Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Duy trong trường phổ thông từ góc nhìn văn hóa có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong thơ Ngu
Trang 1TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong khóa luận là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Ngân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận tôi nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn của tiến sĩ La Nguyệt Anh, các thầy cô trong Tổ Bộ môn văn học Việt Nam Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ, giảng viên La Nguyệt Anh, cùng toàn thể thầy, cô giáo Do khuôn khổ thời gian có hạn, năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không tránh khỏi sự thiếu sót, tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô cùng toàn thể bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Ngân
Trang 4
MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU…….……….……….1
1 Lí do chọn đề tài…… ……… ……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 3
3 Mục đích nghiên cứu……… … … 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… ……… 6
5 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 6
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……….… 7
7 Đóng góp của khóa luận……… 8
8 Cấu trúc khóa luận……… 8
NỘI DUNG……… 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ……… ……… 9
1.1.Những tiền đề khoa học……….……… 9
1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn học……… 9
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa - văn học……… 12
1.2 Nguyễn Duy và quá trình sáng tác……… ……… 13
1.2.1 Giới thiệu về tác giả Nguyễn Duy……… …… 13
1.2.2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Duy……….14
1.3 Khảo sát sáng tác của Nguyễn Duy trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở và trung học phổ thông……… 15
Trang 5CHƯƠNG 2 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG ÁNH TRĂNG CỦA NGUYỄN
DUY ….18
2.1 Văn hóa làng và sinh thái ……… 18
2.1.1 Văn hóa làng quê……….…… … 18
2.1.2 Văn hóa sinh thái……….………… 23
2.2 Văn hóa đô thị và sự thức tỉnh ý thức môi sinh………… ….……….28
2.2.1 Văn hóa đô thị……… ………….………28
2.2.2 Sự thức tỉnh ý thức môi sinh……… ……….… 31
CHƯƠNG 3 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG ĐÒ LÈN CỦA NGUYỄN DUY………35
3.1 Văn hóa truyền thống với lễ hội, phong tục tập quán……… 35
3.1.1 Văn hóa lễ hội……… 35
3.1.2 Phong tục, tập quán quê hương……… 39
3.2 Văn hóa hiện đại với những vấn đề thế sự……… 44
3.2.1 Văn hóa hiện đại……… 44
3.2.2 Những vấn đề thế sự……… 47
KẾT LUẬN……… 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Trang 6
là thành tố quan trọng của văn hóa
Quan hệ văn học - văn hóa là một vấn đề có tính lí luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong nghiên cứu văn hóa, văn học Việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa lâu nay đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đề cập đến Song để soi chiếu vào các tác phẩm cụ thể, sự nghiệp sáng tác của một nhà văn
cụ thể chúng tôi thấy còn rất ít Đề tài này giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa với văn học đồng thời cho thấy dấu ấn văn hóa trong các tác phẩm văn học
1.2 Cơ sở thực tiễn
Nguyễn Duy là nhà thơ thuộc thế hệ trẻ trong thơ ca kháng chiến chống
Mĩ và là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại Nguyễn Duy làm thơ khá sớm, nhưng đến năm 1973 ông mới được độc giả biết
đến với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ
rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam Từ đó những tập thơ của Nguyễn Duy lần
lượt đến với độc giả như: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987),
Đường xa (1989), Về (1994),… Có thể nói, ông đã có những đóng góp quan
Trang 7hiểu Thơ Nguyễn Duy trong trường phổ thông từ góc nhìn văn hóa là một
hướng đi mới giúp chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận thơ Nguyễn Duy từ những yếu tố văn hóa của truyền thống dân tộc Trong nhà trường phổ thông hiện nay, việc tìm hiểu, đánh giá tác phẩm từ góc nhìn văn hóa còn khá mới mẻ Từ nhiều năm nay, thơ Nguyễn Duy được đưa vào giảng dạy trong hệ thống nhà trường
phổ thông, từ tiểu học đến trung học phổ thông với các bài: Tre Việt Nam, Ngồi
buồn nhớ mẹ ta xưa, Ánh trăng, Đò Lèn Song phần lớn sự nghiên cứu đó chỉ
mới ở mức độ xem xét giá trị hiện thực, chỉ tập trung khai thác những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật mà chưa chú ý nhiều đến yếu tố văn hóa thể hiện
trong tác phẩm Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Duy trong trường
phổ thông từ góc nhìn văn hóa có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Tìm hiểu
mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong thơ Nguyễn Duy giúp ta hiểu thêm
vẻ đẹp của thiên nhiên, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, văn hóa truyền thống cùng những phong tục tập quán, lễ hội và văn hóa hiện đại của dân tộc Việt Từ đó, góp thêm một cái nhìn khái quát về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy Thấy được sự đóng góp và vị thế của Nguyễn Duy trong nguồn mạch phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại Đặc biệt vận dụng vào việc giảng dạy thơ Nguyễn Duy ở nhà trường phổ thông, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức văn học
Trang 83
