà văn bày tỏ sự lo lắng trước hiện tình đất nước Ông cố gắng trình bày và giải thích những vấn đề ấy như những tiếng kêu đánh thức sự quan tâm của xã hội Xuất phát từ quan niệm như thế, nên tác phẩm của ông dù ở thể loại nào cũng mang nội dung trong sáng, giàu tính xây dựng Chưa kể đến các biên khảo về nguồn gốc ngôn ngữ và nguồn gốc dân tộc, chỉ riêng gia tài văn chương cũng đủ để vinh danh ông là một nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn hóa dân tộc
Trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, có thể nói, nỗi nhớ quê hương là một chủ
đề nổi bật trong truyện ngắn của ông Đó là một sự trở về nguồn, là phản ứng trước cuộc
xâm lăng ồ ạt của văn hóa Mỹ vào vùng tạm chiếm, nhất là ở các đô thị Chính cuống rún chưa lìa là sức mạnh, là thành trì vững chắc góp phần cho văn hóa Việt Nam vượt
qua thử thách để trở về với bản sắc văn hóa của mình
Trong nhiều truyện ngắn của mình, Bình Nguyên Lộc đã diễn tả rất tài tình về
tâm trạng ray rứt, sầu khổ của những người con xa xứ (Căn bệnh bí mật của nàng, Chiêu hồn nước, Những đứa con thương của đất mẹ ) Tình cảm và lòng nhớ nhung tha thiết
mà nhà văn nhắc đến còn là nguyên nhân để văn chương ông hướng đến việc lưu giữ
Trang 36hình ảnh con người và những giá trị văn hoá miền Nam trong dòng chảy mải miết không ngừng của thời gian
Bình Nguyên Lộc không chỉ là một nhà văn, ông còn là nhà văn hóa, mối bận tâm canh cánh trong tâm tư ông chính là những vấn đề liên quan đến nền văn hóa truyền thống của quê hương Những vấn đề như ông đã tiên cảm, đến hôm nay đang trở nên nghiêm trọng, đầy thách thức cho chính thế hệ hiện tại Phạm Phú Phong đã nhận xét về
Bình Nguyên Lộc: “Một đặc điểm tương đối phổ biến của các tác giả sáng tác ở miền Nam trước đây là hầu hết các nhà văn đều là những nhà văn hoá, tác phẩm của họ không chỉ thể hiện sự am hiểu đến tường tận các lĩnh vực văn hoá, mà trong một đời văn lực lưỡng của mình, họ không chỉ sáng tác văn chương mà còn sưu tầm, dịch thuật, khảo cứu nhiều lĩnh vực văn hoá như lịch sử, địa lý, địa chí, ngôn ngữ, dân tộc học, văn học
và văn hoá dân gian, như các tác giả từng toả bóng một thời là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Chánh Sắt, Đông Hồ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Sơn Nam… trong đó có Bình Nguyên Lộc ” 1
Có thể đúc kết những đề tài chính trong sáng tác của nhà văn Bình Nguyên Lộc như sau:
Thứ nhất là khai hoang mở cõi: ghi lại công cuộc Nam tiến của tiền nhân là đề tài
mà nhà văn Bình Nguyên Lộc ấp ủ nhiều nhất, dành nhiều công sức nhất Khi ngược theo sông Đồng Nai tiến lên phía thượng nguồn, đến Tân Uyên thì những người khai hoang phải chùn bước vì gặp trở ngại lớn: đất đai khô cằn, rừng rậm và thú dữ đe dọa mạng sống Họ kiên trì chịu đựng tất cả thử thách để bám đất, dựng làng để con cháu của
họ có mảnh ruộng, miếng vườn mà an cư lạc nghiệp Dòng họ Bình Nguyên Lộc đã mười đời lập nghiệp và gắn bó trên đất Tân Uyên, cách Cù lao Phố (Biên Hoà) không xa, nơi mà người Việt đặt bước chân đầu tiên vào Nam và từ đó, mở ra một cơ đồ rộng lớn cho đất nước ngày nay Đề tài khai hoang mở cõi được nhà văn thể hiện trong khá nhiều
tác phẩm, như Hương gió Ðồng Nai, Phù sa, Rừng mắm…
