1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

truyện ngắn sơn nam và bình nguyên lộc từ góc nhìn văn hóa

12 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 153 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông Nam Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về với thời những lưu dân Việt đi mở đất phương Nam với những

Trang 1

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc được xem là hai nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ sau 1945, sau thời kỳ của những nhà văn như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân Giá trị tác phẩm của hai nhà văn này được nhiều người nhìn nhận qua việc phần lớn những tác phẩm đó phản ánh chân thực hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, hòa nhập làm thành một gương mặt văn học mới ở vùng đất phương Nam

Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông Nam

Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về với thời những lưu dân Việt đi mở đất phương Nam với những nét độc đáo của riêng Nam Bộ

Xưa nay, có một số công trình nghiên cứu riêng về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc nhưng chưa đặt chung hai tác giả này dưới góc nhìn văn hóa Việc nghiên cứu hai nhà văn này trong thế đối sánh không những chỉ ra phong cách của từng người mà còn cho thấy sự khác nhau giữa hai vùng văn hóa miền Tây và miền Đông Nam Bộ

Công trình không những chỉ ra những giá trị văn học đặc sắc của của truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hoá mà còn chỉ ra những đóng góp của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cho văn học và văn hóa Nam Bộ

Trong quá trình viết về truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hoá, người viết có liên hệ các tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố để qua đó làm

rõ những sắc thái văn hoá Nam Bộ

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về Sơn Nam, trước 1975, chủ yếu là ở miền Nam, có một số bài viết

của những tác giả như Tạ Tỵ, Nguiễn Ngu Í… Sau 1975, Sơn Nam được nghiên cứu

ngày càng nhiều hơn, Hương rừng Cà Mau là tác phẩm được nói đến nhiều nhất (có truyện Bắt cá sấu rừng U Minh Hạ được đưa vào sách giáo khoa lớp 12).

Phần lớn những bài viết về Sơn Nam là những bài báo đưa tin, cảm nhận, lời giới thiệu sách hoặc hồi ký của các văn nghệ sĩ Tiêu biểu là các bài viết của Lê Minh Đức (1987), Võ Phiến (1994), Viễn Phương (1997), Hoàng Phủ Ngọc Tường (1998), Nguyễn Mạnh Trinh (2008), Trần Hữu Dũng (2009), Nguyễn Trọng Tín (2010), Nguyễn Trung Quốc (2010)…

Tên tuổi Sơn Nam được nói đến một cách trang trọng trong Từ điển văn học (mục

từ Sơn Nam do Trần Hữu Tá viết), Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (Bùi Đức Tịnh), Bình văn (Văn Giá…), Tâm tình văn nghệ sĩ (Lê Phương Chi), Tiếng vọng những mùa qua (Nguyễn Thị Thanh Xuân)… Sơn Nam được xem là nhà “Nam Bộ học” (Huỳnh Công Tín), “dề lục bình Nam Bộ” (Trần Mạnh Hảo), “người đánh đàn độc huyền kể chuyện Nam Bộ” (Hoài Anh)…

Ngoài ra, còn có khá nhiều luận văn về Sơn Nam, tiêu biểu như: Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975 (Lê Thị Thùy Trang), Văn hóa và con người Nam Bộ trong truyện Sơn Nam (Đinh Thị Thanh Thủy)… Lúc nhà văn Sơn Nam qua đời, có rất nhiều bài báo viết về ông…

Nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc, trước 1975, có các bài viết của những tác giả

như Nguiễn Ngu Í, Nguyễn Hiến Lê, Phương Thảo, Bàng Bá Lân, Lê Phương Chi, Nguyễn Nam Anh, Trần Văn Nam, Cao Huy Khanh… Tác phẩm của Bình Nguyên Lộc từng đoạt giải thưởng trong nước, được đưa vào sách giáo khoa trung học, gây được sự chú ý của dư luận

Trang 2

Sau 1975, tên tuổi của Bình Nguyên Lộc lắng xuống, mãi đến sau thời kỳ Đổi mới, tên tuổi của ông một lần nữa, lại được khẳng định

Các nhà văn Viễn Phương, Trang Thế Hy, Nguyễn Mẫn, Thanh Việt Thanh, và các nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá, Nguyễn Q Thắng … đánh giá cao sở trường truyện ngắn Bình Nguyên Lộc Nguyễn Q Thắng có khá nhiều công trình tuyển chọn, phê

bình tác phẩm của nhà văn này, đặc biệt là bộ Tuyển tập Bình Nguyên Lộc ( 4 cuốn) với nhiều truyện dài và truyện ngắn tiêu biểu của Bình Nguyên Lộc và cuốn “Bình Nguyên Lộc với hương gió Đồng Nai” (2010)…

Nhìn chung, hơn nửa thế kỷ qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Phần lớn các bài viết khẳng định một trong những nét đặc sắc trong sáng tác của hai ông là chất văn hóa Nam Bộ Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và liên hợp về hai nhà văn này từ góc nhìn văn hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những giá trị của văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm văn học

Phạm vi khảo sát của luận án là những truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, nhất là những tác phẩm viết về thiên nhiên và con người Nam Bộ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận án, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

