Đóng góp của khóa luận- Về mặt lý luận: Khóa luận khái quát một cách có hệ thống theo trình tự lịch sử về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục giai đoạn 2001 – 2012
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
Trang 2Để hoàn thành tốt khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến cô TS Bùi Thị Thảo, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô trong khoa Lịch
sử, Trường Đại học Sư phạm Huế đã truyền đạt kiến thức trong bốn năm đại học Vốn kiến thức thu được trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang để bản thân tự tin và vững chắc bước vào đời.
Qua đây, tôi xin gởi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người luôn giúp đỡ , tạo điều kiện, động viên để bản thân yên tâm học tập và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, xin kính chúc quý thầy cô, gia đình, bạn bè… luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong cuộc sống
Huế, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Huyền
Trang 3NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 IIE Institute of International Education Viện Giáo dục quốc tế
2 VEF Vietnam Education Foundation Quỹ giáo dục Việt Nam
3 USAID United Sates Agency for
5 SYA school Year Abroad Năm học nước ngoài
6 FUV Fulbright University Vietnam Trường Đại học Fulbright
Việt Nam
7 FETP Fulbright Economics TeachingProgram Chương Trình Giảng DạyKinh Tế Fulbright
Trang 4MỤC LỤC
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của khóa luận 8
7 Bố cục của khóa luận 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ VÀ VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC TỪ 2001 ĐẾN 2012 .9 1.1 Khái quát quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục trước năm 2001 9
1.1.1 Trên lĩnh vực văn hóa 9
1.1.2 Trên lĩnh vực giáo dục 13
1.2 Bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XXI 17
1.3 Nhu cầu hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục 21
1.3.1 Chính sách của Hoa Kỳ và Việt Nam 21
1.3.2 Nhu cầu hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 2001 - 2012 28
2.1 Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa (2001 – 2012) 28
2.1.1 Giai đoạn 2001 - 2008 29
2.1.2 Giai đoạn 2009 – 2012 35
2.2 Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục 2001 - 2012 40
2.2.1 Giai đoạn 2001 - 2008 40
2.2.2 Giai đoạn 2009 - 2012 45
Trang 52.3 Một số nhận xét về quan hệ văn hóa, giáo dục Hoa Kỳ - Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2012 50
2.3.1 Kết quả hợp tác 50
2.3.2 Triển vọng hợp tác 54
2.3.3 Thách thức và giải pháp 55
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trao đổi văn hóa, hợp tác giáo dục tạo nên nền tảng tin tưởng giữa dân tộc nàyvới dân tộc khác, để từ đó các nhà hoạch định chính trị, kinh tế và quân sự có thểtìm kiếm sự đồng thuận và hợp tác Thế giới đang chuyển mình theo xu thế toàn cầuhóa vì thế sự giao lưu, trao đổi trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục giữa các nước ngàycàng được đẩy mạnh hơn, Hoa Kỳ - Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu
đó Khi hợp tác kinh tế ngày càng gia tăng thì hợp tác văn hóa – giáo dục cũng từngbước tìm chỗ đứng, đặc biệt trong việc mở những cánh cửa vốn khép vì lý do chínhtrị như trong quan hệ giữa Hoa Kỳ - Việt Nam
Tương đối muộn so với nhiều nước khác trên thế giới, Hoa Kỳ và Việt Namkhởi đầu mối quan hệ từ những năm đầu thế kỷ XIX , đó là mối quan hệ hữu hảo.Rồi Hoa Kỳ sang xâm lược Việt Nam tiếp tục cho những chuỗi ngày đen tối trongquan hệ hai nước sau đó Khi Hoa Kỳ có chủ trương bình thường hóa quan hệ ngoạigiao với Việt Nam thì chính “hội chứng chiến tranh Việt Nam” để làm được điều đó
là một việc không hề suôn sẽ Nhưng chính sự nổ lực của nhân dân hai nước trongviệc giao lưu trao đổi văn hóa – giáo dục đã góp phần tích cực tăng cường thêm sựhiểu biết về hai quốc gia vốn từng là “cựu thù” của nhau Cũng chính điều này đãlàm thúc đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam Rồimột sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đưa quan hệ hai nước bước sang trang mới đó
là ngày 11 – 7 – 1995, Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với ta Giaolưu, hợp tác văn hóa – giáo dục giữa nhân dân hai nước Hoa Kỳ - Việt Nam đã tạonên một “sợi dây kết nối” giữa hai nền văn hóa rất khác nhau Qua đó đã giúp hainước thêm xích lại gần nhau, tạo cơ sở cho những bước đi vững chắc trong quan hệhai nước trên các lĩnh vực khác ở những giai đoạn tiếp theo
Văn hóa muốn tồn tại và phát triển được phải nhờ giáo dục, nhờ cá nhân mỗicon người Vì vậy, mỗi cá nhân phải không ngừng học tập để tồn tại và phát triển.Chính vì cả Hoa Kỳ - Việt Nam đều nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục tácđộng đến các lĩnh vực văn hóa Nên hợp tác Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực vănhóa – giáo dục ngày càng được đẩy mạnh hơn nữa cả về chiều rộng và chiều sâu
Trang 7Chính quan hệ hợp tác này đã đóng góp nhiều thành tựu hết sức thiết thực trong xâydựng mối quan hệ hai nước trở nên tốt đẹp nói riêng và trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước nói chung
Ngoài những lý do đó, thì Hợp chủng quốc Hoa kỳ một đất nước có nền vănhóa vô cùng đa dạng, với hệ thống giáo dục thuộc hàng tiên tiến nhất thế giới Chính
sự ham thích nền văn hóa, đất nước con người, cũng như nền giáo dục ở quốc gianày Đã thúc đẩy tôi chọn đề tài để này để làm khóa luận kết thúc những năm học củamình tại ngôi trường Đại học Sư phạm Huế này Qua tìm hiểu, nghiên cứu đã giúp tôi
có thêm những hiểu biết về văn hóa cũng như nền giáo dục của quốc gia này
Chính “sức mạnh mềm” ngoại giao văn hóa và giáo dục đã giúp quan hệ hainước thêm bền chặt Nhận thấy tầm quan trọng của việc hợp tác giữa văn hóa vàgiáo dục trong quan hệ đối ngoại giữa hai nước, được sự hướng dẫn của cô giáo TS
Bùi Thị Thảo tôi đã mạnh dạng chọn đề tài: “Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ 2001 đến 2012” để làm để tài khóa luận.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong hai thập niên gần đây, quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng thu hút
sự chú ý của giới nghiên cứu, không chỉ vì Hoa Kỳ là một nước lớn chi phối nềnngoại giao toàn cầu, mà còn do mối quan hệ đặc thù giữa hai nước Hơn 20 nămtrong tình trạng chiến tranh và 20 năm nữa để hòa giải, Hoa Kỳ và Việt Nam đã bỏ
lỡ nhiều cơ hội để hợp tác Cuối cùng hai nước đã thiết lập quan hệ năm 1995 và đãtrở thành một sự kiện mang tính lịch sử được dư luận rất quan tâm Mặc khác,những tác động tích cực của quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam trên nhiều mặt càng thúcđẩy nhu cầu tìm hiểu về mối quan hệ này Đã có một số công trình nghiên cứu tổngquát về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam Tiêu biểu là công trình của tác giả Phạm Xanh
“Góp phần tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ”, tác giả Quang Khả với tài liệu
“Bùi Viện sử gia Việt Nam đầu tiên đến Hoa Kỳ”, tác giả Phạm Thu Nga với“Quan
hệ Việt Mỹ 1939 - 1954”, tác giả Trần Nam Tiến với “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thực trạng và triển vọng”, tác giả Nguyễn Duy Niên với “ Nhìn lại 10 năm quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”…Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Hoa
Kỳ - Việt Nam trên các lĩnh vực riêng lẻ trong một số giai đoạn nhất định Viết theo
hướng này có một số tác phẩm tiêu biểu như: “Quan hệ kinh tế thương mại Việt
Trang 8Nam – Mỹ: thuận lợi và khó khăn” của Nguyễn Hữu Cát – Lê Thu Hằng trên tạp chí
Châu Mỹ ngày nay; “Triển vọng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ” của Nguyễn Thùy Dương trên tạp chí Việt – Mỹ; “ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ và sự phát
triển kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Thiết Sơn trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay.
Đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hóa có tác phẩm: “ Hợp tác giáo dục
Việt Nam - Hoa Kỳ: đóng góp của quỷ giáo dục Việt Nam vào sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam từ 2000 – 2015” của Qũy giáo dục Việt Nam trên tạp chí Việt
– Mỹ; “Giao lưu và hi vọng” của tác giả Lê Thiết Chương trên tạp chí Việt - Mỹ; “
Đại học Mỹ ở Việt Nam” của tác giả Ngọc Quý trên tạp chí Việt - Mỹ; “Hợp tác
Viêt-Mỹ nhiều hứa hẹn” của Michael Michalak Đại sứ Viêt-Mỹ tại Việt Nam trên tạp chí Việt –
Mỹ; “Quan hệ giáo dục đại học Hoa Kỳ - Việt Nam từ 2000 đến 2015” của Nguyễn
Thị Huyền Thảo trong Kỷ yếu hội thảo: 20 năm quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 –2015)… Tuy nhiên, hầu hết những bài báo này chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặctrong một giai đoạn nhất định của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam Phần lớn bài báo trêntạp chí, kỷ yếu hội thảo đều chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích một cách hệ thống vềquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục giai đoạn 2001 – 2012
Vì vậy, để góp phần hoàn thiện bức tranh sinh động, toàn diện về quan hệ Hoa
Kỳ - Việt Nam và có cơ hội để bản thân hiểu đầy đủ hơn về mối quan hệ đặc biệtnày, chúng tôi chọn “Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa –giáo dục từ 2001 đến 2012” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trênlĩnh vực văn hóa – giáo dục từ 2001 đến 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa giáo dục giai đoạn 2001 – 2012 Đây là giai đoạn cầm quyền của Tổng thốngGeogre W Bush (tính từ năm 2001 đến 2008) và Barack Obama (từ 2009 đến2012) Tuy nhiên để đảm bảo tính hệ thống và logic, khóa luận cũng đề cập kháiquát về mối quan hệ này giai đoạn trước 2001.
