Có thể kể đến công trình nghiên cứu về Quốc âm thi tập của tác giả Thanh Lãng, “Ảnh hưởng và địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thiên Thụ, “Mấy đặc điểm c
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lã Nhâm Thìn
HÀ NỘI, 2017
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2017 Tác giả luận văn
Phạm Thị Toàn
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn này, em đã được sự giúp đỡ chân thành của nhiều thầy cô, bạn bè Em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến:
- Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Các thầy cô giáo tổ Văn học Việt Nam trung đại, khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Với lòng kính trọng, khâm phục và sự biết ơn sâu sắc, em xin cảm ơn GS.TS
Lã Nhâm Thìn, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Xin một lần nữa được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong suốt quá trình làm luận văn
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Toàn
Trang 43 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 13
Chương 3: ĐẶC SẮC VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG NGÔN NGỮ TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
92
3.1 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện tinh thần hiếu hòa của dân tộc Việt Nam
92 3.2 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện văn hóa trọng tình của 103
Trang 55
người Việt
3.3 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện tính linh hoạt “tùy cơ
ứng biến” của người Việt
115
3.4 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện tinh thần “chú trọng
thực tiễn” của người Việt
119
Trang 6Việc nghiên cứu thơ Nôm Nguyễn Trãi đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận qua các công trình nghiên cứu, các chuyên luận, các cuộc hội thảo và trên
các tạp chí khoa học chuyên ngành Quốc âm thi tập là tập thơ Nôm duy nhất của
Nguyễn Trãi và là tập thơ được khẳng định là cột mốc lớn đầu tiên trong dòng chảy của thơ Nôm Đường luật Tập thơ cũng được đánh giá là đã đặt nền móng cho thơ
ca tiếng Việt và có ảnh hưởng lớn đến các sáng tác thơ Nôm Đường luật sau này
Quốc âm thi tập đã khẳng định rõ nét sự đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi trong
việc mở đường và đẩy mạnh sự phát triển của của thơ ca dân tộc, đặc biệt là thành tựu về mặt ngôn ngữ
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giữ gìn, khẳng định bản sắc văn hóa truyền thống là một việc làm hết sức cần thiết Xét về phương diện này, thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm Nguyễn Trãi nói riêng cũng là thành tố của văn hóa được hình thành trên nền văn hóa truyền thống đặc sắc của người Việt Nam
thời trung đại Theo Đoàn Thị Thu Vân trong “Thơ Nôm Nguyễn Trãi và truyền
thống văn hóa Việt” thì “thơ văn Nguyễn Trãi, đặc biệt là thơ Nôm góp phần đáng
kể trong việc lưu giữ, phát huy và trao truyền những tinh hoa văn hóa Việt giàu chất nhân văn của thời đại mình cho những thế hệ đi sau”[53,46]
Trang 77
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học nói chung và ngôn ngữ văn học trung đại Việt Nam nói riêng từ góc nhìn văn hóa là hướng tiếp cận có tính chất liên ngành Thông qua hệ thống ngữ liệu văn hóa, nhà nghiên cứu có thể đi sâu tìm hiểu nội dung, tư tưởng thẩm mĩ và đặc trưng văn hóa của thời đại và bản thân mỗi tác giả Nhận thức được giá trị của ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi và để góp phần tìm hiểu tưởng thẩm mĩ, phong cách văn hóa của danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi cùng đặc trưng văn hóa của thời đại, chúng tôi chọn đề tài Ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa như một sự thể nghiệm, biện giải ngôn
ngữ văn chương cổ điển và văn hóa thông qua các mối quan hệ biện chứng giữa chúng
2 Lịch sử vấn đề
Những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, có một tác phẩm văn học gây được sự chú ý cho các nhà dịch thuật, nghiên cứu, phê bình văn học
trong và ngoài nước Đó chính là bản thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Sự phát hiện ra tập thơ này là một mốc quan trọng trong nghiên cứu văn chương Ức
Trai Quốc âm thi tập đánh dấu sự trưởng thành của ngôn ngữ văn học và văn hóa
dân tộc Tập thơ không chỉ là tác phẩm đầu tiên viết bằng ngôn ngữ dân tộc hiện còn mà còn khẳng định vai trò quan trọng của tiếng Việt cũng như văn hóa Việt Qua những tư liệu hiện có, theo chúng tôi, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi có thể khái quát thành các hướng như sau:
2.1 Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi
Trang 88
Với 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã huy động một vốn từ
phong phú, đa dạng và liên kết chúng thành một hệ thống ngữ liệu đặc sắc tạo nên những thần cú trong văn học cổ điển Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu về
phương diện ngôn ngữ của Quốc âm thi tập có khá nhiều những công trình có giá trị Có thể kể đến công trình nghiên cứu về Quốc âm thi tập của tác giả Thanh Lãng,
“Ảnh hưởng và địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thiên Thụ, “Mấy đặc điểm của vốn từ tiếng Việt văn học thế kỉ XV qua
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” của hai tác giả Hoàng Văn Hành và Vương Lộc,
“Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi” của Bùi Văn Nguyên; “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt” của Hoàng Tuệ; “Quốc
âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam” của Xuân Diệu; “Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập” của Hoàng Hữu Yên; “Một bản lĩnh thơ dân tộc” của Minh Hiệu; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy với đề tài
“Thi pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi”; Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Phương Thái với
đề tài “Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi”
Từ năm 1967, trong bài viết Quốc âm thi tập tác giả Thanh Lãng đã khẳng định: “Quốc âm thi tập là tài liệu văn học cổ nhất hiện còn lưu giữ được của nền
văn học quốc âm” Giá trị của tập thơ không chỉ hạn hẹp ở những nét đặc sắc về nội
dung mà còn ở nghệ thuật biểu hiện Theo tác giả, với những gì mà Quốc âm thi tập
đạt được thì Nguyễn Trãi xứng đáng là ông tổ của nền văn học cổ điển, ông tổ của
nghệ thuật dân tộc đồng thời có vai trò “khai sinh một nghệ thuật dùng ngôn ngữ
của dân gian”[21,805] Ông khẳng định Nguyễn Trãi mới mẻ hơn so với các nhà
thơ sống sau ông hơn ba bốn thế kỉ ở việc sử dụng ngôn ngữ dân gian “những kiểu
nói của nhân dân (các tục ngữ hay ca dao) hay tác động được tới nhân dân bằng việc đem tư tưởng, tiếng nói của mình vào tiếng nói của nhân dân”[21,805] Tuy
nhiên Thanh Lãng mới dừng lại ở việc nêu ra vấn đề mà chưa đi sâu vào tìm hiểu, lí giải hiện tượng đó
Cùng quan điểm với Thanh Lãng, ngay mở đầu bài viết “Ảnh hưởng và địa vị
của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thiên Thụ đã khẳng
Trang 99
định “Nguyễn Thuyên được coi như là ông tổ thơ Nôm Cùng với Nguyễn Thuyên,
có Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Lê Qúy Ly là những người đầu tiên xây dựng lâu đài thi
ca Việt Nam Nhưng đó là buổi đầu còn sơ sài Phải chờ đến Nguyễn Trãi, thi ca mới nở trọn vẹn những cánh hoa muôn màu sắc rực rỡ” [47, 956] Những cánh hoa
muôn màu sắc rực rỡ đó được kết tinh từ “kho tàng văn chương bình dân cùng hòa
hợp với tinh hoa của văn chương Trung Hoa” [47,967] Như vậy, tác giả đã khẳng
định Quốc âm thi tập được viết bằng chữ Nôm trên cơ sở một số thi liệu Trung
Quốc đã được Việt hóa và đặc biệt chủ yếu từ tài nguyên phong phú của nền văn
chương Việt Nam là ca dao, tục ngữ của dân gian Tác giả còn khẳng định Quốc âm
thi tập thể hiện “tinh thần khai phóng….rộng rãi chào đón những nguồn văn chương…thâu thái những tinh hoa của người làm của mình”[47,959] và quan trọng
hơn là ý thức gìn giữ vốn ngôn ngữ dân tộc của tác giả, xem đó là những đóng góp đáng quý của Nguyễn Trãi
Trong bài viết “Một số nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn
Trãi”, sau khi nhận xét ngôn ngữ trong thơ chữ Hán, hai tác giả Nguyễn Tài Cẩn và
Vũ Đức Nghiệu có đánh giá về ngôn ngữ trong thơ Nôm: “Nói đến ngôn ngữ trong
thơ Nôm Nguyễn Trãi, điểm đầu tiên nổi bật là sự phong phú của tác giả về mặt dùng từ” [4,181] Các tác giả đã thống kê trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã sử
dụng hơn một vạn một ngàn lượt từ (11067) trong đó có tất cả 2235 từ khác nhau Các tác giả còn thống kê chi tiết số từ xuất hiện một lần (2112) cho đến những từ
xuất hiện từ mười lần trở lên (272) “Thế là trong kho từ của Quốc âm thi tập, gần
46 trường hợp Nguyễn Trãi đã không dùng từ lặp lại một lần nào- một tỉ lệ khá cao nếu đem so sánh ngay với cả thể loại truyện kí của các nhà văn hiện đại”[4,182]
Điều đó chứng tỏ khả năng vận dụng phong phú, điêu luyện của Nguyễn Trãi Cuối cùng các tác giả còn khẳng định vai trò của Nguyễn Trãi đối với nền thơ ca dân tộc:
“Chúng ta quý Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta khá nhiều thơ Nôm Nhưng còn
đáng quý hơn nữa là Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta không phải lối thơ Nôm bác học mà là lối thơ Nôm viết bằng ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân tộc”[4,183]
Trang 1010