-Phương pháp tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa

-Phương pháp thi pháp học

-Phương pháp hệ thống

-Phương pháp so sánh

-Phương pháp lịch sử - xã hội

5 Đóng góp của luận án

Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn những giá trị của truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hoá Mặt khác, luận án cũng chứng minh những đóng góp của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cho văn học và văn hóa Nam Bộ

Việc tiếp cận văn hóa từ tác phẩm văn học và trong cái nhìn so sánh là một vấn

đề tương đối mới mẻ Hy vọng luận án sẽ đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, qua đó thêm yêu quí và hiểu hơn những tác phẩm của hai tác giả này qua hình ảnh thiên nhiên và con người Nam Bộ được thể hiện trong tác phẩm

6 Kết cấu luận án

Luận án gồm có 195 trang, ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính gồm bốn chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với không gian văn hóa Nam Bộ

Chương 3 Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với thời gian văn hóa Nam Bộ

Chương 4 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan hệ văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học

Văn hóa là những giá trị do con người tạo ra, trong đó có văn học Tác phẩm văn học được sinh ra từ cội nguồn văn hóa và trong một chừng mực nào đấy, có tác động trở lại với mảnh đất sinh thành nó Một trong những chức năng cơ bản của văn học

là lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc Từ đây, nảy sinh hai xu hướng: nghiên cứu văn hóa tác phẩm văn học và tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa

1.1.2 Văn hóa vùng và vùng văn hóa Nam Bộ

Về không gian văn hóa: vùng văn hóa Nam Bộ chia làm hai khu vực: miền Đông

và miền Tây Nét nổi bật về địa lý của Nam Bộ là địa hình sông nước chằng chịt, có mùa nước nổi, khí hậu chia hai mùa mưa nắng rõ rệt Người dân ở đây được thiên nhiên ưu đãi, đồng ruộng bạt ngàn, sản vật dồi dào…

Về thời gian văn hóa: ở Nam Bộ từng tồn tại một nền văn hóa (Óc Eo) của vương quốc Phù Nam nhưng ngày nay không còn lại dấu vết đáng kể nào Những lưu dân người Việt đã mang văn hóa từ miền ngoài vào đây và cải biến nó liên tục trong suốt hơn ba trăm năm qua để có thể thích nghi với vùng đất mới Nam Bộ Văn hóa Việt ở Nam Bộ có ba lớp cơ bản: lớp mở đất, lớp giữ đất và lớp hội nhập quốc tế

Về chủ thể văn hóa: Chủ nhân chính của vùng đất Nam Bộ hiện nay là người Việt Ngoài ra còn có các tộc người khác cùng sống chung như Khmer, Chăm, Stiêng,

Mạ, Chơ ro… Theo sau người Việt, còn có người Hoa Ngoài ra, người Pháp và người

Mỹ cũng đã từng sống trên vùng đất đa văn hóa này trong một thời gian dài

Các thành tố văn hóa Nam Bộ: Về nhận thức, người Nam Bộ rất coi trọng tín ngưỡng, thích triết lý sống quân bình, chan hòa với thiên nhiên Về tổ chức cộng đồng,

họ sống theo làng xã nhưng cơ cấu lỏng lẻo, rộng mở, thích xê dịch Về ứng xử với môi trường tự nhiên, người Nam Bộ rất tôn trọng và sống hòa đồng với thiên nhiên, họ biết linh hoạt ứng xử với điều kiện sông nước Về ứng xử với môi trường xã hội, người Nam Bộ thích dung hòa, bộc trực, hiếu khách, luôn tiếp thu cái mới để tiến bộ

1.2 Nhà văn Sơn Nam với văn hóa Nam Bộ

1.2.1 Vài nét về cuộc đời nhà văn Sơn Nam

Sơn Nam (1926 – 2008), quê Rạch Giá, học trung học ở Cần Thơ, tham gia kháng chiến chống Pháp, làm cán bộ văn nghệ ở ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Kỳ Sau 1954, ông về Sài Gòn làm báo, viết văn, suốt cuộc đời, sống giản dị, được đồng nghiệp quí mến, bạn đọc đánh giá cao nhân cách và sự nghiệp của ông

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam

Sơn Nam xây dựng một sự nghiệp văn học rất đồ sộ, có khoảng 30 cuốn biên khảo, 10 cuốn tiểu thuyết và khoảng 300 truyện ngắn Phần lớn tác phẩm của ông nói

về văn hóa và con người Nam Bộ, nổi tiếng nhất là tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau Sơn Nam không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là là một nhà văn hoá học

chuyên tâm viết về Nam Bộ

1.3 Nhà văn Bình Nguyên Lộc với văn hóa Nam Bộ

1.3.1 Vài nét về cuộc đời nhà văn Bình Nguyên Lộc

Trang 4

Bình Nguyên Lộc (1914 – 1987), quê Biên Hòa, học xong trung học, ông đi làm nhân viên hành chính nhưng sau đó nghỉ và về dưỡng bệnh ở Bình Dương Sau đó

chuyển về Sài Gòn làm báo, chủ nhiệm tờ Vui sống và cộng tác chặt chẽ với nhiều

tờ báo lớn Từ 1985, ông sang định cư ở Hoa Kỳ và mất tại đây

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc

Bình Nguyên Lộc sáng tác rất sớm, từ trước 1945, và trở thành một trong những cây bút chủ lực của văn xuôi miền Nam trước 1975 Ông có khoảng 50 tiểu thuyết,

hơn 1000 truyện ngắn và 4 cuốn biên khảo Cuốn Đò dọc được trao giải Nhất văn

chương quốc gia 1959 – 1960 Phần lớn tác phẩm của Bình Nguyên Lộc nói về văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa miền Đông Nam Bộ