Trang 10-4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu về quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục Từ đó giúp chúng ta có hiểu biết sâu sắc hơn vàrút ra những nhận xét liên quan về mối quan hệ song phương Hoa Kỳ - Viêt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:+ Phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam và quan
hệ hai nước trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục giai đoạn 2001 – 2012
+ Trình bày, phân tích những nội dung cơ bản trong quan hệ hai nước trên lĩnhvực văn hóa, giáo dục giai đoạn 2001 – 2012
+ Rút ra một số nhận xét liên quan và bước đầu nêu lên dự báo triển vọngquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục trong những năm tới
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các thông cáo chung, tuyên bố chung của hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam;
Các giáo trình về quan hệ quốc tê, sách chuyên khảo về quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam;
Báo cáo khoa học đã được đăng trên tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứuQuốc tế, Châu Mỹ ngày nay, Việt – Mỹ;
- Các công trình nghiên cứu liên quan như khóa luận tốt nghiệp, ;
- Các thông tin cập nhật từ báo điện tử, các trang web…
5.2 Phương pháp nghiện cứu
Để thực hiện khóa luận, chúng tôi quán triệt phương pháp luận sử học Mác xít,lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam làm kim chỉ nam cho việc nghiên cứu triển khai đề tài
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận chúng tôi đã sử dụng và kết hợp chặtchẽ phương pháp lịch sử, phương logic Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu liên ngành như: Phân tích, tổng hơp, so sánh, đối chiếu cácnguồn sử liệu lịch sử để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra cho đề tài
Trang 116 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lý luận: Khóa luận khái quát một cách có hệ thống theo trình tự lịch
sử về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục giai đoạn 2001 –
2012, góp phần phác họa bức tranh sinh động của mối quan hệ song phương này.Bên cạnh đó, khóa luận cũng đưa ra những nhận xét, đánh giá mang tính độclập về những thành tựu và hạn chế ở cả hai phía (Hoa Kỳ và Việt Nam) trong tiếntrình quan hệ, những tồn tại và giải pháp khắc phục, đồng thời bước đầu chỉ ranhững triển vọng của quan hệ hai nước trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục trong nhữngnăm tới
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận hoàn thành sẽ cung cấp một tài liệu tham khảo
bổ ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này Khóa luận này cũng giúp bản thân có
cơ hội tập dượt nghiên cứu khoa học và hiểu sâu hơn về quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam nói chung, quan hệ hai nước trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục nói riêng Từ đóxây đắp mối quan hệ hai nước ngày càng phát triển, đáp ứng lợi ích, nguyện vọngcủa nhân dân hai nước
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,nội dung của khóa luận được chia thành 2 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh
vực văn hóa, giáo dục từ 2001 đến 2012
Chương 2: Những nội dung cơ bản trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên
lĩnh vực văn hóa, giáo dục từ 2001 đến 2012
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ VÀ VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC TỪ 2001 ĐẾN 2012
Trong mối quan hệ hợp tác song phương hay đa phương xảy ra đều chịu sự chiphối bởi những nhân tố khách quan hay chủ quan khác nhau tác động làm cho mốiquan hệ này hình thành và phát triển Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam nói chung vàquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục giai đoạn 2001 – 2012nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật ấy Trong đó, truyền thống hợp tác lànhững yếu tố chủ quan đối với chiều hướng phát triển của quan hệ; bối cảnh quốc tế
và khu vực là nhân tố khách quan là tác động đến sự phát triển mối quan hệ đó
1.1 Khái quát quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục trước năm 2001
Năm 1995, Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam Mặc
dù vậy, những trở ngại cho sự hiểu biết đầy đủ giữa hai nước hai dân tộc chưa phải
đã hết Vì thế, cùng với hoạt động ngoại giao nhà nước, ngoại giao về phía nhân dânđều được chính phủ hai nước chú trọng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã tổ chức nhiềuchương trình trao đổi giáo dục và văn hóa với Việt Nam Các chương trình này hoạtđộng trên cơ sở pháp lý của Đạo luật Trao đổi giáo dục và văn hóa do Quốc hội Hoa
Kỳ ban hành năm 1961 nhằm “ tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Mỹ
và nhân dân các nước khác” cũng như “hỗ trợ sự phát triển các mối quan hệ thânthiện, thông cảm và hòa bình giữa Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới” [67, tr.184-185] Các chương trình trao đổi giáo dục và văn hóa của Hoa Kỳ đối với ViệtNam nằm trong khuôn khổ các chương trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và do Đại
sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội trực tiếp điều hành
1.1.1 Trên lĩnh vực văn hóa
Ngay từ đầu,và những năm tháng chiến tranh sau đó hoạt động ngoại giao củanhân dân Hoa Kỳ - Việt Nam đã được diễn ra Trong những năm tháng chiến tranhChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập Ủy ban Việt Nam đoàn kếtvới nhân dân Mỹ, gọi tắt là ủy ban Việt – Mỹ Chính hoạt động của Ủy ban này đãgóp phần đưa hình ảnh Việt Nam giới thiệu rộng rãi tới nhân dân Mỹ và tranh thủđược sự ủng hộ liên tục, kiên quyết của nhân dân Mỹ trong cuộc kháng chiến của
Trang 13nhân dân Việt Nam Có những nhà văn hóa lớn như Hữu Ngọc, Nguyễn Khắc Viện
đã tích cực hoạt động đưa bộ sách văn học và tạp chí như: Tuyển tập văn học ViệtNam và tạp chí Vietnam Studies ra nước ngoài Qua đó đã góp phần giới thiệu vănhóa Việt Nam ra thế giới và đã thu hút được sự chú ý của báo giới và học giả Mỹ,cũng như tăng thêm hiểu biết của độc giả nước ngoài về đất nước, con người và vănhóa Việt Nam Như vậy trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước đang diễn ra Nhân dân Việt Nam đã tiến hành ngoại giao trên nhiều mặt
để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, đặc biệt là nhân dân Mỹ.Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc thì hoạt động ngoại giao của nhân dân hainước hầu như không có điều kiện thực hiện Vì sự cấm vận của Hoa Kỳ, hơn nữatâm lý nghi kỵ vẫn còn phổ biến và những hiểu biết về nhau cũng chưa thật đầy đủ,
do đó không tránh khỏi những khó khăn trong hợp tác văn hóa với nhau Trao đổivăn hóa tiếp tục được diễn ra từ đầu năm 1996 sau khi hai nước đã thiết lập quan hệngoại giao với nhau Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã tổ chức các chương trình trao đổivăn hóa giữa hai nước như: trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, các cuộc triểnlãm tranh ảnh, triển lãm sách, hội chợ văn hóa, hỗ trợ sự bảo tồn di sản văn hóa,tuần lễ phim, v.v Với sự tài trợ của cả hai phía, nhiều đoàn nghệ thuật của ViệtNam và Mỹ đã thực hiện các chuyến đi biểu diễn ở cả hai nước
Các chương trình biểu diễn nghệ thuật
Trong năm 1997, sự kiện giao lưu văn nghệ thuật giữa hai nước là việc mộtnhóm nghệ sĩ Việt Nam tổ chức một chuyến lưu diễn Hoa Kỳ Đoàn đã tổ chức triểnlãm tại Bảo tàng Nghệ thuật văn hóa ở bang California (Hoa Kỳ) Hơn 80 nghệ sĩtrong đoàn đã nhận được sự giúp đỡ của các chính quyền và nghệ sĩ Mỹ ở các bang
mà đoàn triển lãm đi qua
Từ ngày 20 đến 28/7/1998, một diễn ra buổi biểu diễn ca nhạc: Ban nhạcWiffenpoof theo phong cách A Cappella của Trường Đại học Yale tại Hà Nội.Đến tháng 10/1998, Nhà hát kịch Trung ương Việt Nam đã sang Hoa Kỳ lưu diễn.Tháng 4 đến tháng 12/1998, tại Washington D.C đã diễn ra một cuộc triển lãmnghệ thuật với tựa đề “ Dòng sông uốn khúc - Cuộc hành trình của nghệ thuậtđương đại Việt Nam”
Trang 14Ngày 22 và 23/5/1999, Dàn nhạc Philadelphia đã tổ chức biểu diễn tại haithành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 11 và 12/ 2000, Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh đãdiễn ra buổi “ Giao lưu sân khấu Việt - Mỹ”
Các chương trình triển lãm nghệ thuật
Ngày 1/2/1996, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc triễn lãm các tác phẩm của hai họa
sĩ Mỹ David Thomas, Lois Tarlow và nhiếp ảnh Bonnie O’Hara
Ngày 25/8/1999, một cuộc triển lãm tổng hợp về nghệ thuật Hoa Kỳ đã được tổchức tại Bảo tàng Nghệ thuật Hà Nội Buổi triển lãm có tựa đề “ Nghệ thuật Hoa Kỳtrước ngưỡng của thế kỷ XXI” đã giới thiệu 91 tác phẩm và 78 họa sĩ Mỹ đại diệncho các chủng loại và các dân tộc khác nhau từ các vùng chính của đất nước Đâyđược coi là một cuộc triển lãm đầu tiên có quy mô từ trước đến nay về nghệ thuật củaHoa Kỳ ở Việt Nam Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã phát biểu: “ Sự kiện này đã mở
ra giao lưu văn hóa của nghệ thuật Hoa Kỳ và Việt Nam đánh dấu một ngày đặc biệttrong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” Ông nói tiếp: “Cuộc triễn lãm đãcho thấy nghệ thuật ở Hoa Kỳ rất gần gũi với Việt Nam Tôi không phải là nhà phêbình, nhưng tôi có thể thấy rằng nghệ thuật không có biên giới” [67, tr 111]
Cùng năm, thì một cuộc triển lãm Tranh sơn mài Việt Nam diễn ra từ ngày 8đến 29/10 tại ngôi trường Đại học Columbia, New York
Phim ảnh
Đối với lĩnh vực điện ảnh, các phim của Hoa Kỳ nhập vào Việt Nam thôngqua Công ty xuất nhập khẩu và phát hành phim Việt Nam (Fafilm) và chỉ được trìnhchiếu tại các rạp và phát song trên truyền hình khi đã có phép của chủ sở hữu tácgiả Hiệp hội điện ảnh của Hoa Kỳ đã đánh giá cao nỗ lực của Fafilm trong tiếntrình xây dựng và mở rộng thị trường điện ảnh
Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống B Clinton (11/2000) đánh dấuviệc hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ hoàn toàn và đầy
đủ, phát biểu trong buổi chiêu đãi trọng thể do Chủ tịch nước Trần Đức Lương tổchức tại Phủ Chủ tịch ngày 11/07/2000, Tổng thống B Clinton “đã nhắc đến các bộphim về cuộc sống của Việt Nam, từ “Mùi đu đủ xanh” đến phim “Ba mùa” giành
Trang 15được giải thưởng trên thế giới; các bức tranh của họa sĩ Việt Nam Đỗ Quang Emđược đánh giá cao tại các cuộc triển lãm nghệ thuật quốc tế; các bài thơ 200 nămtuổi của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương được xuất bản ở Hoa Kỳ bằng tiếng Anh, tiếng Việt
và cả chữ Nôm nguyên bản, là lần đầu tiên một bản thảo cổ của Việt Nam được in
ấn tại Mỹ; các nhà thiết kế thời trang như Armani và Calvin Klein sáng tạo những
bộ sưu tập mới dựa trên trang phục truyền thống của Việt Nam là áo dài” [67;tr.112] Và đặc biệt, để kết thúc bài diễn văn của mình, Tổng thống B Clinton đãtrích hai câu thơ trong Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du:
“Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”
(Just as the lotus wilts, the nums bloom forthTime softens grief, and the winter turns to spring)
Lĩnh vực khác