Hoàng Văn Hành và Vương Lộc trong công trình “Mấy đặc điểm của vốn từ
tiếng Việt văn học thế kỉ XV qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” đã đi sâu tìm
hiểu một số đặc điểm của vốn từ tiếng Việt của văn học thế kỉ XV qua Quốc âm thi
tập Với việc khảo sát một số cặp đối lập về cách sử dụng, về mặt cấu tạo từ, nguồn
gốc của các từ đơn tiết, song tiết và một vài hiện tượng sử dụng hư từ, từ láy trong
Quốc âm thi tập, các tác giả đã có những kết luận ban đầu về tiếng Việt văn học thế
kỉ XV: “Tiếng Việt thời Nguyễn Trãi đã phát triển đến một trình độ tương đối cao
Điều đó biểu hiện rõ ở sự hình thành các lớp từ đối lập nhau trong cách sử dụng và
ở sự hình thành các lớp từ ngữ đối lập nhau trong cách sử dụng và ở tính hoàn chỉnh của hệ thống các phương thức cấu tạo” [11,22] Đó là ý kiến có sức thuyết
phục bởi vốn từ của tác phẩm nghệ thuật có giá trị đối với nền văn học dân tộc như
Quốc âm thi tập sẽ là cứ liệu đáng tin cậy để “tìm hiểu trạng thái ngôn ngữ của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định” [11,22]
Qua phần nghiên cứu về hành văn trong thơ Nguyễn Trãi, Xuân Diệu trong
bài viết “Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam” đã đề cao
những đóng góp về mặt ngôn ngữ của tập thơ Tác giả cho rằng, ngôn ngữ trong
Quốc âm thi tập “là một kho chất liệu cho ta nghiên cứu lời nói, câu viết của tổ tiên làm ngót sáu trăm năm trước”[9,618] Theo ông, Nguyễn Trãi đã tạo ra những câu
thơ vào loại hay nhất, “có nhiều nội tâm” [9,595] nhờ tài năng vận dụng vốn ngôn
ngữ dân gian, cách dùng từ ngữ, linh hoạt, sáng tạo, mới mẻ
Trong bài viết “Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập”, tác giả Hoàng Hữu Yên đã chỉ ra: “Khả năng biểu đạt ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi
đạt đến vẻ đẹp tinh vi, tế nhị, kho từ thuần Việt phong phú, đa dạng Nguyễn Trãi đã khẳng định vai trò của mình trong lịch sử ngữ âm, lịch sử từ vựng, lịch sử ngữ pháp tiếng Việt”[60,3] Còn trong bài viết “Một bản lĩnh thơ dân tộc Mấy suy nghĩ nhân đọc thơ quốc âm của Nguyễn Trãi”, tác giả Minh Hiệu lại thấy Nguyễn Trãi rất mới
trong cách viết, “mới đến mức làm ta ngạc nhiên”: “chữ Nôm được trau chuốt, rèn
giũa và đạt đến vẻ đẹp uyển chuyển”[13,6]
Trang 1111
Bằng việc tìm hiểu vốn từ, những nét đặc trưng về cách sử dụng từ ngữ trong
Quốc âm thi tập trong luận án tiến sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, tác giả Phạm Thị Phương Thái đã đưa ra những nhận định về việc
xây dựng ngôn ngữ tiếng Việt văn hóa từ ngôn ngữ thông tục của Nguyễn Trãi: “là
một nhà văn hóa, tư tưởng có tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Trãi ý thức sự cần thiết xây dựng ngôn ngữ văn hóa” và “hạt nhân cơ bản của ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi là tiếng Việt” [37,101] Tác giả đã lí giải nguyên nhân dẫn đến ý thức đó là do
đòi hỏi của xã hội cũng như ảnh hưởng và tiềm năng diễn đạt của ngôn ngữ bình dân nên đã thôi thúc Nguyễn Trãi đưa khẩu ngữ vào trong tác phẩm của mình Như vậy, việc vận dụng lời ăn tiếng nói, lối diễn đạt trong đời sống hàng ngày vào thơ Nôm đã cho thấy Nguyễn Trãi là người có ý thức đưa khẩu ngữ vào trong văn học viết Đồng thời nhà thơ đã đưa tiếng Việt giao tiếp thành tiếng Việt văn hóa Qua
đó, tác giả cũng khẳng định “với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã có công rất lớn
trong việc xây dựng ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ văn hóa từ ngôn ngữ giao tiếp thông thường” [37, 104]
2.2 Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
Điểm lại các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu đặc điểm của ngôn ngữ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa Tuy vậy, một số bài viết về Quốc âm thi
tập cũng đã ít nhiều đề cập đến yếu tố văn hóa trên phương diện ngôn ngữ Ở hướng
nghiên cứu này, các bài viết đã phát hiện được những nội dung mới trong thơ quốc
âm của Nguyễn Trãi, chủ yếu khai thác những vấn đề thuộc về bản sắc dân tộc gắn với văn hóa, văn học Việt Nam
Đầu tiên phải kể đến công trình “Âm vang tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi” của Bùi Văn Nguyên Tác giả khẳng định ý thức “trân trọng tiếng nói của tổ tiên”, giá trị lao động nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Trãi “dần dần nâng cao giá trị văn học của tiếng Việt lên, làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú, càng có vị trí xứng đáng trên văn đàn, ngang với tiếng nói của nhiều nước tiên
Trang 1212
tiến trên thế giới”[28,815] Đây là ý kiến được đánh giá là xác đáng đối với thơ
Nôm Nguyễn Trãi Đi sâu tìm hiểu yếu tố tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập, tác giả nhận xét: “Có thể nói yếu tố tục ngữ, ca dao khá đậm đà trong nhiều câu, nhiều
bài thơ quốc âm của Ức Trai tiên sinh Tiếng nói của tổ tiên ta được truyền lại gần như nguyên vẹn trong tục ngữ, ca dao qua bao thế hệ” [28,807] Và ông kết luận:
“Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm của
mình, mà chúng ta có được cái mốc lịch sử chắc chắn để tìm hiểu một số dạng về tục ngữ, ca dao với ý nghĩa lịch đại của nó” [28,807] Tác giả đã có những đối
chiếu thống kê khá cụ thể và nhận thấy “cách khai thác vốn cổ trong tục ngữ, ca
dao của Nguyễn Trãi cũng linh hoạt, sáng tạo có chỗ như “lẩy”, có chỗ như “tập”,
có chỗ như “phỏng”, có chỗ lấy toàn cả ý, cả từ, có chỗ lấy ý mà từ có bổ sung, hay
có chỗ lấy từ mà ý bổ sung”[28,812] Hai nhận xét này theo đánh giá của hai nhà
nghiên cứu Phạm Thị Phương Thái[37,6] và La Kim Liên[20,24] là cần phải bàn thêm và làm sáng rõ bằng các cơ sở khoa học minh triết hơn
Nhà nghiên cứu Hoàng Tuệ khi bàn về ngôn ngữ thơ trong Quốc âm thi tập
đã tập trung bàn về “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt” Theo ông, sự cống hiến của Nguyễn Trãi được thể hiện ở “bản lĩnh ngôn ngữ”[48,818] Bản lĩnh
ấy được thể hiện đầu tiên ở “thái độ quý trọng và đề cao chất liệu của tiếng Nôm,
tức tiếng Việt, văn học dân gian truyền miệng”[48,818] Nhà thơ đã sử dụng triệt để
lớp từ tiếng Việt, cú pháp Việt và bộc lộ thái độ trân trọng đặc biệt đối với tục ngữ Mặt khác, Nguyễn Trãi còn thể hiện ý thức làm giàu cho kho từ vựng tiếng Việt
bằng cách “dùng chất liệu hình thức Việt để tiếp nhận chất liệu nội dung Hán” Về
phương diện này, Hoàng Tuệ đã phân tích kĩ để thấy tại sao Nguyễn Trãi, một người đang có ý định thử nghiệm làm giàu cho tiếng Việt lại dùng nhiều và nhiều lần dùng một từ Hán để thay thế cho một từ tương đương gốc Việt Hoàng Tuệ cho
rằng, do nước ta bị phương Bắc đô hộ, chế độ phong kiến kéo dài, “sự tiếp xúc giữa
tiếng Việt với tiếng Hán đã diễn ra rất lâu dài Việc tiếp nhận của tiếng Hán những ảnh hưởng về từ vựng, về cả những mặt khác, là hiện tượng không thể nào không xảy ra” [48,825] Dù Nguyễn Trãi có sử dụng từ vựng Hán, song Hoàng Tuệ vẫn
Trang 1313
đánh giá rất cao cống hiến của Nguyễn Trãi: “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với
tiếng Việt, đó là cống hiến thật lớn lao! Nếu như về tiếng Việt, đến thế kỉ XIX, Nguyễn Du sẽ tạo nên được niềm tự hào, thì ở thế kỉ XV, điều mà Nguyễn Trãi đã xây dựng nên được, là niềm tin Nguyễn Trãi- người mở đầu gian khổ và xuất sắc
sự nghiệp lớn lao của tiếng Việt văn học” [48,826]
Nhìn nhận lịch sử nghiên cứu, các bài viết liên quan đến thơ Nôm Nguyễn Trãi, chúng tôi thấy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, khai thác trên nhiều khía cạnh Tuy ở mỗi mức độ và tính chất khác nhau nhưng nhìn chung các bài viết đều
có xu hướng qua thơ Nôm của ông để khẳng định, ca ngợi những đóng góp của tác
giả Quốc âm thi tập về phương diện ngôn ngữ đối với nền văn học viết bằng tiếng
Việt Có lẽ trong khuôn khổ và giới hạn của bài viết, các tác giả chưa có điều kiện
đi sâu phân tích cụ thể và làm sáng tỏ tất cả những giá trị ngôn ngữ thơ Nôm
Nguyễn Trãi Nghiên cứu “Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa”,
chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mới về phương diện ngôn ngữ của
Quốc âm thi tập - tác phẩm mở đầu của nền thơ ca tiếng Việt nước ta
3 Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi lấy 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi làm đối tượng khảo sát và nghiên cứu để đi đến những nhận định khoa học về các yếu tố văn hóa biểu hiện trên phương diện ngôn ngữ của tập thơ
Đối tượng văn bản khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi sử dụng công trình
Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (Mai Quốc Liên chủ biên), Tập 3, Nxb Văn học -
Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2001
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, những ảnh hưởng của văn hóa Hán và văn hóa Việt, văn hóa bác học và văn hóa bình dân đối với ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 1414
Tìm hiểu mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với văn hóa đương thời, văn hóa truyền thống, văn hóa tiếp thu từ nước ngoài để giải mã
những nét văn hóa của người Việt qua ngôn ngữ thơ Nôm ở Quốc âm thi tập
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ vận dụng tổng hợp một số phương pháp chính:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, hệ thống hóa: Phương pháp này có tác dụng cung cấp những dữ liệu, số liệu chính xác, tạo cơ sở tin cậy cho những kết luận của luận văn