1.4 Sơn Nam – Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn so sánh

Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc là hai nhà văn sống và sáng tác ở Nam Bộ nhưng bên cạnh những nét giống nhau, họ cũng có nhiều nét khác biệt Sơn Nam chủ yếu viết

về đất và người miền Tây còn Bình Nguyên Lộc viết rất nhiều về đất và người miền Đông Cả hai người cùng sáng tác văn chương, viết biên khảo và cùng viết về làng quê Nam Bộ với nỗi nhớ thương da diết

Cả hai đều có ý thức dùng văn chương để tái hiện quá trình mở đất và giữ đất, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng Sơn Nam chỉ làm điều đó bằng thể loại truyện ngắn, trong khi Bình Nguyên Lộc thành công ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Sơn Nam thường miêu tả những nét gân guốc của người miền Tây thời mở cõi, còn Bình Nguyên Lộc thường miêu tả quá trình giữ đất của người nông dân miền Đông trước sự cám dỗ của ánh sáng văn minh đô thị

Giọng văn của Sơn Nam có vẻ mộc mạc, “bình dân” hơn giọng văn của Bình Nguyên Lộc Bù lại, chi tiết, cốt truyện của Sơn Nam kỳ thú hơn Bình Nguyên Lộc Sơn Nam thường dùng giọng văn hóm hỉnh với mọi đối tượng nhưng Bình Nguyên Lộc chỉ dùng giọng văn này với con người đô thị Nhân vật của Bình Nguyên Lộc

có đời sống nội tâm phong phú hơn nhân vật của Sơn Nam Hai nhà văn với hai cá tính sáng tác khác nhau đã cho thấy sự đa dạng trong văn hóa Nam Bộ

CHƯƠNG 2 TRUYỆN NGẮN SƠN NAM VÀ BÌNH NGUYÊN LỘC

VỚI KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ

2.1 Miền đất mới Nam Bộ vừa hoang sơ đầy thử thách vừa phong nhiêu đầy hứa hẹn trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

2.1.1 Bình Nguyên Lộc với Đông Nam Bộ, nơi những lưu dân đầu tiên dừng bước

Trước khi người Việt đặt chân đến, vùng đất Nam Bộ rất hoang vu, hiểm trở Ban

đầu những lưu dân “sống nghề săn bắn y như thời thượng cổ ” Thế quân bình trong thiên nhiên) Rồi họ trồng trọt nhưng “mùa màng mất sạch trong một hai đêm ” bởi

heo rừng, khỉ, chim… Cảnh nghèo khó lại thêm bệnh tật liên miên luôn hành hạ những

cư dân đầu tiên trên vùng đất miền Đông

Trên mảnh đất này, thiên nhiên là kho dự trữ thức ăn hào phóng và vô tận: “Mỗi mùa, một nông dân trong một làng quê hứng cá cả thúng giạ cá lạc mạ, tức là hằng mấy trăm ngàn con” (Bám níu) Đất miền Đông còn thích hợp để trồng cây cao su,

Trang 5

đem lại một nguồn lợi lớn cho người dân nơi đây: “Rừng cao su dày mịt hai bên đường đuổi cả nắng ở đây không còn sót giọt nào” (Tre phải tàn)

2.1.2 Sơn Nam với Tây Nam Bộ, miền đất xa xôi cuối cùng của đất nước

Sơn Nam chủ yếu miêu tả những khó khăn của đoàn người khai khẩn miền Tây

Cọp và cá sấu là hai kẻ thù đáng sợ nhất của người dân (Hát bội giữa rừng) Ngoài ra, muỗi mòng, rắn rít…cũng gây khó khăn không ít Vào “Mùa len trâu”, đồng bằng

sông Cửu Long ngập nước, đi lại khó khăn, mùa màng thất bát, bệnh dịch phát sinh… Thiên nhiên rất ưu đãi người dân miền Tây, nhất là khi cuộc sống đã ổn định,

người ta có thể “làm chơi, ăn thiệt” “tha hồ ăn xài suốt tháng” Ruộng đất phì nhiêu,

có sẵn “lúa trời”, rau cỏ cũng nhiều, chim chóc bạt ngàn, cá tôm vô kể, quanh năm có

thể “ăn rùa, ăn rắn trừ cơm” Nhờ nguồn lợi “trời cho” rất phong phú, người dân Nam

Bộ cũng sinh ra những cách chế biến thức ăn để dành khi ăn không hết hoặc bán sang các vùng khác

2.2 Hai vùng Tây và Đông Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

2.2.1 Sơn Nam với sông nước miền Tây

Trong truyện Sơn Nam, sông rạch mênh mông, người ta cất nhà dọc bờ sông,

chủ yếu đi lại bằng ghe xuồng “Ngã năm, ngã bảy rộng rãi, ghe xuồng đậu ken nhau (…) nhiều người bày ra hình thức mua bán lưu động” (Bến Nghé xưa) Sông nước

miền Tây đã làm nảy sinh ra chợ nổi, điệu hò trên sông nước và những mối tình lãng

mạn của khách giang hồ (Con Bảy đưa đò…).