Tìm hiểu Thơ Nguyễn Duy trong trường phổ thông từ góc nhìn văn hóa
không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy thơ Nguyễn Duy trong trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói người có công phát hiện và giới thiệu thơ Nguyễn Duy là Hoài Thanh Ông đã nhận ra “một thế giới quen thuộc” và cảm nhận trong thơ Nguyễn Duy “cái hương vị cuộc sống xưa trên đất nước chúng ta” Sau bài viết của Hoài Thanh, xuất hiện một số bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy trên các báo và
tạp chí: Văn học, Nhà văn, Văn nghệ, Tiền phong, Giáo viên nhân dân Nhìn một
cách bao quát, những bài viết, nghiên cứu về Nguyễn Duy gồm các tiểu luận, bài báo, các luận văn Có thể chia các bài viết này thành hai loại: loại bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy và loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu biểu Trong các bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy của Hoài Thanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thụy Kha, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Quang Sáng, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Minh Tuấn, Phạm Thu Yến, các tác giả đều có khuynh hướng đi sâu tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Duy
Về phương diện đề tài, Nguyễn Quang Sáng nêu ý kiến: “ Trong thơ Duy
có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [20,
tr.91] Tế Hanh cho rằng: “Những câu thơ viết về anh bộ đội, về cuộc đời quân
nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất ” [5, tr.3] Vũ Văn Sỹ có những nhận
xét khá tinh tế: “Nguyễn Duy thường nắm bắt những cái mong manh nhưng vững
chắc trong đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân của lấm tấm ruộng bùn, Và rồi hồn thơ Nguyễn Duy neo đậu được
ở đó” [20, tr.69] Còn Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý nghĩa khái quát:
“Bao dung nên giàu có” [11, tr.280]
Trang 94
Về phương diện cảm hứng chủ đạo, Vũ Văn Sỹ đã mượn ngay câu thơ của
Nguyễn Duy để kết luận về cảm hứng chủ đạo trong thơ ông: “Nguyễn Duy-
người thương mến đến tận cùng chân thật” [20] Nguyễn Quang Sáng nêu nhận
xét cụ thể hơn: “Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước mình bằng tình cảm
rất cụ thể với người dân Thơ Nguyễn Duy có niềm tự hào chính đáng về nhân dân mình, cùng với nỗi buồn thương chính đáng” Trong các bài phê bình
nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, thì bài viết Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân của
Chu Văn Sơn là một bài viết công phu, cung cấp cho người đọc một cái nhìn về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy Trong đó hai từ “thảo dân” được dùng với nghĩa: “Cái từ xưa này đang được làm mới, với những sắc thái thú vị của thì hiện tại, bởi một phong cách ngôn ngữ mà Duy đang phải lòng- ngôn ngữ “cơm
bụi” Từ đó biện giải “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân”, chỉ ra bản chất “thảo
dân” ấy ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy [16, tr.38-53]
Trong các bài viết về những bài thơ, tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Duy,
các tác giả đã phát hiện được nét riêng độc đáo của từng tác phẩm Trong Hơi
ấm ổ rơm, Vũ Quần Phương nhận thấy ở đó “tấm lòng thơm thảo, nhường cơm
xẻ áo của nhân dân ta” Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã khẳng
định đó là những biểu hiện của “phẩm chất con người” Đỗ Lai Thúy lại nhận
thấy ở thơ Nguyễn Duy sự “giải cổ tích hóa”, là “cốt cách hiện đại” [24,
tr.379-384] Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm nhận: “Nỗi ăn năn nhân bản,
thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người Tập thơ của Nguyễn Duy được nhiều nhà
phê bình chú ý là Ánh trăng –tập thơ được nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn
1984 Nếu như Lê Quang Trang chú ý đến sự thống nhất giữa những yếu tố đối lập và sở trường thơ lục bát thì Từ Sơn lại tâm đắc với chất hiện thực, chất dân
Trang 105
tộc và những cảm xúc nồng nàn Nhận xét về nội dung tập thơ, Từ Sơn viết:
“Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về
những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh” [18, tr.2] Cùng ý kiến
đó, Lê Quang Hưng đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về tập thơ Ánh trăng: “Ánh
trăng trước tiên vẫn là tiếng nói của một người lính, tiếng nói tìm đến những người lính – những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện… Đúng như Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những đồng đội…”
[7, tr.156] Trên cơ sở đó, Lê Quang Hưng chỉ ra sức hấp dẫn của tập thơ: “Ánh
trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng
và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [7, tr.158] Đến với thơ
Nguyễn Duy, nếu như Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân thể loại và
giọng điệu thì Lê Quang Hưng lại đối sánh Ánh trăng với các tập thơ trước đó của ông để khẳng định đây là: “Một bước tiến dài” Nhà thơ Tế Hanh cũng có nhận xét khi đọc tập thơ Ánh trăng: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy anh
là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn
là những câu thơ thấm thía nhất” [5, tr.3]
Bên cạnh đó, có thể kể đến các ý kiến nhận xét về bài thơ Đò lèn Trịnh Thanh Sơn đọc bài Đò Lèn, cho đó là: “Những thước phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt” [17,
