Lịch sử vấn đề nghiên cứu Từ trước đến nay, chưa có một tác giả nào nghiên cứu toàn diện về đề tài này.Tuy nhiên, có một số tác giả và một số tài liệu đã đề cập tới những nội dung liên q
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Huế, Khóa học 2012-2016
Trang 2Lời Cảm Ơn
Để có thể hoàn thành đề tài khóa luận tốtnghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành vàsâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thoa -người đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốtnhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơncác quý thầy cô trong khoa GDTH - ĐHSP Huế
đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy
cô giáo và học sinh trường Tiểu học Hương Long
và trường Tiểu học Số 1 Quảng Lợi đã tạo điềukiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.Cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, ủng hộtôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Do vốnkiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu cóhạn nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót.Kính mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ýkiến của quý thầy cô và các bạn để khóa luậnđược hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2016Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thuyết khoa học 6
8 Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN 7
1.1.1 Giới thiệu mô hình VNEN 7
1.1.2 Đặc điểm của mô hình VNEN 8
1.1.2.1 Hoạt động giáo dục 8
1.1.2.2 Hoạt động dạy học 9
1.1.3 Nội dung dạy học theo mô hình VNEN 10
1.1.4 Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN 10
1.1.4.1 Tài liệu hướng dẫn học tập 10
1.1.4.2 Tiến trình học tập của học sinh 12
1.1.4.3 Tiến trình tổ chức dạy học 13
1.2 Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh lớp 5 16
1.3 Đặc điểm cấu trúc chương trình môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN 18
1.3.1 Toán 5 là môn học thống nhất không phân môn 19
1.3.2 Cấu trúc, nội dung môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN quán triệt tư tưởng của Toán học hiện đại nhưng coi trọng tính vừa sức, phù hợp với sự phát triển tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học 21
1.3.3 Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN được hình thành chủ yếu bằng con đường thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống 24
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TOÁN 5 26
2.1 Khảo sát tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (VNEN) 26
2.2.1 Mục tiêu 26
2.2.2 Nội dung 28
2.2.2.1 Khảo sát những nội dung dạy học trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 28
2.2.2.2 Một số điều chỉnh trong nội dung và phương pháp dạy học Toán 5 VNEN so với Toán 5 hiện hành 33
2.2.3 Phương pháp hướng dẫn học 35
2.2.4 Hình thức trình bày 56
2.2.4.1 Hệ thống kênh hình 56
2.2.4.2 Hệ thống kênh chữ: 61
2.2.4.3 Các kí hiệu cho các hoạt động 64
2.2.4.4 Cách trình bày từng bài học 65
2.2 Thực trạng sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (VNEN) 69
2.2.1 Nhận định của Lãnh đạo trường tiểu học về tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 69
2.2.2 Nhận định của giáo viên tiểu học về tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 71
2.2.3 Nhận định của học sinh về tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 76
2.3 Đánh giá chung về tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 84
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TOÁN 5 89
3.1 Nguyên tắc đề xuất 89
3.1.1 Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục của môn học 89
3.1.2 Đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả 89
3.1.3 Đảm bảo tính kế hoạch 90
3.1.4 Đảm bảo sự phát triển và tính đồng bộ 91
3.2 Đề xuất ý kiến việc sử dụng Tài liệu hướng dẫn học Toán 5 91
3.2.1 Về tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 91
3.2.1.1 Mục tiêu điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 91
3.2.1.2 Một số ý kiến đề xuất về việc điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 92
3.2.2 Về việc sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 trong thực tiễn 103
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
SGK : Sách giáo khoaHĐTQ : Hội đồng tự quản
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang không ngừng đầu tư,đổi mới và chú trọng vào phát triển giáo dục Xã hội ngày càng văn minh và hiện đạithì yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng cao, điều này, đòi hỏi ngành Giáo dục phảicung cấp một nguồn nhân lực dồi dào, có đầy đủ phẩm chất và năng lực trí tuệ để đưađất nước đi lên Trước những thách thức này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiềuchính sách và chiến lược đổi mới cho ngành giáo dục Việc đổi mới được thực hiệntrên nhiều phương diện, nhưng chủ yếu là thay đổi nội dung chương trình sách giáokhoa (SGK); đặc biệt là việc đổi mới và áp dụng tài liệu Hướng dẫn học cho học sinh.Trong các cấp học thì Tiểu học là bậc học nền tảng, đóng vai trò quyết định trongtoàn bộ nền giáo dục Các môn học ở tiểu học trang bị cho học sinh một lượng kiếnthức cơ bản Trong hệ thống các môn học tại nhà trường Tiểu học, Toán học là mônhọc đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà trường.Môn Toán giúp các em hình thành và phát triển tư duy, hệ thống hóa vấn đề một cáchkhách quan và chính xác hơn; giúp học sinh có sự nhận thức về thế giới xung quanh,biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống Từ đó, góp phần vào việc hình thànhcác phẩm chất và đức tính cần thiết của người lao động mới như tính cẩn thận, chínhxác, kỉ luật, phê phán và sáng tạo Dạy và học môn Toán có hiệu quả hay không, phầnlớn dựa vào việc áp dụng tài liệu Hướng dẫn cho học sinh học Toán và cách học sinhtiếp cận như thế nào cho có hiệu quả
Hiện nay, tại một số trường Tiểu học đang dạy học thí điểm mô hình trường họcmới (VNEN) và việc áp dụng những tài liệu mới để dạy và học môn Toán vẫn đangtiến hành Mô hình VNEN vẫn thực hiện theo chương trình tiểu học chung của cảnước Học sinh có tài liệu Hướng dẫn học thay cho SGK Tài liệu Hướng dẫn họcđược xây dựng trên cơ sở SGK, vở bài tập và sách hướng dẫn giáo viên Tài liệu đượcviết dưới dạng các hoạt động học tập: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạtđộng ứng dụng Tài liệu được dùng chung cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh (3trong 1) Tài liệu Hướng dẫn dạy học chính là chìa khóa của việc tự học; học sinh cótinh thần tự học hay không phần lớn cũng dựa vào những tài liệu này Việc áp dụngcác tài liệu này bên cạnh đem lại những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại không ít hạnchế Với tính “mở” của tài liệu Hướng dẫn học, Bộ GD&ĐT đã cho phép giáo viênđược điều chỉnh tài liệu trong quá trình dạy học cho phù hợp thực tiễn địa phương,
1
Trang 7nhưng trên thực tế, có rất ít giáo viên thực hiện được điều này, thậm chí nếu có pháthiện ra những điểm chưa phù hợp của tài liệu, thì cũng không biết phải điều chỉnh, bổsung như thế nào Cũng do việc nghiên cứu và xử lí tài liệu Hướng dẫn học chưa tốt,nên việc thực hiện mô hình VNEN còn mang nặng tính hình thức, tình trạng giáo viênham giảng giải nhiều vẫn khá phổ biến, còn việc tự học của học sinh, nhất là việc học
cá nhân rất mờ nhạt
Cách nhìn từ thực tiễn, việc áp dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 sẽ giúp
chúng ta thấy rõ hơn về điều này Từ đó, có thể đưa ra được cách nhìn; những đónggóp, những ý kiến đề xuất về việc sử dụng các tài liệu này sao cho có hiệu quả, gópphần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5 tại nhà trường Tiểu học
Chính vì những lí do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Tài liệu
Hướng dẫn học Toán 5 từ góc nhìn thực tiễn”.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay, chưa có một tác giả nào nghiên cứu toàn diện về đề tài này.Tuy nhiên, có một số tác giả và một số tài liệu đã đề cập tới những nội dung liên quanđến đề tài như sau:
Theo mô hình VNEN, sách của học sinh là các tài liệu Hướng dẫn học, được viếtdưới dạng các hoạt động của học sinh (một mình, cặp đôi, làm việc nhóm, ) và theocác mô-đun/bài/vấn đề/nội dung/kiến thức Theo mô hình truyền thống, học sinh cóSGK riêng; giáo viên có sách giáo viên riêng; giáo viên giảng giải theo sách Còn theo
mô hình VNEN, tài liệu học tập được dùng chung cho học sinh, giáo viên và phụhuynh ("3 trong 1") Khi sử dụng tài liệu, giáo viên gợi mở, hỗ trợ học sinh tìm ra kiếnthức Theo mô hình truyền thống, học sinh chủ yếu ghi nhớ, luyện tập theo mẫu Còn ở
mô hình mới, học sinh học qua trải nghiệm, giao tiếp và phản hồi” Với cách tiếp cậnnày, kiến thức cuối cùng của học sinh thu nhận được sẽ thông qua thảo luận nhóm vớibạn, cùng sự hướng dẫn của giáo viên và tài liệu học tập (2015, [8], tr 182)
Tại lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ giáo viên cốt cán dạy học
mô hình VNEN cấp Trung Ương hè 2015, Vụ trưởng Giáo dục Tiểu học PhạmNgọc Định - Giám đốc Ban điều hành dự án VNEN, đặc biệt lưu ý các học viên về tầmquan trọng của tài liệu, theo ông tài liệu Hướng dẫn học chính là “chìa khóa” của tựhọc Học sinh có tự học được hay không, phụ thuộc rất nhiều vào tài liệu này Cũng ởlớp tập huấn này, kinh nghiệm từ các chuyên gia và một số giáo viên của tỉnh Lào Cai
đi tiên phong thực hiện việc điều chỉnh nội dung hướng dẫn học cho hay: “để giúp học
Trang 8sinh chủ động và biết cách tự học (học cá nhân, cặp đôi, nhóm, lớp) thì tài liệu Hướngdẫn học phải rất tường minh, hệ thống các chỉ dẫn, các hoạt động (việc làm) phải rõràng, bám sát mục tiêu bài học Để thiết kế được các hoạt động học cho học sinh mộtcách hợp lí, trước hết, giáo viên phải nghiên cứu thấu đáo mục tiêu, hiểu sâu sắc nộidung bài học Bước tiếp theo là chia mục tiêu lớn thành các mục tiêu nhỏ và tương ứng
vớ từng mục tiêu này, học sinh phải làm gì và làm như thế nào để đạt mục tiêu của bàihọc?” (2015, [20], tr 1)
Về việc tổ chức dạy và học theo mô hình VNEN: Ở các lớp học VNEN, học sinhthường ngồi học theo nhóm Tuy nhiên, không phải lúc nào học sinh cũng hoạt độngtheo nhóm Học sinh vẫn làm việc cá nhân, theo cặp trong nhóm Các hình thức làmviệc trong nhóm được thay đổi thường xuyên căn cứ vào yêu cầu của tài liệu Hướngdẫn học và của thiết kế hoạt động của giáo viên… Làm việc theo nhóm (từ 4 đến 6 họcsinh): trong các giờ học của VNEN luôn có hoạt động các nhóm cùng hợp tác Ví dụ:sau khi học sinh tự đọc cá nhân một câu chuyện, trưởng nhóm sẽ dẫn dắt các bạn traođổi về một số vấn đề của câu chuyện đó; hoặc sau khi các cá nhân trong nhóm đã đưa
ra kết quả của một bài toán, nhóm sẽ cùng trao đổi về cách giải của bài toán đó; hoặccác học sinh trong nhóm cùng thực hiện một dự án nhỏ với sự chuẩn bị và phân chiacông việc rõ ràng…Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nênhình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sự sángtạo Điều quan trọng là học sinh cần biết mình phải làm gì và làm như thế nào khitham gia làm việc nhóm (2014, [6], tr 56 – 57)