Vào mùa nước nổi ở miền Tây, “nước chạy dài đến chân trời, không bờ bến”.

Người ta đã quen với ứng phó với mùa nước nổi, nước lụt gây nhiều khó khăn nhưng cũng mang đến nhiều nguồn lợi như lượng phù sa và nhất là cá tôm, thậm chí, làm cho đất và người sinh sôi nảy nở, trưởng thành hơn sau mùa nước nổi Mùa khô, người dân

miền Tây cũng ít bị ảnh hưởng, thậm chí, đôi khi còn có lợi: “Mùa khô, đìa cạn nước,

cá gom lại nổi đầu khít rịt như trái mù u rụng” (Cá nước, chim trời).

2.2.2 Bình Nguyên Lộc với đất và nước miền Đông

Truyện của Bình Nguyên Lộc thường đưa ta về những xóm làng heo hút cạnh bờ rừng ở miền Đông Nam Bộ Người dân miền Đông dùng ghe xuồng chở hàng hóa và

gỗ cát đi bán, chờ lúc mưa to là “mặt sông Đồng Nai dâng lên cao, bè thả xuống Sài Gòn dễ dàng mà không tốn một đồng xu xăng” ( Bè luột)

Miền Đông ít sông nước nên bị thiệt hại khá nhiều vào mùa nắng, “mùa khô thiếu nước, làm ruộng không được”, “Mỗi năm họ chịu cực ba tháng chở nước sông bằng

xe bò” Những mảnh đất khô cằn đầy cỏ cháy đã không giữ lại được những thanh niên

bỏ quê lên phố Bình Nguyên Lộc miêu tả sinh động những cơn mưa rừng dai dẳng ở miền Đông và những con đường ngập nước ở Sài Gòn

2.3 Ứng xử hòa hợp với tự nhiên của con người Nam Bộ qua truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

2.3.1 Lẽ sống “tự nhiên nhi nhiên” trong truyện ngắn Sơn Nam

Người miền Tây rất linh hoạt trong ứng xử với tự nhiên Họ thích cất nhà ven sông để dễ dàng đi lại, mua bán… Họ nắm được qui luật tương giao giữa trời và đất,

người và vật, biết “bệnh ở đâu thì thuốc ở đó (Cao khỉ U Minh) Gặp xứ sở “muỗi như

sáo thổi”, cứ tối là họ rúc trong mùng tâm sự với vợ và… phát triển dân số Khi cần

thiết thì họ giết cọp và cá sấu nhưng khi giết xong thì lập miếu thờ (Sông Gành Hào).

Đó là cách ứng xử có văn hóa với môi trường tự nhiên

Trang 6

2.3.2 Tình tri kỷ giữa con người và thiên nhiên trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc

Từ thuở mới đặt chân lên đất Nam Bộ, người dân đã học được những phép ứng

xử thân thiện với tự nhiên Họ đổ mồ hôi trên trên mảnh đất này và không muốn xa rời

nó Họ “ghiền hửi mùi đất xông lên sau mấy trận mưa đầu mùa” Họ tin rằng “đất có đời sống, có linh hồn, hễ nơi nào nhiều sinh khí thì đất có nước và phì nhiêu” ( Bình

Nguyên Lộc)

2.4 Nghệ thuật thể hiện không gian văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

2.4.1 Những câu chuyện mang phong vị dân gian của Sơn Nam - “ông già Nam Bộ”

Về nghệ thuật, truyện Sơn Nam mang tính dí dỏm và làm ta liên tưởng đến truyện cười Bác Ba Phi Có nhiều chỗ, Sơn Nam không ngại dùng lối nói phóng đại mà người

đọc vẫn tưởng thật do thiên nhiên miền Tây quá phong phú, kỳ lạ Ta có thể thấy nhiều chi tiết “Nói dóc có căn cứ” trong: Ông già xay lúa, Người mù giăng câu, Hát bội giữa rừng

Bác Ba Phi và Sơn Nam đều có cách kể chuyện mang phong cách dân gian, hình ảnh thiên nhiên miền Tây Nam Bộ trong tác phẩm đều gây nhiều ấn tượng với người đọc Điều đọng lại trong lòng người đọc khi xem, dù truyện cười hay truyện ngắn, chính là tấm lòng thiết tha của Bác Ba Phi và Sơn Nam với vùng đất cực Nam này

2.4.2 Cảm quan tinh tế của Bình Nguyên Lộc – người con xứ Đồng Nai

Bình Nguyên Lộc lại đi sâu vào miêu tả phát hiện những sự việc đời thường bằng một cảm quan tinh tế Ông khắc họa rất thành công những bức tranh sống động của rừng miền Đông trên nhiều phương diện âm thanh, mùi vị, màu sắc Ông có nhiều truyện miêu tả rất hay cái mùi đất để cho thấy sự gắn bó máu thịt giữa đất và người

miền Đông (Đất không chết, Thèm mùi đất ).

