1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngôn ngữ thơ nôm nguyễn khuyến từ góc nhìn văn hóa

121 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 821,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc nhìn văn hóa, nhà nghiên cứu sẽ khám phá được không gian văn hóa trong đó tác phẩm đã ra đời, mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, với môi trường xã hội và mối qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của

cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình

nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thơm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Bộ môn Ngữ Văn, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lã Nhâm Thìn, người đã tận tình

hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo trong Bộ môn Ngữ Văn, Khoa Ngữ Văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã dạy dỗ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn và thực nghiệm đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ chân thành và quý báu đối với bạn bè, đồng nghiệp cũng như gia đình để tôi hoàn thành luận văn của mình

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thơm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ Nôm và văn hóa 8

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ Nôm 8

1.1.2 Ngôn ngữ thơ Nôm từ góc nhìn văn hóa 10

1.1.3 Ngôn ngữ thơ Nôm là một phương tiện của văn hóa 11

1.2 Môi trường văn hóa cá nhân và xã hội ảnh hưởng tới ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến 14

1.2.1 Môi trường văn hóa cá nhân 14

1.2.2 Môi trường văn hóa xã hội 21

1.3 Khảo sát, thống kê, hệ thống hóa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa 29

1.3.1 Khảo sát thành phần ngôn ngữ văn học dân gian: thành ngữ, tục ngữ, ca dao 29

1.3.2 Khảo sát thành phần ngôn ngữ giao tiếp: khẩu ngữ, đại từ nhân xưng, nói lái … 33

1.3.3 Khảo sát thành phần ngôn ngữ Hán học: Điển cố, thi liệu - văn liệu Hán học, thuật ngữ Hán học … 37

Trang 5

Chương 2: NGÔN NGỮ THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN VỚI VĂN

HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC 41

2.1 Văn hóa truyền thống qua ngôn ngữ văn học dân gian với thành ngữ, tục ngữ, ca dao 41

2.1.1 Phong tục, tập quán 41

2.1.2 Lễ hội 56

2.1.3 Lao động sản xuất 60

2.2 Văn hóa sinh hoạt làng quê qua ngôn ngữ đời sống với thành phần ngôn ngữ giao tiếp, khẩu ngữ 64

2.2.1 Sinh hoạt gia đình với các mối quan hệ cha mẹ - con cái, vợ - chồng… 64

2.2.2 Sinh hoạt cộng đồng với các mối quan hệ bạn bè, làng xóm … 68

2.3 Văn hóa địa phương qua ngôn ngữ mang sắc thái địa phương 73

Chương 3: NGÔN NGỮ THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN VỚI VĂN HÓA NGOẠI NHẬP 84

3.1 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với văn hóa Nho giáo 84

3.1.1 Văn hóa ứng xử theo quan niệm Nho giáo qua các thuật ngữ, điển cố, thi liệu – văn liệu Hán học 85

3.2 Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với ảnh hưởng văn hóa phương Tây 93

3.2.1 Văn hóa giao thời phong kiến - thực dân qua sự kết hợp giữa ngôn ngữ cổ điển và ngôn ngữ vay mượn mới du nhập 93

3.2.2 Văn hóa sinh hoạt, lối sống, quan niệm đạo đức phương Tây qua lớp từ ngữ sinh hoạt, từ ngữ vay mượn mới du nhập 98

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nhà cách mạng người Ấn Độ Mahatma Gandhi cho rằng: Nền văn hóa của một quốc gia nằm trong trái tim và tâm hồn nhân dân Nói như vậy

đủ xác nhận văn hóa là khái niệm vô hình, trìu tượng Văn hóa không chỉ là

những gì chúng ta đã học được, văn hóa là tất cả những gì còn lại sau khi

chúng ta tiếp thu những điều đã học Nền văn hóa một quốc gia bao giờ cũng

để lại những dấu ấn riêng trên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trên phương diện vật chất, đó là biểu hiện của những di sản hữu thể trong đời sống xã hội Còn trên phương diện tinh thần, đó là những di sản văn hóa hữu hình, được lưu truyền và biến đổi qua thời gian Hai phương diện văn hóa hữu thể và vô hình gắn bó với nhau, lồng vào nhau, như thân xác và tâm trí con người, cùng tạo nên bộ mặt văn hóa của một dân tộc Những nét văn hóa đặc trưng của một quốc gia biểu hiện khá đậm nét trong sự nghiệp văn chương của người nghệ sỹ Cái đẹp trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn chính là những hình tượng nghệ thuật Để tạo nên những hình tượng nghệ thuật, người nghệ sỹ không thể không sử dụng hệ thống ngôn từ Ngôn ngữ chính là phương tiện cơ bản tạo chất liệu cho việc tổ chức, hình thành tác phẩm R Jakobson đã nhận định “ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ trong chức năng nghệ thuật thẩm mỹ” và “văn học không phải gì khác mà chính là ngôn ngữ được tổ chức một cách đặc biệt” Văn học là nghệ thuật ngôn từ - ngôn từ thuộc phương diện hình thức nhưng không phải là hình thức đơn thuần mà là hình thức mang tính nội dung Bởi vậy khi nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật, người nghiên cứu luôn phải quan tâm đến, thậm chí không thể thoát ly khỏi chất liệu ngôn ngữ được sử dụng trong tổ chức tác phẩm văn học Nếu nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc dựa trên đường nét, hình khối; nghiên cứu hội họa dựa trên màu sắc, nghiên cứu âm nhạc dựa vào giai điệu, âm thanh… thì nghiên

cứu văn học không thể không bắt đầu từ ngôn ngữ

Trang 7

Tuy nhiên nếu như chỉ phân tích tác phẩm văn học đơn thuần theo góc nhìn ngôn ngữ hẳn đã quá quen thuộc Văn học chính là một bộ phận của văn hóa Điều đó đem đến cơ hội mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu các sáng tác nghệ thuật Dưới góc nhìn văn hóa, nhà nghiên cứu sẽ khám phá được không gian văn hóa trong đó tác phẩm đã ra đời, mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, với môi trường xã hội và mối quan hệ với chính bản thân mình, xác định được sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ nào đã tác động tạo sự hình thành tác phẩm cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống hiện thực từng tồn tại trong không gian văn hóa cụ thể Nhờ chiếc chìa khóa vạn năng này, người đọc sẽ hình dung được vị thế của tác phẩm, của tác giả trong sự đối sánh với nền văn học dân tộc ở các thời kì khác nhau

1.2 Bên cạnh các nhà thơ tiêu biểu của thời kì văn học trung đại Nguyễn

Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến được xem

là nhà thơ tiêu biểu và là một trong số những đại diện lớn cuối cùng của thời kì văn học trung đại Trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, Nguyễn Khuyến mang tầm cỡ là một phong cách đa dạng và

thống nhất, mang dấu hiệu chuyển mình của tƣ duy thơ dân tộc [21, tr 54-79]

(Nguyễn Huệ Chi) Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, vừa tiếp thu vừa có sự sáng tạo từ thơ Đường luật trong hình thức cũng như nội dung, có ảnh hưởng của vùng giao thoa với văn học phương Tây Nhà thơ vùng đồng bằng chiêm trũng này đã góp phần không nhỏ trong việc “nâng cấp” ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ đời sống thành ngôn ngữ văn học Điều đó dẫn đến thơ văn Nguyễn Khuyến hàm chứa và kết tinh sâu sắc những yếu tố văn hóa đặc trưng của dân tộc, của khu vực cũng như màu sắc văn hóa thời đại

Tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam, người nghiên cứu không thể bỏ qua mảng thơ văn Nguyễn Khuyến, trong đó người ta khá chú trọng đến mảng thơ

Trang 8

Nôm của ông Nghiên cứu những vần thơ Nôm bình dị của Cụ Tam Nguyên rất

nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Khuyến là một phong cách có sự kết hợp

phức điệu và tài hoa: chất liệu ngày thường và thi tứ khác thường [21,

tr317-323] (Trần Lê Văn), phức điệu giữa trào phúng và trữ tình [21, tr 330-336] (Nguyễn Hữu Sơn), biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn

chương nhà Nho đến bức tranh bức tranh sinh hoạt ở nông thôn [21, tr 137-142]

(Trần Nho Thìn) để trở nên một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam (Xuân Diệu)

Có thể thấy đó là những mảng đóng góp mang tính phát hiện thú vị và có giá trị của các nhà nghiên cứu khi nhìn thơ văn Nguyễn Khuyến dưới góc độ ngôn ngữ, góc độ nguyên tắc phản ánh, tư duy nghệ thuật Ý thức được giá trị thơ Nôm Nguyễn Khuyến và mong muốn nghiên cứu mảng thơ Nôm này trong ảnh

hưởng qua lại với văn hóa, người viết đã chọn đề tài: Ngôn ngữ thơ Nôm

Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa để có cơ hội được tiếp cận thơ Nôm Tam

nguyên Yên Đổ với kiến thức tổng hợp liên ngành văn hóa và văn học Việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến theo góc nhìn văn hóa là tâm nguyện chân thành của người viết nhằm phần nào bày tỏ niềm tri ân trước nhà thơ lớn của văn học dân tộc, đồng thời hướng đến cơ hội tìm hiểu một tác giả quen thuộc với những phát hiện từ góc nhìn mới

1.3 Một lí do không thể không nhắc đến là việc nghiên cứu ngôn ngữ

thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa sẽ mang đến ý nghĩa vô cùng

thiết thực trong việc giảng dạy từ bậc trung học đến bậc đại học Với góc nhìn văn hóa về phương diện ngôn ngữ, cả đối tượng người dạy và người học sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về tác giả cũng như những đặc điểm cơ bản về văn hóa của một giai đoạn từng tồn tại trong lịch sử dân tộc thông qua hiện tượng Nguyễn Khuyến