- Phương pháp liên ngành: sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp và thành tựu của các ngành khoa học xã hội- nhân văn, chủ yếu là liên ngành văn hóa- văn học, văn hóa - ngôn ngữ: đặt văn học trong bối cảnh chung của văn hóa để cắt nghĩa các hiện
tượng văn học, phân tích những đặc sắc văn hóa trong Quốc âm thi tập cụ thể ở
phương diện ngôn ngữ
- Phương pháp lịch sử- xã hội: kết hợp nghiên cứu lịch sử xã hội, tiểu sử, con người của Nguyễn Trãi để lí giải các yếu tố văn hóa trong ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: phân tích những biểu hiện văn hóa về phương diện ngôn ngữ của các bài thơ, từ đó khái quát, tổng hợp và đưa ra những kết luận khoa học về giá trị của ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
6 Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ có những đóng góp:
- Phân tích, lí giải những đặc trưng, hiệu quả ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi về phương diện văn hóa, góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị văn chương của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn học dân tộc
- Việc giải mã những nét đặc sắc văn hóa của người Việt thông qua ngôn ngữ là một hướng đi khá mới mẻ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy văn chương Nguyễn Trãi trong nhà trường và giảng dạy các bộ môn khoa học có liên quan như Cơ sở văn hóa Việt Nam
Trang 1515
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung có liên quan tới đề tài
Chương 2: Hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
Chương 3: Đặc sắc văn hóa của hệ thống ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Trang 1616
NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ và văn hóa
1.1 Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương hay nói cách khác văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ Ngôn ngữ là yếu tố bao trùm, là chất liệu tạo nên tác phẩm văn chương Không có ngôn ngữ thì tác phẩm văn học không thể tồn tại và mọi dự đồ nghệ thuật chỉ nằm trong đầu óc của người nghệ sĩ
Mỗi một thể loại văn chương đều mang theo những quy định riêng về đặc trưng ngôn ngữ Thơ ca là một thể loại của văn chương nên ngôn ngữ của thể loại này cũng có những đặc trưng thẩm mĩ riêng do thể loại quy định
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đời sống được sử dụng dưới hình thức thơ ca để phản ánh thực tại, phản ánh đời sống bên ngoài chủ thể sáng tạo và cả đời sống bên trong của người nghệ sĩ Ngôn ngữ đời sống qua sự gọt giũa, trau chuốt của người nghệ sĩ có khả khăng phản ánh được hiện thực cuộc sống và tâm hồn người nghệ sĩ cũng được bộc lộ trực tiếp hoặc gián tiếp Trong nhiều trường hợp, khi chữ được đặt
đúng chỗ sẽ “tự nhiên động gió, tự nhiên tỏa hương, nó tự thay đổi về chất lượng,
trở nên đa nghĩa, lung linh, huyền ảo khác thường, người ta gọi nó là thần tự” [24,
55]
Ngôn ngữ thơ là biểu hiện trực tiếp của tư duy, “là ý thức thực tại, thực
tiễn” Đối với ngôn ngữ tiếng Việt, từ là đơn vị hoàn chỉnh nhỏ nhất có ý nghĩa của
ngôn ngữ biểu hiện một khái niệm, một tên gọi nhất định Cái đơn vị nhỏ nhất này hầu hết đều mang ý nghĩa định danh Sự vật, hiện tượng có tên gọi thế này hay thế khác là một biểu hiện có tính ngẫu nhiên nhưng cái ngẫu nhiên đó từ lâu đã bộc lộ một sự nhận thức, tức là tư duy Nói chính xác hơn là một thao tác của tư duy Có
một điều kì diệu là trong nó đã mang tính khái quát và như Lê nin chỉ rõ “tư tưởng
và từ biểu thị cái chung” Tính chất khái quát ấy của ngôn ngữ khi bước vào thơ ca
phải mang dấu ấn sáng tạo, có màu sắc cá thể hóa của người nghệ sĩ
Trang 1717
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật không chỉ phản ánh thực tại mà còn nói một cái gì đó về thực tại được phản ánh, là tiếng nói mang màu sắc riêng của người nghệ sĩ để nói với người khác và đôi khi như chỉ để nói riêng với chính mình Vì có chức năng giao tiếp nên ngôn ngữ thơ mang ý nghĩa một thông báo nghệ thuật Ngoài yêu cầu các tín hiệu ngôn ngữ trong thông báo phải đúng, chính xác trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách dùng từ, thông báo nghệ thuật còn có một yêu cầu quan trọng nữa là phải có lượng thông tin nghệ thuật Nghĩa là phải có một nội dung thông báo mới và một cách nói mới có ý nghĩa thẩm mĩ Tính khái quát, mục đích nghệ thuật và giá trị của tác phẩm thơ mà nói chung là ngôn ngữ thơ nói riêng bộc lộ ở đây
Ngôn ngữ thơ phải mang trong nó cái thẩm mĩ, cái đẹp gợi cảm về nghệ thuật Phẩm chất ấy vừa có ý nghĩa cái thẩm mĩ chung tức là khêu gợi đánh thức ở người cảm thụ một khoái cảm nghệ thuật lại vừa có ý nghĩa riêng mang chất thơ trong bản thân nó Chất thơ có khắp nơi trong cuộc sống bởi vì bản chất của sự sống- sự phát triển của thế giới, các hiện tượng trong dân gian phù hợp với quy luật chung của nó trong lịch sử
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đẹp- cái đẹp của sự đúng, chính xác, hài hòa, gợi cảm Nó là ngôn ngữ hình tượng giàu màu sắc, âm thanh làm cho người ta dễ cảm, gợi nhưng liên tưởng sâu sắc, tinh tế, thú vị Đó là thứ ngôn ngữ nói ít, gợi nhiều tạo được một chiều sâu suy nghĩ về nhiều phương diện và một sự linh hoạt nhiều tầng bậc trong hình ảnh ngữ nghĩa
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ có tính nhạc tác động vào người đọc, người nghe bằng những dao động của âm thanh tạo nên những cảm hứng có tính chất đặc thù Bài thơ không phải là nhạc phẩm nhưng có nhiều yếu tố âm nhạc như vần, điệu thường tạo ra một mạch âm hưởng gây cho ta một xúc động riêng, những suy cảm
âm nhạc riêng theo nhiều cung bậc khác nhau khi sâu lắng, dịu dàng, sôi nổi, nhiệt tình, khi ngọt ngào, khi cay đắng….bởi những vần, nhịp lúc êm ái, thâm trầm, lúc
âm vang, dồn dập
Trang 1818
Ngôn ngữ trong thơ rất quan trọng, biến động và đa dạng tạo nên sức sống
cho tác phẩm thơ Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ là “nhà
thơ ở thời đại nào cũng bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ của thời đại ấy Chính nguyên tắc có tính chất tiên quyết này giúp ta dễ dàng phân biệt được tính thời đại trong thơ”[33, 56]
1.2 Ngôn ngữ thơ từ góc nhìn văn hóa
1.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện để thể hiện văn hóa
Trong Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng ngôn ngữ là công cụ của văn hóa bởi vì không có ngôn ngữ, không có một hoạt
động văn hóa nào có thể diễn ra được [6,850] Với tư cách là một chất liệu đặc biệt,
là công cụ diễn giải nội dung, ngôn ngữ được xem là yếu tố thứ nhất của văn chương, nó có vai trò tối quan trọng như màu sắc, đường nét đối với hội họa, giai điệu, tiết tấu đối với âm nhạc và hình khối đối với kiến trúc Một tác phẩm văn chương tinh túy bao giờ cũng tắm mình trong bản sắc văn hóa của dân tộc và được thể hiện qua lớp ngôn từ đặc sắc của nó Hơn thế, bản sắc văn hóa của thời đại, của người nghệ sĩ cũng được thể hiện qua lớp ngôn từ trong tác phẩm văn chương Vì vậy, việc tiếp cận ngôn ngữ từ góc nhìn văn hóa, tác giả sẽ đạt được một trình độ thẩm mĩ sáng tạo và đem đến cho người đọc nhưng khoái cảm thẩm mĩ thúc đẩy quá trình đồng sáng tạo ở độc giả Không chỉ là phương tiện để thể hiện văn hóa, ngôn ngữ còn được xem là một trong những yếu tố cấu thành nên bản sắc văn hóa của dân tộc
1.2.2 Sự tác động của ngôn ngữ thơ đến văn hóa
Theo cách hiểu thông thường nhất, ngôn ngữ được hàm chứa trong văn hóa,
là một yếu tố cấu thành văn hóa nhưng thực tế, trong hoạt động hành chức của nó, ngôn ngữ đã có những chi phối, tác động đến văn hóa trên nhiều phương diện, nhiều cấp độ, tầng bậc khác nhau, rất phong phú, linh hoạt và đa dạng
Nói đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, điều đầu tiên phải khẳng định rằng, ngôn ngữ chính là phương tiện giúp mỗi cá nhân, cộng đồng mở rộng
những hiểu biết về văn hóa Trong Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Trang 1919
(1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Lai khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và ngôn
ngữ với văn hóa cho rằng “ở đây có một vấn đề gì đó nằm trong chiều sâu hơn cần
đặt ra Đó là sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt của sự hình thành văn hóa, mặc dù xếp theo hình thức thì ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hóa”[19,5]
Còn nhà nghiên cứu F Engels cho rằng ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển
của “con người xã hội” Như vậy, theo cách đánh giá này thì ngôn ngữ không chỉ là
phương tiện, là tiền đề tạo ra văn hóa mà nó có còn có tác động lớn đến sự hình
thành và phát triển của văn hóa đặc biệt là trong việc phát triển “con người xã hội”
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ trong văn học cổ điển nói chung và trong thơ ca cổ điển nói riêng gắn với sự hình thành và phát triển văn hóa của cộng đồng trong thời kì tương ứng Thế kỉ XV, ngôn ngữ thơ xuất hiện rất nhiều nhưng
thuật ngữ của Nho giáo như nhân nghĩa, trung hiếu, thiên mệnh… Qua ngôn ngữ
thơ này cho thấy sự du nhập và ảnh hưởng, hình thành nên nét văn hóa của người Việt từ những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa
Ngôn ngữ được coi là phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các loại hình gắn liền với các phạm trù văn hóa Ngôn ngữ có thể tạo nên những bước trưởng thành về mặt văn hóa của cộng đồng Ngôn ngữ thơ cũng là ngôn ngữ biểu
