Nghiên cứu văn hóa ứng xử của các nhân vật trong tác phẩm văn học, người đọc có thể thấy được nét riêng, độc đáo trong quan hệ đối nhân xử thế của con người ở mỗi dân tộc... Các nhà nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ THỊ DUNG
cña nguyÔn du tõ gãc nh×n v¨n hãa øng xö
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lã Nhâm Thìn
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu được sử dụng trong
luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ
ràng Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Vũ Thị Dung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến thầy giáo GS TS Lã Nhâm Thìn – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm cùng quý thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã trực tiếp giảng dạy, trang bị kiến thức, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để luận văn của em đạt kết quả cao nhất
Cuối cùng, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – những người đã luôn động viên, cổ vũ tinh thần và giúp đỡ em hoàn thiện luận văn này
Với sự nỗ lực hết mình, em đã hoàn thành luận văn này Nhưng do những hạn chế nhất định về sự hiểu biết của bản thân cũng như các điều kiện khách quan nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Vũ Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TÌNH YÊU CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU 10
1.1 Giới thuyết khái niệm 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa 10
1.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử 13
1.2 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ tư tưởng Nho giáo 16
1.3 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ đạo lí dân tộc: Tình yêu Kiều - Kim: “Trăm năm tạc một chữ đồng” 27
1.4 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ góc nhìn giới 32
1.4.1 Tình yêu Thúy Kiều - Kim Trọng: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” 32
1.4.2 Tình yêu Thúy Kiều - Thúc Sinh: “Trước còn trăng gió sau ra đá vàng” 40
1.4.3 Tình yêu Thúy Kiều - Từ Hải: “Đôi mắt cùng liếc, đôi lòng cùng ưa” 43
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG QUAN HỆ GIA ĐÌNH CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU 48
2.1 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình từ tư tưởng Nho giáo 48
Trang 52.1.1 Quan hệ cha con theo đạo hiếu: “Làm con trước phải đền ơn
sinh thành” 48
2.1.2 Quan hệ vợ chồng với Thúc Sinh và Từ Hải: “Nàng rằng phận gái chữ tòng” 55
2.2 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình từ đạo lí dân tộc 58
2.2.1 Tình cảm con cái - cha mẹ: “Xót người tựa cửa hôm mai” 58
2.2.2 Tình cảm chị em: “Xót tình máu mủ” 62
2.3 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình từ góc nhìn giới (Quan hệ Thúy Kiều - Hoạn Thư: “Chút phận đàn bà”) 66
Tiểu kết Chương 2 69
Chương 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU 70
3.1 Văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội từ tư tưởng Nho giáo: “Trên vì nước dưới vì nhà” 70
3.2 Văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội từ đạo lí dân tộc: “ân oán rạch ròi” 74
3.3 Ý nghĩa của việc tìm hiểu văn hóa ứng xử qua nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 86
3.3.1 Đối với đương thời 86
3.3.2 Đối với ngày nay 87
Tiểu kết Chương 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mỗi một dân tộc có một nền văn hóa riêng, mang những nét đặc
thù khó trộn lẫn Văn hóa của một dân tộc bao gồm nhiều phương diện, trong
đó văn học là một yếu tố thuộc văn hóa Không thể hiểu hết ý nghĩa và giá trị của một tác phẩm nếu người tiếp nhận không nắm được đặc điểm văn hóa của dân tộc - nơi mà tác phẩm ra đời Vì tác phẩm văn học là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, như là một trong những sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hóa một tộc người, một đất
nước “Sáng tác văn học trước hết là một hành động văn hóa Tác phẩm văn
học, sự kiện văn học là một loại chứng tích văn hóa” [55, 5] Vậy nên văn hóa
và văn học có mối quan hệ biện chứng với nhau Việc nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc độ văn hóa giúp người đọc có một cách tiếp cận mang tính
xã hội đối với tác phẩm Và ngược lại, qua việc tìm hiểu tác phẩm chúng ta cũng hiểu sâu hơn về văn hóa của một dân tộc
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là một hướng nghiên cứu thú vị Trên thế giới, nhà thi pháp học nổi tiếng M Bakhtin có thể coi là một trong những đại diện đầu tiên vận dụng kết hợp Văn học - Văn hóa học, văn học - Ngữ dụng học trong các công trình nghiên cứu về F Rablais và về F Dostoievski Còn ở Việt Nam, việc tiếp cận văn học qua con đường văn hóa được hình thành
từ giữa thế kỷ XX và đến nay đã trở thành một hướng lớn trong nghiên cứu văn học Vai trò của văn hóa trong nghiên cứu văn học và việc vận dụng những thành tựu văn hóa để lý giải văn học đã đạt được nhiều kết quả đáng kể
Văn hóa ứng xử là một phương diện của văn hóa mỗi dân tộc Nghiên cứu văn hóa ứng xử của các nhân vật trong tác phẩm văn học, người đọc có thể thấy được nét riêng, độc đáo trong quan hệ đối nhân xử thế của con người
ở mỗi dân tộc
Trang 7Truyện Kiều là một kiệt tác của Nguyễn Du nói riêng, là thành tựu đỉnh
cao của văn học dân tộc Việt Nam nói chung Đã có không ít học giả ca ngợi
Truyện Kiều không tiếc lời trong bài viết của mình Tại lễ kỉ niệm ngày mất
của Nguyễn Du năm 1924, trong bài Diễn thuyết về quốc văn, Phạm Quỳnh
đã say mê bộc bạch tình yêu của mình đối với Truyện Kiều – tác phẩm mà ông cho là quý báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi: “Hiện nay suốt
quốc dân ta, từ trên hàng thượng lưu học thức, dưới đến kẻ lam lũ làm ăn, bất
cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết Truyện Kiều, ai ai cũng thuộc Truyện Kiều, ai ai cũng kể Truyện Kiều, ai ai cũng ngâm Truyện Kiều…” Với ông Truyện Kiều vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là thánh thư
phúc âm của cả dân tộc và cũng “chiếm được một địa vị cao quý” trong nền văn học thế giới
Trong “Đặc sắc văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều”,
cố giáo sư Đặng Thai Mai cũng có những đánh giá tương tự về giá trị của
Truyện Kiều
Với giá trị to lớn như vậy nên ngay từ khi ra đời, Truyện Kiều đã được
tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Các nhà nghiên cứu đã thẩm bình, phê bình, khảo cứu, nghiên cứu dưới góc độ thi pháp học, loại hình học, tiếp nhận
văn học, so sánh văn học,…và tìm hiểu Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa ứng
xử qua nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm cũng là một đóng góp vào thành
tựu nghiên cứu về kiệt tác này
1.2 Truyện Kiều là một tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở trường phổ
thông cũng như ở các trường Đại học, Cao đẳng Số lượng các đoạn trích của tác phẩm được trích giảng ở trường phổ thông là nhiều hơn cả so với các tác
phẩm khác Ở bậc THCS có đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”,“Cảnh ngày
là đoạn trích “Trao duyên”, “Chí khí anh hùng” và đọc thêm các đoạn “Nỗi
Trang 8thương mình”, “Thề nguyền” (Ban cơ bản) Các tài liệu viết về các đoạn trích
này từ trước đến nay nghiêng về bình giảng vẻ đẹp của từ ngữ, nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật, phẩm chất của nhân vật,…Luận văn nghiên cứu
“Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du từ góc nhìn văn
hóa ứng xử” sẽ giúp các thầy cô giáo và các em học sinh có thêm sự tham
khảo để hiểu hơn các đoạn trích giảng, từ đó hiểu hơn văn hóa ứng xử của người Việt, nhằm giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Qua việc khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng từ trước đến nay
đã có một số công trình nghiên cứu văn học tiếp nhận Truyện Kiều dưới góc
nhìn văn hóa và văn hóa ứng xử Có thể kể đến một số công trình nổi bật:
Trong cuốn “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa”, tác
giả Trần Nho Thìn đã trình bày những tâm huyết của mình về cách tiếp cận văn hóa như một hướng đi chủ yếu để nghiên cứu văn học Việt Nam Theo
tác giả “nếu chúng ta tìm kiếm và tích lũy được nhiều sự kiện văn hóa trong