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương không phải chỉ có một hướng tiếp cận duy nhất Trong những năm gần đây, cùng với sự phát

Trang 9

triển của nhiều lĩnh vực đời sống thì văn hóa là một lĩnh vực khá được quan tâm Vậy nên nhiều vấn đề của văn học đã được soi rọi từ điểm nhìn văn hóa Kết quả là với góc nhìn mới mẻ này nhiều công trình nghiên cứu đã tạo được tiếng vang và đóng góp không nhỏ vào cơ sở lí luận cho văn học dân tộc

Nhà thơ Nguyễn Khuyến sở hữu tổng số khoảng trên dưới 467 bài, bao gồm cả thơ văn chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có 109 sáng tác Nôm (với gần

90 bài thơ Nôm) Từ trước tới nay đã có tương đối nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của ông Nhất là khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, công tác sưu tầm, dịch thuật, phê bình, nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến càng được chú ý nhiều hơn Nguyễn Khuyến là một tài năng khá dồi dào về số lượng, phong phú về thể loại thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình khi tìm đến với văn học thời kì trung đại Phan Kế Bính là

người đầu tiên có ý kiến về Nguyễn Khuyến khi phân tích sơ lược bài thơ Câu

cá mùa thu, tác giả Biện Văn Điền trong Luận án tiến sĩ có đề tài Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Dương Quảng Hàm xếp Nguyễn Khuyến vào

khuynh hướng thơ trào phúng Và trên thực tế đã xuất hiện các công trình

nghiên cứu về Thơ văn Nguyễn Khuyến dưới góc nhìn văn hóa, Thơ văn

Nguyễn khuyến dưới góc nhìn ngôn ngữ Hầu hết các nhà nghiên cứu đã khá

để tâm đến mảng thơ văn Nguyễn Khuyến từ góc độ của lý luận văn học, phong cách học, nghiên cứu phê bình, sưu tầm, dịch thuật Nhưng thực tế chưa nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến dưới góc nhìn văn hóa – tiền đề để hiểu hơn về văn hóa giao tiếp, về

tư duy của một nhà đại Nho, cũng như đại diện văn hóa cho một lối sống Việt dưới thời đại ấy

Nghiên cứu thơ văn Nguyễn Khuyến không thể không chú ý đến hai mảng ngôn ngữ Hán và Nôm, nhất là mảng ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến, một ngôn ngữ vốn được xem là thành tựu văn hóa của văn học trung

Trang 10

đại Trong cuốn Thơ Nôm Đường luật, tác giả Lã Nhâm Thìn đã xem Nguyễn

Khuyến như một hiện tượng tiêu biểu của ngôn ngữ thơ Nôm, Lê Chí Dũng

đã chú ý đến sự sáng tạo trong thơ luật Đường Nguyễn Khuyến, Đào Thản quan tâm đến mảng chơi chữ với một số ví dụ tiêu biểu, Hữu Đạt lại nghiên cứu về ngôn ngữ thơ trên cấp độ phổ quát, Mai Ngọc Chừ lại khám phá thơ

Nguyễn Khuyến dưới góc nhìn ngôn ngữ

Như vậy có thể nói chắc rằng ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến dưới góc nhìn văn hóa là một vùng đất tương đối mới mẻ, chưa mấy ai đặt chân vào Điều đó tạo động lực mạnh mẽ thôi thúc người viết khám phá mảnh đất này Với góc nhìn văn hóa, người viết tin rằng chúng ta sẽ có cơ hội thấy phần nào những điểm mới của ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến – ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật, thấy những nét riêng về văn hóa thời trung đại ghi nhận sự tồn tại

của một trong những “cây đại thụ của văn học dân tộc cây đại thụ không

rợp bóng thời đại suốt bao thế kỷ nhưng gốc rễ của nó đã ăn sâu vào đất Việt, góp phần tạo nên tâm hồn Việt” [21, tr 11]

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi lấy các tác phẩm thơ Nôm Nguyễn Khuyến, bao gồm 90 bài (kể cả phần phụ chép thơ Nôm) mà tác giả Xuân Diệu giới

thiệu trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến, do NXB Văn học Hà Nội, tái bản năm 1979 làm đối tượng nghiên cứu Ngoài ra bổ sung cuốn Nguyễn Khuyến

thơ và đời do nhóm Trí thức Việt Tuyển chọn và giới thiệu năm 2012 Từ đó

đi đến những nhận định khoa học về yếu tố văn hóa biểu hiện qua ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến Hướng nghiên cứu cụ thể:

- Nghiên cứu cuộc đời, con người Nguyễn Khuyến đề cập tới ảnh hưởng của văn hóa

- Nghiên cứu văn chương Nguyễn Khuyến đề cập tới tác động qua lại giữa văn học - văn hóa

Trang 11

- Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến đề cập tới ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với môi trường văn hóa truyền thống, văn hóa Nho giáo, văn hóa giao thời phương Đông - phương Tây

- Hệ thống ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến thể hiện những nét văn hóa truyền thống, văn hóa Nho giáo, văn hóa buổi giao thời phương Đông - phương Tây

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với môi trường văn hóa đương thời, thấy sự tác động của thời đại đối với ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến nói riêng và ngôn ngữ văn học nói chung

- Tìm hiểu ngôn ngữ thơ dưới góc nhìn mới của kiến thức liên ngành văn học - ngôn ngữ, văn học - văn hóa, hướng về bản sắc đậm đà của dân tộc Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp liên ngành: sử dụng tổng hợp phương pháp liên ngành khoa học lịch sử – xã hội, văn hóa - văn học Đặt văn học trong bối cảnh văn hóa để cắt nghĩa ngôn ngữ văn học, phân tích những biểu hiện văn hóa trong ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến

- Phương pháp khảo sát, thống kê, hệ thống hóa các hiện tượng ngôn ngữ thể hiện nét văn hóa trong giao tiếp, ứng xử trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến

- Phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm mục đích làm sáng tỏ ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến khi thể hiện nét văn hóa Việt, văn hóa ảnh hưởng Nho giáo, văn hóa buổi giao thời

Trang 12

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng để phân tích những biểu hiện văn hóa trong ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến

6 Đóng góp của đề tài

- Về mặt lí luận, hướng nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm của một tác giả văn học trung đại Việt Nam từ góc văn hóa sẽ tạo ra ưu thế nhất định trong việc thấy rõ những biểu hiện của văn hóa truyền thống, những ảnh hưởng và tiếp nhận từ văn hóa ngoại lai, từ đó thấy đặc điểm của một thời kì văn hóa, đóng góp của văn học làm nên nét bản sắc riêng vào tổng thể nền văn hóa dân tộc

- Về mặt thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng trong học tập, giảng dạy một tác phẩm văn học ở trường phổ thông theo chiều hướng liên quan về văn hóa, hoặc có thể góp phần gợi mở hướng nghiên cứu các lĩnh vực khác từ góc nhìn văn hóa

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của

luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung có liên quan tới đề tài

Chương 2: Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với văn hóa truyền

thống dân tộc

Chương 3: Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với văn hóa ngoại nhập

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ Nôm và văn hóa

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ Nôm

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu được quy ước trong một cộng đồng

xã hội nhất định Trong bối cảnh giao tiếp đa dạng, ngôn ngữ được dùng để thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau, phục vụ nhu cầu bộc lộ tình cảm, nhận thức và hành động ở con người Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được tạo

ra trên cơ sở lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Nhà văn, nhà thơ là những người thợ khéo tay nhào nặn ngôn ngữ toàn dân thành phát ngôn mang phong cách riêng tạo tác những hình tượng nghệ thuật sinh động làm thay đổi tư tưởng, tình cảm của người đọc

Nói như vậy để hiểu rằng phải có ngôn ngữ chung mới có ngôn ngữ cá

nhân và ngôn ngữ nghệ thuật Theo R.Jakobson, ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ

trong chức năng thẩm mỹ của nó và văn học không gì khác chính là ngôn ngữ đƣợc tổ chức một cách đặc biệt Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và ngôn

ngữ nghệ thuật là điều không thể phủ nhận Hơn ai hết, các nhà thơ, nhà văn

là người cảm thụ sâu sắc và tinh tế nhất mọi yếu tố thuộc về cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ là yếu tố quan trong đặc biệt đối với văn học, như màu sắc đối với hội họa, tiết tấu đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc Nói cho cùng, văn học là nghệ thuật của ngôn từ Những nhà thơ, nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt Trong lao động nghệ thuật, nhà văn luôn phải gia công tinh lọc để lựa chọn hệ thống ngôn từ nghệ thuật Giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn học có sự khác biệt Theo M Gor-ki ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói "nguyên liệu" còn ngôn

Trang 14

ngữ văn học là tiếng nói đã được những người thợ tinh xảo, nhào luyện Thực

tế cho thấy ngôn ngữ thơ chính là một dạng đặc thù của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ thơ là sản phẩm hoàn mĩ được người nghệ sỹ toàn tâm toàn ý gọt giũa, chưng cất một cách tỉ mỉ, công phu nhằm diễn đạt tinh tế và sắc nét ý đồ

tư tưởng nghệ thuật của mình

Hình thức ngôn ngữ đầu tiên trong sáng tác văn chương của văn học Việt Nam là bộ phận chữ Hán, tiếp đến bộ phận chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và dần hoàn thiện thành ngôn ngữ tiếng Việt như ngày nay Sự xuất hiện của chữ Nôm và ngôn ngữ thơ Nôm là bước tiến đầy vinh quang trong thành tựu của văn học trung đại, cũng là nền móng đầu tiên, cơ bản tạo tính ổn định của văn chương nghệ thuật bằng ngôn ngữ tiếng Việt

