1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nông thôn việt nam thời mạc (1527-1529)

93 249 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ra đời và tồn tại trong một thời gian không dài so với các vương triều trước, nhưng Mạc đã để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc bằng những đóng góp tiến bộ trên nhiều phương diện “Góp phầ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường ĐHSP Thái Nguyên, Phòng tư liệu Viện sử học Việt Nam, Thư viện Quốc gia… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo vệ luận văn

Thái Nguyên, tháng 8, năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Tố Loan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: Nông thôn Việt Nam thời Mạc

(1527 – 1592), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi là

kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Nhà trường

về sự cam đoan này

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Tố Loan

XÁC NHẬN CỦA TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CẤU TRÚC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC 8

1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Mạc 8

1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn 12

1.3 Tổ chức Hội ở nông thôn: 16

1.4 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn 21

CHƯƠNG 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC 29

2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Mạc 29

2.2 Sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân 34

2.3 Nghề thủ công và buôn bán nhỏ 41

2.4 Giao thông và phương tiện đi lại 52

CHƯƠNG 3 VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC 55

3.1 Phong tục, tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn 55

3.2 Nghệ thuật và giáo dục ở nông thôn 62

3.3 Nhà ở, ăn, mặc của người dân ở nông thôn 71

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 85

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông thôn Việt Nam với 74,8% dân số, 72% lực lượng lao động xã hội, tạo ra 40% GDP của cả nước, là nơi phân bố hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nơi sinh sống của 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Vì vậy, phát triển nông thôn có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước

Xuất phát từ đặc điểm và vai trò của nông thôn Việt Nam, Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) và Hội Nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa X (tháng 8/2008) đã khẳng định vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như giữ vững an ninh quốc phòng đất nước Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011) đã tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Như vậy, có thể nói rằng cùng với nông nghiệp và nông dân, nông thôn là một trong những yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội Nông thôn là địa bàn chiến lược của cả nước – nơi có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống Đây còn là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ thụ sản phẩm của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích lũy cho công nghiệp hóa, phát triển kinh tế Mặt khác, nông thôn còn là nơi chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật Ngoài ra, vai trò của nông thôn còn thể hiện trong việc giữ gìn và tô điểm cho môi trường sinh thái của con người, tạo ra sự gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên Có thể nói rằng xã hội nông thôn ổn định và phát triển là nền tảng, là gốc ổn định và phát triển đất nước Ngày nay công cuộc phát triển nông thôn ngày càng được chính phủ các nước khắp thế giới, nhất

là các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm

Trang 7

Là đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử, nông thôn là khu vực chứa đựng những yếu tố như kinh tế, chính trị Nơi khơi nguồn và lưu giữ những giá trị văn hóa của dân tộc

Ra đời và tồn tại trong một thời gian không dài so với các vương triều trước, nhưng Mạc đã để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc bằng những đóng góp tiến bộ trên nhiều phương diện “Góp phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh” [66] Đời sống nhân dân ổn định, xã tắc yên bình trong thời gian trị vì của hai vị vua đầu vương triều

Xuất phát từ nhận thức về vai trò của nông thôn trong quá khứ và hiện

tại, tôi lựa chọn đề tài “Nông thôn Việt Nam thời Mạc (1527 – 1592)” làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ năm 1986 cùng với công cuộc cải cách mở cửa đất nước theo chủ trương của Đảng, các nhà nghiên cứu lịch sử đã nhìn nhận và đánh giá khách quan hơn về triều Mạc Cụ thể, bắt đầu từ đây đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, trong đó các nhà nghiên cứu lịch sử đã có cái nhìn cởi mở và khách quan hơn về vương triều này Cũng từ đây, nhiều vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa – giáo dục của nhà Mạc đã được sáng tỏ Vị trí, vai trò của nhà Mạc trong lịch sử cũng dần được trả lại đúng với vị trí của nó

Từ năm 1991, có nhiều bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử bàn về nhà Mạc như thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục hay các công trình nghiên cứu về vương triều Mạc