hiện trực tiếp của tư duy, “là ý thức thực tại, thực tiễn”, vì thế ngôn ngữ thơ cũng có
khả năng giải mã các phạm trù văn hóa gắn với từng thời đại cụ thể Theo nhà
nghiên cứu Lã Nhâm Thìn, hệ thống ngôn ngữ từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
đến thơ Hồ Xuân Hương có cả thành phần ngôn ngữ dân tộc và thành phần ngôn ngữ ngoại nhập, điển cố, thi liệu Hán học Tuy nhiên tỉ lệ từ Hán Việt thấp hơn nhiều so với từ Thuần Việt và cùng với điển cố, thi liệu Hán học đã giảm dần từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương[40,121] Điều đó cho thấy ý thức dân tộc của các nhà thơ theo từng thời kì đã được nâng lên và phản ánh xu hướng văn hóa của các nhà thơ hướng tới sự dân dã, bình dị, hài hòa với thiên nhiên, với con người, với cộng đồng Bên cạnh đó, trong sáng tác của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn đã được vận dụng uyển chuyển hệ thống ngôn ngữ biểu trưng, ước lệ, cổ kính Đó không chỉ thể hiện đặc trưng nghệ thuật, tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ mà
Trang 2020
còn góp phần tạo nên sắc thái trang trọng quý phái của văn chương cổ điển Như vậy, khi đi vào trong tác phẩm văn học nói chung, vào thơ ca nói riêng, ngôn ngữ đã vượt qua những ý nghĩa thông thường mà vươn lên mang những giá trị văn hóa của thời đại
1.2.3 Ngôn ngữ thơ với việc bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hóa
Văn hóa của một cộng đồng, dân tộc luôn được bảo lưu và truyền lại qua các thời đại bằng nhiều cách thức và phương tiện vật chất và tinh thần Tuy vậy, việc bảo tồn văn hóa qua phương tiện ngôn ngữ là cách hữu hiệu và có tính chất lâu dài
Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội[38,10]
Ngôn ngữ là giá trị tinh thần được sinh ra cùng với hoạt động giao tiếp của con người Vì thế, ngôn ngữ được coi là một thành tố của văn hóa được con người sáng tạo trong lịch sử xã hội Sự ra đời của ngôn ngữ đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình văn minh của xã hội loài người
Từ góc nhìn văn hóa, nghiên cứu ngôn ngữ chúng ta có thể tìm hiểu được những đặc trưng văn hóa của dân tộc Những tâm tư, tình cảm, những kinh nghiệm sống của dân tộc được thể hiện qua phương tiện ngôn ngữ Trước khi có văn tự, những đặc trưng văn hóa đó được thể hiện qua hình thức âm thanh, lời nói Tuy
nhiên hình thức tồn tại này có hạn chế ở hiện tượng “tam sao thất bản”, thất thoát
qua thời gian và hạn chế về không gian địa lí và mức độ phổ biến… Chính vì vậy khi ngôn ngữ tìm được hình thức tồn tại bằng văn tự thì những nét văn hóa của dân tộc được thể hiện và bảo tồn một cách quy củ, bài bản hơn, loại bỏ được những hạn chế của phương thức truyền miệng
Ngôn ngữ và văn hóa có một mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết, không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện để thể hiện văn hóa và văn hóa được chứa đựng trong ngôn ngữ Hơn thế, nhờ ngôn ngữ mà văn hóa có thể bảo tồn và phát huy triển qua
tiến trình lịch sử của dân tộc Nhà nghiên cứu Trần Trí Dõi trong Ngôn ngữ và sự
phát triển văn hóa xã hội [8] cho rằng khảo sát mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn
Trang 2121
ngữ sẽ góp phần đi sâu lí giải về bản chất xã hội và chức năng văn hóa đích thực của ngôn ngữ Ngôn ngữ không chỉ có chức năng lưu giữ, bảo tồn mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của văn hóa
Đã từ lâu, ngôn ngữ được xem là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương hay nói ngược lại văn chương là nghệ thuật ngôn từ Không có ngôn từ thì không thể có văn chương Ngôn ngữ có vai trò to lớn, quyết định đến văn chương như màu sắc đối với hội họa, tiết tấu đối với âm nhạc Ngay từ khi chưa có chữ viết, văn học dân gian đã ra đời và phản ánh những tâm tư, tình cảm, ước muốn, những đặc trưng văn hóa của dân tộc được thể hiện dưới hình thức văn học truyền miệng Sau này khi chữ viết được xác lập, văn học viết ra đời đã tạo điều kiện để văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển một cách tốt hơn Xét về mặt thể loại văn chương, thơ ca
là thể loại có lợi thế ở bản chất trữ tình, ở tiết tấu, nhịp điệu nên thơ ca vẫn là thể loại chủ đạo được người sáng tác lựa chọn nhiều hơn cả Ngôn ngữ thơ có khả năng diễn đạt những rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ và tìm được sự đồng cảm đồng điệu với tâm hồn độc giả Vì thế mà những đặc trưng văn hóa của dân tộc có điều kiện lan tỏa trong cộng đồng đến với thế hệ sau Ta có thể nhận thấy trong kho tàng văn hóa dân gian của mỗi dân tộc đã lưu giữ hàng vạn những câu ca dao từ thế hệ này sang thế hệ khác Đến khi văn học viết được hình thành, thơ ca vẫn là thể loại chủ đạo thực hiện những chức năng văn học Thậm chí có những sáng tác thể hiện những câu chuyện về cuộc đời con người nhưng vẫn tìm đến hình thức thơ ca như
thể loại truyện thơ dân gian như Tiễn dặn người yêu hoặc truyện thơ Nôm như
Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ kính tân trang…
Như vậy, có thể nói ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng chính là phương tiện để bảo lưu, gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc Vì thế khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ cần chú ý đến chức năng văn hóa mà nó đảm nhận
1.3 Ngôn ngữ thơ Nôm- một yếu tố, một phương tiện của văn hóa
Vào khoảng thế kỉ X, bộ phận văn học viết Việt Nam được hình thành Ngôn ngữ dùng cho văn học là ngôn ngữ Hán (chữ viết của người Trung Quốc) Chữ Nôm khẳng định vị thế của mình trong dòng chảy của văn học dân tộc muộn hơn Theo
Trang 2222
nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn “chỉ từ cuối thế kỉ X trở đi thì chữ Nôm –
với tư cách là một hệ thống văn tự thực thụ- mới dần dần hình thành Thế kỉ XI, XII,
nó tiếp tục phát triển, tự hoàn chỉnh thêm và ngày càng trưởng thành Cuối cùng đến giữa thế kỉ thứ XIII thì về cơ bản nó đã được khẳng định thực sự”[5,35] Tuy
chữ Nôm lấy kí tự Hán để ghép từ và ghi âm tiếng Việt song đó là sáng tạo của ông cha ta Người Việt đã có một nhà nước phong kiến dân tộc ngày càng vững mạnh và trên thế đi lên, đã có ý thức về quốc gia với một tinh thần tự cường dân tộc, vì thế
mà cha ông ta đã ý thức được cần có một ngôn ngữ riêng, đặc biệt là chữ viết để không phải lệ thuộc vào Hán tự của người Trung Hoa Chữ Nôm được khẳng định
là “một thành tựu văn hóa”[5,11] của những trí thức Việt Nam thời trung đại
Chữ Nôm xuất hiện là một tiền đề vật chất quan trọng cho sự sáng tạo văn
hóa dân tộc nói chung và văn học nói riêng Từ thời Trần (cuối thế kỉ XIII) đã khởi
phát một phong trào dùng chữ Nôm để sáng tác văn học với tác giả cụ thể là Hàn
Thuyên Ông là người giỏi thơ Nôm và được xem là người phổ biến chữ Nôm của
Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm đã bị thất truyền, còn lại một số tác
phẩm rất ít ỏi Thời nhà Trần có một số bài phú quốc âm còn lưu giữ trong cuốn Thiền tông bản hạnh và một số bài dịch kinh Phật như Phật thuyết đại báo phụ mẫu
ân trọng kinh giả âm vào khoảng thời Lê Sơ Đến thời nhà Lê, Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi ra đời đã đặt một dấu mốc quan trọng cho nền văn học Đại Việt Từ đây văn học nước ta tồn tại hai thành phần văn học, đó là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Trong quá trình phát triển, văn học chữ Nôm được khẳng định bằng rất nhiều những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyễn….Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du là những kiệt tác trong dòng chảy của văn học
chữ Nôm
Chữ Nôm xuất hiện và trở thành ngôn ngữ của thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học dân tộc phát huy những tinh hoa văn học dân tộc đồng thời là chiếc cầu nối giữa văn học bác học và văn học bình dân Với ngôn ngữ thơ Nôm, các nhà thơ thời trung đại đã có thể đưa vào trong tác phẩm của mình những ngôn từ mộc mạc,
Trang 23ra trong quá trình hoạt động sáng tác văn học Phương diện vật chất của chữ Nôm là
hệ thống kí tự của chữ viết, phương diện tinh thần là chữ Nôm đem lại cho con người những giá trị thẩm mĩ mới trong văn chương
1.4 Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi với thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
1.4.1 Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi
1.4.1.1 Truyền thống văn hóa của gia đình- dòng họ
Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Trãi đã được sống trong một môi trường giáo dục thuận lợi Cha là Nguyễn Ứng Long từng đỗ Đệ nhất giáp, Đệ nhị danh, tứ bản nhãn (1374) Mẹ là Trần Thị Thái - vốn là người có học hành đến nơi đến chốn Đặc biệt từ lúc sinh ra cho đến khi lên mười, Nguyễn Trãi được ông ngoại Trần Nguyên Đán, một quan Tư đồ tài ba, một nhà nho uyên bác, một nhà thơ nổi tiếng dạy dỗ và thổi vào tâm hồn Nguyễn Trãi những hoài bão và ước mơ sau này
Trần Nguyên Đán là quan lớn của triều đại nhà Trần Ông sống vào giai đoạn suy vi của thời đại nên không tránh khỏi những băn khoăn, ưu tư với thế sự Ông suy nghĩ và cảm thấy thẹn vì không hoàn thành được hoài bão an dân từ thuở bình sinh của mình:
Tam vạn quyển thư vô dụng xử, Bạc đầu không phụ ái dân tâm
(Nhâm Dần niên lục nguyệt tác)
(Đọc ba vạn quyển sách mà thành vô dụng Bạc đầu luống phụ lòng thương dân.)