Văn học Nôm là những sáng tác thơ văn được viết dưới hình thức chữ Nôm Do tiến trình lịch sử, do ý thức dân tộc về văn hóa phát triển mạnh, cùng những yêu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, chữ Nôm đã ra đời Chữ Nôm được hình thành trên cơ sở dựa vào một trong các tiêu chí âm, hình, nghĩa của ngôn ngữ Hán, được nhân dân Việt hóa theo những cách thức khác nhau, tạo cách đọc, cách viết riêng của người Việt Cũng có khi chữ Nôm vay mượn từ tiếng Mường, Thái, Mã Lai, Campuchia chứ không hoàn toàn dùng

từ Hán - Việt Sự xuất hiện của chữ Nôm và thơ văn Nôm thể hiện sự cố gắng

nâng cao địa vị tiếng Việt trong việc xây dựng nền văn học dân tộc, là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của nền văn hóa dân tộc Ngôn ngữ thơ Nôm đã thực sự trở thành một trong số hình thức

ngôn ngữ quan trọng của các thể loại văn học dân tộc thời trung đại Ngôn ngữ thơ Nôm là kết quả của việc sử dụng các chất liệu Hán học, tiếp thu tự nhiên chất liệu văn học dân tộc và mộc mạc bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động Ngôn ngữ thơ Nôm được xem là thành tựu của văn học thời kì trung đại từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XIX

Trang 15

1.1.2 Ngôn ngữ thơ Nôm từ góc nhìn văn hóa

Theo Trần Quốc Vượng, văn hóa được định nghĩa là “sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” [34, tr 17 11] Trần Ngọc Thêm lại cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [22, tr 27] Hiểu theo cách định nghĩa nào cũng đủ thấy văn hóa là khái niệm rất rộng và trìu tượng Nó là sản phẩm của cộng đồng và ngược lại

nó góp phần tạo ra cộng đồng

Khi nghiên cứu về ngôn ngữ, Bromit nhận định: Ngôn ngữ là một trong

những hệ thống biểu tƣợng quan trọng nhất trong bất kì nền văn hóa nào

Ngôn ngữ thơ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam vốn là thành tựu của một giai đoạn lịch sử mà văn hóa và văn tự có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Trung Hoa, văn hóa khu vực Đông Nam Á và ảnh hưởng văn hóa phương Tây Chính vì thế, ngôn ngữ thơ Nôm sẽ mang những đặc điểm riêng trong hệ thống nghệ thuật ngôn từ, với tư cách là sản phẩm tinh thần do con người thời đại sáng tạo ra Tuy nhiên nhìn vào đại thể, chính ngôn ngữ thơ Nôm lại phản ánh rõ hơn ai hết linh hồn, tính cách, sinh hoạt cộng đồng cùng sự phát triển của con người thời kì ấy

Về mặt địa lý, Việt Nam ở góc tận cùng phía đông – nam nên thuộc

loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình [22, tr 22] đặc trưng chủ yếu là nghề

trồng trọt Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, do phụ thuộc vào thiên nhiên, người phương Đông phải sống theo lối định cư, dẫn đến ý thức tôn trọng mọi mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc Xét về tư duy nhận thức, con người thời trung đại thiên về tư duy tổng hợp, ưa lối sống ổn định dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối, hài hòa Đó là tiền đề cho tinh thần dung hợp của con người trong quá trình tiếp nhận, đối phó với xung quanh Vì những lẽ đó, ngôn ngữ

Trang 16

thơ Nôm của văn học Việt trong quá trình tiếp thu nền Hán học đã rất mềm dẻo, linh hoạt Tất cả các quan niệm về đạo lí, cương thường trong ứng xử và

tu dưỡng nhân cách đa phần đều mang bóng dáng hình mẫu Nho giáo nhưng không rập khuôn hoàn toàn Trái lại, nó mang sắc diện mới: tính biểu trưng, ước lệ, tính hài hòa cân đối Nhờ tính cân xứng, ngôn ngữ thơ Nôm đã tạo ra sản phẩm ngôn ngữ ngắn gọn, cô đúc, nhịp nhàng xuôi tai; mang được cái uyên thâm của chiều sâu triết lí; truyền tải nhiều quan niệm về tư tưởng, đạo lí phương Đông Trong khi đó người phương Tây với xu hướng thiên về tư duy phân tích, lối sống coi trọng sức mạnh, ứng xử trên nguyên tắc độc đoán, duy lí; dẫn tới tinh thần coi trọng vai trò cá nhân, đối phó cứng nhắc, hiếu thắng trong mọi mối quan hệ với môi trường thiên nhiên và xã hội… Cơ sở văn hóa này đã trở thành nền tảng giúp phân biệt sự khác nhau cơ bản của thơ ca phương Đông với thơ ca phương Tây

Về mặt tổ chức cộng đồng, người nông nghiệp ưa lối sống trọng tình và tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thể Trong môi trường làng xã, vì phải sống

lâu dài, phải sống tối lửa tắt đèn có nhau, người Việt đã tự tạo cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy cái tình làm đầu: Một bồ cái lý không bằng một tí cái

tình, Bán anh em xa mua láng giềng gần… Đó là cơ sở khiến cho thơ Nôm

Việt Nam giàu chất biểu cảm Tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ Nôm thể hiện rõ trong cách sử dụng đại từ nhân xưng (ở các ngôi), trong những khẩu ngữ, cách nói lái đầy cảm xúc, trong ngôn ngữ sinh hoạt của đời sống giao tiếp hàng ngày

1.1.3 Ngôn ngữ thơ Nôm là một phương tiện của văn hóa

Ngôn ngữ là âm thanh và chữ viết có ý nghĩa, tồn tại gắn với ngữ cảnh

để thực hiện mục đích giao tiếp nhất định Ngôn ngữ là kho lưu trữ, đồng thời là biểu hiện của ký ức tập thể hoặc ký ức văn hóa của cả cộng đồng Mỗi

từ, với tính chất liên văn bản đều khiến ta liên tưởng đến những từ khác và

Trang 17

những văn bản khác, gắn với kinh nghiệm chung mà cả cộng đồng chia sẻ Ngôn ngữ là một trong những phương tiện chính để lưu truyền văn hóa Việc lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ dưới hình thức nói hoặc viết thể hiện văn hóa biểu ý và biểu cảm Như vậy, ngôn ngữ thực chất là văn hóa

Ngôn ngữ Nôm là một thành tố của văn hóa nhưng là thành tố chi phối mạnh mẽ các thành tố văn hóa khác cùng thời Nhờ có ngôn ngữ Nôm, với tư cách phương tiện của văn hóa, sản sinh các sáng tác văn học Nôm trong giai đoạn nhất định mà những yếu tố của đời sống văn hóa xã hội đó có cơ hội được biểu hiện

Trong văn học Việt Nam, bộ phận thơ văn chữ Nôm xuất hiện sau bộ phận văn học chữ Hán Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có kết luận chính xác thời điểm ra đời của chữ Nôm Chỉ có điều rằng trước Nguyễn Trãi, chữ Nôm đã xuất hiện và gắn liền với những tác phẩm tiêu biểu Theo tương truyền, Hàn Thuyên được xem là người đầu tiên làm thơ Nôm Đường luật và làm cho nó được nhân lên rộng khắp Thơ Nôm bắt đầu được phát triển ở thời

nhà Trần (qua một số bài phú quốc âm còn lưu giữ trong cuốn Thiền tông bản

hạnh và các bài dịch kinh Phật như Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh giả âm vào khoảng thời Lê Sơ) Đến thời nhà Lê với Quốc âm thi tập,

Nguyễn Trãi đã góp một dấu son thành tựu về ngôn ngữ thơ Nôm cho nền văn học Đại Việt Từ đây ngôn ngữ thơ Nôm đã trở thành một phương tiện của văn hóa, là tác nhân chính cho việc phát triển văn học Nôm

Xuôi dòng theo tiến trình lịch sử, ngôn ngữ thơ Nôm đã dần hoàn thiện

và gặt hái nhiều thành tựu rực rỡ với các tên tuổi lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn

Khuyến Bông hoa thơ Nôm đầu mùa Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, viên ngọc quý không lần nào lỡ nhịp ngang cung Truyện Kiều của Nguyễn Du

đều được xem là những kiệt tác nghệ thuật Nôm kết tinh những giá trị văn hóa tinh thần của người Việt

Trang 18

GS, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [22, tr.10] Theo cách hiểu tổng quát này thì chữ Nôm – ngôn ngữ thơ Nôm đích thực là sản phẩm văn hoá trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần Xét về phương diện vật chất, chữ Nôm – ngôn ngữ thơ Nôm là một tập hợp hệ thống các ký tự, âm tiết để ghép tiếng, tạo từ Trên phương diện tinh thần, nhờ sự tổ chức sắp xếp, nó tạo nên hệ thống ngôn từ nghệ thuật, đem lại mỹ cảm trong tư duy trìu tượng về những mối quan hệ: con người với cộng đồng, con người với tự nhiên, con người với chính bản thân mình

Sự có mặt của ngôn ngữ thơ Nôm tạo môi trường thuận lợi cho văn chương nghệ thuật phát huy tinh hoa của văn học dân gian, Việt hóa ngôn ngữ Hán, gắn kết văn chương bác học với văn học bình dân Với ngôn ngữ thơ Nôm, các nhà thơ có thể phản ánh cuộc sống đời thường bằng ngôn từ mộc mạc mà không hề bị cho là quê mùa, thô kệch Với ngôn ngữ Nôm, các tác giả trung đại còn có thể đưa vào thơ hệ thống ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ sinh hoạt để lưu giữ những nét truyền thống của phong tục tập quán, những đặc điểm riêng của văn hóa sinh hoạt làng quê cùng văn hóa địa phương từ cuộc sống thuần hậu, dân dã Đó chính là cơ sở khẳng định ngôn ngữ thơ Nôm, một phương tiện hữu hiệu của văn hóa Việt