quá khứ để giải thích văn học thì khả năng suy diễn, khả năng hiện đại hóa có thể được giảm thiểu và chúng ta có nhiều cơ may đền gần sự thật lịch sử văn học” [55, 6] Ở bài viết Nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại nhìn từ góc độ văn hóa (Qua lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều) [55, 37], Trần Nho
Thìn đã chỉ ra những hạn chế của các công trình nghiên cứu Truyện Kiều theo
hướng hiện đại hóa và khẳng định cần phải nghiên cứu tác phẩm này dưới văn hóa của thời đại Nguyễn Du Ví dụ nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể
hiểu chữ “Nghĩa” theo khái niệm vốn có trong Nho giáo để hiểu chữ “Nghĩa” trong Truyện Kiều (“Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân”, “Kẻ chê bất nghĩa, kẻ cười
vô lương”) Chữ “Nghĩa” trong những câu thơ của Truyện Kiều đã chuyển từ
phạm vi văn hóa chính trị sang phạm vi văn hóa ứng xử đời thường Kinh
nghiệm cho thấy với Truyện Kiều không thể xuất phát từ lý thuyết rồi đem đối
Trang 9chiếu một cách hình thức với khái niệm trong tác phẩm mà phải xuất phát từ chính tác phẩm, từ cách hiểu của tác giả, một cách cảm nhận mang tính nguyên hợp về thế giới để xem xét Một ví dụ khác là tác giả cũng khẳng định
không thể lấy quan điểm giai cấp để xem xét các nhân vật trong Truyện Kiều
theo thành phần giai cấp, quan hệ giữa các nhân vật là quan hệ mang tính giai
cấp Cách lý giải của Trương Tửu trong “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du”
là không thích hợp vì cho rằng tác phẩm đã phản ánh trung thành tình hình đấu tranh giai cấp ở cuối thế kỷ XVIII dựa học thuyết đấu tranh giai cấp Ở đây, cần phải xuất phát từ trình độ nhận thức về xã hội của Nguyễn Du để lý giải Theo quan điểm truyền thống, Nguyễn Du nhìn xã hội thành hai loại người là người tốt và người xấu Quan lại hay dân thường đều có người tốt người xấu Nguyễn Du có cách cảm nhận riêng về xã hội Có lẽ xã hội như
chúng ta hiểu ngày nay được Nguyễn Du hình dung qua các khái niệm “cõi
người ta” “quê người” “đất khách quê người” “chân trời góc bể” tức là
những gì đối lập với “gia đình” Những không gian xã hội ấy luôn thù địch với con người, chứa đựng đầy những bất trắc đe dọa tính mạng con người và con người cảm thấy nhỏ bé, mong manh, cô đơn trước không gian ấy Sự phân tích nhận thức xã hội của Nguyễn Du như vậy không chỉ đảm bảo tính
cụ thể của lịch sử tư tưởng tác giả mà còn giúp hiểu được nỗi cô đơn của con người trong “cõi người ta”, cảm nhận hết chiều sâu của những dòng thơ ly biệt cũng như tâm trạng nhớ nhà của nhân vật…
Trong bài viết “Triết lý Truyện Kiều trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX” ở cuốn “Văn học trung đại Việt Nam
đóng góp cũng như những hạn chế của các tác giả như Trần Đình Hượu, Phan Ngọc hay Trần Ngọc Vương khi lý giải về thuyết “tài mệnh tương đố” Mỗi tác giả có cách lý giải khác nhau, song tựu chung lại là chưa thực sự tính hết
Trang 10tính đa dạng của các từ ngữ do chính Nguyễn Du dùng, đặc biệt là chưa phân
tích riêng triết lý của Truyện Kiều trong tương quan với thời đại sản sinh ra
nó Theo cách lý giải của Trần Nho Thìn, muốn hiểu đúng nội dung triết lý
của Truyện Kiều cần giải mã khái niệm “tài” như một khái niệm đặc thù của
Truyện Kiều Mặt khác, cần phải chỉ rõ tại sao Nguyễn Du lại nêu vấn đề đó,
tức là cần đặt vấn đề vào bối cảnh thực tế lịch sử xã hội và tâm lý tư tưởng
của bản thân Nguyễn Du Theo tác giả, chữ “tài” trong Truyện Kiều có nhiều
nội dung khác nhau: tài mạo, tài hoa, tài sắc, tài tình, tài đánh giặc,…song chỉ
có tài sắc và tài tình mới thuộc triết lý “tài mệnh tương đố” (“Thương thay
cũng một kiếp người Hại thay mang lấy sắc tài làm chi”, “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”).Và tác giả đã dựa vào văn hóa trung đại để lý giải triết lý
này Lý giải vấn đề người tài sắc thường hay bất hạnh tác giả dựa vào thực tiễn lịch sử văn hóa: Trong xã hội phong kiến phụ quyền Phương Đông, người phụ nữ có nhan sắc thường là nạn nhân của sự chuyên quyền độc đoán của đàn ông, số phận của họ lệ thuộc vào đàn ông Người phụ nữ không có quyền lựa chọn cho mình cách sống, cách ứng xử hay làm chủ thân xác và tâm lý của mình Họ có thể bị cướp, bị bắt, bị tuyển mộ, bị dâng nạp, bị gả bán cho bạn quan lại, vua chúa hay bọn lắm tiền nhiều của Họ bị đối xử để thỏa mãn dục vọng, bị đối xử bất công nên nhan sắc tàn phai, số phận bi đát Bên cạnh
“tài sắc” là những người phụ nữ “tài tình” (tài làm thơ, tài đánh đàn – tài gắn với môn nghệ thuật đề cao cảm xúc) cũng nằm trong triết lý “tài mệnh tương
đố” của Truyện Kiều Triết lý này bắt nguồn từ những quan sát và suy ngẫm
lâu dài của Nguyễn Du về thân phận của những người ả đào mà ông đã gặp Những người phụ nữ đem tài sắc của mình để phục vụ cho nhu cầu ăn chơi, giải trí của bọn đàn ông và họ làm thành một lớp người đặc biệt trong xã hội được gọi là đào nương, ả đào, cô đào Họ phải bán tài đàn hát để kiếm sống, thậm chí có thể kiếm sống bằng cả thân xác và trở thành vợ thiếp Số phận, cuộc đời của họ cũng bất hạnh, đau khổ
Trang 11Trong cuốn “Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa”, tác giả Lê
Nguyên Cẩn đã khám phá văn hóa tâm linh cũng như văn hóa ứng xử trong
Truyện Kiều Với văn hóa tâm linh, người Việt Nam đồng thời tiếp nhận cả ba
thành tố Nho – Phật – Lão và hòa trộn chúng, theo cách Việt Nam, thành hệ thống quan niệm phục vụ cho đời sống tư tưởng và tâm linh của mình Ở
Truyện Kiều, ta thấy sự hòa trộn đó: bên cạnh các nho gia như Vương ông và
Vương Quan, Kim Trọng, hay Hồ Tôn Hiến, còn có các nhân vật đại diện Phật giáo như Giác Duyên, Tam Hợp Đạo Cô và cả một thầy phù thủy nữa Như vậy, thế giới nhân vật trong tác phẩm này gắn chặt với quan niệm về thế giới tâm linh vốn đã có từ trước trong lòng dân tộc Còn dưới góc nhìn văn hóa ứng xử, tác giả Lê Nguyên Cẩn cũng đã phân tích những ứng xử của Thúy Kiều theo chữ “Hiếu”, theo đạo tòng phu của Nho giáo, cách cư xử đầy tinh thần sẻ chia trách nhiệm của Thúy Vân, ứng xử của Chung Công theo đạo lý “tình làng nghĩa xóm” “tắt lửa tối đèn” có nhau của dân tộc ta, ứng xử của Kim Trọng đối với Kiều và với gia đình nhà Kiều,…
Dưới góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn “Truyện
Kiều từ góc nhìn nhân học văn hóa” của Lê Minh Huệ (Trường Đại học sư
phạm Hà Nội) cũng đã nghiên cứu Truyện Kiều ở nhiều khía cạnh mới như
gia đình, dòng họ, hôn nhân, giới tính, ngôn ngữ Qua sự phân tích cấu trúc về gia đình, các hình thức tổ chức quan hệ dòng họ, những cuộc hôn nhân và giới
tính từ góc nhìn nhân học văn hóa, tác giả khẳng định Truyện Kiều đã thể hiện
được những đặc trưng của văn hóa trung đại, nói được những vấn đề của xã hội bấy giờ: Đó là sự mục ruỗng của xã hội phong kiến, nỗi khổ của người dân, đặc biệt là những người phụ nữ đẹp; đồng thời cũng nói lên được tiếng nói khát khao hạnh phúc của con người và khẳng định được vai trò của các nhân vật theo đúng giới tính
Trang 122.2 Những công trình nghiên cứu riêng về nhân vật Thúy Kiều, từ
trước tới nay cũng rất nhiều, song các công trình nghiên cứu tập trung khai thác nghệ thuật xây dựng nhân vật (ngôn ngữ đối thoại, nghệ thuật độc thoại
nội tâm nhân vật, …), hoặc so sánh nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm “Kim Vân Kiều
truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc); so sánh nhân vật Thúy Kiều
với nhân vật Dao Tiên trong truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự,…Cũng có
một số công trình đã đề cập đến ứng xử của nhân vật Thúy Kiều nhưng chỉ phân tích ứng xử củaThúy Kiều ở một phương diện nào đó như ứng xử trong quan hệ cha con hoặc ứng xử trong tình yêu… mà chưa có sự thống kê đầy đủ
và phân tích toàn diện tất cả những ứng xử của nhân vật Thúy Kiều trong các mối quan hệ phức tạp với các nhân vật khác trong tác phẩm
Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các công trình nghiên cứu về tác
phẩm Truyện Kiều cũng như thành tựu nghiên cứu về nhân vật Thúy Kiều,
luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề “Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du từ góc nhìn văn hóa ứng xử” với hi vọng đem đến
nhận thức một cách đầy đủ về những ứng xử của Thúy Kiều trong mối quan
hệ phức tạp với các nhân vật trong tác phẩm
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài thực hiện các mục đích:
- Tìm hiểu nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
trong các mối quan hệ đan xen phức tạp dưới góc nhìn văn hóa ứng xử
- Phân tích tâm lý, tính cách nhân vật Thúy Kiều thông qua văn hóa ứng xử làm nổi bật phẩm chất, tính cách của nhân vật
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trong mối quan
hệ với các nhân vật khác từ góc nhìn văn hóa ứng xử
Trang 13Những biểu hiện văn hóa ứng xử của nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du:
- Văn hóa ứng xử trong tình yêu
- Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình
- Văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội
- Ý nghĩa của việc tìm hiểu văn hóa ứng xử qua nhân vật Thúy Kiều trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, hệ thống hóa: Người viết tiến hành khảo sát, thống kê và hệ thống hóa những câu thơ theo cách ứng xử của Thúy Kiều
- Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu để tìm ra điểm khác biệt của
nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với nhân vật Thúy Kiều trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
- Phương pháp liên ngành giữa văn học và văn hóa: Nghiên cứu ứng xử của nhân vật Thúy Kiều theo văn hóa Nho giáo, theo truyền thống đạo lý dân tộc Việt Nam
- Phương pháp phân tích: Phân tích các dẫn chứng để làm sáng tỏ ứng
xử của Thúy Kiều trong các mối quan hệ với những nhân vật khác
6 Đóng góp của đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống nhân vật Thúy Kiều trong
Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa ứng xử Qua đó đưa đến một cái nhìn tổng
quát về văn hóa ứng xử của xã hội phong kiến thời bấy giờ, thấy được cụ thể
Trang 14hơn về một phương diện của nền văn hóa của dân tộc Từ đó khẳng định vai trò to lớn của nhà thơ, nhà văn hóa Nguyễn Du trong lịch sử dân tộc
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn, cung cấp thêm
tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy về Truyện Kiều
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Văn hóa ứng xử trong tình yêu của nhân vật Thúy Kiều Chương 2: Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình của nhân vật Thúy Kiều
Chương 3: Văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội của nhân vật Thúy Kiều
Trang 15NỘI DUNG
Chương 1
VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TÌNH YÊU CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người Văn hóa đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử các dân tộc, các quốc gia Văn hóa là nền tảng, là động lực của quá trình phát triển của cộng đồng nói chung và của từng cá thể trong cộng đồng nói riêng
Có rất nhiều những định nghĩa văn hóa khác nhau tùy theo góc độ của người nghiên cứu muốn nhấn mạnh về phương diện nào đó Có thể nhìn văn hóa từ góc độ một hệ thống tôn giáo – đạo đức ( Nho – Phật – Đạo), có thể nhìn văn hóa từ góc độ dân tộc – chủng tộc Từ hình thái xã hội cũng có thể nêu ra định nghĩa về văn hóa
Như chúng ta đã biết, văn hóa là một từ Việt gốc Hán Theo nhiều tài liệu cổ xưa nhất của Trung Quốc thì người Trung Quốc dịch từ văn hóa là biểu hiện cách nhìn của người phương Đông: văn có nghĩa là “vẻ đẹp”, hóa có nghĩa là “thay đổi, biến đổi”; “giáo hóa” nói gộp lại, văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là “làm cho trở nên đẹp đẽ, văn vẻ”
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hóa thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B.Taylo là đại diện
của họ Theo ông, “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín
Trang 16ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”.[65,18 ]
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.[28, 413]
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên): văn hóa là:
1 Tổng thể nói chung những giá tri vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Kho tàng văn hóa dân tộc Văn hóa Phương Đông Nền văn học cổ
2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh thần ( nói tổng quát ) Phát triển văn hóa Công tác văn hóa
3 Tri thức, kiến thức khoa học ( nói khái quát ) Học văn hóa Trình độ văn hóa
4.Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Sống có văn hóa của nền văn hóa truyền thống dân tộc và phê phán những hành vi ăn nói thiếu văn hóa
5 Nền văn hóa của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau Văn hóa rìu hai vai Văn hóa gốm màu Văn hóa Đông Sơn
Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc
cho rằng: “ Không có vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng
có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân
Trang 17khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực
và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác ” [65, 22]
Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình” [49, 27]
Trước tình hình có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, UNETSCO – Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về văn hóa
như sau: “ Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh
thần hay vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [65, 23 - 24 ]
Có thể nói, dù mỗi nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới hay ở Việt Nam khi tiếp cận văn hóa đều có cách hiểu, cách tiếp cận riêng, song họ luôn thống nhất rằng, khi nói đến văn hóa là nói đến tất cả những gì trong hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và làm cho tình người phát triển ngày càng cao hơn.Văn hóa là của con người, do con người và cho con người Không có con người nằm ngoài văn hóa cũng như không có văn hóa nào mà lại không có con người Con người chính là sản phẩm của xã hội đã xây dựng do những định chế quy định hành vi ứng xử xã hội và hành vi ứng
xử bản thân trong không gian xã hội Xét con người trong một thời đại lịch sử nào đó thì nó sẽ chịu sự phản ánh cả về vật chất lẫn tinh thần của một nền văn hóa mang trong nó tiếng nói, hơi thở, sức sống của dân tộc hay cộng đồng
Trang 18ấy.Văn hoá là quá trình chuẩn mực hóa con người trong các mối quan hệ biểu hiện qua những hành vi ứng xử Do đó, chúng tôi sẽ xem xét các biểu hiện của văn hóa nói chung từ các góc nhìn khác nhau khi soi chiếu vào nhân vật
1.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử
Văn hoá ứng xử có vai trò rất quan trọng trong đời sống thường nhật và đời sống tâm linh của nhân loại nói chung, của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam nói riêng
Thuật ngữ “ứng xử” có rất nhiều định nghĩa khác nhau Theo Từ điển
tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), nhóm tác giả đưa ra khái niệm “ứng xử”
là từ ghép gồm “ứng” và “xử” “Ứng” là sự ứng đối, ứng phó, “xử” là xử thế,
xử lí, xử sự
“Ứng xử” là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong trường hợp cụ thể nhất định Là sự phản ứng có lựa chọn, tính toán, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao trong giao tiếp
Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, phản ứng của con người chịu sự chi phối của các quan hệ xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán, truyền thống tổ chức xã hội Như vậy, phản ứng của con người không còn là
tự nhiên nữa mà ngay cả bản thân mình cũng mang tính chất xã hội Điều đó chứng tỏ bản chất xã hội của con người được bộc lộ qua các hành vi ứng xử Như vậy khái niệm ứng xử bao hàm cả nội dung bản chất tự nhiên và bản chất
xã hội của con người Con người cần học hỏi trau dồi kiến thức ngay từ khi còn nhỏ và hòa vào môi trường tập thể để mọi giá trị tinh thần của cá nhân bộc lộ như tình cảm, trí tuệ, tư duy trừu tượng, ngôn ngữ trong ứng xử với mọi người để cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Từ đó khái niệm ứng xử mang những đặc trưng như sau:
Ứng xử được bắt nguồn từ mỗi cá nhân cụ thể Trong trường hợp cụ thể mỗi cá nhân có đặc điểm và nhận thức hành vi ứng xử theo trình độ của mình
Trang 19Ứng xử chịu sự chi phối của các chuẩn mực xã hội Chuẩn mực xã hội
do các giá trị văn hóa tạo nên, nó điều hòa các mối quan hệ ứng xử theo một trình tự nhất định, từ vị trí xã hội của mỗi cá nhân khác nhau mà có những ứng xử khác nhau Sự kết hợp hài hòa trong ứng xử của con người giữa “bản chất tự nhiên” và “bản chất xã hội” là do yếu tố văn hóa quy định
Vậy cụm từ “văn hóa ứng xử” được định nghĩa như thế nào?