Về chính trị - xã hội: Trong cuốn Vương triều Mạc 1527 – 1592 (1995),

Nxb Khoa học xã hội có bài Chế độ quân chủ thời Mạc (1527 – 1592) và thể

chế chính trị đương thời của PTS Trần Thị Vinh Tác giả Đặng Kim Ngọc

với bài: Một số biện pháp của nhà Mạc trong việc xây dựng đất nước

Trang 8

Nguyễn Đức Nhuệ có bài Vài nét về đời sống nhân dân trong thời nội chiến

Lê – Mạt PGS Chu Quang Trứ có bài nghiên cứu Hiểu về xã hội Mạc qua mấy phát hiện về Mỹ thuật Mạc ở xứ Đông trong cuốn Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Viện sử học và Hội đồng Khoa học Lịch sử Thành phố Hải

Phòng (1996)

Về kinh tế: Cũng trong cuốn Vương triều Mạc 1527 – 1592 (1995),

Nxb Khoa học Xã hội, TS Đỗ Đức Hùng có bài: Một vài nét về tình hình

ruộng đất và kinh tế nông nghiệp dưới thời Mạc (thế kỉ XVI) Trong đó tác giả

đã khái quát chính sách ruộng đất dưới thời Mạc và tình hình kinh tế nông

nghiệp thế kỉ XVI Đặc biệt, tác giả Vũ Duy Mền trong bài Một số vấn đề

làng xã thời Mạc đã đề cập khá tỉ mỉ đến tình hình ruộng đất làng xã và tổ

chức hành chính và xã hội nơi làng xã Tác giả Trần Thị Vinh trong cuốn

Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Viện sử học và Hội đồng Khoa học

Lịch sử Thành phố Hải Phòng (1996) có bài Nhà Mạc đối với nền kinh tế

công thương nghiệp ( thế kỉ XVI – thế kỉ XVII) Trong bài viết này, tác giả đã

phân tích khá rõ nét nguyên nhân cũng như những biểu hiện của sự phát triển công thương nghiệp dưới thời Mạc Ngoài ra trong cuốn sách này còn có bài

viết Chính sách kinh tế của nhà Mạc qua tư liệu điền dã của tác giả Mạc Hữu

Họa – Mạc Văn Viên Bên cạnh đó có một số bài viết của PGS.PTS Đỗ Văn Ninh và Nguyễn Đức Nhuệ về vấn đề tiền tệ và công thương nghiệp thời Mạc

trong cuốn Vương triều Mạc 1527 – 1592 (1995), Nxb khoa học xã hội

Về văn hóa giáo dục: Có các bài nghiên cứu Mấy vấn đề tri thức thời Mạc của PGS Lê Văn Lan Vương triều Mạc và văn chương thế kỉ XVI của

Nguyễn Hữu Sơn trong cuốn Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Viện

sử học và Hội đồng Khoa học Lịch sử Thành phố Hải Phòng (1996) Tình

hình Giáo dục thi cử thời Mạc của Nguyễn Hữu Tâm đăng trong cuốn Vương

triều Mạc 1527 – 1592, ( 1995), Nxb khoa học xã hội

Trang 9

Ngoài ra trong các cuốn Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử của Viện sử học và Hội đồng Khoa học Lịch sử Thành phố Hải Phòng xuất bản năm 1996; Mạc Đăng Dung và Vương triều Mạc của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam công bố năm 2000 cũng có một số chuyên đề đề cập tới các các vấn đề như chính trị kinh tế, văn hóa

Tác giả Đinh Khắc Thuân đã có rất nhiều bài viết đề cập một cách toàn diện và sâu sắc về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội – giáo dục

thời nhà Mạc; Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Văn bia thời Mạc và đóng góp của nó

trong nghiên cứu Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI (2001); Văn bia thời Mạc (2010), Nxb Hải Phòng; Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam (2012), Nxb khoa học xã hội Đặc biệt trong cuốn Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia (2001), Nxb khoa học xã hội Qua tác phẩm này, tác giả đã

trình bày một cách chi tiết và cụ thể từ những đánh giá về Mạc Đăng Dung cho đến tổ chức chính quyền ở trung ương và địa phương, cùng những hoạt