CHƯƠNG 3 TRUYỆN NGẮN SƠN NAM VÀ BÌNH NGUYÊN LỘC

VỚI THỜI GIAN VĂN HÓA NAM BỘ

3.1 Nam Bộ thời khẩn hoang trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

3.1.1 Trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc: Niềm hoài hương, hoài cổ “bám níu”

“cuống rún chưa lìa”

Chúng ta có thể tìm hiểu văn hóa Nam Bộ qua dòng thời gian lịch sử, tính từ khi những lưu dân Việt đầu tiên đặt chân đến miền Đông Những thế hệ đầu tiên phải tốn

biết bao nhiều mồ hôi, xương máu để tạo dựng ra những làng mạc trù phú (Tre phải tàn) Một số tiếp tục dấn thân vào miền Hậu Giang chưa có dấu chân người, chấp nhận

hy sinh làm cây mắm, cây đước ( Rừng mắm ) để con cháu có trái ngọt mà ăn Số khác

bỏ quê đi theo tiếng gọi của “Hòn ngọc Viễn Đông” Truyện của Bình Nguyên Lộc

thường mang tâm sự “bám níu”, “cuống rún chưa lìa” Họ bám lấy “Những ngôi mả tổ”, nơi lưu giữ bóng dáng tổ tiên, bất chấp cuộc sống đói nghèo, cay đắng Họ quyết giữ thanh niên ở lại làng, không cho lên phố (Ma ném đá) Nội dung giữ đất, bảo tồn

Trang 7

văn hóa thường xuất hiện trong văn Bình Nguyên Lộc, bởi chỉ có miền Đông mới đứng trước sự cám dỗ ghê người của văn minh đô thị

3.1.2 Trong tác phẩm Sơn Nam: “Vạch một chân trời” tìm kiếm tương lai

Nếu như truyện của Bình Nguyên Lộc thường nói về vấn đề giữ đất thì truyện

của Sơn Nam thường nói về công cuộc mở đất của lưu dân Việt Họ “Vạch một chân trời” rồi đi mãi, năm nay ở vàm này, năm sau ở rạch khác Thấy chỗ nào thuận lợi thì

dừng lại, thấy chưa thích hợp thì đi tiếp Họ đi vì bất mãn, để trốn nợ, để tìm hạnh

phúc, để tìm một “miếng đất nhỏ nhưng là của mình làm chủ”, không phải cống nộp cho ai Hành trình phiêu bạt của người dân miền Tây không chỉ vì miếng cơn manh áo

mà còn là cuộc hành trình đi tìm chốn tự do (Hòn Cổ Tron).

3.2 Nam Bộ thời giao lưu, tiếp xúc với phương Tây trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

3.2.1 Sơn Nam: Đau buồn trước sự xâm lăng của thực dân Pháp

Sơn Nam miêu tả cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam qua những nhân vật như ông Sáu Bộ, ông Từ Thông, Lục cụ Tăng Liên… Ông đã khắc họa thành công nhiều anh hùng sẵn sàng xả thân vì nước và những quần chúng cách mạng đã nhiệt tình cưu mang giúp đỡ cách mạng rất hào phóng theo phong cách Nam Bộ Qua

đó, ta cũng thấy bóng dáng của nhà văn – chiến sĩ Sơn Nam, một con người giàu cảm xúc và thường trăn trở về vận mệnh đất nước

3.2.2 Bình Nguyên Lộc: Trầm ngâm trước những biến đổi do chiến tranh và quá trình đô thị hóa Nam Bộ thời Mỹ đến

Bình Nguyên Lộc ít viết về chiến tranh nhưng ông lại quan tâm đến sự biến đổi của văn hóa dân tộc trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây Mảnh đất Đồng Nai

nằm gần “Hòn ngọc Viễn Đông” nên tốc độ đô thị hóa diễn ra rất mau lẹ Truyện Tre phải tàn miêu tả sự khác biệt về lối sống của một gia đình gồm nhiều thế hệ Qua đó,

bộc lộ sự suy tư trăn trở của tác giả về sự sàng lọc, hội nhập văn hóa Việt Nam thời hiện đại

3.3 Ứng xử của con người Nam Bộ dung hợp với môi trường xã hội qua truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

3.3.1 Hòa nhập văn hóa Việt - Khmer - Hoa - Chăm

Tác phẩm Sơn Nam thường nói lên sự gắn bó các dân tộc trên nền tảng những giá trị văn hóa Ông thường miêu tả sự giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Miên ở

miền Tây Các tác phẩm Chuyện con mèo, Hát bội giữa rừng… kể về việc hợp tác làm

ăn, tương trợ giữa hai dân tộc Người Việt tiếp thu nhiều từ ngữ và địa danh Khmer như Cà Mau, Sóc Trăng, Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng…Họ cũng học hỏi người Khmer kỹ thuật cấy lúa “lò bom”, sử dụng chiếc nóp, cái cà ràng…trong đời sống hàng ngày Cả hai cùng tổ chức nhiều lễ hội văn hóa chung