Ứng xử là thành tố của văn hóa
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc văn hóa Sau đây là một cách tiếp cận Trong văn hóa, nhân tố hàng đầu là sự hiểu biết nhưng hiểu biết không thôi thì chưa thành văn hóa Chỉ thành văn hóa khi sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn, hoạt động cho mỗi dân tộc và vươn tới những cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan
hệ giữa người với người, người với môi trường xã hội và tự nhiên Qua cách tiếp cận trên thì cấu trúc của văn hóa chính là sự hiểu biết, là khả năng ứng xử được thể hiện trong lối sống, đạo lý, tâm hồn, hành động, chỉ có thể đánh giá được văn hóa của một người thông qua ứng xử của người đó
Văn hóa là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng xử căn bản: ứng xử tự nhiên, ứng xử xã hội và ứng xử bản thân
Con người với tự nhiên: tương tác mật thiết, trước hết là ở môi trường sống của con người, cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết để tồn tại và phát triển Con người từ thuở thiếu thời đã gắn với thiên nhiên: cây đa, giếng nước, sân đình, bờ suối, ngàn dâu, tùy từng vùng miền mà hình tượng nào được xuất hiện nhiều trong văn chương Thiên nhiên là người bạn, là chứng nhân cho bao nỗi buồn vui của con người.Thiên nhiên là cội nguồn góp phần cung cấp cho con người những nhân cách cao quý Thuở xưa, xem nhân cách cao quý, các đấng bậc được coi là sản phẩm sẵn có của trời - đất, là sự kết tinh của những gì tốt đẹp nhất trong vũ trụ Vì thế mà con người vay
Trang 20mượn từ thiên nhiên các mẫu mực để diễn tả những gì liên quan đến con người: ngoại hình, dung mạo, hành vi đến đời sống nội tâm,
Trong ứng xử xã hội của con người: tạo nên các ứng xử giữa người này với người khác Các hệ chuẩn mực được hình thành trong các hoạt động xã hội của con người rất rộng lớn bao gồm: văn hóa sản xuất, văn hóa tư duy, văn hóa giao tiếp, văn hóa sinh tồn và nhiều hệ chuẩn về các phương diện văn hóa khác của đời sống xã hội được hình thành từ những quan hệ huyết tộc, những mối quan hệ lịch sử, nền kinh tế, chế độ chính trị, hệ tư tưởng, ngôn ngữ, Người ta biết đến các hệ chuẩn mực về giới tính, về thế hệ, về tuổi tác Nguyên tắc chung để hình thành những hệ chuẩn mực này là tạo ra sự đồng thuận xã hội, cân bằng về các lợi ích giữ gìn bản sắc và phát triển giao tiếp
Bên cạnh đó còn là những hệ thống chuẩn mực về tinh thần đó là: các chuẩn mực về tín ngưỡng, tâm linh, văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, thẩm mỹ, các chuẩn mực này làm định hướng cho những nhu cầu, những đánh giá, những sở thích của con người trong đời sống xã hội
Các chuẩn mực về thiết chế xã hội, nhằm duy trì và củng cố các những hoạt động văn hóa giữ gìn bản sắc văn hóa Trong mỗi chuẩn mực xã hội người ta nhìn thấy sự tổng quát Hệ thống các chuẩn mực xác định bản sắc văn hóa vùng, miền, tộc người, dân tộc về các giai cấp tầng lớp trong xã hội,
về giới tính, tuổi trẻ, thế hệ và về rất nhiều những chuẩn mực khác Do đặc thù lịch sử, dân tộc ta đã chịu đô hộ ngót nghìn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc vì thế văn hóa nước ta cũng bị ảnh hưởng và chi phối theo mô hình ứng xử của phương Đông truyền thống
Ứng xử với bản thân con người: với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, hoạt động năng lực của con người, nguồn lực của con người, thể chất, trí tuệ, tình cảm của con người, phẩm hạnh của con người, thiên hướng của con người, nhận thức, đánh giá sáng tạo của con người là trung tâm của nền văn
Trang 21hóa Mọi nền văn hóa đều được tạo ra từ các chuẩn mực và thước đo đó, các cách thức phát triển bản thân con người
Trong mỗi nền văn hóa có những hệ thống chuẩn mực đặc trưng tạo ra các sản phẩm văn hóa, trong đó sản phẩm văn hóa tuyệt vời nhất chính là nhân cách văn hóa Trong tư cách con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử, các nhân cách văn hóa đã gắn bó hữu cơ với những chuẩn mực văn hóa, vừa tiếp nhận, vừa sáng tạo thêm Để tổ chức sản xuất nông nghiệp, gắn gia đình với làng nước nên nhân dân Việt Nam chọn chuẩn mực của đạo Nho để tạo nên trật tự xã hội có vua, quan, dân, có nghi lễ, quy
chế, làm cho quốc gia trở nên có văn hiến Các chuẩn mực “tam cương, ngũ
thường, ngũ luân” dùng lễ nghĩa để củng cố trật tự xã hội và là định hướng cơ
bản của nền văn hóa Việt Nam
Dân tộc Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Ứng xử nổi bật nhất với tự nhiên chính là thích ứng với tự nhiên Trong lịch sử văn hóa chúng ta đã tự hào vì đã ứng xử tài tình không đánh mất mình trước những thế lực ngoại xâm Không những thế, chúng ta còn biết phát huy tốt đẹp và làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam Con người Việt Nam ngày càng hoàn thiện mình hơn nữa với những chuẩn mực nhân cách làm bề dày cho nền văn hóa dân tộc
1.2 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ tư tưởng Nho giáo
Truyện Kiều của Nguyễn Du, ngay từ khi ra đời đã hấp dẫn người đọc ở
nhiều phương diện Một trong những điều làm nên sự cuốn hút ở mọi thời của
kiệt tác này chính là chủ đề tình yêu đôi lứa Tình yêu trong Truyện Kiều hấp
dẫn người đọc bởi nó vừa mang những vẻ đẹp truyền thống của Nho giáo, của đạo lý dân tộc, vừa thể hiện những nét hiện đại, mới mẻ vượt ra ngoài mọi quy tắc của lễ giáo phong kiến
Trước hết, tình yêu trong Truyện Kiều mang những nét văn hóa ứng xử
Trang 22của Nho giáo Trong thời kì phong kiến, khi mà Nho giáo thịnh hành, con người phải “khắc kỉ phục lễ”, uốn mình theo những chuẩn mực đạo đức: “Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” Người phụ nữ
phải có được “tứ đức” (công, dung, ngôn, hạnh) “Công”: phải khéo léo, giỏi giang trong việc nữ công gia chánh “Dung”: ngoại hình gọn gàng, dung nhan
phải hoà nhã “Ngôn”: lời nói phải dịu dàng, khoan thai, mềm mỏng “Hạnh”: phẩm chất phải nết na, tiết hạnh, thủy chung, hiếu thảo, yêu chồng thương con,…Xét theo chuẩn mực đạo đức đó, Nho giáo yêu cầu người con gái trong tình yêu phải luôn giữ được tiết hạnh, trinh tiết Nếu không sẽ bị xã hội coi thường, lên án
Thúy Kiều là đứa con tinh thần vô giá nhất mà Nguyễn Du gửi gắm bao tâm huyết Chính vì vậy, phẩm hạnh của Kiều được cụ Nguyễn “chăm chút” trong từng “đường đi nước bước”, sự xuất thân, cách ứng xử của nàng trong cuộc sống, trong tình yêu Suốt dọc chiều dài tác phẩm, Thúy Kiều phải trải qua rất nhiều mối tình Tha thiết có, mặn nồng có và thoáng qua, khổ đau
cũng có…Nhưng độc giả khi đọc Truyện Kiều thường nghĩ ngay đến mối
tình của nàng với Kim Trọng Và cũng chỉ qua mối tình với Kim trọng, Nguyễn Du mới có dịp thể hiện suy ngẫm, quan niệm của mình về chữ “trinh” theo quan niệm của Nho giáo
Cũng giống với bao mối tình khác trong truyện Nôm giai nhân tài tử, Thúy Kiều và Kim Trọng đến với nhau bằng tình yêu “sét đánh” Gặp nhau vào một buổi chiều khi chị em Kiều đi tảo mộ trong tiết Thanh minh, Thúy
Kiều và Kim Trọng, ngay lập tức “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e” Họ
là một cặp trai tài gái sắc, người thì “quốc sắc” mà kẻ thì “thiên tài”
Sau những cảm xúc yêu mến ban đầu, tình yêu Thúy Kiều – Kim Trọng
càng ngày càng sâu đậm Họ đã trao cho nhau những kỉ vật “Giở kim hoàn với
khăn hồng trao tay”, cùng nhau làm thơ “Tay tiên gió táp mưa sa Khoảng
Trang 23trên dừng bút thảo và bốn câu”, cùng thưởng thức tiếng đàn của Kiều Trong