tr.14] Sách giáo khoa Ngữ văn 12, phần Tiểu dẫn cũng giới thiệu: “Bài thơ Đò
Lèn được viết năm 1983, trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những
hồi ức đan xen nhiều buồn vui của thời thơ ấu” Gợi ý từ bài đọc thêm này của
trong Ngữ văn 12 như một giới thuyết mang tính chủ đề của Đò Lèn
Trang 116
Như vậy, qua các bài nghiên cứu, phê bình thơ Nguyễn Duy nêu trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chỉ ra được một số đặc điểm nổi bật về nội dung, nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy Nhìn chung, những bài viết trên mới đi vào tìm hiểu một bài thơ, tập thơ hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào đó trong thơ Nguyễn Duy Hiện chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa.Vì thế đó là phần đất trống mà chúng tôi hy vọng có thể khai phá Với khóa luận này, chúng tôi hy vọng góp thêm tiếng nói tìm hiểu một cách có hệ thống về thơ của Nguyễn Duy, chỉ ra nét đặc sắc của thơ Nguyễn Duy dưới góc nhìn văn hoá Tuy nhiên, tất cả những bài viết ấy đều là những gợi mở quý giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài khóa luận
- Góp phần phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu tác phẩm văn học của Nguyễn Duy trong nhà trường phổ thông nói riêng và các tác phẩm văn học nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài; Khảo sát, phân loại các yếu tố văn hóa ảnh hưởng trong thơ Nguyễn Duy
- Phân tích, đánh giá các yếu tố văn hóa ảnh hưởng trong thơ Nguyễn Duy
để rút ra kết luận về thơ Nguyễn Duy trong nhà trường phổ thông từ góc nhìn văn
Trang 125.4 Phương pháp liên ngành
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để soi chiếu thơ Nguyễn Duy ở nhiều góc độ và tìm ra những nét nổi bật nhất trong mối quan hệ văn hóa - văn học
6 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng mối quan hệ văn học - văn hóa để khai thác thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa, trên bình diện nội dung: Văn hóa làng, văn hóa sinh thái, văn hóa đô thị, sự thức tỉnh ý thức môi sinh, văn hóa truyền thống với những lễ hội, phong tục, tập quán và văn hóa hiện đại với những vấn đề thế sự
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài khóa luận, chúng tôi giới hạn khảo sát những tác
phẩm thơ của Nguyễn Duy trong nhà trường phổ thông gồm: Ánh trăng, Đò lèn
Trang 138
Ngoài ra, để có cơ sở đối sánh, chúng tôi còn nghiên cứu tác phẩm của các nhà
thơ khác Qua đó thấy được nét tương đồng và đóng góp riêng của Nguyễn Duy
7 Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận của chúng tôi là một công trình nghiên cứu có hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học thông qua thơ của Nguyễn Duy Tìm hiểu dấu ấn văn hóa trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi muốn chỉ ra vai trò của văn hóa đối với văn học Đồng thời qua đó, ta sẽ hiểu rõ hơn về quan hệ giữa văn
hóa và sáng tạo văn học
- Khóa luận góp phần khẳng định bản sắc riêng của thơ Nguyễn Duy trong tiến trình của thơ ca Việt Nam hiện đại Khóa luận góp phần giúp người tiếp nhận nhận ra giá trị của văn hóa, của sinh thái đối với con người Bồi đắp lòng yêu thiên nhiên và lòng tự hào về những giá trị văn hóa của dân tộc, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn bản bắc văn hóa Việt
- Kết quả của khóa luận sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Nguyễn Duy ở nhà trường phổ thông
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được triển khai trong
ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong Ánh Trăng của Nguyễn Duy
Chương 3: Dấu ấn văn hóa trong Đò lèn của Nguyễn Duy
Trang 149
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Những tiền đề khoa học
1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn học
- Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng đa dạng và phức tạp Tùy theo góc độ nghiên cứu, khái niệm văn hóa được trình bày khác nhau Định nghĩa của UNESSCO
về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và
cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Ở Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được quan tâm, bàn đến
Theo Từ điển Tiếng Việt, văn hóa được hiểu là: “tổng thể nói chung
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”
Theo PGS - TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [23, tr.10]
- Khái niệm văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm văn học được khái quát như sau: “Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ” Khái niệm văn
học bao gồm cả văn học dân gian - được sáng tác và lưu truyền bằng miệng từ
Trang 1510
đời này sang đời khác, và văn học viết - được sáng tác và lưu truyền dưới hình
thức văn bản viết
Nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc, liên
hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác nhau như chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo…Về phương diện này văn học là sự phản ảnh của đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người Bản chất xã hội lịch sử của văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội đặc thù được xác định bằng các khái
niệm như: tính hiện thực, tính nhân loại, tính giai cấp, tính tư tưởng, tính khuynh
hướng, tính đảng, tính nhân dân,… Nhưng khác với các hình thái ý thức xã hội