(Thơ làm vào tháng sáu năm Nhâm Dần)
Trang 2424
Chứng kiến mọi diễn biến của thời cuộc, ông đau xót trước tình cảnh dân
lành và luôn trách mình bất lực Ông luôn sống trong sự giằng xé tâm tư Về hay ở
Ở lại chốn quan trường thì ông cũng chẳng làm được gì cho nhân dân bớt khổ đau
Về ở ẩn hi vọng sẽ tìm thấy sự thanh thản của tâm hồn ở chốn điền viên Cuối cùng
ông quyết định về ở ẩn Về Côn Sơn non nước hữu tình, ông được hòa mình cùng
thiên nhiên, mây núi
Mười năm thơ ấu sống cùng ông ngoại, có thể nói Nguyễn Trãi có ảnh hưởng
lớn từ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán Từ cách dạy dỗ, ứng xử đến nhân cách cao
đẹp của một ông quan tài ba, một nhà nho uyên bác, một nhà thơ nổi tiếng đều để
lại những dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Trãi
Sau khi mẹ và ông ngoại mất, Nguyễn Trãi được cha đưa về Nhị Khê Ở đây
Nguyễn Ứng Long đã ra công dạy dỗ, kèm cặp các con Có lẽ người có ảnh hưởng
sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi chính là cha của ông
Nguyễn Ứng Long là một nhà nho, ông không chỉ đem kinh thánh, truyện hiền ra
làm bài giảng mà ông còn “chuyên chú chép truyện trồng cây để dạy bảo trẻ nhỏ”
Có lẽ chính những bài giảng đầu tiên của Nguyễn Ứng Long đã bồi đắp, nuôi dưỡng
cho Nguyễn Trãi tình yêu đối với cỏ cây nói riêng và đối với thiên nhiên nói chung
Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1940), Hồ Qúy Ly lật đổ nhà Trần, dựng ra
nước Đại Ngu Nguyễn Ứng Long được bổ làm quan Ông đổi tên thành Nguyễn
Phi Khanh và dũng cảm ra làm quan cho nhà Hồ khi nhà Trần sụp đổ (trái với quan
niệm chính thống “tôi trung không thờ hai chủ”) Một con người hiểu nhân tình thế
thái, kiên trì chí hướng ra làm quan để cứu nước, giúp đời trong suốt 26 năm ròng
đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Trãi Vì thế cũng trong năm này, nhà
Hồ mở khoa thi đầu tiên Nguyễn Trãi đã ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), sau đó
ra làm quan cho nhà Hồ cùng cha thực hiện lí tưởng giúp dân, giúp nước
Năm 1406, giặc Minh do Trương Phụ chỉ huy mở cuộc xâm lược nước Đại
Ngu Nhà Hồ mang quân ra chống cự nhưng bị quân Minh đánh bại Cha con Hồ
Qúy Ly và các triều thần bị bắt đưa về Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh
Nguyễn Trãi và em là Nguyễn Phi Hùng đã đi tìm cha và theo đoàn xe tù lên ải
Trang 2525
Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù Nhận thức được chuyến đi này sẽ không bao giờ được trở về Tổ quốc và nhận thấy
được năng lực của Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh đã dặn con rằng: “Con là người
có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha Như thế mới là đại hiếu” rồi bảo Nguyễn Trãi quay trở về Thấy lời dạy của cha là chí lí, Nguyễn Trãi
gạt nước mắt quay trở lại Qua bao nhiêu gian khổ, nhọc nhằn, ông cùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đánh bại quân Minh xâm lược đưa đất nước bước vào một thời
kì phát triển hưng thịnh
Nguyễn Trãi không chỉ có ảnh hưởng từ gia đình mà còn có sự ảnh hưởng không nhỏ từ dòng họ Trở về với gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại, truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ tiên dòng họ là Thái Tể triều Đinh- Định Quốc Công Nguyễn Bặc (924- 979) có công giúp Đinh Bộ Lĩnh thống nhất 12 sứ quân để lập ra triều Đinh Cụ tổ Nguyễn Công Luật và ông nội Nguyễn Minh Du của Nguyễn Trãi đã cùng với các thành viên trong dòng họ là tướng thời Trần Phế
đế chống lại Hồ Qúy Ly Đến Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư là anh ruột của Nguyễn Ứng Long cũng là quan võ thời hậu Trần chống giặc Minh cứu nước Có thể nói đây
là một dòng họ có truyền thống thượng võ, xả thân vì nghĩa lớn Chính tinh thần ấy của những bậc tiền bối đã thôi thúc tinh thần vì nước, giúp đời của các thế hệ cháu con như Nguyễn Trãi
Như vậy có thể nói, gia đình và dòng họ có ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn Trãi Gia đình và dòng họ là mảnh đất tốt giúp cho nhân cách, tài năng, tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Trãi hình thành và phát triển Trong số những ảnh hưởng đó cần nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp và lâu dài trong suốt cuộc đời của Nguyễn Trãi là người ông ngoại Trần Nguyên Đán và người cha Nguyễn Phi Khanh Hai nho sĩ, hai ông quan, hai nhà thơ với nhân cách cao thượng, với tư tưởng thân dân chính là nguồn nuôi dưỡng cho sự phát triển tài năng và nhân cách của anh hùng giải phóng dân tộc, của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi
1.4.1.2 Từ cuộc đời của Nguyễn Trãi
Trang 2626
Nguyễn Trãi sống và hoạt động vào một thời kì đầy biến động, đầy hoạn nạn
và lo âu của lịch sử Việt Nam Về chính trị, tháng tư âm lịch năm Bính Tuất (1406), nhà Minh tiến hành xâm lược và chính thức đô hộ nước ta từ 1407 đến 1427 Về mặt văn hóa, đây là thời kì quá độ, thời kì bản lề của hai chặng đường lịch sử văn hóa Việt Nam Trước Nguyễn Trãi là một văn hóa Đại Việt được cấu trúc theo mô hình Phật giáo; sau Nguyễn Trãi, là một văn hóa Đại Việt được cấu trúc theo mô hình văn hóa Nho giáo
Dân tộc ta có truyền thống văn hóa tốt đẹp được xây dựng qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Truyền thống văn hóa đó đến thời đại Lý- Trần
đã có những thành tựu rực rỡ Tuy vậy, trong thời kì Minh thuộc (1407-1427), bên cạnh một nền đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tham tàn về kinh tế, giặc Minh đã thi hành một chính sách hủy diệt độc ác về văn hóa Giặc Minh đã quyết tâm hủy diệt hoàn toàn những cơ cấu văn hóa dân tộc xây dựng suốt hơn 400 năm, chủ yếu dưới thời Lý- Trần Chính sách ấy đã phá hoại gia tài văn hóa , tinh thần của dân tộc
ta hủy diệt văn hóa thâm độc đó đã phá hoại gia tài văn hóa, tinh thần của dân tộc ta không phải là nhỏ Là thế hệ sau, Nguyễn Trãi có trách nhiệm kế thừa và làm cho những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc phát triển lên một bước mới
Nguyễn Trãi là người chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hóa Ông luôn gắn hoạt động văn hóa với sự nghiệp cứu nước cứu dân Thời kì đầu của cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã dâng Bình Ngô Sách cho chủ tướng nghĩa quân
Với tư tưởng nhân nghĩa và tầm hiểu biết văn hóa sâu rộng, ông vạch ra chiến lược,
chiến thuật đánh quân Minh “không chú trọng nói đến việc đánh thành mà chú
trọng nói đến việc đánh vào lòng người” Triết lí quân sự của Nguyễn Trãi là dựa
vào lòng dân để xây dựng lực lượng, phát động cuộc kháng chiến toàn dân nhằm giải phóng đất nước, khôi phục nền độc lập tự chủ
Trong thời gian làm quân sư cho Lê Lợi, ngoài việc vạch ra chiến lược, chiến thuật, Nguyễn Trãi còn làm tất cả những công việc giao thiệp với giặc Minh Nhân danh nghĩa quân Lam Sơn, nhân danh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã dùng ngòi bút của mình để viết thơ cho các tướng giặc Minh như Sơn Thọ, Phương Chính, Vương
Trang 2727
Thông….để mắng nhiếc chúng, hoặc khiêu khích, hoặc dụ hàng chúng Những thư
từ đó được tập hợp lại thành Quân trung từ mệnh tập như một thứ vũ khí chiến đấu