Tác phẩm Bình Nguyên Lộc miêu tả từ sự xung đột đến những cảm thông, cộng tác trong quá trình tiếp xúc giữa những lưu dân Việt đầu tiên với người Hời ở miền

Đông Nam Bộ Buổi ban đầu, sự va chạm giữa hai dân tộc có nhiều nỗi buồn (Bà Mọi hú) nhưng về sau lại có nhiều niềm vui (Cô Hời bán thuốc) Ở lưu vực sông Đồng Nai,

người Việt còn chung sống đoàn kết với các dân tộc Mạ, Stiêng, Chu ru…

Cả Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đều có nhiều tác phẩm hay dựng lên chân dung

của người Hoa ở Nam Bộ: Lữ Bất Vi nguyên tử, Ông Bang cà ròn, Pì pế hán Phần

lớn họ giỏi buôn bán, làm thủ công, mỹ nghệ Người Hoa cũng mang đến nền văn hóa

độc đáo và “đã tô lên một góc Sài Gòn một biệt sắc riêng” Sự giao lưu văn hóa Việt –

Trang 8

Hoa diễn ra rất tự nhiên và ảnh hưởng qua lại rất sâu sắc, họ sống chung “lai bậy hết, thét rồi không còn biết ai là Trung Hoa, ai là An Nam nữa” (Lò chén Chòm Sao).

3.3.2 Tiếp biến ảnh hưởng văn minh Phương Tây, đồng thời gìn giữ truyền thống văn hóa dân tộc

Truyện của Sơn Nam thường viết về các cuộc giao lưu của người miền Tây với văn hóa Pháp Nhất là trong tầng lớp trí thức, quan chức và dân thành thị Người Pháp

đã làm cho bộ mặt vùng sông nước miền Tây có nhiều thay đổi lớn về giao thông vận tải, khoa học giáo dục, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục… Nhiều người dân đã biết vận dụng thành tựu khoa học phương Tây để chế tạo những sản phẩm mang đặc trưng của

Việt Nam (Bác vật xà bông )

Bình Nguyên Lộc thường viết về sự ảnh hưởng của văn hóa Mỹ ở miền Đông (Xe lửa Mỹ bung vành, Săn cọp Đồng Nai…) Nền văn minh vật chất đã lôi cuốn nhiều

cô bỏ quê lên phố học Ăng Lê, uốn tóc phi dê, mang giày cao gót làm nữ chiêu đãi trong hiệu sang trọng và lấy Mỹ kiều Một số chạy theo ái tình thực dụng, làm vợ bé cho các đại gia lắm tiền (Ngõ hẻm vợ bé) Tuy nhiên, cũng có một số người muốn Về làng cũ để tìm sự yên tĩnh của tâm hồn Nhiều giá trị văn hóa phương Tây đã được tiếp biến, tạo thành những nét mang bản sắc Việt Nam.

3.4 Nghệ thuật thể hiện thời gian văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

3.4.1 Dấu ấn sự giao thoa sắc thái các địa phương, các chủng tộc qua bút pháp, văn phong của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

Để tạo không khí cho câu chuyện, hai nhà văn đã sử dụng lớp từ ngữ hội thoại của từng dân tộc Ta bắt gặp trong truyện của Sơn Nam nhiều từ ngữ có nguồn gốc Khmer như: xà rông, cà ràng, cần xé, cù nèo, mắm bồ hóc, cà ròn, cà om, thốt nốt,

vàm, cá linh, cá chốt, cá hô… (Ông Bang cà ròn, Ruộng Lò Bom) Ta cũng bắt gặp

trong văn Bình Nguyên Lộc nhiều từ ngữ của người Hoa như: hủ tiếu, lẩu, lạp xưởng,

thèo lèo, lì xì, xí mụi, tài công, tằng khạo, chạp phô, chánh hẩu, tẩm quất ( Pỳ Pế Hán, Huôi Nhị Tỳ ).

Miền Đông là cửa ngõ giao lưu văn hóa của Nam Bộ, từ nước ngoài đến, từ miền

Bắc, miền Trung vào Văn Bình Nguyên Lộc có sự giao thoa hai miền Nam Bắc (Mưa thu nhớ tằm, Cây đào lộn hột ) Ngoài ra, ta còn gặp khá nhiều từ tiếng Anh, nhất là trong Xe lửa Mỹ bung vành Trong khi đó, văn Sơn Nam “rặt ròng” Nam Bộ và nhìn

chung là không sử dụng tiếng Pháp tùy tiện mặc dù có nói tới người Pháp khá nhiều

3.4.2 Dấu ấn sự tổng hợp Đông - Tây, truyền thống và hiện đại qua bút pháp, văn phong của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