nói trên, văn học có những đặc trưng độc đáo của bộ môn nghệ thuật thể hiện ở
đối tượng nhận thức, ở nội dung và phương thức biểu đạt hình tượng, ở chất liệu
sáng tạo của nó Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó, trên phương diện thẩm mĩ Trong tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ nhận thức chân lí khách quan mà còn bộc lộ tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng của mình đối với con người và cuộc sống Do đó, Nội dung của văn học là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện chủ quan và phương diện khách quan
Đối tượng và nội dung đặc thù đòi hỏi nhà văn phải có phương thức
chiếm lĩnh và biểu đạt đặc thù, đó là hình tượng nghệ thuật Tính hình tượng là
dấu hiệu đặc trưng cơ bản giúp ta phân biệt văn học với những tác phẩm cũng diễn đạt bằng lời văn, cũng dùng văn chương nhưng không phải là văn học Hình tượng nghệ thuật làm cho văn học gần gũi với các loại hình nghệ thật khác Tuy nhiên do mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một loại chất liệu khác nhau, cho nên hình tượng của chúng có những đặc điểm riêng
Trang 1611
Do lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học chỉ xây dựng được hình tượng
“phi vật thể”, có khả năng tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người Mặt khác, chính chất liệu ngôn từ giúp văn học đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh đời sống Văn học chẳng những chiếm lĩnh được tất cả những
gì mắt thấy, tai nghe bằng cái nhìn thị giác và thính giác mà còn tái hiện được
cả mùi, vị, nắm bắt được cả những điều mơ hồ, vô hình nhưng có thật trong cảm giác của con người Văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất kì giới hạn nào Với chất liệu ngôn từ, văn học còn có khả năng tái hiện lời nói và thế giới tư tưởng của con người
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học
Có nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã quan tâm đề cập tới Có thể kể
đến những công trình sau:
Hồ Chí Minh trong Bàn về văn hóa, văn học thường trăn trở, khuyên nhủ
văn nghệ sĩ phải tìm hiểu sâu vốn văn hóa dân tộc, làm sao để quần chúng nhân dân tiếp nhận được văn hóa: “Văn học và nghệ thuật phải luôn luôn tìm tòi những con đường để làm sao có thể diễn tả một cách chân thực hơn và chân chính hơn cho nhân dân nghe về những mối lo âu và những suy nghĩ của nhân dân”
Trần Đình Sử trong bài viết Vai trò sáng tạo văn hóa của văn học cho
rằng - vai trò sáng tạo ấy thể hiện rõ nhất trên bốn phương diện: 1/ Lấy việc sáng tạo, biểu hiện con người làm đối tượng trung tâm, văn học trước hết phát huy vai trò sáng tạo những mô hình nhân cách; 2/ Văn học có vai trò “phê phán văn hóa”; 3/ Văn học có vai trò lựa chọn văn hóa; 4/ Văn học có vai trò sáng tạo văn hóa [19, tr.891-894]
Trang 1712
Phan Ngọc trong bài viết Về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, đã so
sánh mối quan hệ văn học - văn hóa của một số nước trên thế giới và đưa ra ý kiến:
“là người Việt Nam trong đó văn hóa thể hiện trước hết ở văn học” [10, tr.12]
Đỗ Lai Thúy trong Từ cái nhìn văn hóa đã tiến một bước gần hơn với
thực tiễn nghiên cứu khi nhìn nhận, đánh giá một số tác phẩm văn học cũng như phong cách của một số nhà văn từ góc nhìn văn hóa [24]
Như vậy, ta có thể thấy: Văn hóa là cơ sở, nền tảng cho văn học ra đời và phát triển.Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hóa Thực tiễn cuộc sống và nền văn hóa dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn học nghệ thuật Hiện thực đời sống - nơi tiềm tàng những giá trị văn hóa vô cùng phong phú, luôn tác động tới nhận thức, tư tưởng nhà văn Nói cách khác, nhà văn kiếm tìm giá trị văn hóa từ hiện thực cuộc sống
để tái hiện, tái tạo trong tác phẩm văn chương theo phong cách riêng Như vậy, một tác phẩm văn học ra đời là kết quả của sự khúc xạ, chưng cất các giá trị văn hóa Khi nói tới văn hóa của một dân tộc, người ta không thể không nghĩ ngay đến nền văn học của dân tộc đó
Văn học phản ánh, lưu giữ và sáng tạo văn hóa Thực tế cho thấy, văn học của bất kì dân tộc nào cũng đều phản ánh và lưu giữ văn hóa dân tộc đó Văn học như là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Không chỉ phản ánh văn hóa, văn học còn là sự hội tụ kết tinh các nguồn văn hóa Văn học, thông qua bạn đọc góp phần cải tạo, thúc đẩy văn hóa phát triển Văn học còn có vai trò sáng tạo văn hóa, làm phong phú gấp bội những tinh hoa văn hóa vốn có Văn học nơi chứa đựng những tư tưởng văn hóa, những nhận thức thẩm mỹ về muôn mặt của đời sống con người của nhà văn Có thể nói, đằng sau những nhà
Trang 18Có thể nói, phương diện văn hoá trong văn học ngày càng được quan tâm bởi giữa văn hoá và văn học có mối liên hệ mật thiết Văn học phản ánh đời sống, thực chất cũng là một phán đoán về văn hoá Văn hoá là một phương diện bên trong quy định hành vi, suy nghĩ, cảm nhận của con người trong từng thời
kỳ Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào chúng ta đều tìm thấy những biểu hiện của văn hoá trong đó Văn hóa và văn học đều phản ánh đời sống con người nên mọi lĩnh vực Mọi lĩnh vực trong đời sống đều là đối tượng của văn hóa- văn học, trong đó con người là chủ thể
1.2 Nguyễn Duy và quá trình sáng tác