đêm tình tự, họ đã thề nguyền:
“Tiên thề cùng thảo một chương Tóc mây một món dao vàng chia đôi Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai mặt một lời song song” (447-450)
Có thể thấy, tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng là chân thành
và mãnh liệt Tưởng rằng, một cô Kiều đã từng dám “Xăm xăm băng lối vườn
khuya một mình” sang gặp Kim Trọng thì cũng sẵn sàng trao cả “tấm thân nghìn vàng” của mình cho chàng Thế nhưng, điều đó không diễn ra trong
đêm tình tự Khi thấy Kim Trọng:
“Hoa hương càng tỏ thức nồng Đầu mày cuối mắt càng nồng càng yêu Sóng tình dường đã xiêu xiêu Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” (497-500)
thì Thúy Kiều đã ngăn lại:
“Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Vẻ chi một đóa yêu đào Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đã cho vào bậc bố kinh Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu” (501-506)
Quan niệm về chữ “trinh” của cụ Nguyễn Du gắn với “bậc bố kinh”,
“đạo tòng phu” của lễ giáo phong kiến Đây rõ ràng là một quan niệm truyền thống thấm đẫm tư tưởng Nho giáo, người phụ nữ phải coi trọng tiết hạnh, sự trinh trắng và coi đó là thước đo về phẩm giá, đức hạnh của họ Thúy Kiều là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo nên nàng càng ý thức rõ hơn về điều
Trang 24này Mặc dù Kiều cũng hiểu là người con gái trẻ đẹp đến tuổi lấy chồng thì không thể ngăn cấm những chàng trai đến với mình Song nàng cũng ý thức được rằng để có thể trở thành một người con gái được trân trọng, một người
vợ hiền thì nàng phải biết giữ mình, giữ được chữ “trinh” theo đạo đức Nho
giáo Nàng cũng hiểu rằng, nếu một người con gái thuộc “tuồng trên Bộc
trong dâu” “ăn xổi ở thì Tiết trăm năm ấy bỏ đi một ngày!” thì “con người
ấy ai cầu làm chi!” Nói những điều này với Kim Trọng, một mặt để Thúy
Kiều giữ gìn danh tiết, phẩm giá của mình, để sau này không cảm thấy hổ
thẹn với chàng “Gieo thoi trước chẳng giữ giàng Để sau nên thẹn cùng
chàng bởi ai?” Mặt khác, quan trọng hơn là nàng muốn nâng niu, trân trọng
một mối tình đẹp Nàng “giữ giàng” để mối tình của Kiều – Kim đẹp từ đầu đến cuối, để giữ gìn sự trong sáng, trọn vẹn của tình yêu, của “đạo vợ chồng”
Kiều không muốn “Mây mưa đánh đổ đá vàng Quá chiều nên đã chán
chường yến anh” để rồi “Trong khi chắp cánh liền cành Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên” và “Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng” Nàng muốn dành
cho tình yêu, cho người yêu một sự trọn vẹn nhất, tròn đầy nhất Với những lời lẽ nhẹ nhàng, có lý có tình, “từ chối mà không cao đạo, không cự tuyệt, từ chối mà người nghe không thất vọng, tự ái” [26,152], Thúy Kiều đã khiến chàng Kim, mặc dù đang trong trạng thái say tình cũng phải đồng tình với suy nghĩ của nàng, thậm chí còn nể phục và trân trọng nàng hơn:
“Thấy lời đoan chính dễ nghe Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân” (523-524)
Ứng xử của Thúy Kiều với Kim Trọng trong đêm thề nguyền khi “sóng
tình dường đã xiêu xiêu” ấy, càng làm nổi bật vẻ đẹp đoan chính của nàng
Người đọc càng yêu quý nàng hơn khi thấy Kiều vừa say đắm, nồng nhiệt trong tình yêu, vừa trân trọng, nâng niu tình yêu ấy mà cũng không mất đi vẻ đằm thắm, dịu dàng trong cách ứng xử với Kim Trọng Điều này, đã làm nên
Trang 25sự khác biệt giữa hình tượng cô Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với
cô Kiều trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Cũng miêu tả
đêm Thúy Kiều và Kim Trọng tình tự, thề nguyền với nhau nhưng Thanh Tâm Tài Nhân có đến hai lần tả cảnh Kim Trọng muốn ân ái với Kiều để làm nổi bật phẩm chất kiên trinh của nàng Mỗi lần Kim Trọng có ý định hay hành động muốn ân ái với nàng thì Kiều đều lên giọng răn dạy và rao giảng đạo đức Lần thứ nhất, Kim Trọng vừa trông thấy Kiều đã chạy lại ôm chầm lấy
và bị nàng mắng: “Sáu lễ chưa thành, sao lại càn rỡ thế” Chàng ta cãi lại:
“Việc này vợ chồng không sao tránh khỏi, có gì càn rỡ? Nàng cự tôi, phải
chăng là đã đổi lòng?” Nghe vậy, Kiều lập tức răn dạy: “Thiếp nghĩ trai gái yêu nhau là ước nguyền gia thất, vị tất đã hại đến danh giáo Chỉ giận ban đầu thì quá nặng vì tình, lỡ làng chiều theo chồng, kịp đến thành lễ kết hôn,
đã không còn là người xử nữ, ngỡ là tình sâu vô hạn, mà hóa ra là việc xấu to,… tiếc cho Oanh Oanh đã coi nhẹ thân mình để chiều ý….đừng rơi vào cái nếp xấu gian phu, dâm phụ Như thế thì đôi ta có thể làm gương cho khách phong lưu muôn đời!” (….) Lần thứ hai, khi ở nhà Kim Trọng, chàng Kim
đắm say, ngất ngây khi ngắm nhìn người yêu “cặp mắt mơ màng, đôi má đỏ
bừng, như thược dược sương pha, hoa đào mưa nhuận, bất giác nguồn tình lai láng, lửa dục khôn cầm, liền ôm ghì lấy Thúy Kiều vào lòng, đăm đăm nhìn sững sờ, chẳng nói chẳng rằng…” Thế là cô Kiều lại có dịp rao giảng
những bài học nằm lòng “Con gái giữ mình như chiếc lọ, lọ để vỡ đâu lại còn
nguyên; mình để nhơ đâu lại còn sạch? Đêm hợp cẩn mai sau, biết lấy gì làm chứng? nếu thiếp sinh lòng bất chính, chàng cũng nên tự tay giết đi, để dứt mối dâm đãng, chớ lẽ nào lại lấy việc dâm bôn dạy cho vợ?” Có thể thấy cô
Kiều trong Kim Vân Kiều truyện đã dùng những lời lẽ rất nặng nề để chỉ trích
Kim Trọng Lời lẽ ấy trái ngược với những lời thiết tha, dịu dàng của Thúy
Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Thúy Kiều trong Truyện Kiều đã bộc
Trang 26lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trong trắng, của đức hạnh tự nhiên Chính những ứng xử như vậy của Thúy Kiều đã làm nên sức sống lâu bền ở hình tượng nhân vật của Nguyễn Du
Là người tôn thờ chữ “trinh” và ghê tởm cuộc sống “trong Bộc trên
dâu”, thế mà Kiều lại phải thất thân với tên buôn thịt bán người họ Mã, để rồi
cảm thấy đời mình coi như chấm hết “Thôi còn chi nữa mà mong Đời người
thôi thế là xong một đời!”, sau đó lại phải cam lòng chấp nhận cuộc sống kiếp
má đào “Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin
chừa!”, phải chịu cảnh “Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa”, rồi nàng lại phải
lấy nhiều chồng khác nhau Suốt mười lăm năm lưu lạc Kiều phải lấy chồng năm lần (khi thì phải lấy Mã Giám Sinh, khi thì lấy Thúc Sinh, khi Kiều lại chấp nhận nghe theo sự sắp đặt của Bạc bà để lấy Bạc Hạnh Rơi vào lầu xanh lần hai, Kiều được Từ Hải cứu Thúy Kiều – Từ Hải là những tri kỉ và họ trở thành vợ chồng Từ Hải chết, Kiều lại bị ép duyên cùng viên Thổ quan) Nếu nhìn vào những sự việc diễn ra trong cuộc đời lưu lạc của Kiều, người đọc sẽ nghi ngờ về tiết hạnh của nàng Điều này lý giải vì sao, từ trước đến giờ đã có nhiều ý kiến lên án, chê bai Kiều Họ cho rằng Thúy Kiều là một người phụ
nữ “bất trinh” Tiêu biểu là Nguyễn Công Trứ:
“Đã biết má hồng thì phận bạc Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng Chiếc thoa đành phụ nghĩa với Kim Lang Nặng vì hiếu nhẹ vì tình thời cũng phải
Từ Mã Giám sinh cho đến chàng Từ Hải Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu
Mà bướm chán ong chường cho đến thế Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”…
Trang 27Đầu thế kỉ XX, một số nhà nho như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, tuy mỗi người một khác nhưng đều có cách đánh giá tương đồng với
Nguyễn Công Trứ, thậm chí còn gọi nàng là “đĩ” Ngô Đức Kế cho rằng Truyện
Kiều “văn tuy hay mà truyện là một truyện phong tình, thì cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi, tám chữ ấy không tránh đàng nào cho khỏi” (Hữu Thanh,