Là phương tiện đắc lực của văn hóa thế kỉ XV - XIX, ngôn ngữ thơ Nôm đã làm hiện lên bức tranh văn hóa truyền thống của người Việt Nam với loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước Mọi phong tục – tập quán, lễ Tết – lễ hội hay lao động – sản xuất trong đời sống xã hội đều gắn với không gian làng xã và môi trường cộng đồng, tập thể Thông qua ngôn ngữ thơ Nôm, chúng ta còn nhận ra những nét văn hóa

Trang 19

sinh hoạt làng quê cùng với cuộc sống và con người trên địa bàn cư trú Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới dấu ấn của lịch sử xã hội với văn hóa ngoại nhập qua ngôn ngữ thơ Nôm Sự tiếp nhận về văn hóa giai đoạn giao lưu, tiếp xúc cũng là nét đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam giai đoạn trung đại Màu sắc của văn hóa Nho giáo và phương Tây trong văn hóa Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho một giai đoạn lịch sử không thể quên đối với mỗi con dân đất Việt

1.2 Môi trường văn hóa cá nhân và xã hội ảnh hưởng tới ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến

1.2.1 Môi trường văn hóa cá nhân

1.2.1.1 Nho sinh Nguyễn Thắng

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), hiệu là Quế Sơn, nguyên lúc nhỏ có tên

là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, sinh tại quê ngoại – xã Hoàng Xá (nay là xã

Ý Yên, tỉnh Nam Định, lớn lên và sống chủ yếu ở quê nội là làng Và (tên chữ

là Vị Hạ) – xã Yên Đổ – huyện Bình Lục (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) Cậu bé Thắng xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo Ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Liễn theo Nho học và từng đỗ ba khoa tú tài Tính tình ông hào phóng, thích giao lưu, hay vui rượu nên “khách khứa bạn bè thường đầy nhà” Cả đời ông chuyên nghề dạy học, lại thêm phẩm chất giản dị, thanh bạch, trọng đạo lí nên hình như cả đời không có

thước đất cắm dùi Tính cách của cha đã ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách

cũng như phần đời của đứa con sau này, chính là Nguyễn Khuyến Có hai điểm cơ bản Nguyễn Khuyến giống cha là hay vui rượu và lối sống thanh liêm giữ mình của một phẩm chất cao quý Bằng chứng hùng hồn chính là chân dung nhà thơ vùng Yên Đổ khi lưu lại hậu thế là trang phục áo dài khăn lượt, cái chén hạt mít trong những ngón tay dài, chòm râu dài, bạc trắng, lơ thơ Đó là tư thế điềm nhiên, trịnh trọng, thanh thản mà ông muốn chủ động

Trang 20

giữ thế để không lẫn với bất cứ quan viên nào Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan, quê ở huyện Ý Yên (nay thuộc Nam Định), đáng xếp bậc nữ lưu mẫu mực trong khuôn khổ xã hội phong kiến

Ngay từ thuở nhỏ, anh khóa Thắng đã được sống trong môi trường gia đình khuôn mẫu, nề nếp thuận lợi cho công danh sự nghiệp và phát triển tài năng thi phú Bên cạnh đó, khóa Thắng cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi

tư tưởng thi cử lập công danh của nền học vấn cửa Khổng sân Trình Ngoài việc được ăn học tử tế, anh được cha dẫn dắt cùng tiến tới trên con đường thi

cử, được mẹ chăm lo động viên về vật chất cũng như tinh thần Nhờ cha nối chí, nhờ mẹ nối quyết tâm, anh khóa thuở nào sau bao lần miệt mài học hành, sôi kinh nấu sử đã quyết tâm thi thố tài năng chốn danh lợi Đó là những tiền hình thành tài năng, nhân cách làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đời anh khóa Thắng sau này

Năm 1825, Nguyễn Thắng lấy vợ và tham gia thi hương lần thứ nhất với cha nhưng không đỗ Ngay năm sau, địa phương có dịch thương hàn, anh

và rất nhiều người khác mắc bệnh (trong đó có cha và em ruột, bố mẹ vợ) May mắn qua khỏi nhưng anh lại rơi vào gia cảnh đói rách, tiêu điều, xơ xác Thấm thía hoàn cảnh cá nhân, anh khóa nghèo đã tạo tác hàng loạt những bài thơ tự trào về gia cảnh, thân thế, cái nghèo của mình Thơ văn Nguyễn

Khuyến cũng vì thế mà nói được cái sự thực ở đời (Nam Cao) từ ngay những

sáng tác đầu tay Không trải nghiệm cái nghèo, không “sở kiến” cảnh nghèo thì làm sao thấu triệt để tạo nên thơ tự trào? Khó khăn là vậy nhưng nhờ mẹ động viên và nghiêm khắc dạy con không thoái chí, khóa Thắng tiếp tục đi học, đi thi song cả ba khoa thi hương đều bị trượt Nản lòng với khoa cử, hàn

sĩ Nguyễn Thắng định chuyển hẳn sang con đường dạy học để kiếm sống và nuôi gia đình Được một người bạn của cha giúp đỡ nên đến năm 1864 đã đỗ

cử nhân đầu trường Hà Nội Lại hăm hở trong những kì thi tiếp theo (1865,

Trang 21

1868, 1869) nhưng anh khóa nghèo vẫn thi trượt, thậm chí phải tự đổi tên thành Khuyến để khích lệ động viên mình cố gắng hơn nữa Mãi đến năm

1871, anh Thắng mới vẻ vang đón nhận liên tiếp tin vui đỗ đầu hai kì thi hội

và thi đình

Cuộc đời thi cử của khóa Thắng cũng thật khó nhọc Lận đận gần ba mươi năm đèn sách, song hành cùng chín khóa lều chõng anh khóa cuối cùng cũng thành danh Kết quả đó trước hết là nhờ sự kiên trì, nỗ lực đến mức phi thường của bản thân, nhờ những lời động viên ân cần của mẹ, nhờ cả sự tảo

tần, chắt chiu của người vợ tao khang Nếu so với Tú Xương (tám khoa chưa

khỏi phạm trường quy) thì công danh Nguyễn Khuyến quả vẫn chưa đến nỗi

quay lưng bạc bẽo Bởi lẽ dẫu sao con đường khoa cử của Nguyễn Thắng cuối

cùng cũng được hiển đạt với danh thơm Tam nguyên Yên Đổ Chính con

đường vinh quang trọng vọng mà anh khóa Thắng có được đã tạo tiền đề không nhỏ để con người này tắm mình trong vốn kiến thức Hán học uyên thâm, thỏa sức vẫy vùng trong vốn văn chương bác học, quý phái

1.2.1.2 Quan trạng Tam nguyên Yên Đổ

Trong khi Nguyễn Khuyến đang còn dùi mài kinh sử thì năm 1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào xâm lược Đà Nẵng, sau đó quay ra chiếm

ba tỉnh miền Đông Nam Kì, rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Trong hoàn cảnh

ấy, giống như rất nhiều trí thức phong kiến, con đường duy nhất của Nguyễn Khuyến sau đỗ đạt là ra làm quan, đem sở học của mình ra cứu nước, giúp đời

Đầu tiên ông được bổ làm ở Sử quán trong triều Năm 1873, ông ra làm Đốc học Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án sát tỉnh ấy Đó cũng là lúc thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm bốn tỉnh Bắc Kì lần thứ nhất (trong đó có quê hương ông) Bọn đội lốt theo tả đạo Thiên Chúa giáo làm tay sai cho giặc và

cả triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thỏa hiệp khiến cho tình thế ngày thêm rối loạn, mục nát Với trọng trách của quan Án sát đứng đầu tỉnh Thanh, quan

Trang 22

trạng Nguyễn Khuyến phải cầm quân dẹp loạn ở vùng Tĩnh Gia, Nông Cống Đúng lúc ấy thì hay tin mẹ mất tại tỉnh đường Thanh Hóa, ông đã lựa thời xin nghỉ ba năm về quê chịu tang thân mẫu

Hết tang , ông lại tiếp tục trở lại chốn quan trường và giữ chân Biện lí

bộ Hộ, rồi Bố chính Quảng Ngãi Theo dõi từng bước đường hoạn lộ của

Nguyễn Khuyến, ta thấy hầu như mọi cơn sóng gió ba đào của quốc biến cứ

dồn dập đổ lên đầu ông quan trạng mới xuất chính Lịch sử cũng như đang muốn trêu ngươi người học trò ưu tú của thời đại bằng cách đặt ra hàng loạt các vấn đề chính sự, trị quốc, đối nội, đối ngoại phức tạp và biến đổi khôn lường Quảng Ngãi, nơi mà ông tiếp quản thường xuyên xảy ra đại hạn, dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi, các quan viên đầu tỉnh vừa già yếu, bất tài vừa

ăn chơi trác táng, một mình ông xoay sở không nổi nên kết quả tất thảy quan viên đứng đầu (trong đó có Nguyễn Khuyến) đều bị đàn hặc, phạt lương, thậm chí sau đó ông còn bị giáng phạt điều về Sử quán Lúc này, ông càng thêm thấm thía về cái sở học – “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si” (Phan Bội

Châu) Thật đúng là Sách vở ích gì cho buổi ấy? sách thánh hiền cũng chịu bó

tay bất lực trước thế thời điên đảo!