Ngày 27/6/1997, tại Hà Nội, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký kết hiệp định về thiếtlập quan hệ quyền tác giả (hay còn gọi là Hiệp định Quyền tác giả Việt Nam - HoaKỳ) bao gồm 11 điều Ngày 26/12/1997, thủ tướng chính phủ Việt Nam đã phêduyệt Hiệp định này Việc ký kết Hiệp định giữa Chính phủ của Hoa Kỳ và ViệtNam về thiết lập quan hệ quyền tác giả đã thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan
hệ kinh tế - thương mại Hoa Kỳ và Việt Nam, tăng cường mối quan hệ giao lưu vàphát triển hợp tác văn hóa giữa hai nước, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho đầu
tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ
Hiệp định Quyền tác giả Hoa Kỳ - Việt Nam được ký kết và thực hiện trongbối cảnh Việt Nam đã ban hành những văn bản pháp luật về bảo vệ quyền sỡ hữu trítuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đáp ứng những yêu cầu cần thiết trong việcbảo hộ quyền tác giả trong và ngoài nước Để đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnhnhững cam kết quốc tế về quyền tác giả theo hiệp định quyền tác giả theo Hiệp địnhQuyền tác giả Hoa Kỳ - Việt Nam Đây được coi là bước tiến quan trọng trong quan
hệ văn hóa giữa Hoa Kỳ và Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệngoại giao (1995) Mặc dù là Hiệp định đầu tiên Việt Nam ký với nước ngoài tronglĩnh vực mới mẻ và phức tạp, nhưng theo các chuyên gia văn hóa, sau hơn một năm
Trang 16thực hiện Hiệp định về thiết lập quan hệ Quyền tác giả Hoa Kỳ - Việt Nam, hoạtđộng bảo hộ các tác phẩm của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã thu được kết quả khả quan.Trên lĩnh vực xất bản, “Cục sản xuất thuộc Bộ Văn hóa Thông tin đã duyệtxuất bản các sách của Hoa Kỳ khi đã được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tácgiả hoặc đã thuộc về công cộng Đặc biệt sản phẩm ghi âm và âm nhạc, lĩnh vựcđược coi là khá nhạy cảm trong hoạt động bản quyền, cũng đã có sự quản lý kháchặt chẽ đối với sản phẩm của Hoa Kỳ Đài truyền hình Việt Nam chỉ phát song đốivới chương trình âm nhạc Hoa Kỳ khi có phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Tóm lại, hợp tác Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa trước năm 2001 đãđạt được một số thành tựu quan trọng giúp cho quan hệ hai nước xích lại gần nhau
“bắt tay bằng văn hóa” giữa nhân dân hai nước Hoa Kỳ - Việt Nam càng làm chomối quan hệ hai nước diễn ra một cách nhẹ nhàng, đi sâu vào thực chất Tuy nhiênmối quan hệ hai nước trên lĩnh vực văn hóa ở giai đoạn này quy mô vẫn nhỏ và vềphía Hoa Kỳ còn mang tính chất thăm dò
1.1.2 Trên lĩnh vực giáo dục
Hợp tác giáo dục giữa Hoa Kỳ - Việt Nam là lĩnh vực được hai nước quan tâm
và đẩy mạnh trước những năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995 Tuynhiên, lĩnh vực hợp tác giáo dục Đại học được xem là mũi nhọn và là cầu nối chohợp tác giáo dục Hoa Kỳ - Việt Nam
Hoạt động trao đổi giáo dục đại học Hoa Kỳ - Việt Nam từ 1995 đến 2000 tạobước đệm vững chắc cho hai nước đi đến thiết lập quan hệ giáo dục đại học Năm
2000, Tổng thống Bill Clinton sang thăm Việt Nam là mốc son quan trọng trongquan hệ hai nước Ông đã đến thăm Đại học Quốc gia Hà Nội, Tại đây Ông đã phátbiểu: “Tôi lấy làm hân hạnh là vị Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đầu tiếnđến Hà Nội và thăm trường đại học này Và tôi làm như thế với một ý thức rằng lịch
sử giữa hai quốc gia chúng ta thật gắn bó, vừa là nguồn đau thương cho các hệ đãqua vừa là nguồn hứa hẹn cho các thế hệ sắp tới” [67, tr 257]
Ông bày tỏ mong muốn của mình đối với việc thiết lập quan hệ giáo dục với
Việt Nam Ông nói: “Hoa Kỳ hết sức khâm phục trí tuệ và năng lực của các bạn.
Một trong những chương trình trao đổi giáo dục lớn nhất của chính phủ chúng tôi
Trang 17là với Việt Nam Và chúng tôi muốn tăng thêm nữa Thượng nghị sỹ Kerry có mặt tại đây, và tôi đã nhắc đến ông trước đó, đang dẫn đầu cho một nỗ lực tại Quốc hội Hoa Kỳ, ông cùng với Thượng nghị sỹ John McCain và những cựu binh khác của cuộc xung đột tại đây, nhằm thiết lập một tổ chức mới là Quỹ Giáo dục Việt Nam Một khi được thông qua, quỹ này sẽ hỗ trợ 100 học bổng hàng năm, tại đây hoặc tại Hoa Kỳ, cho những người nghiên cứu hoặc giảng dạy khoa học, toán, công nghệ
và y khoa [67, tr 264].
Hoa kỳ thông qua một số quỹ của chính phủ và phi chính phủ giúp thực hiệnmột số chương trình hợp tác và trao đổi đào tạo với Việt Nam Điển hình là tổ chứctình nguyện châu Á (VIA) và Viện Anh ngữ (ELI) đã ký văn bản thỏa thuận chínhthức về việc hợp tác với Bộ giáo dục và Đào tạo của Việt Nam “Trong hai năm
1996 - 1997, hai tổ chức này đã cử trên 60 giáo viên tình nguyện sang giảng dạytiếng anh tại các trường đại học và trung tâm ngoại ngữ ở các thành phố lớn ở ViệtNam”, qua đó giúp nâng cao trình độ tiếng anh cho giáo viên, sinh viên và các cán
bộ để đạt chuẩn vào đại học tại các trường đại học của Hoa Kỳ, đồng thời phục vụtốt hơn cho công tác chuyên môn của mình
Trong lĩnh vực hợp tác đào tạo cán bộ quản lý, giữa hai nước Hoa Kỳ và ViệtNam đã tổ chức nhiều khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở cả hai nước Đi đầu tronglĩnh vực này có thể kể đến hai tổ chức phi chính phủ của Hoa Kỳ là Quỹ Fulbright
và Quỹ Ford Cụ thể, phía Mỹ chính thức thực hiện Chương trình học bổngFulbright dành cho sinh viên Việt Nam, theo đó 18 sinh viên Việt Nam đầu tiên đãđược cấp học bổng của Chương trình để sang học ở các trường đại học của Mỹ.Mục tiêu của Chương trình Fulbright là “tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhândân Mỹ và nhân dân Việt Nam”[72] Đây cũng là chương trình trao đổi giáo dụcđầu tiên của Chính phủ Mỹ dành cho Việt Nam khi hai nước chưa bình thường hóaquan hệ Năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao, tạođiều kiện cho sự hợp tác hơn nữa giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó có traođổi giáo dục Hoạt động của Chương trình Fulbringht do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại HàNội trực tiếp điều hành Trong khuôn khổ của Chương trình Fulbringht, sinh viênViệt Nam được cấp học bổng sang học các chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ tại các
Trang 18trường đại học tại Hoa Kỳ, đồng thời các học giả Việt Nam được tuyển chọn sangnghiên cứu nâng cao về chuyên môn ở các trường đại học hoặc Viện nghiên cứu của
Mỹ Cũng trong khuôn khổ của Chương trình Fulbringht, Chương trình giảng dạy ởthành phố Hồ Chí Minh là một chương trình lớn do Trường Đại học kinh tế thànhphố Hồ Chí Minh và Trường Quản lý Nhà nước John F Kennedy thuộc Đại họcHarvard của Hoa Kỳ phối hợp thực hiện Theo đó, mỗi năm Hoa Kỳ dành cho ViệtNam 30 suất học bổng đào tạo nâng cao về kinh doanh và kinh tế tại Mỹ dưới sự tàitrợ của Quỹ Fulbright Quỹ này còn tổ chức đào tạo cho các quan cấp chính phủ vàcác nhà quản lý tại Việt Nam những kiến thức về kinh tế và kinh doanh trong thờigian dưới một năm
Cùng với Quỹ Fulbright, Quỹ Ford (The Ford Foundation) cũng hoạt động tíchcực tại Việt Nam Quỹ Ford tài trợ cho các tổ chức, gồm các cơ quan chính phủ, cáctrường đại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân trongcông tác nghiên cứu, đào tạo thể nghiệm và phát triển Nguồn tài chính cho hoạt độngcủa Quỹ hoàn toàn là từ lợi nhuận thu được do đầu tư vào thị trường chứng khoánkhoản tiền Quỹ đã được cho Quỹ Ford không nhận tiền hoặc sự đóng góp tài chínhcủa bất cứ nguồn nào khác Với Việt Nam, Quỹ Ford bắt đầu các hoạt động tài trợ từnăm 1990, khi Bộ Ngoại giao mời và đề nghị Ford Foundation bắt đầu chương trìnhtài trợ ở Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế Về sau, các hoạt độngtài trợ của Quỹ Ford mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như: Xóa đói giảm nghèo,Tình dục và sức khỏe sinh sản, Giáo dục và học thuật, Văn hóa và học thuật v.v…Ngày 8/10/1996 Ford Foundation được cấp giấy phép thành lập Văn phòngĐại diện tại Việt Nam, “trong thời gian sáu năm đầu thành lập (1997 - 2002), Vănphòng đại diện Quỹ Ford đã phê duyệt 281 dự án với tổng giá trị 36,7 triệu USDcho các chương trình ở Việt Nam”[67, tr 106] Hoạt động tài trợ được duy trì ởmức 7 triệu USD mỗi năm Có thể nói, hoạt động của Ford Foundation tại Việt Namkhá hiệu quả Chẳng hạn, “từ năm 1994 đến năm 2002 có khoảng 1.220 chuyênviên đối ngoại của Việt Nam với sự tài trợ của Ford Foundation đã tham gia cáckhóa học ngắn hạn trong nước về ngoại giao đa phương, an ninh quốc tế, toàn cầuhóa và khu vực hóa, kinh tế và thương mại v.v…Cùng trong khoản thời gian này,
Trang 19gần 450 học viên nước ngoài khác đã đi nước ngoài học tập, khảo sát với sự tài trợcủa Ford Foundation, trong đó có 67 người được đào tạo thạc sĩ và 5 người đượcđào tạo tiến sĩ”[67, tr 107], các hoạt động khác của Ford Foundation trong các lĩnhvực xóa đói giảm nghèo, tình dục và sinh sản, giáo dục và học thuật, văn hóa vànghệ thuật ở Việt Nam điều có những kết quả đáng khả quan Có thể xem FordFoundation là một trong những trường hợp điển hình về các tổ chức tư nhân Hoa
Kỳ hoạt động có hiệu quả ở Việt Nam
Ngoài các quỹ của chính phủ và phi chính phủ nêu trên, các công ty của Hoa
Kỳ cũng đã tham gia vào việc đào tạo cán bộ quản lý kinh tế giúp Việt Nam nhưCiticorp Từ năm 1995 tổ chức này đã giúp đào tạo trên 1.000 cán bộ nhân viên ViệtNam trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, hay năm 1997 Công ty GE (GeneralElectric) đã tổ chức một khóa huấn luyện ba tuần tại Hoa Kỳ cho 40 cán bộ côngnhân từ các nước ASEAN, trong đó có 5 thành viên từ Việt Nam
Bên cạnh đó, sự hợp tác của các trường đại học Hoa Kỳ và Việt Nam cũngđang được phát triển mạnh Đã có nhiều trường đại học của Hoa Kỳ sang thăm vàtìm hiểu, mở các chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi cán bộ giảngdạy với Việt Nam như trường Đại học Harvard, Berkerley, Columbia, Georgetown,Ohio, Indiana, Fullerton, Washington v.v…Học sinh Việt Nam đi sang Hoa Kỳ duhọc ngày càng đông Đến năm 1998, tại Hoa Kỳ có khoản 1.300 học sinh Việt Nam
du học theo các chương trình học bổng, ngoài ra còn có 1.200 người đi học theo cácchương trình tự túc
Khi Tổng thống B Clinton thăm Việt Nam cuối năm 2000 ngày 17/11/2000ông đã có buổi gặp gỡ và phát biểu quan trọng tại Đại học Quốc gia Hà Nội Tổngthống B Clinton cho biết Thượng nghị sĩ Jonh McCain và Kerry và nhiều cựu chiếnbinh khác của Mỹ đang vận động thành lập Quỹ giáo dục Việt Nam Một khi đượcthông qua, Quỹ này sẽ hỗ trợ 100 học bổng hằng năm cho những người nghiên cứu,giảng dạy khoa học, toán học, công nghệ và y khoa Ông đánh giá cao tài năng trẻcủa Việt Nam, khi nêu gương năm 1999 một người Mỹ gốc Việt Nam đã có mộtphát minh toán học làm cho việc điều khiển hội từ xa bằng truyền hình với chấtlượng cao trở thành dễ dàng
Trang 20Có thể nói hợp tác trên lĩnh vực giáo dục đại học là một trong những hợp tácsong phương đầu tiên giữa hai nước, được bắt đầu bằng chương trình học bổng dànhcho học giả Việt Nam của Viện Harvard - Yenching năm 1991 và chương trìnhFulbright năm 1992 Những bước đi đầu tiên trong hợp tác giáo dục đại học góp phầnđẩy nhanh tiến độ bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước sau này.