1 Phạm Phú Phong – “Văn chương Bình Nguyên Lộc - từ góc nhìn văn hóa”
(http://www.binhnguyenloc.de/BaiViet/PhamPhuPhong/VanChuong BNL.pdf”
Trang 37Thứ hai là thời cuộc đổi thay: Bình Nguyên Lộc viết nhiều về miền Đông Nam
Bộ trong chiến tranh, trong quá trình đô thị hóa Vừa đau lòng trước cảnh quê hương bị chiến tranh tàn phá, Bình Nguyên Lộc vừa lo âu, trăn trở trước những đổi thay trong xã hội Trong dòng suy tưởng này, Bình Nguyên Lộc muốn làm thức tỉnh ý thức của xã hội trước những tai họa mà lối sống hưởng thụ và vị kỷ của ngoại bang đang gieo rắc hàng ngày Ông hướng tầm mắt về nông thôn của những ngày xưa cũ, nơi còn lưu giữ những
gì là tốt đẹp trong truyền thống văn hóa của người xưa Trong khuynh hướng này, ta nhận thấy tinh thần dân tộc được thể hiện rất rõ nét trong tâm hồn nhà văn
Thân phận người dân quê bỏ làng trôi giạt ở chốn đô thành là hình tượng được nhà văn khắc họa trong khá nhiều tác phẩm với những cảnh đời, số phận khác nhau Điểm chung của những nhân vật đó là từng con người đã hiện lên trên các trang viết như những nốt nhạc, hợp thành một giai điệu với điệp khúc buồn da diết khôn nguôi Những
truyện ngắn như: Người chuột cống, Trự thứ mười, Nuôi ghẻ, Ba con cáo, Thèm mùi đất,
Ma ném đá, Về làng cũ, Những đứa con thương của đất mẹ… đã khắc hoạ thân phận của
người dân quê phiêu giạt lên đô thị một thời đã qua
Thứ ba là cội nguồn dân tộc: Bình Nguyên Lộc có nhiều công trình biên khảo rất công phu về việc truy nguyên nguồn gốc dân tộc và ngôn ngữ, phản ánh ý thức và nỗ lực muốn xác định tính độc lập, chủ quyền, thoát khỏi sự lệ thuộc trước ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài
Văn chương Bình Nguyên Lộc mang hơi thở của cuộc sống thời đại, mang đậm không khí của đất và người miền Nam trong thuở tiền nhân khai hoang, mở cõi Văn chương của ông thường thấm đẫm tình yêu quê hương, xứ sở, đề cao vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, ca ngợi những phẩm chất cao quý đã giúp dân tộc tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh bền bỉ Văn xuôi của ông nói chung, truyện ngắn nói riêng, đã làm say mê nhiều thế hệ độc giả miền Nam vì hiện thực bình dị, vì tình yêu quê hương, đất nước, con người thấm đẫm trong từng trang viết và cả vì sự hấp dẫn ở nghệ thuật viết truyện
Bình Nguyên Lộc xứng đáng được xem là một nhà văn lớn của văn chương miền Nam Cho đến cuối đời, Bình Nguyên Lộc vẫn viết vì món nợ văn chương Văn
Trang 38chương Bình Nguyên Lộc đầy ắp tình yêu quê hương, nhất là thiên nhiên và cội nguồn dân tộc Ở Bình Nguyên Lộc, cái ông viết ra hàng ngày trên báo chính là tấm lòng, là những gì thiết tha một đời của ông, là những gì vẫn đeo đuổi ông từ lúc bắt đầu con đường văn nghiệp cho đến những năm cuối đời ở tận đất Mỹ lạnh giá, xa xôi
1.4 Sơn Nam – Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn so sánh