Hay về một số đặc điểm của việc dạy học môn Toán theo mô hình VNEN: Môhình VNEN là một mô hình nhà trường hướng tới việc tạo điều kiện giúp người họcphát huy tính tích cực, độc lập, phát triển năng lực tự học, năng lực tìm tòi, phát hiện,giải quyết vấn đề Trong đó nhấn mạnh các các yếu tố: Học sinh được học theo tốc độphù hợp với trình độ nhận thức; nội dung học thiết thực, gắn kết với đời sống thực tiễn
của học sinh; … ; tài liệu Hướng dẫn học có tính tương tác cao và là tài liệu hướng
dẫn học sinh tự học cũng như học theo nhóm (2014, [4], tr 8-9)
Các tác giả Võ Đại Mậu, Công Huyền Tôn Nữ Thúy Hồng, trong quyển Toán
nâng cao và phát triển lớp 4, 5 đã chỉ ra rằng: Quá trình dạy học toán phải góp phần
thiết thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việctích cực, chủ động, khoa học, sáng tạo cho học sinh Để làm được như vậy, SGK vàcác tài liệu hướng dẫn giảng dạy nên giúp giáo viên thường xuyên tạo ra các tình
3
Trang 9huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đềbằng cách hướng dẫn và tổ chức cho học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề đó, huy động cáccông cụ đã có và tìm con đường hợp lí nhất để giải đáp vấn đề đặt ra trong quá trìnhgiải quyết vấn đề, diễn đạt (nói, viết) các bước đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lạicác kết quả đã đạt được, cùng các bạn rút kinh nghiệm và phương pháp giải…
Hai tác giả này cho rằng: xây dựng trình độ chuẩn của chương trình và coi đó là
cơ sở quan trọng để biên soạn SGK áp dụng thống nhất trong cả nước, biên soạn cáctài liệu hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên phù hợp với đặc điểm và điều kiện của từngvùng, từng đối tượng học sinh, góp phần thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học có chấtlượng và tạo điều kiện để mọi trẻ em phát triển bình thường đều có thể thành côngtrong học tập toán… Biên soạn các tài liệu phục vụ việc phát hiện và bồi dưỡng họcsinh có năng lực đặc biệt trong học tập toán, đáp ứng sự phát triển ở các trình độ khácnhau của các cá nhân và của từng trường, từng vùng…
Trên tạp chí của Trung ương hội khuyến học Việt Nam “Dạy và học ngày nay”
(5 - 2015), tác giả Nguyễn Minh Quân - Trường Đại học Tiền Giang với bài viết:
“Đào tạo giáo viên Tiểu học theo định hướng năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục Việt Nam sau năm 2015”, có viết: Các năng lực sư phạm cơ bản của giáo viên bao
gồm:
- Năng lực thiết lập kế hoạch dạy học và giáo dục: Các hoạt động trong lớp đềuđược tiến hành có mục đích, có kế hoạch dưới sự điều khiển của người giáo viên.Năng lực này thể hiện ở việc người giáo viên biết xây dựng kế hoạch dạy học, biếtthiết kế các hoạt động dạy học phù hợp với nội dung bài học, trình độ của học sinh vàđiều kiện dạy học thực tế của lớp học
- Năng lực triển khai kế hoạch giáo dục và dạy học: Năng lực này thể hiện ở việcgiáo viên biết cách biến những mục tiêu, những kế hoạch, những dự kiến thành hoạtđộng cụ thể, thích hợp, đảm bảo chất lượng và hiệu quả…
- Năng lực tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ: Năng lựcnày thể hiện ở việc giáo viên tự cập nhật những tri thức khoa học mới, tự lĩnh hội cácphương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học mới và rèn luyện các kĩ năng sư phạmmới Năng lực này còn thể hiện ở việc giáo viên có ý thức tự nâng cao trình độ cho bản thân bằng việc tham gia học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Ngoài các năng lực cơ bản nêu trên, trong xã hội hiện đại ngày nay người giáoviên cần bổ sung những năng lực mới như: năng lực chẩn đoán, năng lực sáng tạo,
Trang 10năng lực quan hệ cộng đồng, năng lực quản lí, năng lực hoạt động với tư cách là mộtchuyên gia giáo dục, năng lực phát triển môi trường xung quanh…
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn việc áp dụng tài liệu Hướng dẫn học
Toán 5, từ đó phân tích những ưu điểm và hạn chế để đưa ra các ý kiến đề xuất nhằm
giúp cho giáo viên Tiểu học có thể áp dụng những tài liệu này hiệu quả hơn, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5 tại trường tiểu học và thực hiện thànhcông chương trình đổi mới giáo dục
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về việc tổ chức dạy học theo mô hình VNEN, đặc điểm phát triểnnhận thức của học sinh lớp 5 và đặc điểm cấu trúc chương trình môn Toán lớp 5
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 Nêu ra được những ưu điểm, hạn chế của việc sử dụng tài liệu này trong thực tiễn.
- Khảo sát tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 Đưa ra những ý kiến đề xuất về việc
sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
- Lấy ý kiến chuyên gia về các đề xuất qua quá trình khảo sát tài liệu Hướng dẫn
học Toán 5 và thực trạng sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực tiễn sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung tài liệu Hướng dẫn học Toán 5; địa bàn thực
hiện khảo sát thực tiễn: một số trường tiểu học ở thành phố Huế và huyện Quảng Điền
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phân tích, tổng hợp lí thuyết
- Sưu tầm, phân loại và hệ thống hóa tài liệu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Khảo sát mục tiêu, nội dung, phương pháp hướng dẫn
học và hình thức trình bày của tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tính khoa học, tính phù
hợp, tính thực tiễn và tính thẩm mĩ,…)
- Phương pháp quan sát: được thực hiện bằng hai cách:
+ Dự giờ tiết học Toán theo mô hình VNEN
+ Quan sát, ghi chép những vấn đề xảy ra trong toàn tiết học, ưu điểm và hạn chế
của việc áp dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
5
Trang 11- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn một số giáo viên dạy ở trường Tiểu học
+ Phỏng vấn học sinh lớp 5 về tài liệu Hướng dẫn học Toán theo chương trình
mới (nội dung, hình thức,…)
7 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu thành công việc sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 thì sẽ
thấy được những ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng tài liệu này trong thực tiễn Từ
đó, đưa ra được những ý kiến đề xuất góp phần nâng cao chất lượng dạy học mônToán lớp 5 nói riêng và ở các lớp khác nói chung mà cụ thể là giáo viên sẽ thấy đượccách sử dụng những tài liệu này sao cho phù hợp
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương cụthể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
Chương 3: Đề xuất ý kiến về việc sử dụng tài liệu Hướng dẫn học Toán 5.
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN
1.1.1 Giới thiệu mô hình VNEN
Mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN: Viet Nam Escuela Nueva) cónguồn gốc từ “Mô hình trường học kiểu mới” của Colombia do nhà giáo VickyColbert sinh ra tại Mĩ nhưng lớn lên tại Colombia và các đồng nghiệp của bà triển khaivào cuối những năm 1970, để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khókhăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm
Mô hình VNEN được thí điểm tại Việt Nam vào năm học 2011 - 2012 tại 24trường thuộc 12 huyện của 6 tỉnh, năm 2012 - 2013 thí điểm tại 1.447 trường của 63tỉnh thành trên cả nước, đến năm học 2013 - 2014 có trên 1.650 trường học tham giadạy học theo mô hình VNEN Năm học 2014 - 2015: cả nước có 1.039 trường (ở 31tỉnh, thành phố) tự nguyện áp dụng mô hình VNEN với số lượng học sinh tăng thêm133.562 em, nâng tổng số trường tham gia mô hình VNEN là 2.508 trường Từ nămhọc 2015 - 2016, mô hình VNEN không chỉ được áp dụng với gần 4.000 trường tiểuhọc mà còn được nhân rộng ra 1.600 trường THCS trên cả nước Trong số các trườngnằm trong dự án triển khai của Bộ GD&ĐT, có hàng nghìn trường tiểu học, THCS tựnguyện nhân rộng toàn phần hoặc từng phần của mô hình bằng nguồn lực xã hội hóa
Đó là minh chứng cho thấy mô hình VNEN đã thực sự lôi cuốn, trở thành nhu cầu củacác nhà trường với chung một mong muốn là nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đểđáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới Đây là mô hình được thực hiện bằng nguồn kinhphí viện trợ không hoàn lại của quỹ giáo dục toàn cầu (GPE) từ tháng 6 năm 2012 đếntháng 6 năm 2015 Mô hình này đã được UNICEF, UNESCO, ngân hàng thế giới(WB) ủng hộ và đánh giá cao
Điểm nổi bật của mô hình VNEN là tổ chức lớp học, học sinh sẽ được học theonhóm Lớp học theo mô hình VNEN là nơi học sinh cùng nhau làm việc để học nhữngđiều liên quan mật thiết đến cuộc sống, là nơi giáo viên hướng dẫn và cổ vũ các emtrong việc lĩnh hội nhận thức cũng như trong cách ứng xử dân chủ; nơi cha mẹ và cộngđồng tham gia tích cực trong việc giáo dục con em mình Học sinh học trong môitrường VNEN có khả năng làm việc nhóm tốt, có tư duy phê phán, có tinh thần hợptác, có lòng tự tôn, thái độ bình đẳng và dân chủ, có kỉ luật, có kĩ năng sống tốt hơn
7
Trang 13Lớp học VNEN có Hội đồng tự quản (HĐTQ) do chính các em bầu ra; có góc học tập,nơi cung cấp một số tài liệu đồ dùng cho các em; có thư viện góc lớp; có sơ đồ cộngđồng nơi các em đều biết được nhà và đường đi đến lớp của từng bạn học sinh; có hộpthư vui, hộp thư điều em muốn nói… tạo điều kiện tối đa cho học tập tại lớp và họcsinh cùng động viên, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau; lớp học thân thiện trong môi trườnggiúp đỡ và đánh giá lẫn nhau cũng như việc tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh vàcộng đồng Lớp học VNEN có 10 bước học tập và 5 bước trong dạy học theo một quytrình chặt chẽ SGK được thiết kế “3 trong 1” sách để cho học sinh tự học - tài liệu chogiáo viên hướng dẫn học sinh học - tài liệu cho cha mẹ hướng dẫn, giúp đỡ học sinhhọc tập và cơ sở để đánh giá con em mình
Mô hình VNEN là mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu củađổi mới phương pháp dạy học, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: Học sinh đượchọc theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cá nhân Nội dung học thiết thực,gắn kết với đời sống thực tiễn hàng ngày của học sinh Kế hoạch dạy học được bố trílinh hoạt Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể.Tài liệu có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn học sinh tự học Chú trọng kĩnăng làm việc theo nhóm hợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng vànhà trường Tăng quyền chủ động cho giáo viên và nhà trường, phát huy vai trò tíchcực, sáng tạo của các cấp quản lí giáo dục địa phương [10, tr 4]
1.1.2 Đặc điểm của mô hình VNEN
1.1.2.1 Hoạt động giáo dục
- Mục tiêu tổng thể của mô hình VNEN là phát triển con người: dạy chữ - dạy người
- Mô hình VNEN hướng tới chuyển các hoạt động giáo dục trong nhà trườngthành các hoạt động tự giáo dục cho học sinh
- Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều vì lợi ích của học sinh và do học
sinh thực hiện Đặc trưng của mô hình trường học mới là “TỰ”:
+ Học sinh: Tự giác, tự quản
Tự học, tự đánh giá
Tự tin, tự trọng+ Giáo viên: Tự chủ
Tự bồi dưỡng+ Nhà trường: Tự nguyện
- Mô hình VNEN có các tài liệu hướng dẫn các hoạt động giáo dục, tổ chức dạy học
Trang 14- Tổ chức các hoạt động giáo dục lối sống, thể chất, nghệ thuật và kĩ năng sốngcho học sinh.