Bốn năm làm Toản tu ở Sử quán (1879 – 1883), Nguyễn Khuyến vẫn sống thanh bần trong cảnh thế thời thời thế, thêm phần sức khỏe suy giảm do mắt mờ, tai kém ông thực sự thấy chán ngán cảnh quan trường danh lợi

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kì lần thứ hai, Nguyễn Khuyến được cử làm Phó sứ cùng Chánh sứ là Lã Xuân Oai sang xứ Mãn Thanh Nhưng đoàn sứ triều đình chưa kịp đi thì chuyến ấy bị bãi, lấy cớ đau yếu ông xin tạm về quê dưỡng bệnh Đến khi được đề cử làm Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên, ông đã không chịu đến nhậm chức Phần vì đau buồn vì vận nước, phần không muốn cộng tác với giặc, viện cớ đau mắt giữa năm ấy, ông vào kinh kiên quyết xin được cáo quan từ chức Mùa thu năm 1884, ông chính thức trở về Yên Đổ, khi mới năm mươi tuổi

Trang 23

Tiếng rằng bước chân vào chốn quan trường khoảng hơn mười năm (làm quan với triều Nguyễn từ 1971 đến 1884) song trong quãng thời gian ấy ông đã về quê cư tang mẹ ba năm, còn khoảng mười năm thì đến hai phần ba ông làm học quan và sử quan, những chức quan “lạnh” không dính dáng đến cai trị Nhưng cái thế thời mà Quan trạng Tam nguyên phải đối mặt là thời buổi suy vi của triều đình nhà Nguyễn, là cơ hội thực dân Pháp xâm chiếm và

nô dịch, là giai đoạn nhân dân lầm than một cổ hai tròng Vậy nên nếu như ban đầu Nguyễn Khuyến kiên trì quyết chí đậu quan thì khi sa chân chốn ấy quan trạng càng thêm hụt hẫng và muốn thoái trào Tâm nguyện cứu nước giúp đời trong lúc này được ông thực thi như trách nhiệm và bổn phận kẻ làm tôi chứ không tràn đầy nhiệt huyết như buổi ban đầu Thậm chí có lúc kẻ quan đương chức đương quyền ấy còn bộc lộ thái độ dửng dưng, muốn nghỉ ngơi hoặc trốn tránh địa vị trọng vọng của mình khi có cơ hội Đúng là nhờ đứng trên cương vị đại quan Nguyễn Khuyến mới có dịp thấy rõ bộ mặt thật của giai cấp thống trị mà ông đang là một trong những đại diện Bởi vậy tâm trạng

kẻ làm quan ở ông đan xen nhiều cấp độ: chán chường, thất vọng, bi quan tới mức chán đời, chán mình, sẵn sàng đem tất cả để cợt giễu, mỉa mai

Không đủ dũng khí như nhiều chí sĩ yêu nước Cần vương xông pha nơi hòn tên mũi đạn, không thể làm một anh hùng cứu quốc thực sự thì ông chủ trương giữ khí tiết đến cùng để không đứng ngoài cuộc Nhưng tình ngay lý gian không đừng được, ông phải ngậm lòng nhận lời làm gia sư tại nhà của tên tay sai sừng sỏ Hoàng Cao Khải Thực tế, việc ông làm không hề xấu nhưng xét về phương diện chính trị ông đã chịu rất nhiều mũi nhọn của dư luận Chính điều đó đã khiến Nguyễn Khuyến rơi cảnh há miệng mắc quai, để rồi muốn làm kẻ giả câm, giả điếc, giả mù hay ẩn danh trong hình hài người khác (mẹ Mốc, ông phỗng đá, gái góa)

Có thể nói, khi đặt chân vào cái xã hội, Nguyễn Khuyến đã thấy rõ bộ

Trang 24

mặt đạo đức giả của phong kiến với cái vỏ bề ngoài bề thế, mẫu mực Cái chén hạt mít (như đã nói ở trên) phải chăng là sự thách thức, một sự đắc ý, một cách tự tách mình ra của Nguyễn Khuyến trước cái “đứng đắn” của bè lũ quan lại đương quyền Chính vì thế không ít lần ông tìm cơ hội để trốn tránh

và quyết tâm cao độ xin cáo quan về ở ẩn Và như vậy có thể nhận định, mặc

dù chưa được tiếp cận với tư tưởng mới nhưng bằng việc nhìn thấy điểm hạn chế của giai cấp và xã hội đã sinh ra mình, Nguyễn Khuyến đã chứng minh sự nhạy cảm, tinh tế trước thời đại Những vần thơ của quan Tam nguyên là dấu hiệu cáo chung cho vai trò lịch sử của một hệ tư tưởng đang đến kì lỗi thời Tâm trạng thất vọng mất niềm tin đã khiến thơ văn của ông mang những nét riêng của văn hóa thời đại Một thời đại mục ruỗng, vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, mọi mối quan hệ bị đảo lộn đến khôn lường Có lẽ Nguyễn Khuyến trở thành người trí thức đầu tiên của thời đại đó “tự bôi nhọ mình, tự

hạ bệ và ăn thịt mình” [21, tr.12] khi chính mình còn đang an tọa trên đỉnh vinh quang quyền cao chức trọng Thật bi hài và cay đắng làm sao đối với một quan viên đã từng giữ đến chức Tổng đốc!

1.2.1.3 Cụ thƣợng Và ẩn sĩ

Sinh ra và lớn lên ở nông thôn trong thân phận hàn sĩ, sau mười lăm năm làm quan thanh liêm, Nguyễn Khuyến cương quyết từ bỏ tất cả để trở về vườn Bùi với cuộc sống thanh bần ngày trước Từ Quan trạng Tam nguyên, ông đã yên tâm làm người dân quê đích thực, nhẹ nhàng đến với cuộc sống ẩn

sĩ thôn quê và thanh thản trở thành nhà Nho vui vầy với cuộc sống gần dân, thân dân vùng đồng bằng chiêm trũng

Nguyễn Khuyến đã tự đánh giá cách xuất xử của mình là một tư thế dũng thoái Không phải do gặp phải vua hôn quân bạo chúa, cũng không phải

do thiếu ơn tri ngộ nhưng thời thế loạn lạc, không hành được thì ông tàng Và Nguyễn Khuyến đã chọn cách xuất xử theo ông là an toàn, thanh thản nhất -

Trang 25

cáo quan về quê nhà ở ẩn Ông tự nguyện làm một Đào Tiềm trong tư thế ẩn dật “trồng ba rặng cúc”, ngắm “năm cây liễu”, vui thú như Nguyễn Trãi trong cảnh “rồi, hóng mát thuở ngày trường”, an nhàn như Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày ngày nhẩm đếm các vật dụng lao động “Một mai, một cuốc, một cần câu” Có thể thấy, nhiều khi đạt đến đỉnh cao phú quý danh lợi chưa chắc bút lực và tâm hồn thơ đã đủ chinh phục trái tim bạn đọc Ngược lại lúc con người từ bỏ tất cả lại là khi họ bình tâm nhất để tạo ra những đứa con tinh thần rung động sâu xa đến gan ruột độc giả Chân dung Cụ thượng Và ẩn sĩ qua thơ văn, vì thế là chân dung hội tụ đậm đặc nhất những nét văn hóa đặc trưng của nông thôn làng quê thời đó

Cuộc sống ẩn tàng của Nguyễn Khuyến không như Nguyễn Trãi tìm về rừng núi Côn Sơn, cũng không đến với Bạch Vân am như Nguyễn Bỉnh Khiêm

mà trở lại vùng quê cũ, vùng Bình Lục quê mùa, dân dã Điều đó khiến cho bản thân Nguyễn Khuyến cũng như thơ ông đậm màu sắc của ngôn ngữ bình dân, đời thường giản dị Những thành phần ngôn ngữ giao tiếp: khẩu ngữ, quán ngữ, cách nói quen thuộc trong dân gian, hệ thống đại từ xưng hô, cách nói lái, chơi chữ đã đi vào thơ ông một cách nhuần nhị Hơn thế nguồn mạch ngôn ngữ văn học dân gian: thành ngữ, tục ngữ, ca dao khiến thơ văn của bậc đại Nho vừa mộc mạc, giản dị vừa chân thực, sinh động như cuộc đời thôn dã

Bao quát ở thơ Nôm Nguyễn Khuyến là mối quan hệ hòa hợp con người với tự nhiên, con người với con người, con người với chính bản thân mình Con người, trước đây mũ áo xênh xang, nay đã sống cuộc sống của người dân nghèo chân lấm tay bùn, hòa đồng với những tập tục làng quê, thuận lòng cơ hàn với nạn mất mùa, đói kém vùng chiêm trũng Với tư cách một nhà đại Nho học vấn uyên thâm, lại từng trải vì thấm đủ mọi dư vị ngọt bùi, cay đắng nên mặc dù không chủ đích Cụ thượng Và vẫn phác tả khá đầy đủ về đời sống văn hóa quê hương ông nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung

Trang 26

Tiểu kết:

Ba chặng đường đời tương ứng với ba danh vị đã tạo môi trường văn hóa

cá nhân rất riêng ở Nguyễn Khuyến Cuộc đời cũng như thơ văn Nguyễn Khuyến thể hiện nét văn hóa tư tưởng tôn quân của nhân cách ứng xử theo quan niệm Nho giáo Song bên cạnh những ảnh hưởng của nét văn hóa buổi giao thời, thơ văn Nguyễn Khuyến còn thật đậm những nét phong tục tập quán của một

truyền thống văn hóa Việt trọng văn, trọng nghĩa, trọng tình Môi trường văn

hóa cá nhân trở thành một trong những yếu tố tác động không nhỏ tới ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến trong mọi biến cố cuộc đời nhà thơ