Cả hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đều từng được đào tạo trong nhà trường Pháp thuộc, bởi vậy, họ tiếp thu khá tốt nền văn minh phương Tây Khi cả hai bắt đầu

sự nghiệp làm báo cũng là lúc miền Nam chuyển sang chịu sự ảnh hưởng của văn hóa

Mỹ Tuy nhiên, họ vẫn không phải là những nhà văn mất gốc bởi được sinh ra từ nông thôn Nam Bộ, nơi lưu giữ những giá trị truyền thống dân tộc

Sơn Nam sinh trưởng ở miền Tây, nơi mảnh đất hoang sơ vẫn còn giữ nguyên vẹn những giá trị cổ truyền, nhất là văn học dân gian Bởi vậy, ta thấy bút pháp truyện Sơn Nam có nhiều nét giống truyện Bác Ba Phi Bình Nguyên Lộc sinh trưởng

ở miền Đông, nơi chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh đô thị hơn Bởi vậy, văn phong của ông hiện đại hơn, có sự giao hòa nhiều yếu tố Đông – Tây

Trang 9

CHƯƠNG 4 CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM VÀ BÌNH

NGUYÊN LỘC 4.1 Tính cách con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

4.1.1 Con người trọng nghĩa - hào hiệp

Mỗi người Nam Bộ đều có ít nhiều tính cách trọng nghĩa, hào hiệp của Lục Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh Tính cách này được hình thành từ những ngày đầu khai hoang mở cõi Do hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, lưu dân Việt phải nương tựa lẫn nhau, quý trọng nghĩa tình làng xóm, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau lúc hoạn nạn

Nhân vật ông Năm Hên, Tư Đức giết cá sấu cứu người mà không đòi hỏi điều gì

Đến khi “Con sấu cuối cùng” bị hạ cũng là lúc “hiệp sĩ” lẳng lặng ra đi không cần nhận một lời cảm ơn nào Cái nghĩa của con người có thể hình thành trong gian khó

hoặc do chung sở thích, hai người xa lạ bỗng trở thành tri kỷ qua cuốn Quốc văn giáo khoa thư

Trong kháng chiến chống Pháp, có rất nhiều gia đình sẵn sàng giúp đỡ những người tản cư Có bà mẹ bỏ ra 4 lượng vàng để nuôi bộ đội, đến khi hết tiền túng thì đi

vay, mượn rồi buôn thúng bán bưng trả nợ lần hồi (Một bức chân dung) Có ông lão thà chết chứ không chịu tản cư, bỏ đất mà đi (Đảng Cánh buồm đen) Trong truyện Đồng đội, Tư Nết thà chết chứ không chịu mang tiếng bội nghĩa với cách mạng.

Tính cách này cũng thấy ở các nhân vật đầu trộm đuôi cướp Ba Khện (Lương tâm kẻ trộm) thà mất xe bò vừa cướp được để làm việc thiện Hai Tước chỉ dẫn cho người khác bí quyết đột nhật vào nhà Bà vợ thứ mười của mình để xé tờ giấy ghi nợ.

Ta cũng gặp những hảo hớn trong Chuyện rừng tràm hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc hoạn nạn Hoặc tướng cướp Đảng Cánh buồm đen không hề “xâm phạm tài sản của người chài lưới”.

4.1.2 Con người hiếu khách

Thuở mới vào khai phá miền đất hoang vu này, lưu dân Việt sống rất cô đơn nên

rất “thèm người” Họ luôn mơ ước có khách đến chơi mặc dầu nghèo, họ vẫn nấu cơm

dư để sẵn sàng mời những người khách đến bất thình lình, sẽ rất vui nếu khách nhận lời ở lại ăn cơm ( Gạo nhà nghèo) Họ có gì thì mời nấy, không sợ khách chê, vì người

ta không lấy miếng ăn để đánh giá đẳng cấp xã hội

Một trong những lý do nữa tạo nên tính hiếu khách của người miền Tây là do thiên nhiên ưu đãi Họ có thể nuôi khách cả tháng trời mà không sợ tốn, miễn là vị

khách ấy dễ mến và chịu chơi (Ba kiểu chạy buồm) Nhân vật của Sơn Nam thường đi

– về liên tục và thường lặp lại mô típ: một hôm, có một người khách lạ đến làng, tự xưng là… Và cả làng vui vẻ đón rước về nhà

Một kiểu bộc lộ lòng hiếu khách rất thường thấy ở người Nam Bộ là mời khách uống rượu Nhờ uống rượu nhiệt tình mà nhân vật “tôi” dẫn đi tới nhà ông Hai

Khị (Cao khỉ U Minh) Qua tiệc rượu, mọi khó khăn, hiểu lầm được hóa giải.