1.1.2.2 Hoạt động dạy học
Đổi mới căn bản của mô hình VNEN là chuyển từ:
- Hoạt động dạy của giáo viên thành hoạt động học của học sinh
- Hoạt động quy mô lớp thành hoạt động của quy mô nhóm
- Học sinh tự làm việc với giáo viên thành làm việc với sách, có sự tương tác với bạn
Vai trò của giáo viên:
Từ đặc thù nêu trên, hoạt động của giáo viên đã thay đổi căn bản Việc chính củagiáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và theo dõi, hướng dẫn hoạt động của mỗihọc sinh ở nhóm học tập, hỗ trợ học sinh thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết; đánh giátiến độ học tập của học sinh qua từng tiết học
Trong mô hình VNEN, nhóm là đơn vị học tập cơ bản
Nhóm trưởng là người thay mặt giáo viên điều hành các thành viên trong nhóm:
tự giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thứctheo hướng dẫn của sách Mọi thành viên trong nhóm phải tự nghiên cứu tài liệu, tự học,chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập Các thành viên trong nhóm traođổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với giáo viên
Tuy giáo viên không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quátrình hình thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnhnội dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khókhăn mà học sinh dễ mắc phải trong quá trình hình thành kiến thức để có những giảipháp hợp lí, kịp thời
Hoạt động của giáo viên:
Giáo viên chọn vị trí thích hợp để quan sát được hoạt động của tất cả các nhóm,các học sinh trong lớp Ở vị trí đó, giáo viên có thể bao quát được tất cả các hoạt độngcủa học sinh trong nhóm, kịp thời giúp đỡ khi học sinh gặp khó khăn
Giáo viên chỉ đến hỗ trợ học sinh khi học sinh gặp khó khăn, vướng mắc, có nhucầu cần giúp đỡ hoặc giáo viên cần kiểm tra việc học của một học sinh, hoặc một nhóm.Thông qua quan sát, kiểm tra, giáo viên đánh giá sự chuyên cần, tích cực của mỗihọc sinh, đánh giá hoạt động của từng nhóm và vai trò điều hành của mỗi nhóm trưởng.Phát hiện những học sinh chưa tích cực, gặp khó khăn trong quá trình học; kiểmtra, hỗ trợ kịp thời những học sinh yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ học tập
9
Trang 15Chốt lại những vấn đề, kiến thức cơ bản của bài học.
Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp Tạo cơ hội để mỗihọc sinh, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình [10, tr 6]
1.1.3 Nội dung dạy học theo mô hình VNEN
Theo quan điểm mô hình VNEN thì hệ thống kiến thức lí thuyết chưa đủ để đápứng những đòi hỏi của xã hội mà cần chú trọng kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức
lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính thực tiễn
Dạy học không chỉ là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động Khảnăng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải đối với từng cá nhân mà cả ởcấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội
Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động vàtích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng, “từ học làm đến biếtlàm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người laođộng tự chủ, năng động và sáng tạo” ([10]; tr 7)
1.1.4 Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN
1.1.4.1 Tài liệu hướng dẫn học tập
Theo Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam lớp 2, 3, 4, 5:
Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy họctheo chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo Như vậy, nội dung, yêu cầu và thờilượng dạy học các môn không thay đổi, chỉ có những điều chỉnh theo hướng cơ bản,tinh giản, thiết thực
Thực hiện với những trường/lớp dạy học 2 buổi/ngày
Tạo điều kiện đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học và các hình thức dạy họctrên cơ sở tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực, chủ động, khả năng tự học củahọc sinh
Đổi mới phong cách học tập của học sinh, phong cách giảng dạy của giáo viên.Thể hiện quan điểm tích hợp nội dung giáo dục, trong đó môn Toán hỗ trợ, gắn
bó với việc dạy học các môn học khác Hạn chế những trùng lặp không cần thiết, giảmmức độ khó của các kiến thức lí thuyết, tăng khả năng thực hành, vận dụng, chú ý tíchhợp với hoạt động phát triển ngôn ngữ của học sinh
Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của học sinh trong đời sốnghằng ngày Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của học sinh, củacộng đồng
Trang 16Quá trình nghiên cứu thử nghiệm là quá trình vận dụng linh hoạt và có tính
“mở”, vì vậy có thể tiến hành những điều chỉnh cụ thể ngay trong quá trình dạy họcthử nghiệm
Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh,nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, củng cố, vận dụng, ứngdụng kiến thức vào thực tế
Mô hình VNEN chủ trương biên soạn SGK (Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã
hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) thành tài liệu Hướng dẫn học (Toán, Tiếng Việt, Tự
nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) cho học sinh
Như vậy, Hướng dẫn học môn Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội, Khoa học,
Lịch sử và Địa lí là tài liệu học của học sinh và tài liệu dạy của giáo viên.
Thông thường, một bài học môn Toán, Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử vàĐịa lí học trong hai tiết, bài học môn Tiếng Việt học trong ba tiết, các bài kiểm tra bốtrí một tiết; với bài học bố trí hai tiết, hết tiết một là hết Hoạt động cơ bản và đã đápứng cơ bản mục tiêu của bài học Tuy nhiên, không bắt buộc mọi tiết học, mọi giáoviên phải thực hiện máy móc điều này Giáo viên có toàn bộ quyền bố trí thời gian đểhọc sinh đạt được mục tiêu bài học, nắm được bài
Mỗi bài học được thiết kế với các nội dung chính sau:
- Mục tiêu bài học
- Hoạt động cơ bản
- Hoạt động thực hành
- Hoạt động ứng dụng
Phần Hoạt động cơ bản giúp học sinh học qua trải nghiệm, học qua việc làm thực
tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp với giáo viên.Phần Hoạt động thực hành thể hiện các hoạt động thực hành của học sinh nhằmcủng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học
Phần Hoạt động ứng dụng khuyến khích học sinh bước đầu biết vận dụng kiếnthức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ học sinh học tập từ phíagia đình và cộng đồng Khuyến khích học sinh mở rộng vốn kiến thức qua các nguồnthông tin khác nhau (từ gia đình, cộng đồng thôn xóm, làng bản,…)
Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (lô gô) cùng với những “Lệnh”thực hiện để học sinh dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạtđộng học tập (học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp)
11
Trang 17Giáo viên nên hiểu lôgô hướng dẫn chỉ có tác dụng định hướng cho các nhómhọc sinh hoạt động, không máy móc mà có thể điều chỉnh để hoạt động học của họcsinh đạt hiệu quả.
Các hình thức hoạt động của học sinh được thực hiện bằng các lôgô hướng dẫn họctập ở các bài học như sau:
1.1.4.2 Tiến trình học tập của học sinh
Mỗi học sinh thực hiện mô hình VNEN khi đến trường luôn ý thức được mìnhphải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào, không cần chờ đến sự nhắcnhở của giáo viên; bởi, trong mỗi phòng học của lớp học được giảng dạy theo mô hìnhVNEN đều treo một tấm bìa khổ lớn, học sinh ngồi trong lớp đều có thể nhìn thấy rõ,trên đó nêu lên 10 bước học tập (cùng với những lưu ý)
Tiến trình học của học sinh được thực hiện theo 10 bước cụ thể như sau ([1], tr 32):
Hoạt động cá nhânHoạt động cặp đôiHoạt động nhómHoạt động chung cả lớp (có hướng dẫn của giáo viên)Hoạt động với cộng đồng (có hướng dẫn của người lớn)
Trang 18Bước 6: Học sinh thực hiện hoạt động thực hành:
- Đầu tiên học sinh làm việc cá nhân
- Học sinh chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bài làm còn sai sót)
- Học sinh trao đổi với cả nhóm, sửa cho nhau, luân phiên nhau đọc… (lưu ýkhông làm ảnh hưởng đến nhóm khác)
Bước 7: Hoạt động ứng dụng (gắn liền với gia đình và địa phương).
Bước 8: Học sinh đánh giá cùng thầy, cô giáo.
Bước 9: Kết thúc bài, học sinh viết vào bảng đánh giá (nhớ suy nghĩ kĩ trước khi
viết và lưu ý về đánh giá của thầy, cô giáo)
Bước 10: Học sinh đã học xong bài mới hoặc em phải ôn lại phần nào.
13
Bước 1: Học sinh làm việc nhóm.
Nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng họctập cho cả nhóm
Bước 2: Học sinh đọc tên bài học rồi
viết tên bài học vào vở ô li (lưu ý khôngđược viết vào sách)
Bước 3: Học sinh đọc mục tiêu của bài học Bước 4: Học sinh bắt đầu hoạt động cơ bản
(nhớ xem phải làm việc cá nhân hay theo nhóm)
Bước 5: Kết thúc hoạt động cơ bản, học
sinh gọi thầy, cô giáo để báo cáo những gì đã làmđược để thầy, cô ghi vào bảng đo tiến độ
Trang 19Gợi động cơ, tạo hứng thú; Trải nghiệm; Hình thành kiến thức; Thực hành; Vận dụng (kiểu quy trình 5 bước)
Có thể nói dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm là cách thức tổ chức quátrình dạy học thông qua một chuỗi các hoạt động trải nghiệm của người học
Dạy học thông qua trải nghiệm khuyến khích tổ chức các hoạt động độc lập, tựhọc hoặc nhóm hợp tác của học sinh, đòi hỏi giáo viên thiết kế, đạo diễn các hoạt độnghọc tập giúp học sinh tự phát hiện, phân tích và vận dụng kiến thức Giáo viên sẽ thànhcông hơn nếu có khả năng sử dụng kiểu quy trình 5 bước Việc thực hiện quy trình 5bước cụ thể như sau:
Bước 1: Gợi động cơ, tạo hứng thú
Cần gợi động cơ, tạo tâm thế, giúp học sinh ý thức được việc học, tạo hứng thúcho học sinh khi vào bài mới
* Kết quả cần đạt:
- Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú cho học sinh về chủ đề sẽ học; học sinhcảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình Không khí lớp học vui, học sinh tò mò,chờ đợi, thích thú
- Khởi động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của học sinh để chuẩn bị bài học mới
- Học sinh làm quen với tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nộidung kiến thức, những thao tác, kĩ năng để làm nảy sinh kiến thức mới
*Cách làm:
Đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, đặt một tình huống, tổ chức trò chơi gần gũivới học sinh Nếu là tình huống diễn tả bằng lời văn thì câu văn cần phải đơn giản, gầngũi với học sinh Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân học sinh
Bước 2: Trải nghiệm
* Cách làm: Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến
thức, kinh nghiệm của bản thân học sinh có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tàiliệu hướng dẫn học; làm bộc lộ “cái” học sinh đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân họcsinh còn thiếu, giúp học sinh nhận ra “cái” chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động
Trang 20này Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ và xuất hiện những quan niệm ban đầu của mình vềvấn đề sắp tìm hiểu, học tập.
- Tiếp tục ra thêm các bài toán ở mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng củahọc sinh Giáo viên tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại vớicác quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên
- Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân hoặc theo nhóm, theocặp đôi, theo bàn, theo tổ học sinh
15
Trang 21Bước 5: Vận dụng
* Kết quả cần đạt:
- Học sinh được củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học
- Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt là trongcác tình huống gắn liền với thực tế đời sống hằng ngày
- Học sinh cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới
1.2 Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh lớp 5
Tiểu học là độ tuổi đang phát triển về thể chất lẫn tâm lí Việc hiểu đặc điểmnhận thức của các em sẽ giúp giáo viên thuận lợi hơn trong quá trình dạy học
Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh lớp 5 như sau:
Về tri giác: Học sinh lớp 5 thuộc giai đoạn cuối bậc tiểu học, tri giác của các em
đã mang tính chủ định, có kế hoạch, có mục đích và các em có thể tri giác được những
sự vật phức tạp hơn Tri giác đã bắt đầu đi sâu vào chi tiết, khả năng quan sát đượchình thành một cách tinh tế và nhạy bén hơn Đặc biệt, các em đã có khả năng phântích, phân tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó một cách có tổchức và sâu sắc Tuy nhiên, tính cảm xúc trong nhận thức vẫn còn cao, do đó các emđặc biệt quan tâm đến những hình ảnh sinh động, mang tính trực quan Mặt khác, nănglực tri giác của từng học sinh là khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm nhân cách cũngnhư phẩm chất và khả năng rèn luyện của chính bản thân các em Với cùng một đốitượng có học sinh thì tri giác rất tốt và đầy đủ các đặc điểm, trong khi đó có em lạikhông nhận ra được đặc điểm nào
Trong sự phát triển tri giác của học sinh, vai trò của người giáo viên tiểu học làhết sức quan trọng Vì vậy, trong quá trình dạy học, thông qua các hoạt động như giớithiệu đồ dùng dạy học, hướng dẫn thực hành,… người giáo viên cần phải làm tốt vaitrò của mình, sao cho có thể kích thích được tri giác cho từng đối tượng học sinh
Về chú ý: Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý không chủ định được phát triển.
Những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em Tuy
Trang 22nhiên, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý thứcchưa cao Sự chú ý của học sinh đỏi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Nếu như ở họcsinh các lớp đầu cấp học, các em thường bắt mình chú ý khi có động cơ gần (đượcđiểm cao, được cô giáo khen ) thì học sinh các lớp cuối cấp, chú ý có chủ định đượcduy trì ngay cả khi chỉ có động cơ xa (các em chú ý vào những công việc khó khănnhưng không hứng thú vì kết quả nó chờ đợi trong tương lai).
Khả năng phát triển của chú ý có chủ định, bền vững và tập trung của học sinhtiểu học trong quá trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các emphải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí Sự chú ý có chủđịnh được phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính chất xã hội cao,cùng với sự trưởng thành ấy là ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập
Về trí nhớ: Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lứa tuổi này
tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát triển hơn trí nhớ
từ ngữ - lôgic Mặc dù lớp 5 là lớp cuối cấp nhưng ngôn ngữ của các em vẫn còn hạnchế Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn vàtốt hơn những định nghĩa, những giải thích dài dòng Đặc biệt, nhiều học sinh vẫnchưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ lôgic và dựa vàocác điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ Hiệu quả củaviệc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của học sinh quy định Tất nhiên,điều này cũng còn tùy thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm vụ ghi nhớ(nguyên văn định nghĩa, khái niệm, quy tắc, công thức quan trọng, nhớ ý chính củađoạn văn…)
Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên phải hướng dẫn các em thủ thuật ghinhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học,tránh để các em ghi nhớ máy móc hay chỉ học vẹt… Những thông tin cần ghi nhớ lâudài phải được sử dụng và gợi lại một cách thường xuyên
Về tưởng tượng: Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan
trọng Nếu tưởng tượng phát triển không đầy đủ thì nhất định học sinh sẽ gặp khó khăntrong hành động Chẳng hạn khi học về toán liên quan đến hình học không gian (hìnhhộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu…) thì tưởng tượng trong không gian làhết sức quan trọng
Tưởng tượng của học sinh được hình thành và phát triển trong hoạt động học vàcác hoạt động khác của các em Đối với lớp 5 thì trí tưởng tượng của các em đã gần
17
Trang 23hiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn Các em
đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn.Vídụ: các em có khả năng nhào nặng, gọt dũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra nhữnghình tượng mới Như khi học về diện tích hình tam giác thì học sinh có thể tưởngtượng về việc cắt, ghép hai hình tam giác giống nhau thành một hình chữ nhật hoặcmột hình bình hành để tìm ra công thức tính diện tích của tam giác dựa trên công thứctính diện tích hình chữ nhật hoặc hình bình hành đã được học
Trong dạy học, giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lờinói Cử chỉ, điệu bộ của giáo viên trong các giờ lên lớp được xem là phương tiện trựcquan dạy học Ngôn ngữ chính xác, giàu nhạc điệu và tình cảm của giáo viên là yêucầu bắt buộc Ngoài ra, giáo viên cần sử dụng đồ dùng và tài liệu dạy học sinh độngnhằm kích thích tưởng tượng của học sinh
Về tư duy: Tư duy của học sinh trong giai đoạn này đã bắt đầu chuyển từ cụ thể
sang trừu tượng, khái quát Hoạt động phân tích, tổng hợp được thực hiện thườngxuyên hơn Tư duy hình thức bước đầu có sự phát triển ở mức độ cao hơn Vì vậy,trong quá trình dạy học, cần phải chú ý rèn luyện cho học sinh tư duy hình thức để các
em dễ dàng học tiếp các bậc học trên tốt hơn Như khi dạy bài “Hình tròn” cho họcsinh lớp 5 thì giáo viên không nên đưa các vật mẫu có dạng hình tròn như bánh xe,đồng xu, cái vòng tay… mà nên đưa cho các em một hình vẽ có dạng hình tròn để các
em quan sát, nhận xét rồi rút ra dấu hiệu bản chất của hình tròn [11, tr 25-26]
1.3 Đặc điểm cấu trúc chương trình môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN
Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạyhọc theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Như vậy nội dung, yêu cầu và thờilượng học các môn không thay đổi
Thời lượng tối thiểu để dạy học Toán 5 VNEN bảo đảm đúng như quy định củachương trình Toán 5 hiện hành (bố trí theo tiết học thông thường), thể hiện cụ thể nhưsau: 35 tuần × 5 tiết/tuần = 175 tiết Tuy nhiên, do Toán 5 VNEN được kết cấu theobài học nên tùy theo điều kiện cụ thể của lớp học, giáo viên có thể tổ chức hoạt độnghọc tập cho học sinh trong từng bài học một cách linh hoạt
Là một bộ phận của chương trình môn Toán ở Tiểu học, môn Toán ở lớp 5 mangđầy đủ những đặc điểm cơ bản của cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu học So với cấutrúc chương trình môn Toán 5 trước đây, cấu trúc chương trình môn Toán lớp 5 theo
mô hình VNEN không có sự khác biệt nhiều và có đặc điểm như sau:
Trang 241.3.1 Toán 5 là môn học thống nhất không phân môn