1.2.2 Môi trường văn hóa xã hội

1.2.2.1 Văn hóa làng quê truyền thống

Từ rất lâu người Việt luôn nhắc đến hai tiếng quê hương mà gốc cội là

mô hình làng quê truyền thống Thôn quê được xem là quê cha đất tổ, là nơi chôn nhau cắt rốn gắn với hình ảnh không gian sân đình, lũy tre, cây đa, bến

nước Thôn quê cũng được xem là nơi đất lề quê thói với những phong tục, tập quán không dễ bị lung lay, ngay cả phép vua cũng thua lệ làng

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, P Giáo sư, Viện sĩ Trần Ngọc

Thêm đã chỉ rõ: văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình, thể hiện ở việc ứng xử với môi trường tự nhiên Với nghề trồng trọt, con người buộc phải định cư, dẫn đến ý thức tôn trọng và sống hòa bình với thiên nhiên Về nhận thức, mỗi cá nhân đều hình thành lối tư duy tổng hợp và biện chứng trong những mối quan hệ qua lại Về

tổ chức cộng đồng, con người đặc biệt ưa sống theo nguyên tắc trọng tình, trọng văn, trọng đức Với đặc điểm lối sống giàu tình cảm, con người luôn chú ý đến cách cư xử bình đẳng, dân chủ và đặc biệt là thái độ coi trọng cộng đồng, tập thể Trong ứng xử với môi trường xã hội, con người rất linh hoạt trong dung hợp và tiếp nhận những cái khách quan bên ngoài… Những cơ sở

Trang 27

trên chi phối không nhỏ đến đặc điểm văn hóa làng quê, trong đó có vùng đồng bằng chiêm trũng, quê hương của thi hào Nguyễn Khuyến

Thứ nhất, trong cách thức tổ chức nông thôn ở làng quê truyền thống, người nông dân biết liên kết và dựa vào nhau Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên và hoàn cảnh khách quan nên ở Việt Nam, làng và gia tộc nhiều khi đồng nhất tạo mối quan hệ chặt chẽ trong mối quan

hệ người với người Đúng vậy, thực tế khi công xã thị tộc tan rã và chuyển thành công xã nông thôn, các thành viên của làng xã không chỉ gắn với nhau bằng quan hệ máu mủ mà còn gắn bằng quan hệ sản xuất Trong lao động sản xuất, con người không thể tự cung tự cấp tất cả nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của mình, cũng không có khả năng làm ăn cô lập mà cần dựa vào nhau Điều đó dẫn đến mối quan hệ giữa người với người được coi trọng Người Việt Nam thường có câu: “Buôn có bạn, bán có phường”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay tình nghĩa xóm giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” Và

xu hướng sống “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” được xem là tiêu chí ứng

xử tối thiểu, vững bền nhất trong giao tiếp

Trong làng xã, để bảo quyền lợi cho tất cả mọi người, các thành viên trên một địa bàn cư trú đều được dân chủ, bình đẳng như nhau Tiêu biểu cho

mô hình này là cách tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp, sở thích tạo tính chất phường, hội Mô hình này là sự liên kết theo chiều ngang, tạo ra các phường (nghề nghiệp), ví dụ như: gốm sành sứ, phường nề, phường chài, phường vải, phường dệt vải, phường nón, phường giấy, phường mộc, phường đúc đồng… hay các hội (sở thích): hội tư văn, văn phả, võ phả, bô lão, tổ tôm, chọi gà, cờ tướng… Những tiêu chí mang tính tương đồng này vô hình chung tạo sự gắn kết làm mối quan hệ người – người được xích lại gần nhau hơn Dẫn đến thơ văn thường có xu hướng xoay xung quanh mối quan hệ con người: cá nhân –cá nhân; giữa cá nhân – cộng đồng, xã hội; giữa bản thân mình – mọi người xung quanh

Trang 28

Bên cạnh đó, việc tổ chức nông thôn còn có đặc điểm theo truyền thống nam giới, gọi là giáp Vinh dự nhất cho các thành viên hàng giáp là sự kiện được lên lão Ở làng quê xưa, tổ chức quan viên hàng xã trong làng chia năm

hạng: chức sắc, chức dịch, lão, đinh và ti ấu Lão là những người thuộc hạng

đủ về tuổi (theo quy định trong giáp) Cách tổ chức này được xây dựng trên nguyên tắc trọng tuổi tác Người thuộc hạng lão sẽ được ngồi chiếu trên, được

cả giáp, cả làng trọng vọng Người Việt vẫn nhắc nhở nhau: kính lão đắc thọ,

kính già, già để tuổi cho Thiên tước do tuổi tác đem lại cũng có tính dân chủ,

tất cả đều bình đẳng như nhau, bởi cứ đến tuổi ấy thì sẽ có địa vị ấy Đó là một trong những nét đẹp truyền thống mà cho đến giờ nhiều làng xã vẫn duy trì thực hiện bằng các lễ tiệc trang nghiêm, long trọng

Có thể thấy một đặc điểm nữa ở môi trường văn hóa làng quê từ xưa cho đến ngày nay vẫn song song tồn tại hai đặc điểm: tính cộng đồng và tính

tự trị Tính cộng đồng thể hiện ở sự liên kết các thành viên trong làng xã làm mỗi người đều hướng tới những người khác, so sánh với người xung quanh Người nông dân thường có tâm lí “con gà tức nhau tiếng gáy”, “xấu đều còn

hơn tốt lỏi”, hay theo kiểu nói vui cả làng bị toét riêng mình em đâu… Biểu

tượng không gian tồn tại của tính cộng đồng là sân đình, giếng nước, cây đa

Đó là không gian trung tâm về mặt hành chính, văn hóa, tôn giáo, tình cảm Nơi này diễn ra mọi công việc quan trọng mang tính công khai của cả cộng đồng, như các cuộc họp làng, các lễ hội truyền thống, hoạt động lao động sản xuất của già trẻ, gái trai từ đầu thôn đến cuối xóm… Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre Rặng tre bao kín quanh làng trở thành lũy thành kiên

cố, bất khả xâm phạm là đặc điểm quan trọng tạo tính tự trị, một đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với ấp lí Trung Hoa Do mang tính tự trị nên làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khu biệt với nhau, thậm chí với cả triều đình phong kiến Vì thế những gì thuộc về tập tục nơi đây tồn tại dai dẳng và chi phối sâu sắc đến đời sống người dân đất Việt

Trang 29

Thứ hai, môi trường văn hóa làng quê truyền thống thể hiện ở phong tục, tập quán Đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội, được đại đa

số người thực hiện theo Phong tục, tập quán ở Việt Nam cũng như làng quê truyền thống có ba nhóm chủ yếu: hôn nhân, tang ma và lễ Tết, lễ hội Đối với phong tục tang ma và hôn nhân, người Việt đều có xu hướng thể hiện rõ tính cộng đồng Nếu là đám cưới, cả làng sẽ đến chung vui Nếu là đám ma, người

ta sẽ đến để chia buồn và giúp đỡ Bất cứ ai, dù là láng giềng hay người xa lạ, trước sự kiện vui buồn của người nào đó đều thể hiện bằng nghĩa cử, nghĩa tình sẻ chia, đồng cảm Phong tục lễ Tết và lễ hội của người Việt cũng có đôi điều cần nói tới Nếu các ngày lễ Tết được phân bố theo thời gian, bao gồm Tết Nguyên Đán, Tết rằm tháng Giêng, Tết Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên, Tết Trung Thu, Tết Hàn Thực… thì lễ hội lại phân bố theo không gian, mỗi vùng đều có lễ hội riêng của mình Lễ hội thường liên quan với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đời sống cộng đồng Trong lễ hội thường có phần lễ (tế) và phần hội (chơi) Nhờ có lễ Tết và lễ hội, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng làng xã được gắn kết với nhau, tạo mối quan hệ chặt chẽ khác xa với cuộc sống ở nơi đô thị Có thể thấy ở làng quê, những phong tục, tập quán này luôn được duy trì trở thành nét văn hóa

đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa đầy bản sắc Việt Nam

Thứ ba, nét văn hóa sinh hoạt làng quê được thể hiện khá rõ trong ứng

xử giao tiếp hàng ngày Trong các mối quan hệ bạn bè, tình làng nghĩa xóm, người Việt đặc biệt coi trọng giao tiếp và hiếu khách Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, dù nghèo khó đến đâu người làng quê cũng chu tất bằng tấm thịnh tình đầy chân thành Nói chung bao giờ người Việt cũng đặt tình cảm lên hàng đầu trong nguyên tắc ứng xử, kéo theo cách bộc lộ tình cảm yêu, ghét cũng rất rõ ràng Những gì hợp chuẩn thì ca ngợi, đề cao Còn những gì lệch chuẩn, phi đạo đức đem ra hạ bệ và mai mỉa Thái độ yêu, ghét

Trang 30

do đó cũng được đi vào nghi thức lời nói trong giao tiếp, thể hiện rõ nhất ở việc sử dụng các đại từ xưng hô ở các ngôi, các số

1.2.2.2 Văn hóa giao thời trong xã hội phong kiến thực dân

Thực tế văn hóa Việt Nam thời trung đại ảnh hưởng bởi nhiều lớp văn hóa: lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa, văn hóa khu vực và lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Có hai dạng tiếp nhận: một là tự nguyện, hai là bị cưỡng bức