“có sức mạnh của mười vạn quân”(Bùi Huy Bích) Sức mạnh ấy có được là bởi sự
kết hợp tuyệt diệu giữa lập trường nhân nghĩa ngời sáng của dân tộc với nghệ thuật viết văn chính luận bậc thầy của Nguyễn Trãi Sức mạnh ấy giúp nghĩa quân Lam Sơn tập hợp được lực lượng của ta và tiến đánh, làm tan rã quân địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
Nguyễn Trãi giương cao ngọn cờ “đại nghĩa”, “chí nhân”, gắn liền hoạt động văn hóa của ông với hành động “trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược”, đề cao nhân phẩm “có nhân, có chí, có anh hùng” Ông dồn hết tâm huyết của mình và khí phách của dân tộc vào việc “vệ Nam”, “điện Bắc”, dẹp yên giặc Bắc xâm lược Văn
chương của ông còn góp phần vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, xây dựng nhân cách con người, tâm hồn, cốt cách dân tộc và xây dựng nền văn hóa Đại Việt
Nguyễn Trãi là người đề cao tư tưởng nhân nghĩa và luôn làm cho tư tưởng
ấy lan tỏa, ăn sâu vào tâm thức xã hội và trở thành sức mạnh của dân tộc Nội dung
tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là lòng yêu nước, thương dân, lòng nhân ái
rộng lớn, chủ nghĩa nhân đạo cao cả Với tư tưởng này, “thơ văn Nguyễn Trãi ca
ngợi tình thương yêu đồng bào cốt nhục, cuộc sống tốt đẹp yên vui, chống lại sự chà đạp lên nhân phẩm con người và những hành động bất nhân, bất nghĩa Thơ văn của ông chiến đấu vì chân lí, vì lẽ phải, vì đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân,
vì thái bình muôn thuở, vì sự hòa hiếu giữa các dân tộc”[32, 910]
Như vậy, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, mặc dù Nguyễn Trãi có rất nhiều những cố gắng để xây dựng nền văn hóa Đại Việt nhưng do mục đích lớn nhất của thời kì này là giải phóng dân tộc nên kết quả đạt được vẫn có phần hạn chế Đến năm 1427, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế
kỉ XV sau bao năm đấu tranh gian khổ đã giành được độc lập dân tộc Thắng lợi này
có ý nghĩa lớn trong việc cứu vớt những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thời Ngô- Đinh- Tiền Lê- Lý – Trần
Trang 2828
Trong khung cảnh thăng bình của đất nước Đại Việt, Nguyễn Trãi hăm hở dốc lòng cùng nhà Lê phục hưng nền văn hóa của dân tộc Nhận thức được vai trò quan trọng của người trí thức, hiền tài nên năm 1427 khi kháng chiến sắp kết thúc,
Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh kinh tại Bồ Đề để tuyển nhân tài, chuẩn bị việc
điều hành toàn diện bộ máy Nhà nước Tiếp theo là Chiếu dụ hào kiệt ban hành ngay khi quân ta còn bao vây ở Đông Quan (Thăng Long) và Chiếu dụ hiền tài ban
hành sau khi hòa bình Cả hai đều do Nguyễn Trãi vâng lệnh Lê Lợi viết nhằm mục đích huy động nhân tài trong cả nước giúp vua phục hưng nền văn hóa Đại Việt
Thời gian Nguyễn Trãi được trọng dụng ấy chẳng được bao lâu Lê Lợi- lúc này là Lê Thái Tổ cả nghe những lời sàm tấu của bọn quyền thần, nịnh thần, sát hại những công thần Bản thân Nguyễn Trãi cũng bị Lê Lợi- người hiểu Nguyễn Trãi hơn ai hết trong thời gian khởi nghĩa – đem lòng nghi kị và bỏ tù (1430) Mặc
dù sau đó một thời gian ngắn ông được tha nhưng từ đây tài năng và lí tưởng của Nguyễn Trãi không bao giờ được trọng dụng như xưa
Năm 1433, Lê Lợi qua đời, Lê Thái Tông lên ngôi, xuống chiếu phong cho Nguyễn Trãi chức Nhập nội hành khiển môn hạ sảnh tả ty, Hữu gián nghị đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ, Tri tam quán sự Trong thời gian này, Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tông giao cho nhiều việc để xây dựng nền văn hiến nước nhà Ông làm nhiệm vụ trông coi việc giáo dục cao đẳng và răn dạy các quý tộc trẻ tuổi, viết sách địa lý học và luật học, khảo cứu về nghi lễ và nhạc cụ, tranh luận về
âm nhạc và pháp luật, làm thơ và làm chủ khảo trường thi…Tác phẩm Văn bia Vĩnh
Lăng, Dư địa chí cho thấy Nguyễn Trãi là người hiểu rõ nhất về dân tộc, về nhân
dân, xã hội và đất nước Việt Nam ta
Tuy nhiên, cuộc sống quan trường ở chốn kinh thành đối với ông cũng gặp rất nhiều chông gai, bị các phe cánh đố kị Đặc biệt cuối năm 1437, Nguyễn Trãi bất đồng ý kiến với Lương Đăng trong việc soạn nhạc bèn làm sớ tâu lên nhà vua để khước từ nhiệm vụ ấy, rồi xin về trí sĩ ở Côn Sơn với tâm trạng buồn chán vô cùng Khi Lê Thái Tông trưởng thành, hiểu việc nước, việc đời lại vời Nguyễn Trãi ra gánh vác công việc quốc gia với chức tước quan trọng Lúc này Nguyễn Trãi đã 60
Trang 2929
tuổi nhưng ông vẫn vui mừng, phấn khởi và hăm hở biết chừng nào khi được gánh vác trọng trách với dân với nước Khi vua Lê Thái Tông sai Nguyễn Trãi thẩm định
nhã nhạc, nhân dịp này Nguyễn Trãi đã tâu với Thái Tông rằng: “Thời loạn thì dùng
võ, thời bình thì dùng văn: Ngày nay định ra lễ nhạc là phải thời lắm Song không
có gốc không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Giám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận, oán sầu Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”[32,18-19]
Có thể nói đây là giai đoạn tốt nhất trong cuộc đời làm quan của Nguyễn Trãi Mặc dù ông được giao chỉ huy hai đạo Đông và Bắc nhưng nhà vua vẫn cho ông ở Côn Sơn, khi có việc mới về chầu vua Giữa lúc Nguyễn Trãi đang sống
những ngày tốt đẹp thì án oan Lệ Chi Viên ập xuống khiến ông phải chịu “tru di
tam tộc” Vụ án này là hậu quả của những mâu thuẫn nội bộ của vương triều Lê Sơ
nhưng thảm họa lại giáng xuống dòng họ, gia đình và bản thân Nguyễn Trãi Hai mươi năm sau, vua Lê Thái Tông mới xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi
Trở lại với tư tưởng của Nguyễn Trãi sau chiến thắng quân Minh Khi đất nước được độc lập, Nguyễn Trãi muốn xây dựng Đại Việt thành một quốc gia thời
“Nghiêu- Thuấn” với “Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” “Xây dựng một xã
hội tiến bộ là điều Nguyễn Trãi mong muốn các vua thực hiện: Đó là việc thương dân, chăm lo cho dân, làm cho xã tắc thanh bình, trong thôn cùng xóm vắng người dân vui vẻ, làm lụng cấy cày, không ai hờn giận, oán sầu Những vấn đề mà Nguyễn Trãi đề ra không dừng lại ở tư tưởng hòa bình nhân đạo mà đi xa hơn nữa, bởi nó thể hiện những nét chấm phá, tiêu biểu cho một cương lĩnh nhằm thực hiện một lí tưởng tốt đẹp”[32,73] Thời kì này, Nguyễn Trãi còn “tắm mình trong một bầu không khí văn hóa, ở đó đang diễn tiến cuộc đấu tranh gay gắt giữa truyền thống và đổi mới, cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng Trung Quốc hóa với xu hướng giải Trung Quốc hóa trong nội bộ các thế lực cầm quyền và giới trí thức văn hóa Đại Việt”[57, 996] Trong hoàn cảnh ấy Nguyễn Trãi muốn xây dựng một “nền văn hóa yêu nước, tiến bộ, có tính chất dân tộc và tính chất nhân dân sâu sắc, có giá trị hiện
Trang 30Tác giả Võ Nguyên Giáp trong bài viết “Nguyễn Trãi và nền văn hóa Đại
Việt” đã khẳng định Nguyễn Trãi là “người anh hùng dân tộc vĩ đại”[10,894], “nhà chiến lược thiên tài”[10, 899], “nhà tư tưởng lớn”[10,905] và là “nhà văn hóa kiệt xuất”[10,909] Nguyễn Trãi muốn thay đổi về cả chính trị, văn hóa và văn học để