Môn Toán tuy nhiều chủ đề kiến thức và kĩ năng nhưng được cấu thành mộtchỉnh thể thống nhất, không nhấn mạnh ranh giới giữa các chủ đề Có sự đan xen hỗtrợ lẫn nhau giữa các chủ đề và trong mỗi chủ đề, làm rõ trọng tâm, tăng cường ônluyện củng cố
Cụ thể trong chương trình môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN, nội dung gồm 4chủ đề được trình bày như sau:
Số học: Bổ sung về phân số (giới thiệu phân số thập phân, hỗn số); số thậpphân, các phép tính với số thập phân (khái niệm ban đầu về số thập phân, so sánh hai
số thập phân, viết số các số đo đại lượng (độ dài; khối lượng; diện tích) dưới dạng sốthập phân, phép cộng và phép trừ, phép nhân và phép chia các số thập phân, tỉ số phầntrăm); yếu tố thống kế (biểu đồ hình quạt)
Yếu tố hình học: Hình tam giác, hình thang, hình tròn, hình hộp chữ nhật, hìnhlập phương, hình trụ, hình cầu
Đại lượng và phép đo đại lượng: Bảng đơn vị đo độ dài (bổ sung); bảng đơn vị
đo khối lượng; diện tích; thể tích; thời gian; vận tốc
Giải toán có lời văn: Các bài toán về quan hệ tỉ lệ; tỉ số phần trăm; chuyển độngđều; bài toán có nội dung hình học
Trong các chủ đề trên thì chủ đề số học chiếm thời lượng nhiều nhất, đóng vai trò
là trọng tâm, “cái trục chính” mà các chủ đề còn lại phải chuyển động xung quanh nó,phụ thuộc nó
Trong chương trình Toán 5 theo mô hình VNEN, các chủ đề kiến thức này khôngđược trình bày thành chương riêng biệt như ở chương trình Toán 5 hiện hành màchúng luôn được sắp xếp xen kẽ với nhau qua 120 bài học (mỗi bài học có thể gồm 1hoặc 2 tiết học thông thường), tạo ra một sự kết hợp hữu cơ và hỗ trợ đắc lực cho nhautrên nền tảng các kiến thức số học Sự sắp xếp xen kẽ này không những được quán
triệt trong cấu trúc chung của toàn bộ chương trình và tài liệu Hướng dẫn học Toán 5
mà còn thể hiện trong từng bài và từng tiết học Điều này được thể hiện rất rõ qua
những nội dung kiến thức của 4 tập tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tập 1A, tập 1B, tập
2A, tập 2B) Nó phản ánh tính thống nhất của môn Toán, đồng thời nó cũng làm chonội dung các bài học được phong phú hơn, các hình thức luyện tập, thực hành và ứngdụng đa dạng hơn, làm cho học sinh thích thú với môn Toán hơn Cụ thể:
19
Trang 25Những nội dung kiến thức trong quyển tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tập 1A),
có sự đan xen giữa các chủ đề kiến thức: số học, đại lượng và phép đo đại lượng (Bảngđơn vị đo độ dài, Bảng đơn vị đo khối lượng; Đề-ca-mét vuông Héc-tô-mét vuông;Mi-li-mét vuông Bảng đơn vị đo diện tích…) và giải toán có lời văn Trong đó, trọngtâm vẫn là chủ đề số học (Phân số thập phân; Hỗn số; Khái niệm số thập phân; Hàngcủa số thập phân Đọc, viết số thập phân; Số thập phân bằng nhau; So sánh hai số thậpphân,…) vì các bài học về nội dung số học chiếm trên 20 bài học trong tổng số 29 bài
Hay những nội dung kiến thức trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tập 1B), có
sự đan xen giữa các chủ đề kiến thức: số học, yếu tố hình học (Hình tam giác, Diệntích hình tam giác), giải toán có lời văn (các bài toán có nội dung hình học; bài toán về
tỉ số phần trăm…), đại lượng và phép đo đại lượng (Bài 42: Em ôn lại những gì đã
học…) Trong đó, trọng tâm vẫn là chủ đề số học (các phép tính với số thập phân, tỉ số
phần trăm,…) vì nội dung về số học chiếm trên 20 bài trong tổng số 27 bài học
Những nội dung kiến thức ở tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tập 2A) cũng có sự
đan xen giữa các chủ đề kiến thức: số học (Giới thiệu biểu đồ hình quạt…); hình học;đại lượng và phép đo đại lượng (Thể tích của một hình, Xăng-ti-mét khối Đề-xi-mét-khối, Mét khối,…) và giải toán có lời văn (các bài toán có nội dung hình học;…).Trong tập này chủ yếu là các nội dung kiến thức về chủ đề hình học (Hình thang, Diệntích của hình thang, Hình tròn Đường tròn, Chu vi hình tròn, Diện tích hình tròn, Thểtích hình hộp chữ nhật; Thể tích hình lập phương…) vì các bài học về nội dung yếu tốhình học chiếm trên 15 bài trong tổng số 25 bài Tuy nhiên, các nội dung về kiến thức
số học luôn được thể hiện, hỗ trợ cho việc hình thành các nội dung kiến thức trong cácchủ đề còn lại
Hay nội dung kiến thức ở tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (tập 2B) cũng là sự đan
xen giữa các chủ đề: số học; hình học; đại lượng và phép đo đại lượng; giải toán có lờivăn Trong tập 2B này, kiến thức bài mới chủ yếu về nội dung chủ đề đại lượng và đođại lượng (Bảng đơn vị đo thời gian; Các phép tính với số đo thời gian; Vận tốc;Quãng đường; Thời gian); còn nội dung kiến thức của các chủ đề còn lại được thể hiệnqua kiểu bài ôn tập chiếm đến 24 bài trong tổng số 38 bài
Như vậy, nội dung môn Toán 5 theo mô hình VNEN có đầy đủ các mạch kiếnthức và có thể thấy rằng các chủ đề kiến thức về số học; yếu tố hình học; đại lượng vàphép đo đại lượng; giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với nhau, tạo ra một sự kếthợp hữu cơ; trong đó kiến thức số học là trọng tâm và giữa các mạch kiến thức luôn hỗ
Trang 26trợ đắc lực cho nhau khiến cho kiến thức số học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Bên cạnh
đó, các nội dung giáo dục khác (tự nhiên, xã hội) được tích hợp vào các nội dung toánhọc, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng của Toán 5 để thực hànhphát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống hằng ngày Qua đó chothấy Toán học thật sự là một môn học thống nhất không phân môn
1.3.2 Cấu trúc, nội dung môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN quán triệt tư tưởng của Toán học hiện đại nhưng coi trọng tính vừa sức, phù hợp với sự phát triển tâm
lí lứa tuổi học sinh Tiểu học
1.3.2.1 Các kiến thức Toán ở cấp Tiểu học là những kiến thức Toán học truyền thốngđược con người biết đến và sử dụng từ lâu nhưng lại được trình bày theo tư tưởng củaToán học hiện đại
Chẳng hạn: khái niệm số (và phép tính) được xây dựng theo tinh thần lí thuyếttập hợp, cấu trúc đại số và cấu trúc sắp thứ tự nhưng không sử dụng ngôn ngữ, thuậtngữ, kí hiệu mà thông qua mô tả trực quan, qua Hoạt động cơ bản, Hoạt động thựchành và Hoạt động ứng dụng giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm đó
Ví dụ: Khái niệm số thập phân được trình bày trong tài liệu Hướng dẫn học Toán
5 như sau: Vận dụng các cách định nghĩa khái niệm số thập phân của toán học:
Cách 1: Coi số thập phân là dạng số để biểu diễn cách viết khác của phân số
thập phân (Hướng dẫn học Toán 5, tập 1A, trang 71).
Ví dụ:
1
10 được viết thành 0,1 104 được viết thành 0,4
0,1 đọc là không phẩy một; 0,1 = 101 0,4 đọc là : không phẩy bốn; 0,4 = 104
0,1 gọi là số thập phân 0,4 gọi là số thập phân
…
Cách 2: Coi số thập phân như là một dạng số dùng để ghi kết quả đo đại lượng
(Hướng dẫn học Toán 5, tập 1A - trang 78).
Ví dụ: Đo chiều cao của con hươu cao cổ trưởng thành được 5,63m
Cách 3: Coi số thập phân là dạng số để biểu diễn cách viết khác của hỗn số (Hướng
dẫn học Toán 5, tập 1A - trang 79).
1 8
10được viết thành 1,8
21
Trang 27Các nội dung kiến thức trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 thể hiện tính đồng
tâm, tính kế thừa và phát triển; kiến thức môn Toán ở lớp 5 bao hàm kiến thức mônToán ở các lớp 1, 2, 3, 4 và được mở rộng, phát triển liên tục, không gián đoạn
1.3.2.2 Tính đồng tâm, tính kế thừa và phát triển thể hiện ở chỗ: những nội dung kiếnthức về toán học như số và phép tính, yếu tố hình học, đại lượng và đo đại lượng, giảitoán có lời văn học ở các lớp trước được mở rộng và phát triển thêm khi lên lớp 5.Chẳng hạn: như ở các lớp 1, 2, 3, 4 học sinh được học về các số theo thứ tự từ bé đến
lớn và phép tính với các số có ít chữ số hơn; lên lớp 5 với tài liệu Hướng dẫn học
Toán 5, các em tiếp tục học thêm về các phép tính với các số có nhiều chữ số hơn; có
nhớ và không nhớ Những kiến thức mới cần học ở tài liệu Hướng dẫn học Toán 5,
được xây dựng dựa trên những nền tảng kiến thức đã có ở các lớp 1, 2, 3, 4 hay thậmchí phát triển thêm trên cơ sở những kiến thức đã học này Bên cạnh cái mới, tài liệu
Hướng dẫn học Toán 5 còn kế thừa những nội dung kiến thức trong SGK Toán 5 hiện
hành…
Cụ thể:
Trong Bài 12 Bảng đơn vị đo độ dài (Hướng dẫn học Toán 5, tập 1A, trang 48)
Trong phần Hoạt động cơ bản yêu cầu học sinh chơi trò chơi “Đố bạn nhớ lại”:Các bạn đố nhau nhớ lại, viết và đọc tên các đơn vị đo dộ dài đã học rồi sắp xếp cácđơn vị đo độ dài này theo thứ tự từ lớn đến bé… Như vậy, có thể thấy dựa trên nhữngkiến thức học sinh đã được học ở các lớp trước về cách viết và đọc tên các đơn vị đo
độ dài, cùng với hình thức trò chơi để học sinh dễ dàng nhớ và ôn lại những kiến thức
về các đơn vị đo độ dài đã học; từ đó làm nền tảng để hình thành và phát triển cho họcsinh kiến thức bài mới: Lập được bảng đơn vị đo độ dài; biết được mối liên hệ giữa haiđơn vị đo độ dài liên tiếp và một số mối quan hệ thường gặp
Trong Bài 59 Diện tích hình thang (Hướng dẫn học Toán 5, tập 2A, trang 8)
Để hình thành công thức tính diện tích hình thang, trong phần Hoạt động cơ bản,yêu cầu học sinh thảo luận nhóm để chơi trò chơi “Cắt, ghép hình”; ở đây học sinh sẽđược hướng dẫn cắt ghép hình thang thành hình tam giác Từ công thức tính diện tíchhình tam giác đã được học, các em sẽ suy ra được công thức tính diện tích hình thang
Trang 28với sự hướng dẫn rất chi tiết trong mục 2 của hoạt động này Như vậy, học sinh đãđược hướng dẫn kế thừa những kiến thức và kĩ năng đã được học từ trước như kĩ năngcắt, ghép hình; công thức tính diện tích hình tam giác… để dễ dàng hình thành và nhớlâu được kiến thức mới
1.3.2.3 Mặc dù cấu trúc, nội dung môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN thể hiện tínhđồng tâm, kế thừa và phát triển; quán triệt tư tưởng của Toán học hiện đại, nhưng luôncoi trọng tính vừa sức, phù hợp với sự phát triển tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học Toán 5 theo mô hình VNEN bao gồm những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất,thiết thực nhất phù hợp với chương trình môn Toán lớp 5, phù hợp với trình độ nhậnthức và điều kiện học tập của các đối tượng học sinh lớp 5 Điều này thể hiện rất rõ
trong từng nội dung của tài liệu Hướng dẫn học Toán 5: những nội dung học thiết