Ở giai đoạn đầu, ta gặp dạng giao lưu và tiếp biến văn hóa Đó là sự dung hợp – tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nhau đồng thời biến đổi một cách linh hoạt để tạo nên cái mới của chủ thể tiếp nhận Trước hết, đó là sự dung hợp đơn thuần giữa những hiện tượng văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa Mức độ cao hơn là sự dung hợp giữa các hiện tượng văn hóa ngoại sinh nhưng đã được sàng lọc, đã được bản địa hóa bởi chủ thể tiếp nhận Tuy

nhiên, tác giả cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cho rằng: Hai yếu tố nội sinh và

ngoại sinh đặc biệt ở chỗ “nó có khả năng chuyển hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thể văn hóa Có yếu tố ở giai đoạn này là ngoại sinh, nhưng đến giai đoạn sau, tính chất của yếu tố ngoại sinh ấy không còn hoặc hoặc nhạt dần đến nỗi người ta tưởng rằng đó là yếu tố nội sinh” [22, tr.52] Văn hóa Việt Nam giai đoạn giao thời, mà chủ yếu là giai đoạn giao lưu với văn hóa Trung Hoa và văn hóa khu vực là như vậy

Ở sự dung hợp giữa từng hiện tượng văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa, nhà nước quân chủ Việt Nam (triều Lê, Nguyễn) đã tiếp nhận ở Nho giáo cách thức tổ chức triều đình, hệ thống pháp luật, hệ thống thi cử tuyển chọn người vào bộ máy cai trị Hơn thế người Việt còn sử dụng chữ Hán (chữ Nho) làm văn tự trong giao dịch hành chính Về sau, trên cơ sở chữ Hán, người Việt đã tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) dùng trong văn chương cũng như trong các lĩnh vực đời sống khác

Trang 31

Biểu hiện tiếp biến và dung hợp trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam là lối sống hòa hiếu, trọng tình Người Việt vốn phải đối đầu với những cuộc chiến tranh liên miên của Trung Hoa, Mông Cổ, rồi Pháp, Mĩ Người Việt tối kị xung đột, đối đầu, tranh chấp, xâm lấn nên việc sáng tác thơ văn ít

đi sâu vào những khốc liệt bạo tàn của chiến tranh; quốc sách cai trị thì coi trọng việc học văn hơn học võ, trong giao tiếp coi trọng phương châm sống

một điều nhịn là chín điều lành… Lối sống hiếu hòa một mặt ảnh hưởng từ

quan điểm triết học cổ đại phương Đông, nhưng mặt khác cũng ảnh hưởng sâu xa từ điều kiện sinh tồn của xứ sở nông nghiệp trồng lúa nước Đối tượng hiếu hòa không chỉ hướng đến môi trường tự nhiên mà còn đối với môi trường xã hội Trong đời thường, lối sống trọng tình được xem là nét đẹp riêng của người Việt Không chỉ trọng tổ tiên, ông bà qua tập tục thờ cúng mà người Việt còn rất tôn trọng tình cảm trong mối quan hệ ứng xử đối với những người xung quanh Nếu người phương Tây có lối sống trọng nguyên tắc, coi trọng sức mạnh thì người Việt lại rất trọng tình người, tình cảm Nguyên tắc trọng tình là nền tảng đời sống tinh thần con người phương Đông:

“Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình” Người phương Đông cho rằng việc sống có trước có sau, có trên có dưới, biết mình biết người có thể tạo lập sợi dây liên hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa mình với người khác Vì vậy khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam rất tâm đắc với chữ “nhân” “Nhân” là lòng thương người, “nhân” gắn liền với “nghĩa” Đối với người bình dân,

nhân đồng nghĩa với tình, biến thành nhân ngãi, nhân duyên, nhân tình…

Sự dung hợp các hiện tượng văn hóa ngoại sinh (đã được sàng lọc, đã được bản địa hóa) thể hiện ở ngôn ngữ, chữ nghĩa: chữ nghĩa có thể vẫn thế nhưng cách hiểu đã khác nhiều; ở việc coi trọng tình người – trọng chữ

“nhân” được người Việt đồng hóa; ở tư tưởng trung quân gắn với ái quốc

bằng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có

Trang 32

Ngoài ra, văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XIX còn chịu ảnh hưởng bởi lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Nhờ vậy diện mạo văn hóa đã thay đổi một cách căn bản Biểu hiện trên bốn phương diện: hình thức chữ viết, các phương tiện văn hóa (nhà in, máy in), báo chí, nhà xuất bản và các thể loại, loại hình văn nghệ mới ra đời: tiểu thuyết, thơ, điện ảnh, kịch, hội họa…Tại

đây cũng có hai xu hướng trái ngược: Một bên là xu hướng Âu hóa, bên kia là xu hướng chống Âu hóa và Việt Nam hóa có ảnh hưởng của phương Tây

Văn hóa phương Tây ở Việt Nam hình thành từ khoảng thế kỉ XVI – XVII Sự tiếp xúc văn hóa trong giai đoạn đầu diễn ra trên phương diện tôn giáo và thương mại Tuy nhiên văn hóa phương Tây giai đoạn đầu không tranh thủ được hoàn cảnh thuận lợi để trở thành tư tưởng chủ đạo, là bởi nó dính líu đến thực dân xâm lược (kẻ thù của người Việt) Đồng thời nó mang đậm tính cách cứng rắn của truyền thống văn hóa phương Tây dễ gây ra sự tương phản hay khó hòa đồng Chính vì thế tâm lí người Việt Nam là không

dễ chấp nhận, thậm chí chống đối Kết quả cuối cùng là tiếp nhận nó trong sự biến đổi và thâu hóa một cách linh hoạt

Bình diện văn hóa vật chất thể hiện rõ nhất ở sự phát triển các đô thị, công nghiệp và giao thông Trên bình diện văn hóa tinh thần, thể hiện ở các lĩnh vực văn tự – ngôn ngữ, báo chí, văn học – nghệ thuật, giáo dục – khoa học, tư tưởng Cụ thể văn hóa thời điểm này có sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ Đó là thứ chữ hình thành từ bộ chữ cái Latinh thêm các dấu phụ để ghi

âm tiết tiếng Việt Chữ Quốc ngữ là thành quả tập thể của các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Ý, Pháp … và những người Việt Nam giúp họ học tiếng Việt

Sự thâm nhập của văn hóa phương Tây còn là sự ra đời của báo chí Gia Định báo là tờ báo đầu tiên phát hành bằng chữ Quốc ngữ Nhờ có báo chí, nhân dân được nâng cao về dân trí, ý thức, tinh thần dân tộc và tăng cường tính năng động, nhanh nhạy

Trang 33

Bên cạnh đó trong lĩnh vực văn học, sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây làm nảy sinh thể loại tiểu thuyết hiện đại Những sáng tác khởi đầu đã đem đến chất văn xuôi, tính cách cá nhân con người phương Tây, dẫn đến sự bùng nổ của trào lưu Thơ mới cũng như các loại hình nghệ thuật phong phú

đa dạng sau này

Ngoài ra do sự tiếp xúc, tiếng Việt cũng có nhiều biến động mạnh Trong tiếng Việt hàng loạt từ ngữ vay mượn xuất hiện, thậm chí được dùng một cách nhuần nhị trong đời sống thường ngày, rồi còn phải kể đến nhiều hiện tượng ngữ pháp đặc trưng của phương Tây thấp thoáng du nhập vào tiếng Việt, biến cái lạ thành quen, khó chịu thành thiện cảm

Từ những ảnh hưởng văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam giai đoạn giao thời trong xã hội phong kiến thực dân tồn tại cả cái hay cái dở, cái thêm cái bớt, cái được cái mất.Với sự phát triển của thành thị, đô thị cùng sự đi lên của nền công nghiệp mà đời sống vật chất con người ngày càng đủ đầy, tiện nghi hơn Mặt bằng dân cư đã thoát ra khỏi sự nghèo nàn, thiếu thốn Nhưng mất đi môi trường tự nhiên, dẫn đến nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng Về cơ bản và nói một cách công bằng, ta đã thoát được bệnh bảo thủ, thói quen dựa dẫm, lề lối gia trưởng, óc địa phương Nhưng thay vào đó và đáng báo động hơn là vấn đề tinh thần, thái độ sống Con người đối xử với nhau bằng lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, đặc biệt phơi bày nhiều hiện tượng trái tai gai mắt, phi luân thường đạo lí, chạy theo đồng tiền, quên hẳn chữ tình chữ nghĩa

Tiểu kết:

Có thể nhận định rằng: văn hóa làng quê truyền thống và văn hóa giao thời trong xã hội phong kiến thực dân là môi trường văn hóa xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến Cách tổ chức nông thôn; văn hóa về phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong giao tiếp hàng ngày đều trở thành những đặc trưng chi phối ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn

Trang 34

Khuyến Bên cạnh đó không thể không nhắc đến sự tác động mạnh mẽ của văn hóa phương Đông, phương Tây và buổi giao thời cũng làm ngôn ngữ thơ Nôm của cụ Quan trạng Tam nguyên phản ánh rõ nét văn hóa thời đại Những trang thơ Nôm ấy đã ghi nhận nét văn hóa thời đại lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến tận hôm nay

1.3 Khảo sát, thống kê, hệ thống hóa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa

1.3.1 Khảo sát thành phần ngôn ngữ văn học dân gian: thành ngữ,

tục ngữ, ca dao

-Thành ngữ: Là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định và độc lập riêng rẽ

với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ tạo câu nói hoàn chỉnh

Cụ thể trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, người viết đã khảo sát được các thành ngữ sau:

đắp tai cài trốc, lừa nạc bỏ xương, trăm sự vuông tròn, cậy giàu khinh nghèo, khăm thâm áo thụng, nước biếc non xanh, tóc bạc răng long, lá gió cành chim, văn hay chữ tốt, bán tiếng mua danh, kẻ cười người chê, thất điên bát đảo, khôn nhà dại chợ, nằm mát ăn bát vàng, sửa túi nâng khăn, nghịch như ma, đánh như két, trơ như thép, thần phật trong lòng, thân già da cóc, chén chú chén anh, trơ như đá, vững như đồng, ba cọc ba đồng…