1.2.1 Giới thiệu về tác giả Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa ), tỉnh Thanh Hóa Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Đường 9- Khe Sanh, Đường 9- Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (
Trang 1914
năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là trưởng đại diện của tờ báo này tại phía Nam
Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần bao Văn nghệ với chùm
thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam trong tập Cát trắng Ngoài thơ
ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký Năm 1977 ông tuyên bố “gác bút” để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in lên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá thậm chí bao tải Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy dó Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó ( gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc ) khổ 81 cm x 111 có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông
Nguyễn Duy được giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
1.2.2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Duy
Trong những nhà thơ Việt Nam đương đại, có lẽ Nguyễn Duy là tên tuổi được nhiều người biết đến Sau nhiều tập thơ đơn lẻ, thơ Nguyễn Duy được tuyển chọn lại thành một cuốn hơn 400 trang, do NXB Hội Nhà Văn và công ty Nhã Nam ấn hành, giúp độc giả khái quát được ba yếu tố làm nên danh tiếng Nguyễn Duy: Thứ nhất, vần điệu nhịp nhàng, dễ đọc, dễ thuộc Thứ hai, tác giả
có khả năng trình diễn để tiếp cận công chúng Thứ ba, năng lực thẩm mĩ của người viết có nét tương đồng với không khí xã hội nên được hiệu ứng đám đông đẩy lên cao
Nguyễn Duy làm thơ từ khi còn học ở trường chuyên Lam Sơn, nhưng sau
cuộc thi thơ năm 1972 - 1973 do báo Văn Nghệ tổ chức công chúng mới thực sự
biết đến Nguyễn Duy Trong cuộc thi thơ Nguyễn Duy đạ giải nhất đồng hạng cùng Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm và Nguyễn Đức Mậu Bốn bài thơ
Trang 2015
của Nguyễn Duy là: Bầu trời vuông, Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước
mắt và nụ cười được xem như một phát hiện mới ạ ở giai đoạn cuối cuộc kháng
chiến chống Mỹ
Suốt 30 năm làm thơ, viết văn, thành quả của ông là gần hai mươi tập thơ,
ba tập bút kí và một tiểu thuyết Trong đó có thể kể đến những sáng tác tiêu biểu
như: Cát trắng, Đường xa, Quà tặng, Ánh trăng, Đò Lèn… (thơ); Nhìn ra bể
rộng trời cao (bút kí), Khoảng cách (tiểu thuyết)…
1.3 Khảo sát sáng tác của Nguyễn Duy trong chương trình Ngữ văn Trung học Cơ sở (THCS) và Trung học Phổ thông (PTTH)
Bảng 1 Những tác phẩm được giảng dạy trong chương trình THCS
9
Ghi chú tên văn bản, đoạn trích hoặc những trích dẫn Văn bản giảng
Trang 2116
Trong chương trình THCS chúng tôi nhận thấy thơ Nguyễn Duy đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường bao gồm văn bản giảng dạy chính và văn bản đọc thêm Ngoài ra cũng có trích dẫn thơ Nguyễn Duy trong dạy học Tiếng Việt và làm văn
Bảng 2 Những tác phẩm được giảng dạy trong chương trình THPT
Ghi chú tên văn bản, đoạn trích hoặc những
trích dẫn Văn bản giảng dạy
Trong chương trình THPT thơ Nguyễn Duy cũng đã được đưa vào giảng
dạy Đặc biệt trong chương trình THPT có bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy
được đưa vào chương trình học thêm Theo xu hướng hiện nay thì việc dạy văn hướng tới việc học sinh tự tìm hiểu, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên là rất quan trọng nên ngoài các văn bản học chính thì các đề thi còn hướng tới các văn bản đọc thêm Bởi lẽ đó các văn bản đọc thêm ngày càng được chú trọng giảng dạy trong nhà trường THPT và văn bản đọc thêm ngày
Trang 2217
càng có sự ảnh hưởng lớn tới khả năng lĩnh hội tri thức văn học của học sinh Vì
vậy, chúng tôi cũng xem Đò Lèn là đối tượng nghiên cứu của khóa luận
Qua kết quả khảo sát các sáng tác của Nguyễn Duy trong trường THCS và THPT, chúng tôi nhận thấy thơ Nguyễn Duy được đưa vào giảng dạy ở cả bậc THCS và THPT Ngoài một số văn bản được đưa vào giảng dạy chính thức thì thơ Nguyễn Duy cũng có một số bài được đưa vào phần đọc thêm và một số bài được sử dụng làm ngữ liệu để giảng dạy phần Tiếng Việt và làm văn trong nhà trường phổ thông
Từ thực tế trên có thể thấy việc học sinh tiếp nhận thơ Nguyễn Duy còn khá mới mẻ và gặp nhiều khó khăn chính vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài
nghiên cứu về Thơ Nguyễn Duy trong trườngs phổ thông từ góc nhìn văn
hóa nhằm giúp cho việc giảng dạy và tiếp nhận thơ Nguyễn Duy trong trường
phổ thông một cách dễ dàng hơn
Trang 2318
CHƯƠNG 2
DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG ÁNH TRĂNG CỦA NGUYỄN DUY
2.1 Văn hóa làng và sinh thái
2.1.1 Văn hóa làng
nghiệp Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương Tập tục làng, văn hóa và truyền thống làng là chất keo gắn kết con người với làng quê, bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước
Làng không chỉ là một sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhà nước
mà còn là sản phẩm văn hóa mang bản sắc Việt Nam Văn hóa làng được thể