thực, gần gũi, gắn kết với đời sống thực tiễn của học sinh Đa số ở các bài mới, mở đầuHoạt động cơ bản, là học sinh đã thấy ngay lôgô yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm
để tiến hành chơi trò chơi, chơi trò chơi theo nhóm là một hình thức gợi cho học sinhhứng thú học tập rất cao Bên cạnh đó, việc các em được hoạt động theo nhóm để chơitrò chơi sẽ tạo cho học sinh tâm lí thoải mái khi học Qua trò chơi, học sinh cùng nhauphát hiện ra kiến thức mới một cách dễ dàng hơn Ở một số bài học, với những nội
dung kiến thức khó hơn thì tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 hướng dẫn rất chi tiết và dễ
hiểu điều này sẽ làm giảm mức độ khó của các kiến thức lí thuyết và giúp cho học sinh
dễ dàng tiếp thu bài học
Chẳng hạn ở Bài 69 Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp
chữ nhật hay Bài 76 Thể tích hình hộp chữ nhật (tập 2A, toán 5), Bài 11 Ôn tập và
bổ sung về giải toán tỉ lệ nghịch (tập 1A), …
Trong phần Hoạt động thực hành, đầu tiên học sinh sẽ làm việc theo cá nhân, rồichia sẻ với bạn ngồi cùng bàn để giúp nhau sửa chữa những sai sót; sau đó mới trao đổivới cả nhóm; như vậy, tiến trình này cho thấy rõ tính vừa sức và phù hợp với tâm lí củalứa tuổi vì giờ học của học sinh đỡ căng thẳng và vất vả hơn so với việc các em phải mộtmình hoàn thiện và kiểm tra kết quả bài; làm việc theo nhóm giúp các em chủ động trongviệc học hơn, phát huy tinh thần dân chủ và ý thức tập thể, làm cho giờ học hiệu quả hơn.Bên cạnh đó, số lượng bài tập trong phần Hoạt động thực hành chủ yếu từ 3 đến
5 bài tập, với một số bài “Em ôn lại những gì đã học” số lượng bài tập từ 6 đến 8 bàitập; những bài tập này được lựa chọn theo hướng giảm nhẹ cho phù hợp với đặc điểmtâm sinh lí của học sinh lớp 5 nhưng vẫn đảm bảo khả năng hoạt động của học sinh
23
Trang 29Các bài tập trong phần Hoạt động cơ bản để hình thành kiến thức thường có ít về sốlượng bài tập Ngoài ra, đa số trong phần Hoạt động ứng dụng, số lượng bài tập từ 1
đến 2 bài Như vậy, với cấu trúc của tài liệu Hướng dẫn học Toán 5, với phương pháp
hướng dẫn học, học sinh được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của cánhân; nội dung học thiết thực, gắn kết với thực tiễn đời sống hằng ngày của các em;điều này thể hiện tính vừa sức và phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học
Quán triệt tinh thần dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của họcsinh, vì vậy trong mỗi bài học, từng đơn vị kiến thức, kĩ năng cơ bản tối thiểu được lấylàm nền tảng để xác định các hoạt động học tập tương thích, phù hợp với trình độ nhậnthức của học sinh Quá trình dạy học được tổ chức thông qua một chuỗi các hoạt độngkhuyến khích học sinh trải nghiệm, khám phá, phát hiện và tự học một cách tích cực
1.3.3 Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN được hình thành chủ yếu bằng con đường thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống
Theo mô hình VNEN, nội dung học theo chương trình Toán 5 được phân chiathành các bài học, tổng cộng cả năm học lớp 5 có 120 bài học Mỗi bài học có thể gồm
1 hoặc 2 tiết học thông thường Kết cấu như vậy sẽ tạo điều kiện để giáo viên và họcsinh chủ động điều tiết thời gian hoàn thành bài học, đồng thời giúp tăng cường hoạtđộng thực hành cho học sinh
Trong tổng số 120 bài học thì có tới 59 bài thuộc dạng bài Luyện tập, Ôn tập, Em
ôn lại những gì đã học; chiếm gần một nữa trong tổng số bài của một năm học, mỗi
kiểu bài này chiếm thời lượng từ 1 đến 2 tiết học; như vậy thời lượng để học sinh thựchành, luyện tập và ôn tập rất nhiều Trong Hoạt động thực hành, học sinh vận dụngtrực tiếp kiến thức bài mới đã học Qua những tiết thực hành - luyện tập và ôn tập này,học sinh sẽ được củng cố - rèn luyện, phát triển và khắc sâu các kiến thức vừa học vàđồng thời giúp các em hình thành và phát triển thêm các kĩ năng toán học
Bên cạnh đó, tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 chú trọng thiết kế các hoạt động
tăng cường cho học sinh thực hành nói, thảo luận, thông qua yêu cầu phát biểu kiếnthức mới, phát biểu bài toán thành lời hay phát biểu kết quả bài tập, kết quả thực hành
Hoạt động phát triển ngôn ngữ thể hiện ở các lệnh yêu cầu học sinh “đọc kĩ nội dung
sau” “đố bạn” “báo cáo với thầy/cô giáo” hoặc “đọc thông tin cho bố mẹ nghe”.
Ngoài ra, học sinh sẽ vận dụng những kiến thức được học trong tài liệu Hướng
dẫn học Toán 5 vào trong thực tế cuộc sống qua Hoạt động ứng dụng; học sinh được
Trang 30mở rộng thêm vốn kiến thức qua việc thu thập thêm thông tin liên quan đến bài học từcác nguồn thông tin khác nhau
Trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5, việc hình thành kiến thức, kĩ năng mới
được thực hiện thông qua các hoạt động học tập của học sinh: Hoạt động cơ bản; Hoạtđộng thực hành; Hoạt động ứng dụng Trong phần Hoạt động cơ bản, học sinh sẽ tiến
hành theo nhóm để thực hiện các hoạt động nhỏ hơn như “Chơi trò chơi”, “Thực hiện
lần lượt các hoạt động sau”… như trong Bài 30 Cộng hai số thập phân (tập 1B) Ở
hoạt động 2A: học sinh sẽ thực hiện giải bài toán có lời văn để suy nghĩ và tìm ra cáchthực hiện phép tính cộng hai số thập phân; qua hoạt động 3A: học sinh sẽ thực hiện đặt
tính rồi tính tổng hai số thập phân và rút ra quy tắc tính… Qua việc thực hiện các hoạtđộng này học sinh sẽ rút ra kiến thức mới cần học Trong phần Hoạt động thực hành,học sinh sẽ thực hiện 5 bài tập để củng cố và phát triển thêm kiến thức vừa học; đặcbiệt ở bài tập 4, sau khi thực hiện xong bài tập này học sinh rút ra thêm được kiến thức
mới Phép cộng các số thập phân có tính chất giao hoán Trong phần Hoạt động ứng
dụng, học sinh vận dụng kiến thức được học để thực hiện 3 bài tập, qua đó giúp các
em khắc sâu hơn kiến thức đã học Đa số, cứ kết thúc một bài mới là có từ 1 đến hai
bài học thuộc dạng bài Luyện tập hoặc Em ôn lại những gì đã học để giúp học sinh
củng cố và phát triển những kiến thức vừa học Như vậy, có thể thấy các kiến thức, kĩnăng môn Toán 5 theo mô hình VNEN được hình thành chủ yếu bằng con đường thựchành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, vận dụng
25
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TOÁN 5
2.1 Khảo sát tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 (VNEN)
2.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu dạy học tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 về cơ bản giống với mục tiêu
dạy học Toán 5 của chương trình SGK hiện hành
Trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 theo mô hình VNEN, chúng ta có thể thấy
những nội dung kiến thức cụ thể và mục tiêu để học sinh học những nội dung nàynhư sau:
* Về số thập phân:
Nội dung dạy học số thập phân nhằm giúp cho học sinh:
- Nhận biết ban đầu về khái niệm số thập phân và cấu tạo số thập phân Biết cáchđọc, cách viết các số thập phân
- Nhận biết tên các hàng của số thập phân (dạng đơn giản thường gặp); quan hệgiữa đơn vị của hai hàng liền nhau
- Nhận biết đặc điểm của số thập phân khi viết thêm chữ số 0 vào bên phải phầnthập phân hoặc bỏ chữ số 0 (nếu có) ở tận cùng bên phải của số thập phân thì giá trịcủa số thập phân không thay đổi
- Biết cách so sánh hai số thập phân; sắp xếp các số thập phân theo thứ tự xác định
- Biết viết các số đo độ dài, số đo khối lượng, số đo diện tích dưới dạng số thập phân
* Về các phép tính với số thập phân:
Nội dung dạy học về các phép tính với số thập phân nhằm giúp cho học sinh:
- Biết vận dụng các quy tắc thực hành về bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chiacác số thập phân
- Biết nhân (chia) nhẩm một số thập phân với (cho) 10; 100; 1000;… hoặc với(cho) 0,1; 0,01; 0,001;…
- Biết tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép cộng, phép nhân các số thậpphân, nhân một tổng với một số và sử dụng trong thực hành tính
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính với số thập phân
- Biết tính giá trị biểu thức với số thập phân có không quá ba dấu phép tính
* Về đại lượng và đo đại lượng:
Trang 32Nội dung dạy học về đại lượng và đo đại lượng nhằm giúp cho học sinh:
- Bổ sung các đơn vị đo, hình thành các bảng đơn vị đo: Độ dài, diện tích, thểtích, thời gian
- Biết đổi các đơn vị đo trong cùng một đại lượng
- Làm tính với các số kèm đơn vị đo, giải các bài toán có liên quan đến các đại lượng
- Nắm được quan hệ giữa vận tốc, thời gian và quãng đường trong chuyển độngđều; giải các bài toán về chuyển động đều
* Về hình học:
Nội dung dạy học về hình học nhằm giúp cho học sinh:
- Nhận biết được các biểu tượng hình học như: Các loại hình tam giác, hìnhthang, hình tròn, đường tròn, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ và hình cầu
- Biết cách tính chu vi, diện tích và thể tích của một số hình hình học như: Diệntích hình tam giác, hình thang; chu vi và diện tích hình tròn; diện tích xung quanh,diện tích toàn phần và thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương
- Ôn tập về nhận biết các biểu tượng hình học cũng như đặc điểm của các hìnhhình học đã học
- Ôn tập về tính chu vi, diện tích, thể tích của các hình hình học đã học; biết cáchvận dụng các quy tắc đó vào giải các bài toán trong thực tiễn
* Về các yếu tố thống kê:
Nội dung dạy học về các yếu tố thống kê nhằm giúp cho học sinh:
- Nhận biết biểu đồ hình quạt và ý nghĩa thực tế của nó
- Biết thu thập và xử lí một số thông tin đơn giản từ một biểu đồ hình quạt
- Ôn tập củng cố kĩ năng đọc, phân tích và xử lí số liệu trên biểu đồ tranh, biểu
đồ cột Từ các thông tin đã có, có thể lập được biểu đồ tranh và biểu đồ cột đơn giản
* Về các phép tính với số đo thời gian, toán chuyển động đều:
Nội dung dạy học về các phép tính với số đo thời gian, toán chuyển động đềunhằm giúp cho học sinh:
- Thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số đo thời gian
- Vận dụng để giải các bài toán có nội dung thực tế
- Biết mối quan hệ giữa thời gian, vận tốc và quãng đường Giải được các bàitoán về chuyển động đều
* Về giải toán có lời văn:
Nội dung dạy học về giải toán có lời văn nhằm giúp cho học sinh biết:
- Giải bài toán về tỉ lệ thuận và bài toán về tỉ lệ nghịch
27
Trang 33- Giải các bài toán về tỉ số phần trăm.