Như vậy, cần phải thấy rằng những kết quả hợp tác về văn hóa, giáo dục trênđây tuy còn nhiều hạn chế về quy mô và số lượng Nhưng cùng với những thành tựutrong các lĩnh vực hợp tác khác đã đặt cơ sở nền tảng vững chắc cho những bước đimạnh mẽ hơn trong quan hệ văn hóa, giáo dục của hai nước đầu thế kỷ XXI Hay nóicách khác, những kết quả hợp tác giữa hai nước thời kỳ này là bước đệm khởi đầucho thuận lợi và là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển tiềm năng của quan hệ hai nướcgiai đoạn 2001 – 2012
1.2 Bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XXI
Có thể thấy rằng, bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình thế giớichuyển biến vô cùng phức tạp Sự kiện nổi bật nhất có tác động mạnh mẽ đến đờisống quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI là cuộc tấn công của các lực lượng khủng
bố quốc tế vào Hoa Kỳ ngày 11/9/2001 Tuy nhiên, cục diện thế giới những nămđầu thế kỷ XXI so với giai đoạn cuối thập niên 90 của thế kỷ XX không có thay đổimang tính đột phá, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn là xu thế lớn củathời đại hiện nay
Mặc dù ở nhiều khu vực thế giới, xung đột cục bộ và tình trạng bất ổn tiếp tụcxảy ra nhưng nó khó có khả năng lan rộng hay làm bùng nổ một cuộc chiến tranhthế giới mới Khả năng chiến tranh thế giới đang bị đẩy lùi vì các nước lớn hiện nayđiều có lợi ích lâu dài và cơ bản trong việc duy trì hòa bình để phát triển kinh tế, sựphụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng tăng
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với trình độcao đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình toàn cầu hóa Một mạng lưới toàn cầu về mậudịch, sản xuất thông tin, tiền tệ và kỹ thuật ngày càng được định hình Trong bốicảnh đó xu thể toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược
Trang 21Song hành với xu thế toàn cầu hóa là xu thế khu vực hóa cũng đang phát triểnmạnh trên thế giới Diền biến tình hình thế giới từ sau sự kiện 11/9/2001 cho thấymột số đặc điểm đáng chú ý sau:
Một là: các nước lớn đóng vai trò chi phối, chủ đạo đối với công việc của thế
giới, tận dụng mọi cơ hội tập hợp lực lượng để củng cố sức mạnh tổng hợp, vị thếcủa mình trên trường quốc tế, lợi dụng các thể chế quốc tế để thực hiện lợi ích dântộc, khi cần sẵn sang hành động bất chấp lợi ích quốc tế
Hai là: quá trình hội nhập quốc tế trong sự đấu tranh gay gắt tác động không
nhỏ đến hoạt động của các quốc gia và tình hình thế giới Phương thức sản xuất theođuổi chủ nghĩa bá quyền có sự thay đổi, hình thức chiến tranh thay đổi, hợp tác kinh
tế khu vực và toàn cầu đang là điều kiện sống còn của các nước Tăng cường hợptác, liên kết kinh tế, phối hợp hành động ở quy mô khu vực có tác dụng thúc đẩyquan trọng đối với việc xây dựng trật tự chính trị - kinh tế quốc tế công bằng hợp lý,cân đối trong thế kỷ XXI
Ba là: an ninh quốc gia và an ninh quốc tế hiện nay có sự chuyển biến mạnh
mẽ theo hướng mở rộng phạm vi, vấn đề, quy mô, cách thức đảm bảo Nhân tố anninh truyền thống và phi truyền thống đan xen với nhau Trong tương quan giữanhân tố an ninh đó, hiện nay những vấn đề an ninh phi truyền thống đang có xuhướng nổi trội, ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn so với các vấn đề an ninhtruyền thống Các vấn đề an ninh phi truyền thống như suy thoái môi trường, thảmhọa thiên tai, các dòng người tị nạn, tin tặc khủng bố trên máy tính mang tính toàncầu, dịch bệnh Sự kiện “11/9” cùng với đó chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự khôngkhoan dung về sắc tộc và tôn giáo, đặc biệt từ đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXIvấn đề tôn giáo khủng bố trở thành mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tếTrong bối cảnh đó hợp tác văn hóa, giáo dục được chú trọng hợp tác nhưnhững công cụ hữu hiệu để hiểu biết, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau hợp tác cùng
có lợi, hướng tới mô hình đa dạng, đối thoại và phát triển
Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương bước vào những năm đầu thế kỷXXI, nổi lên là một khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ phát triển cao Về
cơ bản, châu Á Thái Bình Dương đã thoát khỏi sự phân chia trận tuyến Đông
Trang 22-Tây trở thành khu vực hòa bình, ổn định tương đối Toàn cầu hóa và khu vực hóatrở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Tuy nhiên những thay đổi trong môi trường quốc
tế và khu vực cùng với những điều chỉnh tương ứng của các nước lớn ở khu vựclàm cho quan hệ quốc tế ở đây ngày càng phức tạp, đặc biệt là giữa các nước lớn.Mối quan hệ giữa các nước lớn vẫn trong quá trình vận động, điều chỉnh và cònchưa ổn định Vào thời điểm này, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nổi lên nhữngđặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất là quan hệ giữa các nước lớn ở châu Á - Thái Bình Dương
đầu thế kỷ XXI, tính chất chủ đạo trong quan hệ đã chuyển từ đối kháng sang quan
hệ đối tác Điều này thể hiện trên sự cải thiện đáng kể trong quan hệ giữa các nước,đặc biệt là các cường quốc
Đặc điểm thứ hai là quan hệ giữa các ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
hiện nay ẩn chứa cả yếu tố cân bằng quyền lực lẫn yếu tố hòa hợp quyền lực Yếu tốcân bằng quyền lực thể hiện qua nỗ lực của các nước sử dụng mối quan hệ với cácnước khác nhằm tăng thế mặc cả trong quan hệ và đặc biệt là cân bằng với ưu thếsức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ Trung Quốc và Nga xích lại gần nhau nhằm đốitrọng với xu thế bá quyền của Hoa Kỳ Ấn Độ cũng có những nỗ lực tăng cườngkhả năng hải quân, thử vũ khí hạt nhân và thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, Austalia vàNhật Bản nhằm cân bằng với sự trỗi dậy của Trung Quốc
Đặc điểm thứ ba là ngoài các vấn đề an ninh truyền thống, các nước đang
ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với thách thức an ninh phi truyền thống Tháchthức an ninh truyền thồng và an ninh phi truyển thống đan xen vào nhau và chi phốimối quan hệ giữa các nước trong khu vực Trong khi các thách thức an ninh truyềnthống vẫn còn tồn tại , thì các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng trở nênnghiêm trọng, đe dọa an ninh quốc gia Sự đang xen các thách thức truyền thống vàphi truyền thống làm cho tình hình an ninh trở nên phức tạp Việc đối phó với cácthách thức này vượt quá khả năng của từng nước mà đòi hỏi phải có sự phối hợpchặt chẽ giữa các nước trong khu vực
Đặc điểm thư tư, do tính phức tạp và đa dạng về địa lý, kết hợp với những biến
động chính trị và văn hóa tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà khu vực này
Trang 23đang tồn tại và thúc đẩy sự phát triển một cấu trúc an ninh khá phức tạp “đa tầng”.
Mô hình này gồm sự có mặt của các cường quốc, mối quan hệ đồng minh songphương và một số mối quan hệ đồng minh tay ba và các diễn đàn đa phương ở cấpkhu vực và tiểu khu vực
Nhìn chung, bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương đầu thế kỷ XXI ẩn chứanhững cơ hội và thách thức to lớn Một mặc, sự phát triển kinh tế năng động, tiềmnăng to lớn và sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng làm cho hòa bình vàhợp tác trở xu thế chủ đạo ở khu vực Mặc dù có những điểm nóng tồn tại, ở khuvực này không có nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột trên phạm vi lớn Mặc khác,tình hình khu vực còn tiềm ẩn những nguy cơ Sự không rõ ràng trong môi trường
an ninh; quan hệ giữa các nước lớn còn nhiều nhân tố chưa ổn định trong khi khuvực chưa có cơ chế hợp tác đa phương hữu hiệu; một số tranh chấp chủ quyền lãnhthổ vẫn có nguy cơ đe dọa đến an ninh khu vực; sự bất ổn định ở một số khu vực
Do vậy, hợp tác và đấu tranh sẽ tiếp tục đan xen nhau và sẽ thể hiện trên nhữngbiến chuyển trong quan hệ giữa các nước trong khu vực trong nhiều thập kỷ tới.Dươi tác động của những nhân tố nêu trên, các nước đều tiến hành điều chỉnhchính sách một cách linh hoạt và theo hướng ngày càng thực dụng hơn nhằm đảmbảo tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc mình Các nước vừa và nhỏ coi trọng, tích cựcthúc đẩy hợp tác, liên kết khu vực nhằm đối phó với những thách thức chung về anninh và phát triển, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực xuất phát từ bênngoài, tìm kiếm và tranh thủ cơ hội để tăng cường thế lực, tạo dựng và duy trì môitrường quốc tế hòa bình, ổn định và an toàn nhằm tập trung tối đa cho nhiệm vụphát triển
Có những dự báo cho rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của những xung đột giữa cácnền văn minh, đặc biệt sự kiện ngày 11/9/2001, nghĩa là chiến tranh có thể xảy ra donhân tố văn hóa Chính vì vậy các quốc gia ngày càng chú ý nhiều đến các chủ đềvăn hóa như : đa dạng văn hóa, đối thoại giữa các nền văn hóa - văn minh, văn hóahòa bình Kênh văn hóa ngày càng được sử dụng như một phương tiện hiệu quả hỗtrợ thúc đẩy quan hệ chính trị, an ninh, kinh tế…Như việc ASEAN xây dựng cộngđồng văn hóa
Trang 24Như vậy, chính bối cảnh chung của thế giới và khu vực như thế nên việc thúcđẩy hơn nữa hợp tác văn hóa – giáo dục trong khu vực hoặc giữa các quốc gia trongkhu vực với ngoài khu vực nhằm tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau trong xuhướng chung của thời đại Góp phần cho việc đảm bảo hòa bình và an ninh cho khuvực và thế giới.