hiện thông qua các biểu trưng văn hóa mang giá trị truyền thống như: đồng quê, bến nước, con đê, ánh trăng quê,… Đó còn là phong tục tập quán, tâm lí, cách ứng xử của con người Cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên đã tạo ra nét đặc trưng của văn hóa làng quê Văn hóa đã trở thành nguồn mạch ngầm không thể nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh chi phối tới đời sống mỗi con người Với đơn vị làng, văn hóa đã thể hiện như những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng Mỗi con người Việt Nam nếu may mắn được sinh ra và lớn lên ở làng thì dù đi đâu, về đâu, làm
gì thì khó có thể thoát khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị văn hóa làng, cái
đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân Đặc biệt trong tâm thức mỗi con người làng quê Việt Nam thì họ luôn gắn bó với thiên nhiên, cảnh vật thôn quê Đó cũng là sự gắn bó giữa con người và tự nhiên, sự gắn bó đó là một tất yếu của cuộc sống Không huyền bí cao xa, không bao la rộng lớn, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy là những gì gần gũi mộc mạc nhất Thiên nhiên ở đây rất bình dị nhưng lại
Trang 2419
chở cả hồn thiêng của dân tộc, cả một bề dày văn hóa của quê hương Nếu không phải là văn hóa nông nghiệp lúa nước, cội nguồn của nền văn hóa dân tộc thì làm sao có những hình ảnh rất quen thuộc ấy Nhà thơ đã hướng mỹ cảm vào văn hóa dân tộc, mà trong đó văn hóa làng là một thành tố Nguyễn Duy đã hướng ngòi bút vào những nét đặc sắc của văn hóa làng đặc biệt là hướng ngòi bút vào cách ứng xủa của con người với thiên nhiên, tâm lí của con người nơi làng quê Hình ảnh thiên nhiên làng quê với những đặc trưng rất riêng đã mang tính biểu tượng văn hóa độc đáo trong sáng tác Nguyễn Duy Trong sáng tác của mình, Nguyễn Duy không đơn thuần miêu tả vẻ đẹp bên ngoài của thiên nhiên Ông trải lòng mình với cảnh vật, soi chiếu thiên nhiên từ nhiều hoàn cảnh, nhiều chiều kích khác nhau, từ đó mang đến những ý nghĩa mới mẻ cho những hình ảnh vốn quen thuộc, mở ra cho người đọc những liên tưởng mới đầy thú vị Có thể nói, nền văn hóa Việt Nam với đặc trưng lớn nhất là văn hóa nông nghiệp đã được Nguyễn Duy phản ánh thông qua những bức tranh thiên nhiên bằng thơ Bởi vậy, tiếng thơ Nguyễn Duy đã đưa tâm hồn người đọc trở về với những giá trị văn hóa làng quê tỏa bóng hàng ngàn năm trong tâm hồn dân tộc Việt
Trong văn hóa làng cái tôi làng xã gắn với văn hóa nông nghiệp vẫn hằn trong tâm linh người Việt Nét đẹp văn hóa làng trong Ánh trăng của Nguyễn
Duy trước tiên đó là hình ảnh một làng quê đẹp, êm ả, thanh bình với không gian bao la rộng lớn, với cảnh vật thôn quê giản dị, mộc mạc, quen thuộc chứa đựng những giá trị văn hóa cổ truyền hàng ngàn năm của dân tộc Việt Đó là hình ảnh của cánh đồng trải rộng bao la gắn với kí ức của con người, là dòng sông của tuổi thơ, là ánh trăng theo suốt những bước chân trẻ thơ cho đến khi trưởng thành Hình ảnh làng quê yên bình, chất phác đó đã đi sâu vào tâm hồn nhà thơ
và mang lại cho nhà thơ những kỉ niệm ấu thơ đẹp, trong sáng, giản dị và rất đời
Trang 2520
thường: “Hồi nhỏ sống với đồng/ với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng /
vầng trăng thành tri kỉ” Cuộc sống nơi làng quê luôn chứa đựng những nét văn
hóa làng độc đáo, đó là lối sống hòa mình vào thiên nhiên cảnh vật, coi thiên nhiên nơi làng quê ấy như người bạn tâm giao song hành cùng những bước ngoặt lớn trong cuộc đời con người
Được nuôi dưỡng từ cái nôi văn hóa Bắc Bộ, Nguyễn Duy lớn lên trên mảnh đất với những cánh đồng lúa bạt ngàn thẳng cánh cò bay, những dòng sông chở nặng phù sa…Thế giới tự nhiên không biết tự bao giờ trở thành người
mẹ nuôi dưỡng, chở che, là người bạn thủy chung với con người Có lẽ điều đó
ăn sâu vào tâm thức nhà thơ như một lẽ tự nhiên, tự nhiên như hơi thở, khí trời
Vì thế, ta có thể nhận thấy nét đẹp văn hóa của làng quê luôn được nhà thơ gắn liền với những mảng màu thiên nhiên tại chính quê hương ông Không gian cứ
mở rộng ra và những kí ức đẹp cứ hiện về Kí ức trong tâm hồn nhà thơ, trong trái tim nhà thơ đều gắn với cảnh vật quê hương, làng quê Ánh trăng quê như một người bạn thân tình luôn bước theo mỗi bước chân, luôn lắng nghe, luôn sẻ chia với Nguyễn Duy Không chỉ là lối sống hòa mình vào thiên nhiên cảnh vật
mà nét đẹp trong văn hóa làng còn là lối sống luôn nhớ về cuội nguồn, luôn nhớ
về xóm làng nơi mình đã sinh ra và lớn lên Nguyễn Duy mang đậm hồn quê bởi cái tôi này luôn nhớ về làng quê Có thể nói, nỗi nhớ thương đau đáu nhất trong nhà thơ là nỗi nhớ quê hương làng xóm Trong tâm linh của người Việt Nam, quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là máu thịt của mỗi người Người dân đất Việt bao đời nay luôn sống với tâm thức “lá” cuối cùng rồi cũng “rụng về cội”,
“Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi” Trong cái thế giới tinh thần phong phú của những người nông dân thuần chất, ta tìm thấy được một tình cảm rất sâu lắng thiết tha dành cho ngôi làng thân yêu của họ Người nhà quê, với bản chất
Trang 2621
thật thà trong sáng thì cái thứ tình cảm ấy càng mãnh liệt và thiết tha hơn Khi ở giữa quê hương, ông trải lòng mình để tắm những dòng sữa ngọt ngào chảy giữa
đồng quê Khi xa quê nó trở thành nỗi nhớ da diết Nhớ về làng quê là nhớ về
những gì bình dị nhất, nhớ vầng trăng nơi gửi gắm bao kỉ niệm Vầng trăng (Ánh
trăng) của Nguyễn Duy là người bạn đường gắn bó với cuộc sống con người,
cùng sẻ chia những niềm vui lẫn nỗi buồn, cả hạnh phúc lẫn khổ đau Trăng gắn liền với kỉ niệm thời thơ ấu ở làng quê
Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hòa tình nghĩa Khi xa quê, đi vào cuộc chiến, nỗi nhớ thương chợt hiện về quay quắt tâm hồn, lúc này người và trăng lại càng gắn bó, ánh trăng là bạn tri kỉ chia sẻ mọi gian nan thiếu thốn, mọi buồn vui sướng khổ trong những năm tháng chiến tranh của tác giả Như vậy là tuổi thơ chớp mắt đã trôi qua, cái còn lại lúc này là vầng trăng thật đơn sơ, chung thuỷ, vầng trăng của những kí ức, những kỉ niệm
Trăng trong thơ Nguyễn Duy chính là hình ảnh thiên nhiên đẹp Thiên nhiên với tất cả những gì gần gũi, hồn nhiên, tươi mát Một thiên nhiên rộng lớn, khoáng đạt, chan hòa, mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên và con người cũng được mở ra Trong đó con người sống với thiên nhiên, sống giữa thiên nhiên và gắn bó máu thịt với thiên nhiên Trong không gian thân thương của làng quê, ta
Trang 2722
nhận ra niềm say mê, sảng khoái của con người được chan hoà, được sống trong cái mát lành của quê hương Con người được hưởng cái mát dịu ngọt ân tình của thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên qua ánh trăng dịu hiền nơi làng quê và trên dọc tuyến đường hành quân của một thời máu lửa Trong sự cộng sinh chan
hòa ấy, con người tự nhận xét mình “hồn nhiên như cây cỏ” giữa mẹ tự nhiên,
như là một bộ phận của Tự nhiên Đây chính nét đẹp nổi bật trong văn hóa làng quê của con người Việt Nam, đó là lối sống gần gũi với thiên nhiên, hòa mình với cảnh vật, coi cảnh vật như một người bạn ghi lại dấu ấn của tuổi thơ, lối sống nặng nghĩa tình với quê hương, cách ứng xử giữa con người và tự nhiên Lối sống đó đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người, tạo dựng nên những kỉ niệm đẹp, không thể nào quên, tạo nên nét đẹp trong văn hóa làng của dân tộc Việt
Sống trong cộng đồng làng, hòa tâm hồn vào với thiên nhiên, cảnh vật làng quê, coi làng quê là nơi khởi nguồn của sự sống, kết tinh của văn hóa con người, tạo nên những con người nghĩa tình Bởi vì lẽ đó nên những con người nơi làng quê đó họ cũng sẵn sàng trở thành một người lính để bảo vệ sự bình yên chốn quê hương Tâm lí làng khiến họ luôn gắn cuộc đời mình vào sự yên bình nơi làng quê đây là động lực để họ ra đi chiến đấu cho quê hương, đất nước, bảo
vệ những kí ức đẹp thời ấu thơ Biết bao người lính đã ra đi, đã hi sinh cho dáng
hình vẹn toàn của quê hương, đất nước Đó là những người lính trong Đồng Chí của Chính Hữu: “Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày
lên sỏi đá / Tôi với anh đôi người xa lạ / Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Họ xuất thân từ những vùng quê nghèo, ra đi vì muốn chiến đấu bảo vệ những vùng quê đó, bảo vệ nơi chôn rau cắt rốn, nơi tuổi thơ gắn bó, nơi nghĩa tình
nuôi dưỡng tâm hồn họ Hay “Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh
bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” Họ còn là những người lính có
Trang 2823
một thời gắn bó với quê hương, bản làng để rồi khi xa vẫn luôn vang vọng lời
nhắc nhở của nét đẹp văn hóa nơi chốn bản làng đó: “Người đi Châu Mộc chiều
sương ấy/ Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ/ Có thấy dáng người trên độc mộc / Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” ( Tây Tiến- Quang Dũng) Đó còn là những người
lính luôn gắn mình vào thiên nhiên làng bản, thiên nhiên với những gì đẹp nhất:
“Nhớ gì như nhớ người yêu / Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương Nhớ
từng bản khói cùng sương / Sớm hôm bếp lửa người thương đi về” (Việt Bắc -
Từ đây chúng ta có thể nhận ra và thấy rõ được sự gắn bó mật thiết, lối sống tình nghĩa, thủy chung giữa con người với tự nhiên, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước chính là một nét đẹp nổi bất trong văn hóa làng Nét đẹp văn hóa đó cần được lưu giữ , trân trọng bởi lẽ nó sẽ là nền tảng tạo nên những con người nghĩa tình, tạo nên nét đặc sắc cho văn hóa làng của dân tộc Việt
2.1.2 Văn hóa sinh thái tự nhiên
Sinh thái trong tiếng Hi Lạp là “oikos” có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi
sinh sống của mọi sinh vật, trong đó có con người
Văn hóa sinh thái có rất nhiều khái niệm khác nhau Có thể hiểu một cách
khái quát theo Đỗ Văn Hiểu: “ Văn hóa sinh thái là tất cả những giá trị vật chất
Trang 29người” Trước hết văn hóa sinh thái được hiểu là những sản phẩm vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tác động và cải biến tự nhiên Trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển của tự nhiên, con người cũng
giống như vô vàn các loài sinh vật khác trên Trái Đất muốn tồn tại và phát triển thì không thể không có mối liên hệ nào với tự nhiên Những nhu cầu cơ bản nhất của con người như ăn, uống cũng cần có sự tác động đến tự nhiên Cùng với
sự phát triển của con người, đã có giai đoạn con người quan niệm rằng mình là
bá chủ của muôn loài, là kẻ thống trị giới tự nhiên bằng những hành động, những tác động vào môi trường tự nhiên một cách thái quá, con người cho rằng
tự nhiên phải khuất phục trước trí tuệ con người Nhưng không đó là một quan niệm hết sức sai lầm của con người trong mối quan hệ tự nhiên
Tuy nhiên không phải mọi hoạt động, tác động của con người cải biến môi trường tự nhiên đều trở thành giá trị văn hóa sinh thái Những giá trị văn hóa sinh thái được hình thành và lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải tương đối ổn định, thể hiện