- Giải các bài toán có nội dung hình học
- Giải các bài toán về liên quan đến chuyển động đều
* Về nội dung ôn tập:
Dạy học nội dung về ôn tập nhằm giúp cho học sinh biết:
- Ôn tập, củng cố và hệ thống hóa các kiến thức cơ bản
- Rèn luyện, củng cố các kĩ năng tương ứng với các đơn vị kiến thức cơ bảnthông qua các hoạt động thực hành - luyện tập
- Vận dụng phối hợp các kiến thức và phát triển các kĩ năng để giải quyết cácnhiệm vụ cụ thể có liên quan trong học tập hoặc trong đời sống [5; tr 79, 104, 125,
149, 161, 168, 186, 203]
Như vậy, dạy học môn Toán lớp 5 theo mô hình VNEN đảm bảo quán triệt: mục
tiêu Giáo dục; bảo đảm Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình môn Toán lớp 5 –
Chương trình Tiểu học hiện hành Có thể có những điều chỉnh về nội dung theo hướng
cơ bản, tinh giản, thiết thực
Ngoài ra, dạy và học theo tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 nhằm đẩy mạnh đổi
mới phương pháp dạy học và các hình thức dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt độngphát huy tính tích cực, chủ động, khả năng tự học của học sinh; đồng thời coi trọnghoạt động học tập hợp tác theo nhóm nhỏ và sự trợ giúp hợp lí của giáo viên
Đồng thời nhằm hạn chế những trùng lặp không cần thiết; giảm mức độ khó củacác kiến thức lí thuyết (hình thành kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh tiếpcận với kiến thức mới qua quan sát các sự vật, đối tượng trong thực tế đời sống hằng
ngày;…); tăng khả năng thực hành, vận dụng, chú ý tích hợp với hoạt động phát triển
ngôn ngữ của học sinh Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của học
sinh trong đời sống Gắn kết với giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của họcsinh, của cộng đồng để học sinh có thể vận dụng những điều được học vào thực tiễn
2.2.2 Nội dung
2.2.2.1 Khảo sát những nội dung dạy học trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5
(*) Phạm vi nội dung:
Phạm vi nội dung của tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 giống với phạm vi nội dung
của SGK Toán 5 hiện hành Thể hiện đúng mục tiêu, yêu cầu nêu trong chương trìnhmôn học Kiến thức sát với thực tiễn đời sống hằng ngày của học sinh
a) Về số và phép tính gồm:
- Phân số thập phân, hỗn số
Trang 35- Khái niệm ban đầu về số thập phân, đọc, viết, so sánh các số thập phân Cácphép tính cộng, trừ, nhân, chia các số thập phân (kết quả phép tính là số tự nhiên hoặc
số thập phân có không quá ba chữ số ở phần thập phân) Tính giá trị biểu thức số cóđến ba dấu phép tính; tìm một thành phần chưa biết của phép tính; tính bằng cáchthuận tiện nhất; nhân (chia) nhẩm một số thập phân với 10, 100, 1000,… (bằng cáchchuyển dấu phẩy trong số thập phân)
- Ôn tập, củng cố, hệ thống hóa những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số và phéptính (với số tự nhiên, phân số đơn giản, số thập phân)
- Tỉ số phần trăm: khái niệm ban đầu về tỉ số phần trăm; đọc, viết tỉ số phần trăm;cộng, trừ tỉ số phần trăm; nhân, chia tỉ số phần trăm với một số; mối quan hệ giữa tỉ sốphần trăm với phân số thập phân, số thập phân và phân số
Một số yếu tố thống kê:
- Biểu đồ hình quạt Đọc các số liệu trên biểu đồ hình quạt.
- Lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ dạng đơn giản
b) Về đại lượng và đo đại lượng gồm:
- Các đơn vị đo diện tích: đề-ca-mét vuông, héc-tô-mét vuông, mi-li-mét vuông,mối quan hệ giữa một số đơn vị đo diện tích thường dùng (chẳng hạn giữa km2 và m2,giữa ha và m2) Bảng đơn vị đo diện tích
- Khái niệm ban đầu về thể tích và một số đơn vị đo thể tích (cm3, dm3, m3), mốiquan hệ giữa hai đơn vị đo thể tích liền kề thường dùng
- Cộng, trừ các số đo thời gian có đến hai tên đơn vị đo; nhân (chia) các số đothời gian có đến hai tên đơn vị đo với (cho) số tự nhiên (khác 0)
- Khái niệm ban đầu về vận tốc, mối quan hệ giữa quãng đường đi được, thờigian chuyển động và vận tốc
c) Về yếu tố hình học gồm:
- Hình thang, đường cao hình thang, hình tròn và đường tròn, các dạng của hìnhtam giác (tam giác có 3 góc nhọn, tam giác có 1 góc tù, tam giác vuông) Tính diệntích hình thang, hình tam giác; tính chu vi và diện tích hình tròn
- Hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu
- Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật,hình lập phương
d) Về giải toán có lời văn gồm:
Giải và trình bày bài giải các bài toán có đến bốn bước tính, trong đó có:
- Một số dạng bài toán về quan hệ tỉ lệ
Trang 36- Các bài toán về tỉ số phần trăm; tìm tỉ số phần trăm của hai số; tìm giá trị tỉ sốphần trăm của một số cho trước; tìm một số biết giá trị tỉ số phần trăm của số đó.
- Bài toán về chuyển động đều
- Các bài toán có nội dung hình học liên quan đến các hình đã học [5, tr 9-11]
e) Về ôn tập:
Trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5, ở học kì I, các bài ôn tập đầu năm nhằm
giúp học sinh ôn lại các nội dung liên quan trong chương trình lớp 4, chuẩn bị các kiếnthức nền tảng cho việc học số thập phân ở lớp 5 (ở chương tiếp theo) Trong học kì II,các bài ôn tập ngoài việc ôn tập các nội dung kiến thức vừa học thì còn mang tính ôntổng hợp, hệ thống hóa, bao quát các nội dung toàn cấp bao gồm:
- Ôn tập về số tự nhiên, các phép tính với số tự nhiên
- Ôn tập về phân số, các phép tính với phân số
- Ôn tập về số thập phân, các phép tính với số thập phân
- Ôn tập về đo độ dài, đo khối lượng, đo diện tích, đo thể tích, đo thời gian
- Ôn tập về hình học (Nhận dạng các hình, đọc tên và ghi tên hình bằng chữ; vẽhình, cắt ghép hình; tính chu vi, diện tích, thể tích,…)
- Ôn tập về giải toán (Ôn các phương pháp giải, về các dạng bài và quy ước trìnhbày từng dạng bài và các mức độ ứng dụng từng dạng bài…)
- Ôn về yếu tố thống kê, các dạng biểu đồ và ứng dụng [5, tr 203]
(*) Những nội dung dạy học trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 theo mô hình
VNEN đảm bảo tính tích hợp hiệu quả Bởi bên cạnh những kiến thức chuyên ngành,còn có những nội dung dạy học của các môn học khác được tích hợp trong nội dungdạy học của tài liệu này và so với SGK Toán 5 hiện hành thì những nội dung tích hợp
trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 thể hiện rõ ràng, cụ thể và gắn với đời sống thực
tiễn của học sinh hơn
Chẳng hạn: - Có khá nhiều nội dung kiến thức trong môn Tự nhiên và xã hộiđược tích hợp trong môn Toán 5 VNEN, cụ thể như sau:
+ Về tên của các con vật: Với yêu cầu của hoạt động 1A, trong Bài 30 Cộng hai
số thập phân (trang 3, tập 1B), dựa vào hình ảnh, học sinh sẽ kể lại tên các con vật (sư
tử; voi, gấu Bắc cực, cá mập) mà mình được học trong môn Tự nhiên và xã hội, cũngnhư biết được qua kinh nghiệm và vốn sống của bản thân
Cung cấp tên và hình ảnh một số loài động vật (đà điểu, báo, chuột túi, chim ưng,
cá heo; con ngựa) qua các bài toán trong Bài 91 Vận tốc (trang 27, 28; tập 2B); Bài
31
Trang 3792 Quãng đường (trang 31; tập 2B); Bài 93 Thời gian (trang 35, tập 2B); Bài 95 Bài toán về chuyển động ngược chiều (trang 41, tập 2B).
+ Bên cạnh đó, là hình ảnh và tên gọi các loại phương tiện giao thông đườngthủy, đường bộ và đường hàng không như ô tô, máy bay Bô-ing (qua nội dung của các
bài toán 2 - trang 25 và bài toán 2 - trang 27; trong Bài 91 Vận tốc, tập 2B), tàu hỏa
(qua bài toán ở hoạt động 5A, trang 38, trong Bài 94 Em ôn lại những gì đã học, tập
2B), máy bay phản lực, máy bay cánh quạt, xe công nông (qua hoạt động 1A, trang 42,
trong Bài 96 Bài toán về chuyển động cùng chiều, tập 2B),…
+ Hình ảnh tấm áp phích để kêu gọi mọi người đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô,
xe gắn máy, trong Bài 4 Ôn tập các phép tính với phân số (trang 17, tập 1A)….