1.3 Nhu cầu hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục
Xuất phát từ chính sách đối ngoại của hai nước đối với nhau và nhu cầu hợptác là nhân tố chủ quan quan trọng nhất chi phối nội dung và kết quả hợp tác vănhóa, giáo dục của hai nước giai đoạn 2001 – 2012
1.3.1 Chính sách của Hoa Kỳ và Việt Nam
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là một bộ phận quan trọng nằmtrong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ Hoa Kỳ rất chú trọng đến vị trí địa chiếnlược của Việt Nam ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và khu vựcĐông Nam Á nói riêng
Từ sau sự kiện ngày 11/9/2001, để thích ứng với tình hình quốc tế và môitrường an ninh đã thay đổi, chính quyền G.W.Bush đã công bố Chiến lược an ninhquốc gia mới vào tháng 9/2002 Chiến lược này nhằm: Duy trì bá quyền dựa trên
ưu thế sức mạnh quân sự; thực hiện chủ nghĩa đơn phương nhằm bảo đảm quyền tự
do được hành động; chống khủng bố trở thành ưu tiên chiến lược đánh đòn phủ đầu;thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, thực thi thương mại tự do và dân chủ trên thếgiới.[67, tr 124]
Giống như chính quyền Bill Clinton, chính quyền G.W.Bush cũng theo đuổimục tiêu chiến lược dài hạn, mang tính chất xuyên suốt, không thay đổi của Hoa Kỳ
là củng cố vị trí siêu cường của mình, thiết lập một trật tự thế giới mới do Hoa Kỳlãnh đạo, phổ biến “giá trị Mỹ” ra khắp nơi Song chiến lược an ninh quốc gia mớicủa G.W.Bush có sự điều chỉnh so với Chiến lược an ninh quốc gia “Cam kết mởrộng” của Bill Clinton như sau:
Thứ nhất, nếu phục hồi và phát triển kinh tế, duy trì sự phồn vinh kinh tế Hoa Kỳ
là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Clinton, sau sự kiện 11/9 đã khiến mục tiêu chốngkhủng bố trở nên quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của G.W Bush
Trang 25Thứ hai, châu Á - Thái Bình Dương trở thành trọng điểm số một trong chính
sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời G.W.Bush Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúckhu vực này càng có vị trí chiến lược về quân sự và an ninh vô cùng quan trọng.Trong đó Việt Nam có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối với Hoa Kỳ bởi:
Thứ nhất, Việt Nam là một nhân tố khu vực then chốt ở khu vực Đông Nam Á
với dân số đứng hàng thứ hai trên 80 triệu dân Việt Nam là thành viên tích cực cótrách nhiệm trong các tổ chức, khu vực quan trọng như ASEAN, ARF, APEC…cùngrất nhiều thể chế hợp tác đa phương khác tại khu vực
Thứ hai: Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc, có các hải cảng nước
sâu như Cam Ranh và Hải Phòng và là một trong sáu nước có tranh chấp chủ quyềntại Biển Đông Theo đánh giá của giới quân sự Hoa Kỳ, Việt Nam có thể trở thànhmột nhân tố quan trọng thực hiện các mục tiêu của Hoa Kỳ nhằm kìm hãm sự bànhtrướng của Trung Quốc tại khu vực Trung Quốc là một trong những nước tiêu thụdầu lửa lớn nhất thế giới, do đó họ rất muốn giành được nguồn tài nguyền đã đượcthăm dò hoặc tiềm năng ở Đông Nam Á Để chống lại mưu toan này của TrungQuốc Hoa phải khuyến khích Việt Nam tha gia các thỏa thuận hợp tác kinh tế và anninh với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á khác Những biện pháp đó không chỉhạn chế sự can thiệp của Trung Quốc đối với tài nguyên dầu khí và các cảng cảngnước sâu ở Việt Nam, còn tăng cường an ninh khu vực và yểm trợ hơn nữa các mụctiêu khu vực của Hoa Kỳ
Bên cạnh đó, việc phát triển quan hệ với Việt Nam sẽ đem lại cho Hoa Kỳnhững lợi ích chính trị, chiến lươc, kinh tế đáng kể Hoa Kỳ thông qua vị trí và vaitrò của Việt Nam, Hoa Kỳ kiềm chế các đối tác và đối thủ khác, đặc biệt là nhữngnước ở châu Á – Thái Bình Dương (Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Bang Nga, ).Hiện nay, nổi lên tứ giác Hoa Kỳ - Trung Quốc – Nhật Bản – Liên Bang Nga Cácnước này vừa cạnh tranh vừa kiểm chế, ngăn cản nhau, hợp tác bên này kiềm chếbên kia, nước nào cũng muốn vươn lên giành lợi ích tối đa về mình Việt Nam hiênnay có một vị trí quan trọng trong quan hệ với tất cả các nước lớn Do vậy Hoa Kỳrất muốn là đối tác với Việt Nam để giành lợi thế hơn so với các nước lớn khác.Bên cạnh đó Việt Nam là nước nằm ngay cạnh Trung Quốc Trung Quốc đang cónền kinh tế, quân sự phát triển mạnh và trong tương lai có thể trở thành một cực đối
Trang 26với Hoa Kỳ Vì thế nhân tố Việt Nam rất quan trọng trong chính sách của châu Á –Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Chính sách Việt Nam đối với Hoa Kỳ
Tất cả những biến động của thể giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương,như đã nêu, ở mức độ khác nhau đều tác động đến Việt Nam, trước hết là đến quátrình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại từ năm 2001 đến 2012, trong đó cóchính sách đối với Hoa Kỳ
Có thể nói, chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ là một bộ phận trongchính sách của Việt Nam đối với các nước lớn Đối với Việt Nam, tư tưởng chỉ đạotrong quan hệ với các nước lớn là tạo lập cân bằng lợi ích, một mặt thúc đẩy quátrình cải thiện, mở rộng và cải thiện đối với từng nước lớn, mặc khác vẫn tiếp tụcgiữ vững độc lập, thống nhất và định hướng xã hội chủ nghĩa, không để các nướclớn thao túng, áp đặt, lôi kéo
Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam (4/2001) khẳng định: “ Thúcđẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển, xuất phát từ nhận thức rằng các nướclớn, các nước phát triển đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế nhất là tronglĩnh vực kinh tế, tuy đang chi phối quá trình toàn cầu hóa, nhưng họ cũng có nhucầu mở rộng quan hệ hợp tác vì lợi ích của chính họ đồng thời giữa họ với nhaucũng tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích, cho nên chúng ta cần tranh thủ phát triểnquan hệ đa dạng, bao gồm cả quan hệ chính phủ và phi chính phủ trên các lĩnh vựcchính trị văn hóa, khoa học, công nghệ…với các nước đó để thu hút nguồn vốn,công nghệ, kinh nghiệm quản lý, v.v…tạo môi trường hòa bình, ổn định lâu dài cho
Về chính trị, do Hoa Kỳ đóng vai trò chi phối trong nhiều tổ chức quốc tế và
trong quan hệ với các nước nên việc phát triển quan hệ với Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiệncho Việt Nam hội nhập vào cộng đồng quốc tế nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam
Trang 27Hơn nữa, việc tạo lập mối quan hệ tốt với tất cả các nước lớn còn giúp duy trì sự ổnđịnh, hòa bình, thịnh vượng không chỉ cho Việt Nam mà cả khu vực Đông Nam Á.
Về kinh tế, Hoa Kỳ có nền kinh tế lớn nhất thế giới, có vai trò chi phối nền
kinh tế toàn cầu, do đó phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam có thể tranh thủ thịtrường rộng lớn đầu tư, nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ và phương thức quản lý tiêntiến của Hoa Kỳ phục vụ cho xây dựng và phát triển đất nước
Về văn hóa – giáo dục, Hoa Kỳ một đất nước đa văn hóa, đa chủng tộc nơi đó
hội tụ tất cả các nền văn hóa của thế giới Chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn củanền văn hóa Hoa Kỳ Ngoài ra Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nền giáo dụcbậc nhất thế giới với đội ngủ đông đảo các nhà khoa học, nền giáo dục tiến tiến Nên việc hợp tác với Hoa Kỳ trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục nhằm tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại, phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.Trên cơ sở đó, Việt Nam luôn thể hiện được sự chủ động trong việc thúc đẩyquan hệ với Hoa Kỳ, xem Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng trong chính sách ngoạigiao của Việt Nam; hướng đến việc xác định một khuôn khổ quan hệ ổn định vớiHoa Kỳ
Việc phát triển quan hệ với Hoa Kỳ trong những năm đầu thế kỷ XXI đượcxem là bước đi cần thiết để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng,
đa phương hóa, đa dạng hóa, thực hiện chủ trương cân bằng quan hệ với các nướclớn Việc phát triển quan hệ với Hoa Kỳ đáp ứng lợi ích thiết thực của Việt Nam,đặc biệt là trong khung cảnh Việt Nam năng động đổi mới, mở rộng quan hệ quốc
tế Điều này được khẳng định rõ trong bài phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khảitrong chuyến thăm Hoa Kỳ tháng 6/2005: “Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là một trongnhững đối tác quan trọng và mong muốn xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện,
ổn định lâu dài, vì lợi ích thiết thực của cả hai bên” [63, tr 7]
Nhìn chung, thực hiện cân bằng với các nước lớn là một chủ trương nhất quáncủa Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI và nó đã được thể hiện rõ nét và nổibật từ Đại Hội lần thứ IX (2001) Thực tiễn triển khai hoạt động đối ngoại của ViệtNam hơn một thập niên qua chứng tỏ tính đúng đắn của chủ trương chiến lược này.Với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
Trang 28cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [67, tr.123], trọngtâm ngoại giao Việt Nam hiện nay là tạo một môi trường trong nước và quốc tế thuậnlợi phục vụ cho mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao địa
vị của Việt Nam ở Đông Nam Á và trên trường quốc tế Việc xác lập chiến lượcngoại giao toàn diện, hòa nhập với cộng đồng quốc tế của Việt Nam đã tạo cơ sở choquan hệ giữa hai nước phát triển và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Việt Namhiện nay
Tóm lại, Việc phát triển hơn nữa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam xuất phát
từ lợi ích chung của hai nước, lợi ích đó cơ bản và lớn hơn nhiều so với những khácbiệt tồn tại Xuất phát từ nhận thức đó, chính sách hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Namvới nhau là cơ sở pháp lý và là nhân tố quyết định thúc đẩy hai nước nói chung vàhợp tác trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục nói riêng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngàycàng sâu rộng và mạnh mẽ
1.3.2 Nhu cầu hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục
Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có nhiều điều kiện rấtthuận lợi cho việc hợp tác trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục
Trước hết, đó là những chuyển biến tích cực của tình hình quốc tế và khu vực
trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh với những xu hướng nổi trội là hội nhập và hợp
tác Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng càng sâu rộng, nhu cầu hợp tác về
kinh tế, giao lưu văn hóa và trao đổi giáo dục giữa các nước và các dân tộc ngày càngtăng Trong bối cảnh đó Việt Nam đã thực hiện một chính sách đối ngoại tích cực, đaphương, đa dạng hóa, không chỉ hội nhập kinh tế, mà còn tăng cường hội nhập vềchính trị, văn hóa, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác Chủ trương hội nhập sâu rộng,toàn diện trong bối cảnh toàn cầu hóa này là một điều kiện thuận lợi cơ bản đối vớinhu cầu tăng cường hợp tác của Việt Nam với Hoa Kỳ về văn hóa, giáo dục
Yếu tố thứ ha i , tác động đến hợp tác văn hóa, giáo dục giữa hai nước là sự tiến
triển nhanh chóng và tích cực của quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước Kể
từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995 đến nay quan hệ hai nước luôndiễn ra theo chiều thuận mặc dù giữa hai nước vẫn còn một số khác biệt Theo đánhgiá của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh,
Trang 29“không có hai quốc gia nào từng làm việc tích cực hơn” để vượt qua những khácbiệt so với Hoa Kỳ và Việt Nam “ Mọi người khó có thể tin được mối quan hệ giữahai nước phát triển nhanh đến thế nào”[78] Thực vậy, kể từ khi bình thường hóamối quan hệ, hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực,đạt nhiều thành tựu và có lợi cho hai nước Quan hệ chính trị tốt đẹp đã tạo cơ sởcho sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực khác nhau trong đó có hợp tác trong lĩnhvực văn hóa, giáo dục vốn được xem là cầu nối tinh thần giữa nhân dân hai nước.