1-9-1924) Còn Huỳnh Thúc Kháng lại viết “Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương vong bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít” (Tiếng Dân, 17-9-1930) Cụ Kháng cũng khẳng định “Vương Thúy Kiều trong con mắt của người Nam ta mà có giá trị xấp mấy
đó là cái giá trị của văn ông Nguyễn Du, chớ bản thân và chân tướng cùng phẩm hạnh của Kiều chẳng có chút gì đáng chép, chỉ là con đĩ thường như trăm ngàn chị em khác ở xóm Bình Khang mà thôi” [2, 29-30]
Đánh giá Thúy Kiều như vậy, dường như những nhà nghiên cứu, phê bình chỉ xuất phát từ điểm nhìn của một nhà Nho mà chưa thấy được Thúy Kiều, trong tác phẩm, còn là con người của hoàn cảnh hiện thực, của cuộc đời Kiều yêu và nguyện chung tình với Kim Trọng nhưng gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều không thể nhắm mắt làm ngơ trước tình cảnh của cha và em Trong cuộc đời lưu lạc, Thúy Kiều không chỉ phải tiếp rất nhiều khách lầu
xanh “Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh” mà còn phải lấy nhiều
chồng Nhìn bề ngoài thì thấy Kiều là một người phụ nữ không có trinh tiết, nàng đã là gái lầu xanh, lấy nhiều chồng, làm vợ nhiều người, song xuất phát
từ hình tượng nhân vật chúng ta lại có thể có cái nhìn khác về nhân vật này
Phải bán mình theo Mã Giám sinh, Kiều đau khổ đến tiều tụy “Lệ rơi
thấm đã tơ chia rũ tằm” Buổi sáng trước khi đi cùng Mã Giám sinh, Thúy
Kiều do nghi ngờ họ Mã nên đã âm thầm giấu một con dao theo người: nàng chuẩn bị cho tình huống xấu nhất khi nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp
“Phòng khi nước đã đến chân Dao này thì liệu với thân sau này” Thúy Kiều
Trang 28đã sẵn sàng lấy cái chết để bảo vệ phẩm giá, tiết hạnh Rồi đến lầu xanh Tú
Bà, khi đã hiểu rõ thực chất việc Mã Giám sinh và Tú bà âm mưu kinh doanh trên thân xác mình, Thúy Kiều đã rút dao tự vẫn để bảo toàn tiết hạnh Những hành động này của Thúy Kiều được vua Minh Mạng khen ngợi “Dùng dao nhọn sát thân, lòng trinh nữ giữ mình tiết lớn” Hơn nữa, trong suốt năm tháng dài sống trong ô nhục Kiều luôn có ý thức giữ được phẩm giá của mình
Sau những “Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm”, Kiều lại “Giật mình,
mình lại thương mình xót xa” Sống trong chốn bùn nhơ, Kiều vẫn mong có
cơ hội để thoát thân, thoát khỏi cảnh ô nhục Hai lần lấy chồng nơi chốn thanh lâu là trong hoàn cảnh đó Kiều lấy Thúc Sinh, làm vợ lẽ của một người hiền lành nhưng háo sắc và nhu nhược, tức là chọn cái đỡ xấu để thoát khỏi cái xấu hơn, bởi vậy về sau dù bị vùi dập với cơn ghen kinh hoàng của Hoạn Thư, nàng vẫn mang ơn Thúc Sinh như với người đã cứu vớt mình Khi rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Kiều đang vô cùng tuyệt vọng thì chính Từ Hải là người đã đem lòng yêu thương nàng Với Từ Hải, nàng đã chọn được người chồng xứng đáng Từ đem đến cho nàng những giờ phút hạnh phúc và đầy hi vọng, vậy nên Kiều đã hết lòng với Từ Cả hai trường hợp, với tư cách người vợ, Thúy Kiều đều ứng xử có tình, có nghĩa Điều đặc biệt là dù ở với Thúc Sinh hay sống với Từ Hải, Kiều vẫn không thôi tưởng nhớ Kim Trọng, vẫn luôn trân trọng mối tình với Kim Trọng Như vậy, nơi chốn bùn nhơ, dù tấm thân
bị đày đọa đến mức Kiều từng thốt lên “Tấm lòng trinh bạch từ nay xin
chừa”, thì thực chất nàng vẫn giữ được sự trinh bạch của tâm hồn, vẫn như
hương sen thơm ngát giữa bùn đen, điều mà Phạm Quý Thích gọi là “băng tâm” (Băng tâm tự khả đối Kim Lang) Mặc dù thể xác bị ô nhục, Kiều vẫn là hình ảnh tượng trưng cho những “tấm lòng như tuyết như băng” (Mộng Liên Đường chủ nhân) của người phụ nữ Việt Nam
Quan niệm về chữ “trinh” của Nguyễn Du trong tác phẩm rất tiến bộ,
Trang 29linh hoạt chứ không bị khuôn vào “quan niệm khắc nghiệt chết cứng về đạo lý làm người của một hệ thống lễ giáo phong kiến hết sức nghiệt ngã, hết sức hình thức và thù địch đối với cuộc sống, với con người, với nhân dân” [17, 85] “Nguyễn Du không nhằm tạo ra một Thúy Kiều để làm rạng danh cho một nguyên lý đạo đức nào đó, Nguyễn Du muốn rằng Kiều là hình ảnh của
cuộc đời thực” “Truyện Kiều đã biện hộ cho quyền sống của người phụ nữ và
đã đạt tới một chiều sâu rộng của sự khái quát chưa từng thấy trong văn học thời phong kiến Nguyễn Du đã đưa ra một mẫu người phụ nữ bị xã hội dồn lên đầu tất cả những nỗi nhục nhã ê chề mà người đàn bà thời trước có thể chịu đựng, nhưng cũng chính người phụ nữ ấy, trong cuộc đời cay đắng của mình vẫn giữ được đạo làm người, vẫn bảo vệ được nhân phẩm và trong hoàn cảnh của mình đã hành động một cách xứng đáng, không chê trách vào đâu được” [17, 84] Một cái nhìn động đầy tinh thần nhân đạo chủ nghĩa ấy đi ngược lại cái nhìn tĩnh, phi lý và bất công của giai cấp phong kiến đối với chữ trinh của người phụ nữ
Vấn đề trinh tiết, một lần nữa lại được Nguyễn Du đặt ra ở cuối tác phẩm Kiều đã gặp lại gia đình và Kim Trọng khi đang nương nhờ cửa Phật (ở
am Giác Duyên) Kiều bàng hoàng, sung sướng:
Tưởng bây giờ là bao giờ
Thiếp từ ngộ biến đến giờ Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa
Trang 30………
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao Dám đem trầu cấu dự vào bố kinh
Đã hay chàng nặng vì tình Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!” (3095…3107)
Thúy Kiều không muốn nối duyên với Kim Trọng không phải vì nàng
đã “tắt lửa lòng” mà Kiều nghĩ đến vấn đề trinh tiết Kiều cho rằng, thân thể mình không còn nguyên vẹn thì thật không còn xứng đáng với tình yêu của Kim Trọng dành cho mình Kiều day dứt, đau đớn, tủi nhục đến tan nát cả tấm thân Mặc dù, Kim Trọng rất cảm thông, thấu hiểu với cảnh ngộ của Kiều, chàng có quan niệm rất tiến bộ về chữ “trinh”:
Xưa nay trong đạo đàn bà, Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường
Có khi biến có khi thường
Có quyền nào phải một đường chấp kinh
Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy vay?(3115-3120)
nhưng Thúy Kiều vẫn không thể vượt qua được mặc cảm ấy Có thể thấy, Kim Trọng quả là người tri kỉ với Kiều Chàng đã không những không
coi thường danh phẩm của Kiều mà còn khen nàng đã “lấy hiếu làm trinh”, hi
sinh hạnh phúc tình yêu để cứu cha và em, để bảo toàn gia đình Kiều trong con mắt Kim Trọng là một người con gái có phẩm chất trong sáng, không hề bụi đục Với Kim Trọng, cuộc sống thanh lâu đã đày đọa thể xác Thúy Kiều nhưng chính vì thế hành động hiếu đễ của Thúy Kiều đã khiến phẩm chất của nàng thêm ngời sáng Lời nói của chàng Kim như là một sự chiêu tuyết cho Thúy Kiều Kim Trọng đã thể hiện một quan niệm về chữ “trinh” vượt khỏi quỹ đạo đạo đức học phong kiến
Trang 31Kim Trọng từ lúc gặp lại Kiều, chàng luôn khát khao được tái hợp nên
đã dùng mọi lý lẽ để thuyết phục nàng Thế nhưng, nàng Kiều chỉ có thể chấp
nhận “Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ” mà thôi, nghĩa là Kim – Kiều chỉ là
vợ chồng nhưng không chung chăn gối Trong đêm tân hôn, Nguyễn Du viết
như là Kim Kiều yêu nhau tự nhiên, tình tứ lắm “Canh khuya bức gấm rủ
thao Dưới đèn tỏ rạng, má đào thêm xuân Tình nhân lại gặp tình nhân Hoa xưa ong cũ, mấy phân chung tình!” Nhưng đâu có hoàn toàn như thế Nàng
Kiều của Nguyễn Du lại đặt ra vấn đề trinh tiết một lần nữa:
“Chữ trinh còn một chút này Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan!”(3161-3162)