- Những nội dung kiến thức trong môn Tiếng Việt tích hợp trong nội dung dạy
học của tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 được thể hiện qua rất nhiều nội dung nhằm rèn
luyện thêm cho học sinh bốn kĩ năng quan trọng trong việc học môn Tiếng Việt là
nghe - nói - đọc - viết với các lệnh “đọc kĩ nội dung sau”, “đọc kĩ và nghe thầy/cô
giáo hướng dẫn”, “báo cáo với thầy/cô giáo” hoặc “đọc thông tin cho bố mẹ nghe”,
“viết tiếp vào chỗ chấm” Hay việc tích hợp còn được thể hiện rõ với các phân môn như ở phân môn kể chuyện: trong phần Hoạt động ứng dụng của Bài 72 Thể tích của
một hình (trang 63, tập 2A), với yêu cầu (trong hoạt động 1a) học sinh phải dựa vào
tranh vẽ kể lại câu chuyện về chú quạ thông minh; yêu cầu này nhằm giúp học sinhcủng cố lại câu chuyện mà các em đã học trong môn Tiếng Việt và nội dung tích hợp
với môn Toán được thể hiện ở hoạt động 1b với câu hỏi Theo em, khi quạ thả những
viên sỏi vào bình nước, mực nước của bình có thay đổi không?
- Nội dung kiến thức trong môn Lịch sử được tích hợp vào môn Toán 5 VNENlà: những kiến thức lịch sử về năm công bố một số phát minh nổi tiếng trên thế giới(như kính viễn vọng, bút chì, đầu máy xe lửa, xe đạp, ôtô, máy bay, máy tính điện tử,
vệ tinh nhân tạo) được tích hợp với kiến thức môn Toán khi hoạt động này đưa ra yêucầu dựa vào năm phát minh tính ra thế kỉ ở bài tập 1 trong phần Hoạt động thực hành
(Bài 83 Bảng đơn vị đo thời gian, trang 5, tập 2B) Hay trong Bài 86 Em ôn lại
những gì đã học (tập 2B), ở nội dung bài toán 4 (trang 14) với yêu cầu tính ra số năm
cách nhau giữa hai sự kiện, có tích hợp những kiến thức lịch sử về hai nhà thám hiểmnổi tiếng trên thế giới: Cô-lôm-bô phát hiện ra Châu Mĩ năm 1492 và vào năm 1961,Ga-ga-rin là người đầu tiên bay vào vũ trụ…
- Nội dung kiến thức trong môn Môn Địa lí, được tích hợp trong môn Toán 5
VNEN được thể hiện: Qua bài học Bài 16 Héc-ta (trang 64, tập 1A), những kiến thức
Trang 38địa lí về tổng diện tích rừng của nước ta được tính theo đơn vị ha và những vùng có
diện tích rừng lớn nhất được tích hợp dễ hiểu trong phần Hoạt động ứng dụng (Em có
biết?) Hay những kiến thức về độ cao của một số đỉnh núi ở Việt Nam cũng được tích
hợp trong phần Hoạt động ứng dụng 1C (trang 86) qua Bài 22 Hàng của số thập
phân Đọc, viết số thập phân Ở Hoạt động ứng dụng 1C (Bài 28 Viết các số đo diện tích dưới dạng số thập phân; tập 1A; trang 111-112) là những thông tin về địa bàn trực
thuộc và tổng diện tích tính theo đơn vị ha của các vườn Quốc gia (Cúc Phương, UMinh Hạ, Cát Tiên); kết nối với những thông tin trong hoạt động này thể hiện sự tíchhợp giữa hai môn Toán và Địa Lí là hoạt động 2C với yêu cầu viết các số đo diện tíchcủa các vườn quốc gia dưới dạng số thập phân có đơn vị đo là ki-lô-mét vuông
Ngoài ra, những kĩ năng học tập cần thiết trong môn Mĩ Thuật được tích hợptrong môn Toán 5 VNEN như: tô màu; cắt, ghép hình, vẽ trang trí hình vuông (trong
phần Hoạt động ứng dụng; Bài 61 Hình tròn Đường tròn) … giúp học sinh rèn luyện
và thực hiện thành thạo hơn những kĩ năng này
- Không chỉ là sự tích hợp giữa hai môn học mà có một số nội dung còn thể hiện
sự tích hợp giữa môn Toán với hai hay ba môn học khác như trong phần C Hoạt động
ứng dụng (Bài 97 Ôn tập về số tự nhiên, trang 47, tập 2B) là sự tích hợp giữa nội dung
kiến thức môn Toán với môn Địa lí và môn Tiếng Việt vì ở hoạt động 1 cung cấp chohọc sinh những thông tin về kiến thức địa lí tự nhiên liên quan đến các hành tinh trong
hệ Mặt trời như Trái Đất; Mặt Trăng và những thông tin về đại dương và hệ sinh vật
biển; kết nối với hoạt động này là hoạt động 2 với yêu cầu Đặt câu hỏi liên quan đến
thông tin em vừa đọc rồi viết vào vở Như vậy, hoạt động này là sự tích hợp những nội
dung mà học sinh được học trong môn Tiếng Việt nhằm rèn luyện cho học sinh những
kĩ năng về đọc, viết và đặt câu hỏi…
- Tích hợp với nội dung dạy học của môn Khoa học và môn Tiếng Việt: nội dung
tích hợp được thể hiện trong phần B Hoạt động ứng dụng (Bài 4 Ôn tập các phép
tính với phân số, trang 18, tập1A), ở hoạt động 1 yêu cầu học sinh đọc thông tin cho
người lớn nghe về cách để làm ra thuốc ho khi ngâm một hỗn hợp gồm chanh đào,đường phèn và mật ong với tỉ lệ khối lượng theo yêu cầu Kết nối với thông tin tronghoạt động này là thông tin trong hoạt động 2, yêu cầu học sinh tính số kg đường phèn
và số lít mật ong cần dùng khi tăng khối lượng chanh đào lên 1kg Như vậy, qua Hoạtđộng ứng dụng, học sinh không chỉ được rèn luyện thêm về năng lực đọc; biết đượccách tạo ra hỗn hợp để làm thuốc trị ho mà còn biết được quan hệ tỉ lệ giữa các thànhphần trong loại thuốc này…
33
Trang 39Qua đó, có thể thấy rằng, trong cả 4 tập sách, hầu hết những nội dung tích hợp
đều được thể hiện trong phần Hoạt động ứng dụng và những nội dung tích hợp này
được chọn lọc, trình bày rất phù hợp với nội dung bài học và thực tiễn đời sống Vớinhững nội dung tích hợp, học sinh không chỉ được cung cấp thêm những thông tin,những kiến thức chưa biết mà còn giúp các em, ôn tập, củng cố và rèn luyện thêmnhiều kiến thức và kĩ năng liên quan đến các môn khác Những nội dung tích hợp đượctrình bày trong tài liệu này không chỉ dừng lại ở các môn học kể trên mà nó còn thểhiện khá nhiều với các môn học khác Điều này cho thấy, nội dung dạy học trong tài
liệu Hướng dẫn học Toán 5 thể hiện rõ được quan điểm tích hợp các nội dung giáo
dục, trong đó môn Toán hỗ trợ, gắn bó với việc dạy học các môn học khác
2.2.2.2 Một số điều chỉnh trong nội dung và phương pháp dạy học Toán 5 VNEN so với Toán 5 hiện hành
Nội dung dạy học Toán 5 theo mô hình VNEN, về cơ bản gần giống với nội dungdạy học Toán 5 hiện hành; tuy nhiên, có một số điều chỉnh cụ thể Ví dụ: với nội dung
So sánh hai số thập phân
* Theo SGK Toán 5 hiện hành:
Dựa vào kết quả chuyển đổi đơn vị đo độ dài và các kiến thức đã học về số tựnhiên về cấu tạo số thập phân để giới thiệu về cách so sánh hai số thập phân có phầnnguyên khác nhau qua ví dụ cụ thể là so sánh 8,1m và 7,9m và cách so sánh hai sốthập phân có phần nguyên giống nhau qua ví dụ cụ thể là so sánh 35,7m và 35, 698m.Qua hai ví dụ này, SGK đưa ra quy tắc so sánh hai số thập phân
* Toán 5 theo mô hình VNEN:
Trong Bài 24 So sánh hai số thập phân (trang 91-95), học sinh tiếp cận với cách so
sánh hai số thập phân thông qua quan sát các sự vật, đối tượng trong thực tế cuộc sống.Sau đó, học sinh làm quen với cách so sánh hai số thập phân qua việc chuyển số thậpphân thành phân số thập phân rồi tiến hành so sánh hai phân số thập phân này, cụ thể:
Trang 40Trong hai số thập phân có phần nguyên khác nhau, số thập phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
- Ta thấy 35,7 và 35,698 đều có phần nguyên bằng nhau (đều bằng 35), nên ta sosánh các phần thập phân:
Phần thập phân của 35,7 là 107 ; Phần thập phân của 35,698 là 1000698
Mà 107 = 1000700 , 1000700 > 1000698 (vì ở hàng trăm có 7>6)
Vậy 107 > 1000698 (phần nguyên bằng nhau, hàng phần mười có 7>6)
Trong hai số thập phân có phần nguyên bằng nhau, số thập phân nào có hàng phần mười lớn hơn thì lớn hơn.
Trên cơ sở những trải nghiệm có được, học sinh hình thành kiến thức mới về quytắc so sánh hai số thập phân có phần nguyên khác nhau; so sánh hai số thập phân cóphần nguyên bằng nhau; hai số thập có phần nguyên và phần thập phân bằng nhau:Muốn so sánh hai số thập phân ta có thể làm như sau:
- So sánh phần nguyên của hai số thập phân đó như so sánh hai số tự nhiên, số
thập phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
Ví dụ : 2012,5 > 1998,7 (vì 2012 > 1998)
- Nếu phần nguyên của hai số thập phân đó bằng nhau thì so sánh phần thập phân,
lần lượt từ hàng phần mười, hàng phần trăm, hàng phần nghìn,… ; đến cùng một hàng nào đó, số thập phân nào có chữ số ở hàng tương ứng lớn hơn thì số đó lớn hơn.
Ví dụ: 74,885 < 74,9 (vì phần nguyên bằng nhau, ở hàng phần mười có 8<9) 430,72 < 430,70 (vì phần nguyên bằng nhau, hàng phần mười bằng nhau, ở
hàng phần trăm có 2>0).
- Nếu hai số thập phân có phần nguyên và phần thập phân bằng nhau thì hai số
đó bằng nhau.
Ngoài ra, để góp phần khơi gợi hứng thú học Toán, Toán 5 VNEN còn cung cấp
cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về số thập phân thông qua bài đọc Em có biết
trong phần Hoạt động ứng dụng (tập 1A, trang 97-98)
Như vậy, có thể thấy rằng, bên cạnh đảm bảo tính tính tích hợp thì những nội
dung kiến thức trong tài liệu Hướng dẫn học Toán 5 còn đảm bảo tính khoa học và
tính sư phạm vì tài liệu này đảm bảo cung cấp đầy đủ những kiến thức về môn Toánlớp 5 theo yêu cầu của Bộ GD & ĐT và những nội dung kiến thức trong tài liệu này về
cơ bản giống với những kiến thức trong SGK Toán 5 hiện hành; ngoài ra với những
35