-Tục ngữ: Là một thể loại của văn học dân gian gồm những câu nói

ngắn gọn, có vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ thuộc có chức năng đúc kết kinh nghiệm và tri thức lâu đời của nhân dân về thiên nhiên, lao động sản xuất, về con người và xã hội

-Ca dao: Là một thể loại của văn học dân gian, là những bài hát được

lưu hành phổ biến trong đời sống nhân dân, có hoặc không có khúc điệu nhằm diễn tả đời sống tình cảm của nhân dân lao động

Trong thơ Nôm, Nguyễn Khuyến đã sử dụng chất liệu của văn học dân gian (thành ngữ, tục ngữ, ca dao…) để tạo ngôn ngữ thơ đậm chất dân gian

Cụ thể người viết đã thống kê được hệ thống ngôn ngữ, như sau:

Trang 35

STT Tên tác phẩm Câu thơ sử dụng chất liệu văn học dân

gian Nguyên gốc (thành ngữ, tục ngữ, ca dao)

nòng nọc đứt đuôi

Khôn kia dễ bán dại này ăn

Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

Có gương mà để bên mình không soi

Của có của tốt, của xấu

Còn một phương nhịn để lấy chồng

Chín phương làm đĩ, chừa một phương để lấy chồng

Lấy chồng phải lụy cùng chồng…

Trang 36

12 Muốn lấy chồng Mới biết có chồng nhƣ có cánh

Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông

Có con gây dựng cho con

Có chồng gánh vác giang sơn nhà chồng

Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan

Lông lốc tha hồ mặc mẹ bôi

Bắt kẻ có tóc, ai bắt kẻ trọc đầu Đầu trọc lông lốc bình vôi

Mẹ ngồi mẹ ỉa, mẹ bôi lên đầu

Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

Trang 37

Phép nước xin chừa móng lợn đen Lấm như trâu lỗ

Đã lên, bay bổng tít bao chừng

Cá vượt vũ môn

Cá chép hóa rồng

Rừng nho lai láng bắt con ong

Nhạt như nước ốc Nuôi ong tay áo

Đến kì tháng tám cá về Vũ môn

Hoãn ai mà lại ở tai bà nghè

Theo người sửa túi nâng khăn

Ơn cha núi thẳm bể sâu

Nâng khăn sửa túi Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Trang 38

1.3.2 Khảo sát thành phần ngôn ngữ giao tiếp: khẩu ngữ, đại từ

nhân xưng, nói lái …

-Khẩu ngữ: Là ngôn ngữ nói thường dùng trong cuộc sống hàng ngày,

có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách ngôn ngữ viết

Trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, người viết khảo sát được các loại sau: +Những khẩu ngữ được tạo nên từ việc tách rời các yếu tố thường đi liền

để chêm xen thêm thành phần đưa đẩy, hoặc ngôn ngữ ở dạng láy ba, láy tư:

bắt khoan bắt nhặt, tiếng nhỏ tiếng to, xem sách xem văn, chấm bài chấm đối, đọc đọc ngâm ngâm, bàn mỏng bàn dày, thu chày thu cối, cóc ca cóc cách, chạy gạo chạy tiền, làm gà làm vịt, đi liểu đi liều, sớn sơ sớn sở, thầy đồ thầy lề, học trò học trẹt, ngủ gà ngủ gật, việc làng việc họ, tổ tôm tổ tép, dở lính dở quan, vừa thầy vừa tráng, ngông dại ngông càn, nhớn nhơ nhớn nhác, ba cọc ba đồng, mắng đi mắng lại, ngơ ngơ ngác ngác, sạch như nước, quang quác quác, tẻ tè te, mỏng mòng mong…

+ Các quán ngữ có sắc thái biểu cảm, quen dùng để đưa đẩy, tạo chú ý của người nghe; cách nói lấp lửng, bỏ ngỏ dành khoảng trống cho người tiếp nhận:

thế cũng là, ai là chẳng, cũng là, cũng gọi là, chuyện đâu đâu, không biết nhỉ, bặt tăm hơi, sao mà nhẹ, thế mới hời, trơ mốc thếch, chua cay nhỉ, mãi tít, rõ khéo, có là bao, thế này ư, khéo là may, đã thôi a, mới gọi là, tít mù say, chén chú chén anh, đã say nhè, vắng teo, bé tẻo teo, chẳng đỗ thì, thương thì…thương thì…lấy thì…, giày cóc gặm… , coi như thể, thì thôi mới là…

+Các triết lí dân gian:

* Chỉ học lâu ngày nên đấng cả

Chồng nên ông, vợ cũng lên bà

* Cơ họa phúc phân minh báo ứng

* Thẩn thơ một tớ đôi thầy

Có ngày bĩ cực, có ngày thái lai

Trang 39

* Có ý sinh ta ắt có ta

* Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng

* Sống chết người, quyền ở trong tay

* Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông

* Người ba đấng của ba loài

* Mây trắng về đâu, nước chảy xuôi

* Trời đã sinh ta ắt có ta

* Co cóp làm sao được với trời

* Chuyện cũ mười phần chín chẳng như

* Ấy thuở trước ông mày chẳng đỗ

Hóa bây giờ cho bố làm nên

+Các hư từ bày tỏ sắc thái, thái độ của người nói: hỡi, a, ư, nhỉ, thế,

này này, sao, chưa, đó, thôi, rồi, tá, nào, hay, chi, thay, mà, đây:

Chi:

Hỡi mụ hỡi thương chi thương thế?

Học chẳng có rằng hay chi cả,

Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi,

Kêu gào thế cười chi cho mệt,

Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,

Sao người coi chẳng ra trò trống

chi?

Đêm hôm ai chẳng biết chi,

Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?

Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?

Hay còn lo tính sự đời chi đây?

Bán mua mặc ý muốn chi chi?

Xinh thay diện mạo anh hùng ! Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay! Thế:

Nhà dẫu không to thế cũng to Gẫm chín cuộc đời ai chẳng thế,

Trang 40

Trướng đối đừng gấm vóc làm chi,

Người đâu gặp gỡ làm chi,

Rượu bứ cung thang, múa ba hoa chi

mép

Văn gàn bát sách, rung chữ ngũ chi

đùi

Quản chi công nợ có là bao,

Võng đào khiêng chấm đất chi…

Nhỉ:

Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,

Ông trời có lẽ cho ta nhỉ

Bổng lộc như ông không mấy nhỉ?

Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ?

Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,

Lấy của đánh người quân tệ nhỉ?

Tần tiện thế mà không khá nhỉ?

Ông trời rõ khéo chua cay nhỉ,

Bóng hiên thêm nồng hơi nồng nhỉ?

Hay:

Trồng lan ngõ tối ngát nào hay?

Ông gẫm mình ông nghĩ cũng hay

Thầy đang dở giấc nào hay

Thầy yêu mẹ cháu có ai hay,

Sao:

Sao con đàn hát vẫn say sưa?

Muốn sao, chiều chẳng được sao,

Chục năm, chục bảy tính nhiều sao?

Cớ làm sao õng ẹo với làng nho?

Dẫu bóng ta, ta bóng có làm sao

May sao may khéo là may

Khen ai khéo vẽ trò vui thế, Đây:

Thuyền ai khách đợi bến đâu đây? Tá:

Tìm xuân dễ biết xuân đâu tá? Nước non man mác về đâu tá? A:

Được làm dơ dở đã thôi a?

Ngọn gió không nhường tóc bạc a! Ư:

Thử xem trời mãi thế này ư?

Rồi:

Bác Dương thôi đã thôi rồi!

Bác già tôi cũng già rồi, Nào:

Dẫu pháo thăng thiên đã tới nào, Nay đã nên to đến thế nào?

Mà:

Vậy treo xe làng cũ mà thôi;

Bạn của thầy cũng vậy mà thôi Năm lăm ông cũng lão đây mà Điếc như anh dễ bắt chước ru mà! Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Dở quan, dở khách đâu mà gọi,

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi

Số kiếp phải đâu mà lận đận Bóng đâu mà bóng đè cô?

Kẻ thắp đèn lên hỏi mượn mà

Ngày đăng: 28/06/2017, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh, (1969), Phong tục Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Năm: 1969
2. Phan Kế Bính, (1990), Việt Nam và phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
3. Lê Nguyên Cẩn, (2014), Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
4. Đỗ Hữu Châu, (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Tạp chí văn học, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
6. Mai Ngọc Chừ, (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
7. Xuân Diệu giới thiệu, (1979), Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Khuyến
Tác giả: Xuân Diệu giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1979
8. Trịnh Bá Đình, (1994), Tìm hiểu phong cách dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tạp chí Văn học, số 1 tr 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong cách dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
Tác giả: Trịnh Bá Đình
Năm: 1994
9. Biện Minh Điền, (2008), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2008
10. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Trần Đình Hượu, (1996), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1996
14. Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng, (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930
Tác giả: Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1988
15. Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Đinh Thị Khang (2007), Văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Đinh Thị Khang
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
16. Nhóm Trí thức Việt Tuyển chọn và giới thiệu (2012), Nguyễn Khuyến thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến thơ và đời
Tác giả: Nhóm Trí thức Việt Tuyển chọn và giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2012
17. Phan Ngọc, (1991), Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1991
18. Hoàng Nam, (2014), Văn hóa dân tộc, văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân tộc, văn hóa Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2014
19. Hoàng Phê, (1995), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1995
20. Nguyễn San – Phan Đăng, (2011), Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam, in lần thứ 5, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn San – Phan Đăng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
21. Đào Thản, (1998), Ngôn ngữ và văn học, Tái bản – Tập II, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và văn học
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
22. Vũ Thanh biên soạn, (2001), Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Vũ Thanh biên soạn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
23. Trần Ngọc Thêm, (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w