Chữ “trinh” ở đây không còn chỉ cái nghĩa vật chất, mà nó mang cái nghĩa tinh thần “Trinh” chính là tấm lòng trong sáng, thủy chung, luôn tôn
thờ tình yêu Kim – Kiều Thúy Kiều không muốn tấm thân nhơ bẩn của mình làm mất đi vẻ đẹp của một tình yêu trong sáng, thanh cao Đồng thời đó cũng
là cách thể hiện lòng tự trọng nơi Kiều So sánh ứng xử của Kiều với Kim Trọng trong đêm tình tự và trong đêm tái hợp có thể thấy, dù trong hoàn cảnh khác nhau, đối lập nhau, với một cô Kiều còn trong trắng ngây thơ ở đoạn tình tự và một cô Kiều đã qua lưu lạc phong trần “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” ở đoạn tái hợp, nhưng hành vi thì là một: từ chối sự gần gũi với Kim Trọng để giữ phẩm giá Đó là hành vi đạo đức, là ứng xử đáng nêu gương về vai trò đạo đức của nhân vật, để lại xúc động trong lòng người đọc Ứng xử này khiến nàng Kiều đẹp hơn bao giờ hết trong trái tim của Kim Trọng Và Kim Trọng chắc chắn sẽ kính trọng nàng thêm mấy phần:
“Gương trong chẳng chút bụi trần Một lời quyết hẳn, muôn phần kính thêm” (3173-3174)
Nói tóm lại, Nguyễn Du đã đánh giá đức trinh của người phụ nữ trong
những không gian – thời gian – con người cụ thể để khẳng định nàng Kiều,
Trang 32một phụ nữ đã trải qua mười lăm năm lưu lạc với hai lần vào lầu xanh, hai lần lấy chồng, là một người phụ nữ trinh tiết Sự trinh tiết của nàng Kiều là sự trinh tiết về tinh thần Qua biết bao ô nhục của cuộc đời, tình yêu đối với cái thiện, khát vọng, mong ước vươn tới cuộc sống trong sạch chính là phần tâm trinh tiết của nàng Kiều mà không một cản trở nào có thể động chạm vào, phá hủy được Đặt người phụ nữ có cuộc đời ba chìm bảy nổi nhưng vẫn son sắt
đức trinh, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ coi trọng người phụ nữ Việt Nam
1.3 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ đạo lí dân tộc: Tình yêu Kiều
- Kim: “Trăm năm tạc một chữ đồng”
Tình yêu là một phương diện không thể thiếu trong cuộc sống Trong tình yêu, người Việt Nam đặc biệt coi trọng sự thủy chung, nghĩa tình Truyền thống đạo lý ấy đã được nhân dân ta thể hiện sâu sắc trong những truyện cổ tích và những bài ca dao mượt mà, thấm đượm chất trữ tình Đã là người Việt Nam chắc ai cũng biết đến câu chuyện cảm động về tình vợ chồng quấn quýt,
thủy chung trong truyện cổ tích “Trầu cau” hay hình ảnh người phụ nữ bồng con ngày đêm ngóng chờ chồng mà hóa đá trong truyện “Núi Vọng Phu” Còn
nếu tìm trong kho tàng ca dao Việt Nam thì có biết bao nhiêu những bài ca dao viết về phẩm chất thủy chung, tình nghĩa của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong tình yêu:
“Muối ba năm muối hãy còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau thì ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”
Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật được xây dựng từ những hình
ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn) Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son
Trang 33Hay:
“Yêu anh cốt rũ xương mòn Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh”
“Chừng nào muối ngọt chanh thanh
Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng”
Cũng giống như những nhân vật nữ trong truyện Nôm, Thúy Kiều, trong tình yêu với Kim Trọng, là một người tình rất đỗi thủy chung, tình
nghĩa Ngay từ giây phút “Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai mặt
một lời song song”, Thúy Kiều cũng như Kim Trọng đã xác định:
“Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”
Và khi Kiều phải chia tay Kim Trọng để chàng về Liêu Dương hộ tang
chú, nàng đã hứa:
“Cùng nhau trót đã nặng lời Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ!
Quản bao tháng đợi năm chờ Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm
Đã nguyền hai chữ đồng tâm Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” (551-556)
Đúng như lời thề, Thúy Kiều trong suốt quãng đời lưu lạc của mình chưa một lúc nào nguôi ngoai nỗi nhớ Kim Trọng Do hoàn cảnh đưa đẩy, cuộc đời nàng phải trải qua nhiều biến cố, đối diện với nhiều nỗi tủi hờn, nhưng Thúy Kiều vẫn luôn nghĩ cho Kim Trọng Trọn chữ “hiếu”, Kiều lỡ chữ “tình”, nàng cảm thấy mình có lỗi nên đã dằn vặt và tự trách bản thân Nàng tự nhận mình là người “lỗi thề”, “phụ bạc”:
Trang 34“Công trình kể biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang Thề hoa chưa ráo chén vàng Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa!
Trời Liêu non nước bao xa Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi!” (699-704)
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” (755-756)
Suốt quãng thời gian lưu lạc, Kiều rất nhiều lần nhớ về Kim Trọng Lần
đầu tiên Kiều nhớ đến Kim Trọng là trên đường theo Mã Giám Sinh đến Lâm Tri:
“Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi Thấy trăng mà thẹn những lời non sông”(915-916)
Lúc này tâm trạng của Kiều đang rơi vào trạng thái thất vọng ê chề Nàng đã nhận ra Mã Giám Sinh là kẻ lừa đảo, là phường “mạt cưa mướp đắng”, nàng cảm thấy xót xa, tiếc nuối, căm giận khi phải trao tấm thân trong
trắng của mình cho con người phàm tục họ Mã:
“Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về” (845-846)
“Giọt riêng tầm tã mưa rơi Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình Tuồng chi là giống hôi tanh Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!” (853-856)
Trong cảm giác của một người phụ bạc, Thúy Kiều đã nghĩ đến chàng Kim với tất cả sự thẹn thùng, tủi hổ Nhìn trăng, nàng nghĩ đến những lời thề nguyền với chàng Kim trong đêm tình tự Nếu trước kia, nàng thề với Kim Trọng là “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” và quyết giữ giàng cho mối tình trong sáng, thi vị thì nay lời thề ấy đã không còn được vẹn nguyên Nàng
đã không còn trong trắng tấm thân để sau này đền bồi cho Kim Trọng Có thể tấm lòng của nàng vẫn còn trinh nguyên nhưng thân xác nàng đã vấy bùn
Trang 35Càng yêu và trân trọng chàng Kim, Kiều càng cảm thấy xấu hổ, thẹn thùng với chàng, với lời thề năm xưa
Hình bóng Kim Trọng luôn luôn khắc sâu trong trái tim nàng Vì thế,
cứ khi nào đau khổ, cô đơn nhất, Thúy Kiều lại nhớ đến Kim Trọng Lần thứ hai, Kiều nhớ đến Kim Trọng là lúc nàng ở lầu Ngưng Bích Vì không đồng ý tiếp khách lầu xanh, Thúy Kiều đã rút dao tự tử nên Tú bà đã cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích để xoa dịu nàng Ngồi một mình trong khung cảnh “Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”, Thúy Kiều cảm thấy buồn bã, cô đơn đến tột cùng Người đầu tiên nàng nghĩ đến lại là chàng Kim:
““Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” (1039-1042)
Cụm từ “dưới nguyệt chén đồng” để chỉ Kim Trọng – người đã cùng Kiều thề nguyền dưới trăng Nàng nhớ đến Kim Trọng và tưởng tượng đến nỗi khắc khoải “rày trông mai chờ” của người tình mà xót xa Tâm trạng ấy bộc lộ chân thành tình yêu tha thiết mặc dầu vô vọng và đau đớn đối với chàng Kim Yêu chàng Kim, nàng lại xót xa cho thân kiếp lênh đênh chìm nổi, không biết đâu là bến đậu của cuộc đời mình, càng xót xa hơn khi nghĩ đến “tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Cảm giác có lỗi với Kim Trọng đeo bám dai dẳng trong suy nghĩ của Thúy Kiều Nàng hi vọng ở nơi xa xôi Kim Trọng thấu hiểu cho tình cảm của nàng:
“Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai Khi về hỏi liễu Chương Đài Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!