Yếu tố thứ ba , chính là nhu cầu hợp tác đến từ hai phía cùng với những cơ sở
pháp lý đã được hai bên thiết lập cho sự hợp tác văn hóa, giáo dục Đặc biệt tronglĩnh vực giáo dục Khi mà cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nênquyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động,điều đó đặt ra vị trí mới của giáo dục Các nước đều xem giáo dục là nhiệm vụtrọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội và là ưu tiên hành đầu của mỗiquốc gia Về phía Hoa Kỳ, các chương trình trao đổi giáo dục của Hoa Kỳ vớiViệt Nam dựa trên cơ sở pháp lý của Đạo luật Trao đổi giáo dục và văn hóa doQuốc hội Hoa Kỳ ban hành năm 1961 nhằm “tăng cường sự hiểu biết lẫn nhaugiữa nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân các nước khác”, cũng như “hỗ trợ sự phát triểncác mối quan hệ thân thiết, thông cảm và hòa bình giữa Hoa Kỳ và các nước kháctrên thế giới”[65, tr.184] Đối với Việt Nam, giáo dục đào tạo luôn được coi là ưutiên hàng đầu, là quốc sách trong chiến lược phát triển Hơn nữa, phát triển nguồnnhân lực là một trong những lĩnh vực then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội Việt Nam Vì thế, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao là mộtnhu cầu rất cần thiết Trong khi đó, Hoa Kỳ là nước có trình độ phát triển cao vềkhoa học - kỹ thuật và nhiều trường đại học của Hoa Kỳ có vị trí hàng đầu trên thếgiơi Do đó, hợp tác giáo dục đại học với Hoa Kỳ sẽ đáp ứng được nhu cầu đào tạonhân lực trình độ cao cho Việt Nam
Yếu tố thứ tư , có thể nói cả Hoa Kỳ và Việt Nam đang chịu sự chi phối của
hiện tượng toàn cầu hóa biểu hiện của xu thế đó là: cuộc cách mạng Khoa học
công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ Điều này đã trở thành động lực cơ bản của
sự phát triển kinh tế - xã hội Khoa học công nghệ phát triển đã làm thay đổi mạnh
Trang 30mẽ nội dung, phương pháp hợp tác văn hóa, giáo dục Như vậy sự phát triển củakhoa học công nghệ đã đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực cótrình độ cao Đối với văn hóa khoa học công nghệ phát triển tạo thuận lợi trongviệc quảng bá các hình ảnh đất nước của các quốc gia trở nên dễ dàng hơn quaphương tiện truyền thông.
Tóm lại, có thể thấy quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa – giáodục được thúc đẩy bởi yếu tố chủ quan về truyền thống và nhu cầu hợp tác đã có từlâu của nhân dân hai nước Quan hệ hai nước trên lĩnh vực hợp tác hợp tác văn hóa– giáo dục đã góp phần tạo nên những đường nét cơ bản trong mối quan hệ quan hệsong phương với các lĩnh vực hợp tác khác của Hoa Kỳ - Việt Nam Một yếu tốkhác quan trọng tạo nên tính khách quan cho mối quan hệ hai nước là chính bởi bốicảnh quốc tế, khu vực, vị trí địa chiến lược trong chính sách của nhau đã làm thúcđẩy mối quan hệ phát triển và đi vào chiều sâu Chính những yếu tố đó gặp nhaulàm đà cho sự phát triển mạnh mẽ hơn vào giai đoạn sau của mối quan hệ hợp tácgiữa Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục
Trang 31CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN HỆ HOA KỲ VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 2001 -
-2012 2.1 Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa (2001 – 2012)
Theo quan niệm thông thường, giao lưu kinh tế, giao lưu chính trị thườngđược coi trọng hơn, còn giao lưu văn hóa giống như một sự hỗ trợ, bổ sung, làmtươi mát thêm cho mối quan hệ giữa các bên Nhưng trên thực tế, giao lưu văn hóangày càng thực hiện được nhiều chức năng hơn người ta vẫn nghĩ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, giao lưuvăn hóa giữa các quốc gia diễn ra ngày càng mạnh mẽ cả theo chiều sâu Điều đótrở thành một hiện tượng tất yếu mà không một nền văn hóa nào có thể đứng ngoài.Văn hóa càng trở nên quan trọng Chúng được xem là một trong những nhân tố làmnên “sức mạnh mềm” trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia Văn hóa có sứcmạnh thâm nhập mạnh, có thể đạt được mục tiêu mà các biện pháp chính trị và quân
sự khó đạt được Chính vì vậy, các quốc gia ngày càng chú ý nhiều đến việc pháthuy các giá trị văn hóa, như đa dạng văn hóa, đối thoại giữa các nền văn hóa - vănminh, văn hóa hòa bình Kênh văn hóa được sử dụng như một phương tiện hiệu quả,
hỗ trợ và thúc đẩy các mối quan hệ chính trị, an ninh, kinh tế,…Với tư cách là mộtlĩnh vực đặc biệt của hoạt động đối ngoại, ngoại giao văn hóa liên quảng đến việc
sử dụng văn hóa như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu cơbản của chính sách đối ngoại quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quản bávăn hóa và ngôn ngữ quốc gia trên thế giới Đồng thời ngoại giao văn hóa còn làmột lĩnh vực liên quan đến việc thiết lập, phát triển và duy trì mối quan hệ với
những quốc gia khác nhau bằng các phương tiện văn hóa, văn học và nghệ thuật
Bên cạnh đó, mỗi nền văn hóa muốn phát triển, bên cạnh việc giữ gìn, cần mở cửatiếp nhận những “luồng gió” văn hóa mới, tiến bộ để làm phong phú, sâu sắc hơngiá trị văn hóa của mình
Trong bối cảnh toàn cầu hợp tác văn hóa có thể diễn ra thuận lợi với nhiềuphương thức khác nhau, thông qua các sự kiện văn hóa; thông qua hoạt động giaolưu văn hóa, thông qua truyền thông quốc tế, thông qua truyền thông đại chúng: báo
in, báo hình, báo mạng; thông qua việc trao đổi chuyên gia học thuật, văn nghệ sĩ;
Trang 32qua trao đổi văn hóa, hợp tác trong sản xuất các sản phẩm văn hóa…
Bao quát thế giới hiện nay, cần thấy rằng phát triển kinh tế muốn bền vững dứtkhoát bao giờ cũng dựa trên sự phát triển song song cùng văn hóa và hình ảnh quốcgia của một đất nước luôn tỷ lệ thuận với sức ảnh hưởng và hấp dẫn văn hóa củaquốc gia đó trên thế giới Sức ảnh hưởng, sức hấp dẫn tương đồng với khả năngcung cấp sản phẩm văn hóa cho thế giới của mỗi quốc gia
Từ nền tảng nhận thức đó, Quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam trong lĩnh vực vănhóa, văn học, nghệ thuật đã có những bước tiến quan trọng Hai nước cũng tập trungcho nhiều hoạt động giao lưu văn hóa góp thêm những mắc xích quan trọng cho mốiquan hệ đối tác toàn diện Hoa Kỳ - Việt Nam Điều đó rất cần sự nỗ lực của cả haiphía, cả tầm quốc gia, các tổ chức và cả ở từng cá nhân
Có thể khái quát quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa từ 2001đến 2012 thành hai giai đoạn dưới đây
2.1.1 Giai đoạn 2001 - 2008
Trên cơ sở những tiếp xúc văn hóa đầu thập niên 1990, trong giai đoạn này,các hoạt động trao đổi các đoàn nghệ thuật, tổ chức triển lãm văn hóa, giao lưu vănnghệ, văn học… giữa hai nước được thực hiện để góp phần tăng cường hiểu biết lẫnnhau, tăng cường mối quan hệ giao lưu giữa hai nước
Các chương trình biểu diễn nghệ thuật
Từ ngày 2 đến ngày 18/12/2002, các nhà quản lý nghệ thuật Việt Nam sangthăm và làm việc với các đối tác Hoa Kỳ theo chủ đề: chia sẻ các mô hình hỗ trợnghệ sĩ và trình diễn nghệ thuật ở Việt Nam và Hoa Kỳ
Buổi biểu diễn đầu tiên để kỷ niệm 10 năm quan hệ hữu nghị song phươnggiữa hai nước đã tổ chức trong tháng 4/2005 Havikoro, một nhóm nhảy hiphopđến từ Houston, bang Texas gồm các bạn trẻ điển hình với phong cách nhảyvăn hóa đường phố đã cùng trình diễn bên cạnh ca nhạc sĩ Pop và các nhómnhảy breakdance của Việt Nam Trước 4.000 người dân Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, các bạn trẻ này đã mang nguồn năng lượng mới và nhiệt tình củavăn hóa Hoa Kỳ
Cũng trong năm đó, các nhóm đồng ca không nhạc đệm của trường Đại học Yale,
Trang 33nhóm Tam tấu nhạc Jazz Chicago, những nhạc sĩ piano người Mỹ gốc Á đã lần lượt tớibiểu diễn ở Việt Nam Vào tháng 11/2005, các nhạc sĩ nhạc Jazz đến từ Viện HerbieHancock, Wayne Shorter đã tới để trình diễn những bản nhạc Jazz vĩ đại Trong buổigiao lưu này có các sinh viên Việt Nam đã dạy cho người Mỹ các bài hát nhân gian củaViệt Nam và cùng hòa vào các điệu Jazz để tạo nên khúc tùy hứng độc đáo.