4.1.3 Con người chất phác, bộc trực

Người Nam Bộ ăn nói rất bộc trực, họ nghĩ sao nói vậy và không dùng lời lẽ văn hoa, rào trước đón sau Họ thật thà và thẳng tính, không nịnh cúi ai Bản tính này được thể hiện rõ nét trong các truyện ngắn của Sơn Nam

Truyện Bức tranh con heo miêu tả hai vợi chồng từ quê ra phố, thấy bức tranh

con heo rất lạ, bà hương trưởng Neo ăn nói bộc trực, không hề che giấu sự lạc hậu của

Trang 10

mình: “Ngộ quá! Đem về dán trước cửa nhà Vui quá! Làm ăn tấn phát, thiệt vậy hả ông?” Hoặc ông Từ Thông được quan tỉnh đưa từ Hòn Cổ Tron về Rạch Giá quản thúc cả năm, đến khi thả ra, ông hỏi rất thành thật: “Ủa, tui bị giam hồi nào ?”.

Người Nam Bộ không thích sự quanh co, cầu kỳ Nghe ông Tây thuyết giảng lòng

vòng về các tôn giáo, chú Tư Đức thú thật “Tôi chưa hiểu hai tiếng tín ngưỡng là gì Tôi tin Trời, tin Phật, thờ cha kính mẹ, quý mến ông già bà cả” (Sông Giành Hào) Có

nhân vật trốn nợ sang xứ khác làm ăn, bị tra vấn, anh ta thành thật nói thẳng, không úp

mở, che giấu Hoặc có những người không thích ba hoa mà lấy sự im lặng để giao

tiếp: Anh quen làm thinh cả ngày, nên chỉ nhìn khách chớ không chào hỏi bằng lời hay bằng cử chỉ nào hết (???)

4.1.4 Con người bao dung, độ lượng, cởi mở

Sống giữa miền sông nước hoang vu, hiểm trở, người dân Nam Bộ đối đãi nhau

bằng tấm lòng, sẵn sàng cưu mang người khác Trong Một cuộc bể dâu, cha thằng Kìm

mất trong mùa nước nổi và được ông bà Hai Tích lo mai táng rất chu đáo, mặc

dù trước đó không quen biết Vì người khác, họ sẵn sàng dám gánh trách nhiệm để cho kẻ khác vui sướng.

Người Nam Bộ tuy dễ nổi nóng nhưng không để bụng lâu Trong truyện Đóng gông ông thầy Quýt, dân làng sẵn lòng góp gạo nuôi ông Đạo phát cỏ nhưng khi ông

bỏ trốn, dân làng giận dữ nhưng cũng nhanh chóng bỏ qua Thậm chí, khi biết kẻ trộm

đã ăn năn hối cải thì dân làng giúp đỡ vốn liếng làm ăn: “Tui cho chú em mướn hai chục công ruộng tốt, hai năm đầu tôi giúp vốn, giúp lúa không ăn lời” (Một vũng máu tầm thường).

Người Nam Bộ có tấm lòng cởi mở, “tứ hải giai huynh đệ” Trên sông nước miền

Tây, ta thường thấy cảnh khách đi “quá giang” và được “đối xử bình đẳng, cơm nước như chủ ghe” Hoặc giúp kẻ lỡ đường vài bữa cơm, cho ngủ nhờ vài đêm là chuyện quá dễ dàng Họ không coi trọng giàu nghèo, không phân biệt thân sơ, cần biết khách

lạ từ đâu tới, miễn khách thật lòng thì họ cũng mở lòng ra với khách

4.1.5 Con người năng động, sáng tạo

Sống trong một môi trường thiên nhiên mới lạ, đa dạng, người Nam Bộ phải năng động, sáng tạo để thích nghi Bình Nguyên Lộc giới thiệu cho ta những sáng kiến của người miền Đông về cách thức làm máng xối tre, cái che ép mía, tìm hiểu tập quán sinh hoạt của từng loài cá để biết cách đánh bắt thích hợp, tận dụng nước sông Đồng Nai để buôn bán…

Người dân miền Tây cũng sáng tạo ra nhiều kiểu chạy ghe xuồng thích hợp với

mỗi loại địa hình kênh rạch (Ba kiểu chạy buồm, Vẹt lục bình) Ta cũng thấy hình ảnh những nông dân mưu trí trong Bắt sấu rừng U Minh, Con heo khịt, Cọp Gò Quao… Họ biết cách nhỏ vài giọt rượu để câu cá, chế biến cá khô, cá sặt thêm ít dầu ô liu của Tây để ăn ngon hơn… Hoặc nhanh chóng ăn cắp nghề của ông Bác vật xà bông để chế tạo ra kiểu xà bông riêng rồi đem bán khắp nơi.

Truyện của Sơn Nam thường có các nhân vật đến từ một nơi xa, mang tới làng

nhiều điều lạ, có khi là một điệu võ (Cây Huê xà) hoặc một kiểu cấy lúa lạ (Ruộng Lò Bom)…Truyện Con rắn voi ri kể về việc lột da rắn để xuất khẩu, trong số những sáng

kiến tích cực cũng có những sáng kiến tiêu cực do chạy theo lợi nhuận trước mắt nên mất cơ hội làm ăn lâu dài Bình Nguyên Lộc cũng có khá nhiều truyện kể về nhịp sống năng động trong giới thương nhân của “Hòn Ngọc viễn Đông”

4.2 Nghệ thuật thể hiện tính cách nhân vật trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc

Ngày đăng: 07/11/2014, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w