Tình sâu mong trả nghĩa dày Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?”(1259-1264)
Trang 36Có thể thấy phẩm chất vị tha của nàng lại một lần nữa tỏa sáng Trong hoàn cảnh bơ vơ, cô đơn, ê chề, tủi nhục nơi đất khách quê người, Kiều không
lo lắng cho bản thân mình mà lại lo cho Kim Trọng Nàng băn khoăn không biết là Thúy Vân đã thay mình nối duyên với Kim Trọng để trả nghĩa cho chàng hay chưa Yêu Kim Trọng, nàng luôn mong muốn cho chàng được hạnh phúc
Ngay cả khi đã làm vợ lẽ Thúc Sinh, Thúy Kiều vẫn khôn nguôi nỗi nhớ Kim Trọng Khi chia tay, chàng Thúc lên ngựa trở về để nói sự thật với người vợ cả Hoạn Thư, Kiều trở về phòng “với chiếc bóng năm canh”, mối sầu lại xâm chiếm tâm hồn nàng Đối diện với nỗi cô đơn, cảm xúc dâng trào, Kiều không chỉ nhớ tới cha mẹ mà còn nhớ cả chàng Kim:
“Tóc thề đã chấm ngang vai Nào lời non nước, nào lời sắt son” (1631-1632)
Thúy Kiều và Kim Trọng đã chia tay nhau được một thời gian dài, tóc thề xưa cắt, nay đã dài chấm ngang vai, vậy mà Kiều vẫn không nguôi ngoai những lời thề non hẹn biển sắt son năm nào Rõ ràng, chỉ có thân thể nàng là
ở bên Thúc Sinh, còn tình yêu chân thành của nàng chỉ dành cho Kim Trọng
Lần thứ năm, Kiều nhớ đến Kim Trọng trong hoàn cảnh chờ Từ Hải đi đánh trận:
“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng Duyên em dầu nối chỉ hồng May ra khi đã tay bồng tay mang”(2241-2244)
Nguyễn Du đã lấy hình ảnh “ngó ý tơ lòng” để diễn tả tấm chân tình của Kiều Ngó sen dù bị ngắt lìa ra nhưng những sợi tơ trong lòng ngó sen không đứt hẳn mà vẫn còn vướng liền nhau, khác nào như Kiều vì cảnh ngộ
mà phải lìa Kim Trọng, nhưng về tình thì lòng vẫn luôn luôn nhớ chàng , lòng
Trang 37luôn luôn vương vấn không dứt được với chàng Nhớ về Kim Trọng, nàng nghĩ bây giờ chắc Kim Trọng và Thúy Vân đã nên vợ nên chồng và đã có con
“tay bồng tay mang”
Nói tóm lại, cuộc đời của Thúy Kiều có thể trải qua nhiều thăng trầm,
biến cố, có lúc buồn, có khi hạnh phúc, song trái tim nàng luôn hướng về Kim
Trọng với tất cả tấm lòng thủy chung, son sắc Tấm thân không còn vẹn nguyên của nàng có thể đã không còn xứng đáng với Kim Trọng nhưng tấm lòng của nàng thì chưa hề vẩn đục, vẫn nguyên vẹn, luôn thuộc về chàng Kim Lời thề năm xưa “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” vẫn in đậm trong tâm trí Kiều, không bao giờ phai nhạt
1.4 Văn hóa ứng xử trong tình yêu từ góc nhìn giới
Dưới thời phong kiến, tình yêu nam nữ ít được nói tới, có khi trở thành
điều cấm kỵ trong đời sống xã hội Thế nhưng, ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã
diễn tả tình yêu một cách chân thực như nó vốn có Tình yêu xuất phát từ trạng thái tâm sinh lý tự nhiên của con người Điều đó tất yếu đi ngược lại với những quy tắc đương thời: “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” (nếu có sự chủ động trong việc tìm kiếm bạn đời thì đó là nam, không phải nữ, “trâu đi tìm cọc” chứ không có chuyện “cọc đi tìm trâu”), “nam nữ thụ thụ bất thân”,
“môn đăng hộ đối”… Các quy tắc đó đều bị các nhân vật yêu nhau trong tác
phẩm Truyện Kiều làm bứt tung
1.4.1 Tình yêu Thúy Kiều - Kim Trọng: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”
Một trong những lý do khiến tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng được coi là “mối tình đẹp nhất trong văn học cổ Việt Nam” (Lê Trí Viễn), hấp dẫn, cuốn hút độc giả mọi thời là bởi nó mang những yếu tố rất hiện đại Trong tình yêu ấy, Kiều vừa thể hiện vẻ đẹp của người con gái được giáo dục theo đạo đức Nho giáo, vừa mang những nét đẹp truyền thống của dân tộc
Trang 38nhưng không khuôn sáo, cứng nhắc, xuôi chiều mà vẫn thể hiện được vẻ đẹp riêng của một người con gái đang trong độ tuổi yêu đương nồng cháy Theo quan niệm của người xưa, người con gái đẹp nhất là ở độ tuổi mười ba “gái thập tam”, người con trai đẹp nhất là khi đang ở độ tuổi mười mười sáu “nam thập lục” Ở độ tuổi này, sự phát triển về tâm sinh lý giới tính cũng mạnh mẽ nhất Họ rất dễ rung động trước những biểu hiện của người khác giới Kiều gặp Kim Trọng khi nàng đang ở độ tuổi mười lăm, tuổi đẹp nhất của đời người Nhan sắc của Thúy Kiều khi ấy đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”, ánh mắt được miêu tả như nước mùa thu, lông mày như núi mùa xuân Sắc đẹp của nàng khiến thiên nhiên phải ghen tỵ:
“Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành họa hai”(25-28)
Một người con gái xinh đẹp, lại đang trong độ tuổi “tới tuần cập kê” tràn đầy sức sống, chắc chắn sẽ rất mãnh liệt, say đắm trong tình yêu Nếu Thúy Kiều trong cảm nhận của Kim Trọng, khi chưa gặp mặt, là một người
con gái “thơm nức hương lân”, còn khi được diện kiến vẻ đẹp của hai chị em
nàng thì Kim Trọng không khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên về vẻ đẹp sắc nước
hương trời “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai”
Còn Kim Trọng trong cảm nhận của Kiều ở những phút giây ban đầu gặp mặt
là một chàng trai phong lưu, tài tử Vì thế nên lần đầu tiên Kiều gặp Kim Trọng nàng đã đem lòng yêu mến Kim Trọng được nhìn từ đôi mắt trẻ trung, say đắm cũng như từ rung động và cảm xúc của trái tim nàng Kiều nên từ ngoại hình, cử chỉ đến phong thái đều hiện lên rất đẹp Chàng xuất hiện cùng với con tuấn mã mầu trắng như tuyết và nổi bật trên thảm cỏ xanh là bộ trang phục thường gặp của thư sinh phong kiến Nhưng màu xanh thiên thanh tươi
Trang 39nhẹ ấy dường như là sự pha hòa giữa màu xanh của cây cỏ với màu xanh trong sáng của bầu trời Mọi cử chỉ, bước đi cũng như phong thái thung dung
mà đằm thắm của Kim Trọng cũng để lại ấn tượng về một thư sinh phong nhã, thanh lịch trong trái tim Kiều:
“Trong chừng thấy một văn nhân Lỏng buông tay khấu bước lần dặm xanh”(135-136)
“Hài văn lần bước dặm xanh”(Câu 143)
Dường như, trong con mắt của Thúy Kiều, Kim Trọng đẹp từ đầu đến chân Khi Kim Trọng xuất hiện, tất cả dung mạo, cử chỉ, phong độ của chàng
“làm xinh đẹp cả một vùng” (Xuân Diệu) “Một vùng như thể cây quỳnh cành
dao”, thế là ngay lập tức trái tim nàng Kiều đã “trao” cho chàng “Tình trong
sét đánh, xuất phát từ những cảm mến ngay từ cái nhìn đầu tiên, phản ánh đúng trạng thái tâm sinh lý của những chàng trai cô gái đang độ tuổi mới lớn thường “yêu bằng mắt, yêu bằng tai” Trước khi gặp mặt Thúy Kiều, Kim
Trọng mới chỉ “Trộm nghe thơm nức hương lân Một nền Đồng Tước khóa
xuân hai Kiều” thôi mà đã “Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng”, thế nên
đến khi nhìn thấy hai chị em Kiều “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” thì Kim
Trọng đã xác định trao trái tim mình cho Thúy Kiều Cũng chẳng khác gì Kim Trọng, Thúy Kiều cũng ngay lập tức trao trái tim mình cho chàng Kim
Mặc dù Thúy Kiều và Kim Trọng mới chỉ gặp nhau nhưng tình cảm của họ là hết sức mãnh liệt, sâu sắc Mãnh liệt, sâu sắc đến mức choáng váng
ngay từ phút đầu gặp gỡ “Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê” Thế nên khi phải
chia tay Kim Trọng, Kiều đã không giấu nổi sự lưu luyến, nuối tiếc của mình Lúc mới gặp chàng Kim, Kiều vẫn thẹn thùng “e lệ nép vào dưới hoa”, vậy
mà khi chàng từ biệt chị em nàng, lên ngựa, Kiều còn nuối tiếc, luyến lưu,
“nghé mắt trông theo” (“Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo”) Nguyễn
Trang 40Du đã diễn tả rất đúng trạng thái tâm lý của Thúy Kiều lúc này thông qua miêu tả bức tranh thiên nhiên cảnh vật Cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng nên thơ, lãng mạn, vì thế cảnh vật hiện lên trong cái nhìn của nàng thật đẹp và đáng yêu:
“Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” (169-170)
Nhịp cầu và dòng nước trong sáng như tình yêu chân chính, tơ liễu và bóng chiều quấn quýt như nỗi niềm gắn bó tha thiết say đắm của Thúy Kiều
“Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây” “Mặt mơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng”, chàng tương tư đến sầu héo, không buồn làm gì, bỏ cả việc học,
việc đàn “Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”
“Buồng văn hơi giá như đồng Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan”… Tình
cảm thôi thúc, Kim Trọng phải dọn đến ở gần nhà Kiều để có cơ hội “Tường
đông ghé mắt ngày ngày hằng trông” Vào một ngày đẹp, được thiên thời
(“buổi êm trời”), địa lợi (“cách tường, dưới đào”), lại thêm nhân hòa khi thấy thấp thoáng bóng giai nhân (“dường có bóng người thướt tha”), Kim Trọng đã