Năm 2008 đã diễn ra một “Đêm Opera Việt – Mỹ” với sự tham gia của các tácphẩm như: Sự trả thù của Con Dơi (Die Fledermaus) – nhạc của Johann Strauss; TràHoa Nữ (La Traviata) – nhạc của Giuseppe Verdi; và Porgy and Bess viên ngọc củasân khấu Broadway – nhạc của George Gerswhin, đây là những trích đoạn nhạc kịchkinh điển nhất thế giới lần đầu tiên đã được trình diễn trên sân khấu Nhà Hát lớn HàNội trong khuôn khổ chương trình do Đại sứ quán Hoa Kỳ tài trợ Đạo diễn Evanagorka, một giọng ca mezzo soprano nổi tiếng ở Mỹ, Nhạc trưởng Daniel Perkins,Chủ nhiệm khoa hợp xướng đại học Plymouth State University cùng sự tham gia củatoàn bộ diễn viên Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam
Các chương trình triển lãm nghệ thuật
Trong năm 2003, lần đầu tiên, tại Bảo tàng lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ phối hợpvới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tổ chức một cuộc triển lãm về văn hóađương đại Việt Nam, kéo dài hai năm từ 15/3/2003 đến 2005 Mang dáng vẻ củamột “cuộc hành trình xuyên Việt” hơn là một triển lãm, những gì được tái hiện,trưng bày tại đây, nhằm mô tả một cách sống động bức tranh xã hội Việt Nam Nhịpsống thành thị cũng như nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược với những nét đặctrưng nhất của phong tục tập quán mỗi vùng miền, dưới góc nhìn dân tộc học đãgiúp người Mỹ kể cả Việt kiều ở Mỹ hiểu thêm, hiểu đúng về đất nước, con ngườiViệt Nam ngày nay Không dừng lại ở đó, một “cuộc hành trình tinh thần của ngườiViệt Nam sẽ giúp khách tham quan mường tượng tới những “cuộc hành trình” khácnữa, mang dấu ấn của cuộc chiến tranh nhân dân hai nước đã trải nghiệm với cuộctriễn lãm mang tên “ Cuộc phiêu lưu của linh hồn con người” Đây là một hoạtđộng văn hóa có ý nghĩa giúp cho nhân dân Mỹ có dịp tiếp cận với văn hóa ViệtNam qua đó hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam
Nhân kỷ niệm 9 năm ngày thiết lập quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam (12/7/1995
Trang 34-12/7/2004), Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đã bảo trợ và đồng tổ chức triển lãmtranh của 15 họa sĩ đương đại Việt Nam Hơn 30 bức tranh của các họa sĩ đương đạiViệt Nam, trong đó có các họa sĩ nổi tiếng như Nguyễn Tư Nghiêm, Đỗ Quang Em,Bửu Chỉ, Phan Cẩm Thượng… và của các họa sĩ trẻ được trưng bày Cuộc triễnlãm đã sớm giành được sự ái mộ không chỉ của công chúng yêu nghệ thuật Hoa Kỳ
mà còn có các nhà sưu tập tranh có tên tuổi ở Hồng Kông, New York, Singapor nhưHồng Việt Dũng, Lê Quốc Việt, Nguyễn Bạch Đàn, Nguyễn Văn Cường… Các bứctranh được trưng bày đã cuốn hút được người xem vào không gian sáng tạo của cácnghệ sĩ, giới thiệu một cách sinh động nền nghệ thuật tạo hình đương đại Việt Nam.Cuộc triễn lãm “ Truyền thống và đổi thay: Nghệ thuật Việt Nam ngày nay” diễn ra
từ ngày 12 đến 24/7/2004 đã thu hút sự quan tâm rất lớn của người dân Mỹ ởWashington
Vào tháng 7/2005, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tổ chức một cuộc triễn lãm ảnhcủa Peter Steinhauer và Nguyễn Hoài Linh Cuộc triển lãm đã tạo cầu nối vănhóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đưa tương lai của Việt Nam vào góc nhìn độc đáocủa mỗi người
Cũng trong năm 2005, vào tháng 12 có một cuộc triễn lãm văn hóa đặc biệtvới sự tham gia của Bảo tàng Tự nhiên quốc gia Hoa Kỳ và Bảo tàng Dân tộc họcViệt Nam mang tên “Việt Nam - những cuộc hành trình của con người, tinh thần vàlinh hồn” Cuộc triễn lãm lịch sử sau ba năm được trưng bày ở Hoa Kỳ đã trở vềViệt Nam
Ngoài ra phía Việt Nam còn có các cuộc biểu diễn của nhóm nghệ sĩ múa rối HàNội, hoặc ca nhạc dân tộc truyền thống, hoặc tham gia hội chợ văn hóa, trình diễnnghệ thuật ẩm thực dân tộc v.v , để quản bá bản sắc văn hóa Việt Nam, hình ảnh đấtnước con người Việt Nam với bạn bè quốc tế và bạn bè Mỹ Trong khi đó các nghệ sĩ
Mỹ sang Việt Nam biểu diễn ở Việt Nam có sự tham gia của các ban nhạc hiphop,các vũ đoàn biểu diễn các thể loại múa đương đại hoặc ba lê, các nghệ sĩ nhạc Jazz,nhạc đồng quê…Hai nước cũng trao đổi nhiều cuộc triển lãm nghệ thuật đã giới thiệuhàng trăm tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của các họa sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam chocông chúng của hai nước Những hoạt động trao đổi văn hóa đã làm cho nhân dân hai
Trang 35nước hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hóa của nhau.
Phim ảnh
Ngoài các cuộc triễn lãm và giao lưu văn hóa, hai nước có những chương trìnhgiới thiệu phim Đối với phim Mỹ, Đại sứ Mỹ thường xuyên tổ chức các buổi chiếuphim Mỹ tại Phòng Văn hóa thông tin của Sứ quán Mỹ Các buổi chiếu phimthường kèm theo với buổi thào luận của kháng giả về nội dung phim Đây là mộtcách giới thiệu trực tiếp về hình ảnh đất nước con người, văn hóa, giá trị Mỹ chocông chúng Việt Nam Các cơ quan văn hóa Việt Nam cũng tổ chức giới thiệu phim
Mỹ Ngoài những phim được chiếu trên một số chương trình truyền hình của ViệtNam, Cục điện ảnh Việt Nam cũng giới thiệu phim Mỹ với khán giả Việt Nam.Một trong những nỗ lực đó là ngày 26/3/2005, Hội Việt - Mỹ phối hợp với BộNgoại giao, Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thông tin, Đại sứ quán Việt Nam tại
Mỹ đón đoàn làm phim Laura McKenize của Mỹ vào thăm và làm việc tại ViệtNam Đoàn gổm 13 người trong đó Laura McKenize là người dẫn chương trình nổitiếng trên kênh truyền hình du lịch Mỹ cùng đoàn đạo diễn phim, các nhà sản xuất,trợ lý và ba nhà quay phim chính Mục đích của đoàn là quay phim quảng bá du lịchViệt Nam, góp phần xây dựng hình ảnh của Việt Nam tại Mỹ, giúp công luận Mỹ cócái nhìn đúng đắn về đất nước con người Việt Nam Trong thời gian ở Việt Nam,đoàn thực hiện các cảnh quay ở các điểm văn hóa du lịch, di tích lịch sử, dịch vụnhà hàng, khách sạn, thể thao, giải trí tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, HàNội và Vịnh Hạ Long Tuy nhiên, hình thức giao lưu văn hóa, giới thiệu phim của
Mỹ được giới thiệu khá rõ nét vì phim Mỹ được giới thiệu khá phổ biến ở Việt Namtrong khi phim Việt Nam hầu như chưa bao giờ vào được thị trường Mỹ Đây làđiểm đáng lưu ý trong các chương trình trao đổi văn hóa của Việt Nam với Hoa Kỳ.Đáng chú ý là Tuần lễ phim Mỹ do Cục Điện ảnh, Bộ Văn hóa - Thông tinViệt Nam, tổ chức từ ngày 3 đến ngày 10/5/2007, giới thiệu tám bộ phim củaHollywood với kháng giả Việt Nam Đây chính là chương trình giới thiệu phim Mỹlớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam Ngoài giới thiệu phim Mỹ ở Việt Nam, các
cơ quan chức năng của Việt Nam cũng luôn cố gắng giới thiệu hình ảnh về ViệtNam cho công chúng Mỹ
Trang 36 Văn học
Trong lĩnh vực giao lưu văn học, năm 2003, Nhà xuất bản Curbstone Press ởHoa Kỳ đã phát hành tuyển tập truyện ngắn Việt Nam mang tên “Tình yêu sauchiến tranh” - Văn xuôi Việt Nam đương đại do nhà văn Mỹ Wayne Karlin và nhàvăn Hồ Anh Thái chủ biên Đây là tuyển tập văn học dày dặn đầu tiên xuất bản ởHoa Kỳ cho tới nay, dày 650 trang khổ lớn, tập hợp truyện ngắn của 45 tác giảViệt Nam Dịp này, đọc giả Mỹ sẽ thấy sự hiện diện tất cả các thế hệ nhà văn củaViệt Nam, từ Tô Hoài sang Chu Văn, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, TrangThế Hy, Ma Văn Kháng, đến Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Thân, Lê VănThảo tới Đoàn Lê, Trần Huy Mai, Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân, rồi Phan Thị VàngAnh, Phan Hải Triều, mới nhất là Nguyễn Ngọc Tư Có nhà văn đã khuất và cóngười còn sống…
Tác phẩm xuất bản đã gây tiếng vang trong dư luận Mỹ Philip Herter trongThời báo St Petersburg, số ngày 14/9/2003 đã bình luận: “Tình yêu sau chiến tranh”
là một tuyển tập văn xuôi sinh động của những tác giả mà tác phẩm sánh với những
gì hay nhất của văn chương thế giới Văn phong đẹp, “Tình yêu sau chiến tranh” chothấy rằng văn học Việt Nam, và cả đời sống ở đó, đang phát triển mạnh”[67, tr 175].Bên cạnh những hoạt động hợp tác văn hóa mang tầm quốc gia, cấp tổ chứcthì vẫn có những cá nhân người Mỹ âm thầm giới thiệu quảng bá hình ảnh văn hóaViệt Nam qua nước họ Năm 2008, một giáo sư người Mỹ tên là Charles Waughông đã cùng các đồng nghiệp tại Việt Nam của mình tiến hành sưu tầm và cho xuấtbản ở Hoa Kỳ tập truyện ngắn của Việt Nam “ Gia đình và những chiếc lá rụng”trong dự án “ Nghiên cứu về vai trò của văn học trước những tác hại của chất độcmàu da cam đối với con người và môi trường Việt Nam” thuộc chương trình nghiêncứu do tổ chức Wiliam Joiner Center tại Đại học Massachusetts (Boston) và QuỹRockerfeller đồng tài trợ Cuốn sách được sưu tầm tuyển chọn, dịch sang tiếng Anh
và xuất bản tại Mỹ là tập truyện ngắn của các tác giả Việt Nam viết về tác hại củachất độc màu da cam đối với con người và môi trường Ngoài ra Ông cùng với một
số các đồng nghiệp tại trường Đại học Văn hóa làm một tuyển tập truyện ngắn củacác tác giả trẻ dưới 40 tuổi ở Việt Nam với tên gọi “ Tiếng nói mới từ Việt Nam”
Trang 37Cuốn sach sẽ tập hợp những tác phẩm hay độc đáo, giúp công chúng Hoa Kỳ hiểuhơn về tâm tư thế hệ trẻ Việt Nam Những tác phẩm như Đợi đò của Kiều Bích Hậu,Cơn mưa hoa mận trắng của Phạm Duy Nghĩa, Thung Lam của Hồ Thị Ngọc Hoài,
…Từ đây “con đường tơ lụa” mang văn học trẻ Việt Nam đến với thế giới đượcthông thương và ngày cang mở rộng
Bảo tồn Văn hóa
Tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật, vào tháng 8/2005, Đại sứ Hoa Kỳ giám đốc Bảotàng đã thông qua một dự án, dùng nguồn tài trợ 20.000 USD của Quỹ Bảo tồn Vănhóa Đại sứ quán để tu bổ hai tác phẩm sơn mài nổi tiếng của Việt Nam Dự án này
đã minh chứng cho sự tôn trọng và ngưỡng mộ của Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳđối với nền văn hóa Việt Nam, cùng sẽ chia nguồn lực cũng như khoa học kỹ thuật
để bảo tồn văn hóa Việt Nam cho các thế hệ sau
Năm 2008 Quỹ Bảo tồn văn hóa của Đại sứ Hoa Kỳ sẽ tài trợ cho Bả tàngNam Định dùng để phục chế bộ sưu tập đồ thờ bằng gỗ Tại Bảo tàng Nam Địnhđang lưu giữ rất nhiều bộ sưu tập đồ thờ bằng gỗ từ thế kỷ 17 đến 19, gồm 57 hiệnvật như: tượng phỗng, tượng nghê, cây đèn, các mạng chạm , trong đó có một bộ 5bức tranh rất nổi bật được vẽ trên gỗ thảo mộc có tên gọi “ Thập diện Diêm Vương”
từ niên đại thế kỷ 19 Mỗi hiện vật là một tác phẩm chạm khắc người, cỏ cây hoa lá,vật mang đậm phong cách nhân gian Việt Nam Đây là bộ sưu tập mang đặc trưngcủa văn hóa đồng bằng sông Hồng Vào tháng 7 – 2008 tại buổi lễ ký kết tài trợ nàyĐại sứ Hoa Kỳ Michael W Michalak đã nói “Những bảo vật lịch sử này là hiệnthân cho một thời hoàng kim cho thủ công mỹ nghệ Việt Nam và chính phủ Hoa
Kỳ tự hào được góp phần cùng Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch trong nỗ lực bảo
vệ và bảo tồn những di sản văn hóa này” [22, tr 60]
Cho dến nay, Quỹ đã bả trợ cho hơn 400 dự án bảo tồn văn hóa trên toàn thếgiới, trong đó có 8 dự án tại Việt Nam Các dự án này đã đóng góp vào nhữngphương diện khác nhau trong khối di sản của Việt Nam gồm các dự án bảo tồntượng phật ở các chùa và bảo tàng, phôi phục đền, bảo tồn âm nhạc dân tộc Tày vàkhôi phục lễ hội cổ truyền
Trang 382.1.2 Giai đoạn 2009 – 2012
Tiếp nối những thành công trong hợp tác văn hóa giai đoạn 2001 – 2008, từ
2009 đến 2012, Hoa Kỳ và Việt Nam cũng tiếp tục thực hiện nhiều hoạt động hợp
tác giàu ý nghĩa, đặc biệt là hoạt động của các cơ quan, Bộ văn hóa của hai nước.