Viết về thiên nhiên và con người Nam Bộ hồi nửa đầu thế kỷ XX có các nhà văn như Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh…Thế hệ tiếp theo có Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lý Văn Sâm, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng… Trong số này, có hai người nổi bật là Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, một người ở miền Tây; một người ở miền Đông Mỗi khi nhắc đến Bình Nguyên Lộc người ta nhớ đến Sơn Nam, ngược lại, mỗi khi nói đến Sơn Nam, người ta cũng không quên Bình Nguyên Lộc Cuộc đời, sự nghiệp và khuynh hướng sáng tác của hai nhà văn này tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng giữa họ lại có những điểm tương đồng, nhất là về phương diện văn hóa, nghệ thuật Sơn Nam chuyên viết về miền Tây, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông, khi kết hợp lại, sẽ hợp nên bức tranh xinh đẹp của quê hương, làm sững sờ lẫn thích thú cho những ai còn nặng tình với vùng đất phương Nam này
Cả hai đều là những tên tuổi lớn trên văn đàn, được nhiều người biết đến; được mọi người nể phục vì tài năng, nhiệt huyết; vì sức sáng tác đa dạng và sung mãn; vì sự cống hiến bền bỉ suốt cuộc đời cầm bút của họ Họ làm thơ, viết truyện dài, truyện ngắn, biên khảo…Bình Nguyên Lộc có vài chục truyện dài, truyện ngắn thì được cho là đã viết cả hàng ngàn Sơn Nam không thua kém lắm về phương diện này, với cả trăm truyện ngắn đã
xuất bản và đang tiếp tục sưu tầm, chưa biết chắc con số cuối cùng sẽ là bao nhiêu
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc hầu như không thành công về truyện dài, đó là hậu quả của việc viết tiểu thuyết in trên các báo hàng ngày, riêng mảng truyện ngắn được xem là thể loại thành công và giá trị nhất của hai ông Từ thập niên bảy mươi trở đi, sức sáng tác yếu dần, Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không còn tác phẩm văn chương nào gây tiếng vang nữa và cũng từ đó, cả hai bắt đầu chuyên tâm hơn ở thể loại biên khảo
Về biên khảo, Sơn Nam thường tập trung vào các đề tài như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội… của quê hương miền Nam, còn Bình Nguyên Lộc lại chú tâm những
Trang 39công trình qui mô hơn: nguồn gốc dân tộc với những tác phẩm như Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam và Lột trần Việt ngữ
Hai nhà văn giống nhau đến nỗi, có vài truyện ngắn, nếu không ghi chính xác tên tác giả, ngoại trừ những người có biệt nhãn, thì người đọc thường khó biết được đó là tác
phẩm của ai: nếu Sơn Nam có truyện Chiếc ghe ngo, Bình Nguyên Lộc có Đồng đội, đều
tả cảnh đua thuyền náo nhiệt, vui vẻ trên sông; Sơn Nam có Hòn Cổ Tron, Bình Nguyên Lộc có Rung cây dừa, mô tả cuộc sống đơn độc của một người muốn xa lánh cõi trần tìm quên trên hoang đảo ngoài khơi vịnh Thái Lan; Sơn Nam có truyện Mùa len trâu diễn tả cảnh tượng hoành tráng của đàn trâu lội trên sông nước, Bình Nguyên Lộc có truyện Ăn trộm bò với hàng ngàn con bò vượt rừng núi Trường Sơn…và rất nhiều đề tài khác nữa,
diễn tả những sinh hoạt nông thôn, hai ông cũng có những sáng tác trùng hợp với nhau
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đều hết lòng thương nhớ quê hương và dành phần lớn thời gian của mình cho quê hương qua những tác phẩm văn học, cả hai đều trăn trở và lo lắng về một quê hương sắp biến mất và số phận những người dân quê phải lưu lạc nổi trôi chốn thị thành
So sánh hai nhà văn, ta nhận thấy rằng tuy mỗi người một cõi, một vùng không gian và những mối bận tâm khác nhau nhưng đều xứng đáng được tôn vinh, bởi hai ông
là người có công lớn trong việc dựng lại bức tranh sinh hoạt đồng quê Nam Bộ với đầy