xây dựng một đất nước Đại Việt vững mạnh nhưng trong thực tế điều kiện để thực hiện những mong muốn này không phải là điều dễ dàng Xét về chính trị, nếu trong thời kì khởi nghĩa, Nguyễn Trãi là một nhà chiến lược tài ba được Lê Lợi tin dùng thì đến thời kì hòa bình, xây dựng đất nước ông lại bị thất sủng nên việc cải cách chính trị không thể thực hiện được Nguyễn Trãi là nhà văn hóa coi cái của dân tộc, cái gần gũi với đời thường, với quê hương, xứ sở là đẹp, muốn xây dựng một nền văn hóa tiến bộ, giàu bản sắc dân tộc nhưng điều kiện để thực hiện thay đổi về văn hóa gặp nhiều trắc trở do sự đồng hóa của giặc Minh trong quá trình đô hộ, đến khi hòa bình, có điều kiện thực hiện thì ông lại không còn được trọng dụng như trước
Vì thế khi chữ Nôm xuất hiện và văn học chữ Nôm đã bước đầu được hình thành, với niềm trân trọng và yêu mến tiếng mẹ đẻ, Nguyễn Trãi muốn thay đổi về văn học
Trang 3131
bằng việc xây dựng văn học chữ Nôm có vị trí quan trọng so với chữ Hán Ông sáng
tác nhiều thơ quốc âm và được tập hợp thành Quốc âm thi tập Ông hướng về cái
đẹp của dân tộc, xây dựng nền văn hóa bắt đầu từ văn học
Cuộc đời và con người Nguyễn Trãi- một nhà văn hóa kiệt xuất trong việc phục hưng và phát triển nền văn hóa Đại Việt đã ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác văn chương của ông Chính những ảnh hưởng đó đã khiến cho sáng tác văn học của Nguyễn Trãi không chỉ mang những giá trị văn học mà còn mang những giá trị văn hóa lớn lao
1.4.2 Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi- những biểu hiện cụ thể
Cái đẹp là một hiện tượng thẩm mĩ rất phong phú và đa dạng Thông thường quan niệm về cái đẹp thường được đề cập ở cái đẹp của thiên nhiên, của con người
và cái đẹp của thơ ca Soi chiếu vào thơ ca Nguyễn Trãi ta đều thấy những quan niệm thẩm mĩ đó
1.4.2.1 Quan niệm về cái đẹp của thiên nhiên
Thơ viết về thiên nhiên chiếm cái phần phong phú nhất, thành công nhất trong di sản thơ của Nguyễn Trãi Nhà nghiên cứu Mai Trân từng khẳng định
“trong lịch sử văn học Việt Nam, trở về trước, dễ thường không có ai yêu thiên nhiên, có thơ nhiều và có thơ hay về thiên nhiên như Nguyễn Trãi” [52,684] Trong Quốc âm thi tâp, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam, Xuân Diệu cũng có
đồng quan điểm “Trong thơ Việt Nam, chưa có một nhà thơ nào yêu mến thắm thiết
thiên nhiên và có những vần thơ đẹp đẽ, tinh vi sâu sắc về thiên nhiên cho bằng Nguyễn Trãi”[9,604] Nguyễn Trãi có nhiều thơ về thiên nhiên như vậy trước hết
bởi Nguyễn Trãi là một nhà thơ thời trung đại Quan niệm sáng tác của thời kì này
đúng như Hồ Chí Minh từng nhận xét “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió
trăng hoa tuyết núi sông” Thi nhân thường yêu cái đẹp mà cái đẹp phong phú, gần
gũi nhất là thiên nhiên Thi nhân thường để tâm hồn đi theo đám mây bay, theo dòng nước chảy, và lòng thi nhân vui tươi rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim ca, và nhìn thấy hoa nở thắm Hơn thế, cuộc đời của Nguyễn Trãi gắn với nhiều chuyến đi, ông có điều kiện đến với những danh lam thắng cảnh Đặc biệt,
Trang 3232
thời thơ ấu Nguyễn Trãi sống với ông ngoại ở vùng đất Côn Sơn hữu tình và cả ngay khi ông bị thất sủng, mảnh đất này cũng gắn bó với cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông
Thiên nhiên được Nguyễn Trãi chú ý và tái hiện trong thơ của ông mang những nét đặc trưng sau:
1.4.2.1.1 Thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ
Thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ chủ yếu được thể hiện qua thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi Cảm hứng về thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ có thể được khái quát qua hai câu thơ của chính Nguyễn Trãi:
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc Anh hùng hữu hạn diệp tiêu tiêu
“Thiên nhiên trong Ức Trai thi tập là thiên nhiên kì vĩ, hoàng tráng nhưng
đồng thời mĩ lệ, thi vị; thiên nhiên gắn với những địa danh như một cuốn nhật kí gắn với cuộc đời phong phú từng trải của Nguyễn Trãi Qua đó ta thấy được một tâm hồn cao rộng, khoáng đạt, phong tình và tinh tế” [Lã Nhâm Thìn] Ta không
khó khăn để tìm thấy những cảnh thiên nhiên kì vĩ, hoành tráng như núi Côn Sơn, núi Yên Tử, Cảng Vân Đồn, chùa Tiên Du, Chùa Đông Sơn, núi Long Đại, núi Lam Sơn, núi Dục Thúy, của biển Thần Phù, trấn Vịnh Doanh Trong số những danh thắng đó, núi Dục Thúy được Nguyễn Trãi nhắc đến là một cảnh quan rất đẹp, rất thơ mộng:
Liên hoa phù thủy thượng, Tiên cảnh trụy nhân gian
Tháp ảnh hình trâm ngọc,
Ba quang kính thúy hoàn
Tác giả đã sử dụng hình ảnh hoa sen để gợi tả vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn Núi trên dòng sông giống như đóa sen trên mặt nước Về mặt nội dung thẩm mĩ, hoa sen
là biểu tượng của vẻ đẹp tinh khiết, rất phù hợp với cảnh tiên, non tiên Vì thế trong một đoạn thơ ngắn, Nguyễn Trãi đã dùng hai lần dùng chữ “tiên” để nói về vẻ đẹp
Trang 3333
của núi Dục Thúy Từ tiên trong “núi tiên” “cảnh tiên” gây ấn tượng sâu sắc về vẻ
đẹp huyền ảo của núi Dục Thúy chẳng khác gì cảnh tiên sa xuống trần gian gian
Hình tượng “bóng tháp” (tháp ảnh) chính là sáng tạo của Trương Hán Siêu
Cũng trong bài Dục Thúy Sơn, Trương Hán Siêu từng viết:
Trung lưu quang tháp ảnh
(Giữa dòng in bóng tháp) Tuy nhiên, hình tượng bóng tháp trong thơ Nguyễn Trãi đã được nâng lên và trở thành một sáng tạo độc đáo: bóng tháp in trên dòng sông như chiếc trâm ngọc bích cài trên mái tóc xanh mướt của người thiếu nữ Một liên tưởng hết sức hợp lí nhưng cũng thật bất ngờ Cảnh vật không chỉ nên thơ, nên họa mà còn mang cả hồn người Nguyễn Trãi đem cả tình đời, tình yêu nhuốm vào cảnh vật Cách nhìn của
Nguyễn Trãi khiến cho cảnh vật núi Dục Thúy “sáng bừng lên một vẻ đẹp mới lạ”
Hình tượng mĩ miều hùng vĩ của những cây lá um tùm bao bọc khắp các ngọn núi và xõa xuống như những mái tóc khổng lồ xanh thẫm được Nguyễn Trãi dùng lại trong bài Vân Đồn:
Lộ nhập Vân Đồn san phục san Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan Nhất bàn lam bích trùng minh kính Vạn hộc nha thanh đọa thúy hoàn
(Đường vào Vân Đồn, núi rồi lại núi, Trời đất bày đặt, xứng đáng là một áng kì quan!
Nước bao quanh như một mâm lam biếc lắng tấm gương sáng, Cây trùm quanh núi như muốn hộc đen xanh, xõa những mái tóc màu chàm) Con đường dẫn đến Vân Đồn núi non trùng điệp tiếp nối Giữa không gian sông nước mênh mông núi non hiện lên như một chiếc mâm xanh khổng lồ Những cây xanh trên núi tỏa bóng xuống như mái tóc dài mượt mà, tha thướt của người thiếu nữ(mái tóc màu chàm) Cảm nhận độc đáo ấy đem đến cái nhìn về cảnh Vân Đồn mang vừa mang vẻ đẹp lộng lẫy vừa mang vẻ đẹp đầy nữ tính mà đất trời đã ban tặng
Trang 3434
Thăm cửa biển Bạch Đằng, Nguyễn Trãi có một bài thơ chữ Hán đặc sắc
Bạch Đằng hải khẩu Ở bài thơ này, Nguyễn Trãi đã vẽ lên được một bức tranh
thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng qua những câu thơ đầy nội lực cảm xúc:
Sóc phong xuy hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng!
Ngạc đoạn kình khoa, sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết, ngạn tằng tằng!