được bản sắc của dân tộc người thông qua cách ứng xử với môi trường tự nhiên
Trang 30Từ xưa mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là hòa đồng, là gần
gũi, thiên nhiên đi vào thơ ca như một điều tất yếu, một lẽ dĩ nhiên: “Mênh
mông biển lúa xanh rờn / Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau Một vùng phong cảnh trước sau / Bức tranh thiên cổ đượm màu giang san” ( ca dao) hay
trong thơ Hàn Mạc Tử cũng xuất hiện những hình ảnh thiên nhiên đẹp, gần gũi
với cuộc sống đời thường như: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan / Đôi mái nhà
tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lí- bóng xuân sang” (Mùa xuân chín) Ta có thể thấy chủ đề về thiên nhiên vẫn luôn xuất hiện
và có vị trí quan trọng trong văn chương Thiên nhiên như một khách thể thẩm
mĩ để các thi nhân soi ngắm và hưởng thụ, rất nhiều thi sĩ thể hiện sự tinh tế tuyệt bậc khi miêu tả thiên nhiên và qua đó thể hiện nét đẹp văn hóa sinh thái, gửi gắm những quan niệm về thiên nhiên, môi trường và con người
Nguyễn Duy cũng đã mượn những hình ảnh quen thuộc nơi chốn làng quê
đã từng gắn bó với tuổi thơ ấu của mình như: đồng, sông, bể, ánh trăng… trong
bài thơ Ánh trăng để trải những suy tư, gửi gắm những quan niệm sâu sắc về
nghĩa tình thủy chung giữa thiên nhiên với con người Đặc biệt những vần thơ
về đồng quê không chỉ thể hiện tình yêu mà Nguyễn Duy dành cho thiên nhiên
Trang 3126
với tư cách là những vẻ đẹp giản dị , thanh tân nhất mà xét trên phương diện nào
đó đây cũng chính là ý thức chống lại sự tàn phá môi trường của văn minh công nghiệp Người đọc dễ dàng cảm nhận được “khối sầu đô thị” xuyên suốt mạch thơ Nguyễn Duy đã cho ta thấy sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại , đối lập trong cách cư xử giữa vầng trăng trong quá khứ và vầng trăng trong hiện tại, giữa thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và môi trường nhân tạo nhỏ hẹp mà người lính đang sống
Mở đầu bài thơ Nguyễn Duy đã gợi nhắc tới một thứ thiên nhiên trong trẻo, vẻ đẹp thiên nhiên gắn liền với tuổi thơ, với cuộc đời lính của chính tác giả:
“Hồi nhỏ sống với đồng / Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng / Vầng
trăng thành tri kỉ” Đó là hình ảnh của những cánh đồng bao la, những con
sông quê, những bãi biển trải dài mênh mông nước Đó cũng chính là hình ảnh ánh trăng- người bạn tri kỉ của tuổi thơ, người bạn đường thủy chung của tác giả Ngay từ nhỏ Nguyễn Duy đã sống chan hòa với thiên nhiên, những kỉ niệm tuổi thơ của ông luôn gắn liền với cảnh vật nơi thôn quê Đặc biệt trăng đã trở thành người bạn không thể thiếu của nhà thơ Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng
cam cộng khổ trên mỗi bước hành quân: “Ngỡ không bao giờ quên / Cái vầng
trăng tình nghĩa” Có thể nói thiên nhiên chính là cuội nguồn, là cái nôi tạo nên
những giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc cho con người Thiên nhiên đã nuôi dưỡng tâm hồn con người, trở thành niềm thôi thúc của tác giả, gợi nhớ về cội nguồn và ý thức trước lẽ sống thuỷ chung
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp, ngay cả khi đô thị hóa đã bắt đầu được mở rộng vào nửa đầu thế kỉ XX thì văn hóa tiểu nông vẫn rất đậm nét Vì thế mà con người thường sống rất gần gũi, gắn bó với thiên nhiên Thiên nhiên là cuội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước Bởi thế
Trang 3227
thiên nhiên là nơi có khả năng chữa lành mọi vết thương tinh thần của những kẻ
xa quê Cảm thức về thiên nhiên làng quê có khả năng làm vợi bớt sự chơ vơ trong những tháng ngày sống xa quê Văn hóa sinh thái trở thành mối gắn kết giữa lịch sử của mỗi cá nhân với nơi sinh thành nuôi dưỡng mình Thế nhưng người lính năm nào giờ đã bị cuộc sống xô bồ, chớp nhoáng nơi phố xá làm quên đi quá khứ vẹn tình bên thiên nhiên làng quê
Về thành phố sống quen với ánh điện cửa gương, quen với sự nhộn nhịp,
tấp nập nơi thị thành mà quên đi ánh trăng tình nghĩa, con người trở nên xa cách
và dường như lãng quên thiên nhiên Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh
vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua
đường" trong hiện tại Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của
con người Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian
lao "ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần
gũi, hoà hợp Bây giờ, thói quen cuộc sống với phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa Nhà thơ nói về trăng với sự lãng quên của người lính cũng chính để thể hiện cái không gian tù túng, cái môi trường sinh thái nơi đô thị bị bó hẹp và bị con người lãng quên Văn hóa sinh thái đang bị những con người nghĩa tình trước kia quay lưng lại trong cuộc sống hiện đại
Chúng ta có thể thấy cánh đồng, dòng sông, biển cả, hay ánh trăng quê đều là những không gian sinh thái đã đi vào thơ Không gian sinh thái này được tác giả thấu hiểu và biểu đạt tinh tế nhờ tình yêu thiên nhiên Tuy nhiên biểu tượng tập trung nhất mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên là hình ảnh ánh trăng Nguyễn Duy đã nói tới ánh trăng như nói về một người bạn tri âm, tri kỉ Ánh trăng ấy soi tỏ cho tác giả nhận thức ra được giá trị thực sự của cuộc sống,