Các chương trình biểu diễn nghệ thuật
Năm 2010 diễn ra một sự kiện lớn giao lưu văn hóa Việt _ Mỹ chào mừng
1000 năm Thăng Long – Hà Nội Từ ngày 27/3 – 3/5, sự kiện âm nhạc lớn nhất từtrước đến nay trong lịch sử quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ mang tên
“Thăng Long”, do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Bộ Ngoại giao Mỹ,Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam và Dàn nhạc thính phòng Tây Nam của Mỹthực hiện sẽ diễn ra tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Pasadena và Los Angeles Theochương trình, 19 nghệ sĩ Mỹ sẽ sang biểu diễn và giao lưu văn hóa tại Việt Nam.Sau đó, 19 nhạc sĩ sáng tác và nghệ sĩ biểu diễn của Việt Nam sẽ sang Mỹ tham giacác sự kiện trong khuôn khổ chương trình từ ngày 14/4 đến ngày 4/5/2010 Đây làhoạt động văn hóa nghệ thuật hướng về kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nộitrong năm 2010 Các nghệ sĩ của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam và Dànnhạc thính phòng Tây Nam sẽ cùng trình diễn các sáng tác mới của các nhạc sĩ hainước trong dàn hoà tấu mang tên Thăng Long Các tác phẩm được trình diễn gồmsáng tác của các nhạc sĩ nổi tiếng thế giới như Copland, Cage, Debussy, Messiaen,Takemitsu, Schoenberg, Stravinsky Các sáng tác mới của các nhạc sĩ Việt Nam và
Mỹ cũng sẽ được giới thiệu với công chúng, phần lớn trong số đó là những tácphẩm lần đầu tiên được công diễn tại Việt Nam, Mỹ và châu Á Các nhạc sĩ sáng tácAlexandra du Bois và Kurt Rohde đến từ Mỹ cùng với Vũ Nhật Tân và Phạm MinhThành của Việt Nam sẽ biểu diễn những tác phẩm mới lần đầu tiên công diễn tạiNhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 19/3 Bên cạnh đó, hai nhạc sĩ tên tuổi khác của ViệtNam là Nguyễn Thiện Đạo và Tôn Thất Tiết cũng sẽ tham gia chương trình lần này.Ngoài các buổi biểu diễn âm nhạc, trong khuôn khổ Chương trình văn hoá ThăngLong còn có các hoạt động giao lưu, hội thảo về những vấn đề văn hoá giữa haiquốc gia.Tại Việt Nam, cùng tham gia vào chương trình giao lưu văn hóa lớn lầnnày ngoài Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Dàn nhạc thính phòng Tây Nam
Trang 39của Mỹ còn có Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhạc viện TP Hồ Chí Minh, Đại sứ quán Mỹtại Hà Nội và Lãnh sự quán Mỹ tại TP.Hồ Chí Minh.Tại Mỹ, nhiều tổ chức nhưTrung tâm Nghệ thuật Armory, Trường Colburn, Viện Drucker thuộc Đại họcClaremont, Chương trình Phát triển lãnh đạo Riordan Volunteer, Hãng Cal Tech,Bảo tàng châu Á - Thái Bình Dương, các trường học tại Pasadena, Los Angeles vàVilla Aurora cũng tham gia chương trình.
Năm 2010, cũng là năm mà cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ cũng đã hợp táctrong một loạt các buổi hòa nhạc MTV Exit được tổ chức ở Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ
và TP Hồ Chí Minh nhằm nêu bật sự cần thiết chống lại nạn buôn người Hơn 80.000người hâm mô đã tham dự trực tiếp, và hàng chục ngàn người khác xem trên TV
Nhân kỷ niệm 15 bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, Liên hoan Âmnhạc Thăng Long, được cho là lớn nhất trong lịch sử giao lưu văn hóa Mỹ - Việt đãdiễn ra tại California, TP HCM và Hà Nội Liên hoan gồm 12 buổi hòa nhạc với sựtrình diễn của nhóm nhạc thính phòng cùng các nghệ sĩ của Học viện Âm nhạc quốcgia tại Hà Nội Họ từng đoạt giải âm nhạc Grammy Southweast Chamber Music quatìm hiểu nhạc cổ điển của Việt Nam và họ chủ động xây dựng một dự án phối hợpvới Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam Tên gọi dự án được chọn là Thăng Long
để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với sự tài trợ của Bộ ngoại giao Mỹ Dự
án được chuẩn bị trong hai năm diễn ra trong 6 tuần ở Việt Nam và Hoa Kỳ Trong batuần ở Việt Nam, các nhà soạn nhạc Mỹ Alexandra du Bois và Kurt Rohde có cơ hộitiếp cận với trực tiếp với âm nhạc truyền thống Việt Nam, trong đó có đàn bầu đểhoàn thành tác phẩm của mình Trong ba tuần ở Hoa Kỳ, 19 nhạc công và nhạc sĩViệt Nam tham gia Chương trình biểu diễn này gồm có các tác phẩm âm nhạc của cảHoa Kỳ và Việt Nam, Hoa Kỳ vớí các nhạc sĩ tên tuổi như: Aron Copland, John Cage
và Elliot Carter và Việt Nam hai nhạc sĩ gạo cội là Nguyễn Thiện Đạo và Tôn ThấtTiết Ngoài ra còn có các tác phẩm của các nhạc sĩ trẻ của cả hai nước cùng tham gia.Nhạc sĩ violon Trọng Bình từ Học viện Âm nhạc Quốc gia sau buổi trình diễn đã tâm
sự rằng: “Âm nhac thực sự là cầu nối, không bị ràng buộc bởi chính trị”[60, tr 6] Vàsắp tới, giữa Nhạc viện Hà Nội và Dàn Nhạc Southwest Chamber Music tiếp tục cónhững trao đổi và đà tạo về nhạc công và cả công tác quản lý
Trang 40Cuối cùng Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tham gia Festival Cầu Long Biên tổ chức từngày 19 đến 21 tháng 11.
Năm 2011 cũng là năm sôi động với các điểm hẹn văn hóa giữa hai nước khihàng loạt các ngôi sao ca nhạc của Mỹ đã đến Việt Nam Những “lãng tử đườngphố” Backstreet Boys tới từ nước Mỹ là những nghệ sĩ mở màn cho một năm sôiđộng các liveshow tại Việt Nam Nằm trong tour diễn quảng bá album “This Is Us”,Backstreet Boys chọn Việt Nam là điểm đến cuối cùng và biểu diễn tại hai thànhphố lớn là Hà Nội và TP HCM Mặt dù khâu tổ chức vẫn còn nhiều mặt hạn chế,song hai buổi diễn của Backstreet Boys vẫn là một sự mở màn ngoạn mục cho nămbùng nổ những liveshow nghệ sĩ nước ngoài tại Việt Nam
Đến đầu tháng Tư 2011, khán giả Việt Nam lại “sôi” lên trước sự xuất hiệncủa danh ca gạo cội nước Mỹ Bob Dylan Ông đã đem đến cho khán giả một đêmdiễn đáng nhớ vào tối 10/4 trong khuôn khổ liveshow Bob Dylan - Live in Vietnam,diễn ra tại trường Đại học RMIT (TP.HCM)
Cũng trong năm 2011 lại náo nhiệt hơn khi các fan Việt đón liên tiếp ba thầntượng âm nhạc Mỹ - David Cook (Quán quân American Idol 2008), AlexandraBurke (Quán quân The X Factor 2008) trong chương trình H -Artistry và DavidArchuleta (Á quân American Idol 2008) cùng tham gia
Các chương trình này hầu hết đều do các nhà sản xuất tư nhân trong và ngoàinước đầu tư thực hiện Tuy thu hút được đông số lượng khán giả nhưng mộtliveshow nghệ sĩ nước ngoài vừa đảm bảo được chất lượng quốc tế, vừa thỏa mãn
và thu hút được khán giả, đem lại lợi nhuận kinh doanh cho nhà sản xuất dường nhưvẫn còn là giấc mơ xa vời khi thực hiện ở Việt Nam Mặc dù vậy, với nhữngchương trình đã diễn ra trong năm, thị trường Việt Nam cũng đã có tên trong bản đồ
âm nhạc thế giới
Những ngày cuối tháng Mười năm 2011, Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia ViệtNam đã biểu diễn thành công “Chương trình hòa nhạc lần đầu tiên tại Mỹ năm2011” tại nhà biểu diễn Carnegie Hall thuộc bang New York Ngoài những bảnnhạc giao hưởng đỉnh cao, Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam còn giới thiệu hai bảnnhạc giao hưởng mang âm hưởng dân ca Việt Nam là Lý Hoài nam và Trống cơm