(Gió bấc thổi trên mặt biển bốc hơi nước ngùn ngụt, Nhẹ dong cánh buồm thơ, lướt qua cửa Bạch Đằng
Ngồi trong thuyền trông ra: núi lúc ngúc ngổn ngang như thây cá kình
bị chặt, cá sấu bị vằm,
Bờ nhấp nhô lớp lớp như đống gươm bị chìm đống giáo bị gẫy!) Trước mắt chúng ta là một không gian rộng lớn, bát ngát với những nét dữ dội của sóng của gió Cảnh vừa có cái hùng vĩ của núi non, sông nước lại vừa có nét thơ mộng với hình ảnh cánh buồm mong manh trước gió Đặc biệt, các hình ảnh về núi, bờ gây ấn tượng mạnh với người đọc Núi thì ngổn ngang như cá kình bị mổ, cá
sấu bị chặt; còn bờ thì như đống gươm bị chìm, đống giáo bị gãy Rõ ràng “Nguyễn
Trãi, vừa có cái nhìn của một tâm hồn thơ trác việt, vừa có cái nhìn của một nhà tướng, một người anh hùng cứu quốc đã từng chiến thắng quân giặc ngoại xâm, của một người có tinh thần tự hào cao độ”[52,666] Nguyễn Trãi nhìn cảnh mà nhớ đến
những chiến công lừng lẫy trong lịch sử của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Nam Hán Cá sấu, cá mập là chúng, là thuyền bè của chúng đã ngổn ngang tan tác đó đây trước sức vùng lên quật cường của dân tộc
Thăm chùa Hoa Yên ở trên núi Yên Tử (Quảng Ninh), Nguyễn Trãi đem đến cho chúng ta một cảnh sắc thiên nhiên vừa nguyên sơ vừa tràn đầy sức sống:
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc xâm thiên mẫu, Quải thạch châu lưu lạc bán không
Trang 3535
(Từ nơi đây phóng tầm mắt ra có thể thấu suốt bên ngoài biển cả đến chỗ vũ trụ bao la,
Cất tiếng cười nói, mới sực nhận ra mình đang đứng giữa mây xanh
Hộ vệ trước cửa chùa, măng tre như giáo ngọc đóng dày nghìn mẫu,
Treo vào đá hang, thạch nhũ buông những chuỗi hạt châu lõng thõng xuống nửa lừng không)
Trước mắt chúng ta là hình ảnh thiên nhiên rộng lớn cả biển trời mênh mông, nghe đâu đó tiếng người cười nói hòa lẫn trong mây loang tỏa xung quanh Trước cửa chùa, măng tre như giáo ngọc đóng dày nghìn mẫu bảo vệ cảnh trí nơi đây Trong hang đá, thạch nhũ treo xuống như những chuỗi hạt châu xuống nửa chừng Cảnh trí trập trùng, hùng tráng của núi rừng thiêng Yên Tử đã hiện ra trước mắt
người nghệ sĩ Cách nhìn cảnh vật ấy đã nâng cao vị thế của chủ thể trữ tình “Con
người với đôi mắt vũ trụ, con người nói cười ở giữa mây xanh là con người đã đạt tới tầm cao khoáng đạt- tầm cao của vũ trụ và tầm cao của tâm hồn”[43,124]
Nguyễn Trãi là một con người phóng khoáng, mạnh mẽ nên ông luôn có những cảm hứng trước thiên nhiên kì vĩ, tráng lệ Điều đặc biệt là từ việc cảm nhận
về thiên nhiên mà Nguyễn Trãi đem đến những rung động sâu xa về con người Với mảng thơ về thiên nhiên trong Ức Trai thi tập, Nguyễn Trãi đã đem lại cho người đọc những chiêm nghiệm về vẻ đẹp hoàng tráng, kì vĩ của thiên nhiên đất nước
1.4.1.1.2 Thiên nhiên bình dị, dân dã
Nguyễn Trãi là người đã tuân thủ những quy tắc sáng tác của văn chương
trung đại “Ông đã viết về tứ linh, tứ quý, sử dụng hệ thống thi liệu điển cố Hán
học [14,115] Tuy nhiên Nguyễn Trãi cũng không áp dụng những quy tắc đó một
cách máy móc Thiên nhiên bình dị dân dã, từ quả núc nác, lảnh mồng tơi, bè rau
muống, rảnh mùng, những dòng dòng, niềng niễng, kê, khoai, đậu, lạc, ngõ cày đất
ải, vốn gần gũi quen thuộc với nhân dân, với thơ ca dân gian nhưng lại có phần xa
lạ với văn chương bác học đã được Nguyễn Trãi đã đưa vào thơ một cách tự nhiên
Ngay trong Ức Trai thi tập, một tập thơ mang đặc trưng tiêu biểu của văn
chương trung đại ta vẫn gặp một hình ảnh thiên nhiên bình dị, dân dã:
Trang 36nói, “với Mộ xuân tức sự, lần đầu tiên, Nguyễn Trãi đã đem vào thơ chữ Hán Việt
Nam hình ảnh một loài hoa dân dã, qua một cảm hứng lãng mạn đầy tích cực[14,116]
Đến tập thơ Nôm Quốc âm thi tập, những hình ảnh thiên nhiên dân dã, bình
dị cũng đã hiện lên rõ nét và vô cùng phong phú “Thi sĩ thường phản ánh vẻ đẹp
của thiên nhiên kì thú và bình dị” một cách tự nhiên Điều đáng nói là thiên nhiên
bình dị và dân dã ấy đã đi vào trong thơ Nguyễn Trãi “không phải là đối tượng
Trang 37trong Quốc âm thi tập đã đem lại cho thế giới thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi
phong phú và đa dạng Với ông, cái đẹp không chỉ ở thiên nhiên kì vĩ, tráng lệ mà còn ở những gì thân thuộc, gần gũi, bình dị nhất với cuộc sống của con người
Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi đã có một thời gian dài sống cùng ông ngoại ở Côn Sơn, vì thế ông đã được tắm mình trong những cảnh đẹp bình dị, dân dã của chốn
núi non, thôn dã Hơn thế Quốc âm thi tập được Nguyễn Trãi sáng tác trong thời kì ông cáo quan về Côn Sơn ở ẩn Những cảnh đẹp của non quê, núi cũ và “một phút
thanh nhàn trong thuở ấy” đã tạo điều kiện cho Nguyên Trãi trở về với những cảnh
đẹp hương đồng gió nội Nhưng hơn hết, cái đẹp của thiên nhiên bình dị ấy còn được nhân lên nhiều lần bởi tình cảm yêu thương, nâng niu, trận trọng của tâm hồn Nguyễn Trãi
1.4.1.1.3 Thiên nhiên hòa hợp
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi còn đẹp ở sự hòa hợp, gắn bó và nâng đỡ cho nhau Ở đó thiên nhiên và con người dường như không còn khoảng cách Thiên nhiên và tạo vật với con người gắn bó, chan hòa với nhau trong mối quan hệ bầu
bạn, con cái, khách khứa, láng giềng Trong bài thơ chữ Hán Đến chùa Hoa Yên ở
núi Yên Tử, nhìn cảnh vật tươi sáng, thanh khiết buổi ban mai, nhà thơ có một liên
Trang 3838
Thiên nhiên đối với Nguyễn Trãi thật thân thiết và cảm động Cuộc dời Nguyễn Trãi trải qua nhiều khó khăn, bất trắc Thiên nhiên cũng mang nhiều nét buồn tê tái, ảm đạm:
Ảm đạm thiên sơn phong cảnh sầu Tiêu trầm vạn cổ vân vô tích
(Vọng Thái Lăng)
(Ngàn non ảm đạm gió thổi càng thêm buồn Muôn thuở tiêu tan không để lại dấu vết) Không chỉ thân thiết và cảm động, thiên nhiên với Nguyễn Trãi rất tình tứ, quấn quýt, tác động trực tiếp đến cảm xúc cho nhà thơ:
Nhãn biên xuân sắc huân nhân túy, Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn
(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm)
(Sắc xuân rực rỡ trước mắt khiến lòng người say sưa, Tiếng sóng lao xao bên gối làm cho giấc chiêm bao trở nên mát lạnh)
Thiên nhiên tươi đẹp, trong trẻo hòa hợp với con người đã đem lại những cảm xúc tươi vui, tâm hồn trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng:
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn, Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm
(Tức hứng)
(Sau cơn mưa sắc núi làm cho con mắt thơ trở nên tươi dịu Lụt rút đi, nhìn dòng sông trong mà lòng tạc cùng ) Trong thơ Nguyễn Trãi người và cảnh thiên nhiên bao giờ cũng có một mối liên lạc mật thiết Nguyễn Trãi thực sự coi thiên nhiên là bằng hữu, là con cái, là khách khứa, là nguồn yên vui trong đời Nguyễn Trãi đã thực sự hòa mình với thiên nhiên từ khi nhà thơ rời kinh đô trở về ẩn dật nơi núi rừng Thanh- Tĩnh:
Trúc thông, hiên vắng, trong khi ấy, Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm
(Ngôn chí- Bài 4)
Trang 39chân tay Đến với thiên nhiên, chắc hẳn Nguyễn Trãi đã hiểu rõ quan niệm “thiên
nhân tương dữ”, “vạn vật đồng nhất thể” của triết lí Đông phương Hơn thế xã hội
Việt Nam ngày xưa là một xã hội nông nghiệp, cuộc sống gần gũi với thiên nhiên cho nên con người đã gắn bó mật thiết với thiên nhiên Con người được thở hơi gió đồng nội mát mẻ, luôn thấy được ánh bình minh, thấy ánh trăng nằm trên cành liễu, luôn được lắng nghe tiếng chim ca trong vườn Có lẽ chính vì vậy mà Nguyễn Trãi
đã thực sự hòa mình vào với thiên nhiên nơi Côn Sơn cô độc ấy
1.4.2.2 Cái đẹp con người
Cùng với thiên nhiên, con người cũng là đối tượng thẩm mĩ trong thơ
Nguyễn Trãi Trong hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi
cũng nhắc đến những anh hùng, những người nghệ sĩ tài hoa như Lê Lợi, Hồ Qúy
Ly, Trương Hán Siêu, Đào Tiềm, , những người đẹp như Dương Qúy Phi, Tây
Thi, thậm chí có cả những “khách tục”, “láng giềng mấy sĩ nho” Tuy nhiên, nhân
vật trung tâm được nhắc đến và thể hiện quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi lại chính là bản thân nhà thơ
Theo tác giả Phạm Thị Ngọc Hoa, cái đẹp con người trong quan niệm của
Nguyễn Trãi chính là ở “lối sống thanh cao gắn với thái độ tham nhàn, lánh
tục”[14, 84], và “con người gắn với sự tu rèn đạo đức”[14,101]
1.4.2.2.1 Cái đẹp lối sống thanh cao gắn với thái độ “tham nhàn”, lánh tục
Trang 4040
Đối với Nguyễn Trãi, trách nhiệm đối với bậc quân vương là rất nặng nề vì sống trong môi trường văn hóa Nho giáo Nguyễn Trãi đã thực hiện trách nhiệm, bổn phận ấy một cách đầy đủ Ngay từ thời đi học, Nguyễn Trãi đã theo đuổi con đường thi cử để thực hiện nghĩa lớn đối với nước với nhà và cũng là bước đầu để thực hiện trách nhiệm, bổn phận của kẻ bề tôi:
Cuốc cằn ước xáo vườn chư tử Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh
Nợ quân thân chưa báo được Hài hòa còn bợn dặm thanh vân
nhà vua Tấm lòng ấy tưởng trừng như “mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”
nhưng sau khi giúp vua dẹp yên quân thù, giang sơn thu về một mối, quan lại triều đình bước vào đấu tranh giành quyền lực, chia vây cánh trừng trị lẫn nhau Nguyễn Trãi muốn xây dựng một đất nước với vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn nhưng không thành hiện thực, không những thế ông còn bị các phe cánh làm hại Nhận thức được cảnh đời không thuận, Nguyễn Trãi đã quyết định trở về chốn lâm tuyền