đủ sắc thái đa dạng từ phong tục, tập quán, sinh hoạt, cảnh trí cho đến tâm tình của con người trên vùng đất của một thời kỳ có quá nhiều xáo trộn đổi thay, nhất là khi xã hội nông nghiệp lâu đời bắt đầu chuyển qua giai đoạn mới mang đậm dấu ấn của nền văn hoá phương Tây
Nhìn chung, cuộc đời và tác phẩm của cả hai nhà văn đều gắn bó với Nam Bộ Riêng về con người miền Nam, cả hai đều thể hiện sự quan tâm đến đời sống và thân phận của những người nông dân nghèo khó Sinh ra và trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, cuộc đời và tâm hồn cả hai đều khắc khoải, ưu tư vì đã chịu đựng nhiều mất mát
do chiến tranh gây ra Cả hai ông đều có thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, đều
có tâm trạng buồn và bận tâm đến vận mệnh nước nhà Hai nhà văn đã trút nỗi lòng mình trên những trang văn viết về vùng quê Nam Bộ thân thương, để hôm nay đọc lại, người
Trang 40đọc ngỡ như là đang có người dẫn dắt mình vào Viện bảo tàng đồ sộ về văn hoá của miền đất mới phương Nam, thời ông cha ta đi khai hoang mở cõi
Trong bối cảnh xã hội đang có nhiều thay đổi như hiện nay, đọc lại tác phẩm của hai nhà văn, người đọc sẽ thấm thía xiết bao những nỗi niềm Người ta sẽ càng hiểu hơn, vào thời đại của họ, khi mọi người chạy theo những trường phái sáng tác mới, thì Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đã quay lại, tìm về cội nguồn của cha ông
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không những là nhà văn mà đồng thời còn là nhà văn hóa, rất am hiểu văn hóa Nam Bộ Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc có một điểm gặp
gỡ là cùng tìm về cội nguồn văn hoá, cùng dựng lại bức tranh Nam Bộ thời Tổ tiên mở
cõi, cùng phản ánh cuộc sống của cư dân nơi vùng đất mới Trong bài Vài nét về văn xuôi đô thị Miền Nam giai đoạn 1954-1975, Nguyễn Thị Thu Trang đã nhận xét: “Tác phẩm của nhiều nhà văn như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… viết ở thập niên 60, 70 trong lòng đô thị miền Nam vẫn còn được nhiều người yêu thích Điểm chung nhất và là chỗ dựa vững bền của nó là hướng đến những giá trị văn hoá dân tộc, là bản sắc văn hoá mỗi vùng miền và tình yêu quê hương tha thiết.” [244, tr.67]
Ngày nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tính từ khi tác phẩm đầu tay của họ ra đời, thời gian càng lùi xa thì tác phẩm của họ ngày càng lộ rõ ra hình hài của những cánh cửa dẫn vào viện bảo tàng đồ sộ của văn hoá phong tục miền đất phương Nam, thời cha ông khai hoang mở cõi Họ là những người nông phu thầm lặng trên cánh đồng chữ nghĩa, đổ
mồ hôi để khắc ghi lại những hình ảnh, những tâm tình của cả một thế hệ Để đến hôm nay, những trang văn ấy vẫn làm ta rung động, xao xuyến, và mai sau, muốn tìm dấu vết của tiền nhân, thì có lẽ không đâu tốt hơn bằng việc đi vào chiêm ngưỡng các tác phẩm của hai ông
Tiểu kết:
Văn hóa và văn học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong văn hóa có văn học
và trong văn học có văn hóa Việc tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa mở ra một hướng đi mới cho nghiên cứu văn học Công việc này không chỉ góp phần khẳng định những giá trị của tự thân văn học mà còn đóng góp cho việc bảo tồn và phát triển của văn hóa dân tộc