động kinh tế và văn hóa nơi làng xã

Tác giả Nguyễn Văn Sơn với Luận án Phó tiến sĩ Khảo cổ học Di tích

thời Mạc vùng Dương Kinh (Hải Phòng) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội (1997)

cũng đã tái hiện lại hoạt động kinh tế, thương mại diễn ra tại vùng đất này

Đặc biệt, trong luận văn thạc sĩ Kinh tế Đại Việt thời Mạc (1527 – 1592) của

Phan Đăng Thuận đã đề cập một cách chi tiết về hoạt động kinh tế thời Mạc như tình hình sở hữu ruộng đất, hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp,

tiền tệ Trong luận văn thạc sĩ Giáo dục, khoa cử thời Mạc từ năm 1527 đến

năm 1592 của tác giả Tô Ngọc Hằng đã tái hiện lại một cách chân thực về chế

độ giáo dục khoa cử thời kì này Sự phát triển của giáo dục, khoa cử dưới thời Mạc đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước phong kiến đối với sự phát triển chung của đất nước Góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cũng như gìn giữ

và phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo tốt đẹp của dân tộc

Trang 10

Trong năm 2010 đã có một cuộc hội thảo tiếp tục đề cập tới các vấn đề của nhà Mạc như Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam (Hội Sử học Hà Nội) cuộc hội thảo với sự tham gia của hơn 50 chuyên gia trong lĩnh vực sử học và văn hóa đã được tổ chức tại Trung tâm thành cổ Hà Nội, ngay trên nền điện Kính Thiên xưa Đa phần, các tham luận đều tập trung phân tích những ảnh hưởng khá tích cực của vương triều nhà Mạc tới xã hội Việt Nam giai đoạn thế kỷ XV, XVI trên nhiều lĩnh vực như văn hóa nghệ thuật, giáo dục, kinh tế, quân sự Dù còn nhiều hạn chế, tư duy kinh tế của nhà Mạc cũng đã tạo nên nhiều thành quả tương đối tích cực trong đời sống xã hội và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của một nền nghệ thuật nhà Mạc có phong cách riêng (chủ yếu ở các lĩnh vực kiến trúc và điêu khắc)

Nhìn chung, từ những 80 trở lại đây đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều công trình nghiên cứu về vương triều Mạc trên các khía cạnh kinh tế, bang giao, làng xã, giáo dục nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

cụ thể và toàn diện về nông thôn thời Mạc Tuy vậy, những công trình nghiên cứu trên thực sự là những tư liệu quý báu và bổ ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhằm tái hiện lại một cách chân thực và khách quan nông thôn thời Mạc Trong đó bao gồm các yếu tố về chính trị - xã hội, kinh tế và văn hóa Qua đó góp phần lý giải một cách khách quan những vấn đề liên quan đến nhà Mạc nói riêng và đến lịch sử dân tộc thời kì này nói chung

Trang 11

Về thời gian: Từ khi triều Mạc thành lập (năm1527) đến khi bị nhà Hậu

Lê đánh bật khỏi Thăng Long (năm 1592)

Về không gian:

- Phạm vi đất nước Việt Nam thời Mạc bao gồm khu vực Bắc bộ và toàn bộ khu vực từ Quảng Nam trở ra Bắc (nhưng trên thực tế nhà Mạc chỉ quản lý từ Thanh Hóa trở ra)

- Phạm vi xung quanh kinh thành Thăng Long mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông thì vẫn thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Còn kinh thành Thăng Long không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài tuy nhiên những mối quan hệ đặc biệt là quan hệ giao lưu buôn bán giữa người nông dân với kinh thành thì chúng tôi vẫn tiến hành nghiên cứu ở khía cạnh kinh tế của khu vực nông thôn thời kì này

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về vương triều Mạc

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử

và phương pháp lôgic, kết hợp với phương pháp khai thác tư liệu thành văn

Trang 12

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn bước đầu giới thiệu một cách khái quát và về nông thôn nhà Mạc ( 1527 – 1592) Góp thêm cái nhìn về tình hình kinh tế, văn hóa –xã hội,

tư tưởng – tôn giáo Trên cơ sở đó sẽ có những đánh giá khách quan về vương triều Mạc và những đóng góp của vương triều này đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

- Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo cho việc dạy học lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu thành bởi 3 chương:

Chương 1: CẤU TRÚC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN

THỜI MẠC Chương 2: KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC

Chương 3: VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC

Trang 13

CHƯƠNG 1 CẤU TRÚC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC

1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Mạc

Sau thời kì phát triển và ổn định của nhà nước Lê sơ thế kỉ XV, đặc biệt

từ thời vua Lê Thánh Tông Đến đầu thế kỉ XVI chế độ chính trị và xã hội Lê

sơ lâm vào khủng hoảng sâu sắc Vua quan ăn chơi sa đọa, quan lại địa phương ra sức hoành hành, sách nhiễu nhân dân Ruộng đất công ngày càng thu hẹp, nhà nước không quan tâm tới sản xuất nông nghiệp dẫn tới mất mùa đói kém, đời sống nhân dân khổ cực, từ đó dẫn tới các cuộc nổi dậy của nông dân Có thế thấy rằng xã hội Đại Việt cuối thời Lê sơ đang ở trong tình trạng rối loạn Chính quyền nhà Lê không còn đảm nhận được vai trò quản lí đất nước Trong bối cảnh chính trị, xã hội đó đã xuất hiện một thế lực mới trong triều đình nhà Lê – đứng đầu là Mạc Đăng Dung

Vốn xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới ở Kiến An (Hải Phòng), từ khi trúng Đô lực sĩ, có công dẹp loạn Mạc Đăng Dung được giữ những vị trí quan trọng trong triều đình và dần thâu tóm quyền lực trong tay Lợi dụng sự suy yếu của triều đình nhà Lê, năm 1527 Mạc Đăng Dung đã ép vua Lê nhường ngôi và lập ra nhà Mạc

Nhà Mạc tồn tại với tư cách là một vương triều từ 1527 đến 1592, gồm

65 năm, trải qua các phổ hệ từ Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên đến Mạc Mậu Hợp từ khi Mạc Đăng Dung lên làm vua đến khi nhà Mạc bị nhà Trịnh đánh đổ (1592) Nét nổi bật của tình hình Đại Việt thời kì này là sự tồn tại song song hai hệ thống chính quyền: Nhà Mạc (Bắc triều) và nhà Hậu Lê (Nam triều) giành nhau trong suốt một thời gian dài đã làm cho đất nước lâm vào tình trạng nội chiến Ra đời trong bối cảnh như vậy, nhà Mạc một mặt phải lo đối phó với các cựu thần nhà Lê (phía Nam), mặt khác phải đương đầu với âm mưu xâm lược của nhà Minh (phía

Trang 14

Bắc) Không những thế lúc này các thế lực, phe phái tranh giành quyền lực, đánh giết lẫn nhau, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi, lòng người ly tán

Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, đòi hỏi Mạc Đăng Dung và triều đình nhà Mạc phải có những chính sách và biện pháp tích cực nhằm đưa đất nước tránh được cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc cũng như bình ổn tình hình trong nước, thúc đẩy nền kinh tế ổn định và phát triển Sau khi được thành lập, về cơ bản nhà Mạc vẫn duy trì tổ chức nhà nước như thời

Lê “ Đất 13 lộ thì cứ chiếu theo tên cũ” [25, tr 623].

Ở địa phương: Các đơn vị hành chính về cơ bản cũng giống như thời Lê: Đạo, phủ, huyện (châu), tổng, xã (Thời Mạc xuất hiện thêm đơn vị Tổng)

Quân đội: Do đất nước luôn trong tình trạng chiến tranh, nên nhà Mạc

rất chú trọng xây dựng lực lượng quân đội mạnh để bảo vệ chính quyền Nhà Mạc vẫn duy trì Ngũ phủ quân thời Lê; Đông quân, Tây quân, Nam quân, Bắc quân và Trung quân Lấy kinh đô Thăng Long làm trung tâm, nhà Mạc đặt Trung quân, còn bốn trấn quanh kinh đô là Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam và Kinh Bắc đặt bốn quân còn lại lấy tên theo phương vị Người đứng đầu Ngũ phủ đều do các tước vương tài giỏi họ Mạc như Khiêm vương Mạc Kính Điển đảm nhiệm

Năm 1528 Mạc Đăng Dung sai phò mã lâm quốc công Nguyễn Quốc Hiển và một số đại thần trong triều sửa đổi lại binh chế Nhà Mạc tổ chức lại

Trang 15

các vệ và ty quân sự Cả nước chia thành 4 vệ, ngoài 2 vệ Cẩm Y và Kim Ngô

có từ trước, lập thêm 2 vệ là Hưng Quốc và Chiêu Vũ 4 vệ quân chủ lực gồm:

Vệ Hưng Quốc gồm binh lính xứ Hải Dương:

Vệ Cẩm Y gồm binh lính xứ Sơn Tây:

Vệ Kim Ngô gồm binh lính xứ Kinh Bắc và vệ Chiêu Vũ gồm binh lính

xứ Sơn Nam “Chia bổ các ty, mỗi ty đặt một viên Chỉ huy sứ, một viên Chỉ

huy Đồng tri, 1 viên chỉ huy thiêm sự, 10 viên Trung hiệu, 1.100 viên trung sĩ chia làm 22 phiên thay nhau túc trực Nếu có công lao, thì bổ lên các chức thiên hộ, thống chế, quản lĩnh, trung úy” [25] Vì chú ý tới xây dựng lực lượng quân đội nên bính lính thời Mạc khá đông, có lúc quân nhà Mạc lên tới

10 vạn trong những lần giao tranh với quân Trịnh

Luật pháp: Dưới thời Mạc có bộ luật Hồng Đức Thiện Chính thư

(không rõ niên đại cụ thể và tên tác giả) Có nhiều ý kiến cho rằng đây là bộ luật được biên soạn dưới thời vua Lê Thánh Tông vì bộ luật gồm khoảng 80 điều mục, ghi chép các lệ lệnh về ruộng đất, hôn nhân, quy chế để tang…được ban hành dưới thời Hồng Đức Tuy vậy, qua nhận định của các nhà nghiên cứu: Đinh Khắc Thuân, Trần Thị Kim Anh, luật sư Vũ Văn Mậu

và nhà nghiên cứu người Mỹ John Whitmore đã chứng minh Hồng Đức Thiện Chính là bộ luật được biên soạn dưới thời Mạc (1541 - 1564) trên cơ sở tập hợp, ghi chép và bổ sung vào các điều luật tiêu biểu có từ thời Hồng Đức làm

thành bộ luật phục vụ cho vương triều của mình

Đối ngoại : Nhìn chung trong quan hệ với nhà Minh, nhà Mạc luôn tìm

giải pháp thương lượng tạm thời với nhà Minh, tránh thế “Lưỡng đầu thọ địch” để lo đối phó với thế lực của cựu thần nhà Lê Trước việc nhà Minh cho người sang dọa dẫm, mặt khác nhà Mạc lo sợ trước lực lượng của cựu thần nhà Lê, nhà Mạc đã thỏa hiệp với nhà Minh, đem vàng, bạc châu báu lên đút lót để được yên ổn

Trang 16

“Mùa đông tháng 11, năm 1540, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị,

Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh qua trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ,

đi chân không đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, dập đầu quỳ dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai quân dân quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù thuộc châu Vĩnh An trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc, lệ vào Khâm Châu, lại xin ban chính sóc, cho ấn chương và cẩn thận che chở giữ gìn để đợi đổi định Lại sai Văn Minh và bọn Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng đến Yên Kinh” [25, tr 621] Hành động này của nhà Mạc đã gây nên sự

bất bình trong quan lại và dân chúng khiến nhà Mạc rơi dần vào thế cô lập Tuy vậy, việc làm trên cũng giúp nhà Mạc tránh được một cuộc chiến không cân sức, có thời gian hòa bình để ổn định tình hình trong nước

Kết cấu xã hội: Trong xã hội thời Mạc, sự phân hóa xã hội ngày càng

sâu sắc

Tầng lớp địa chủ, quan lại Địa chủ nắm trong tay phần lớn ruộng đất, lấy ruộng đất tư làm cơ sở để tiến hành bóc lột địa tô đối với nông dân Quan

lại bao gồm “Phần lớn là nho sĩ quan liêu, qúy tộc dòng họ chỉ chiếm một số

rất ít, còn lại một số nhỏ và không có vai trò gì nhiều lắm, đó là tầng lớp trí thức cũ của nhà Lê” [75, tr 33] Nhìn chung trong thời gian đầu nhà Mạc có

sử dụng một số quan lại của nhà Lê trong bộ máy chính quyền, nhưng về sau thì dè dặt dần Nhà Mạc đã chú ý thông qua khoa cử để bổ sung vào bộ máy quan lại Đội ngũ quan chức thời Mạc là những tri thức Nho sĩ được chọn chủ yếu thông qua khoa cử Nhà Mạc đã có những chính sách để khuyến khích và đề cao việc học như dựng bia đá ghi tên người trúng tuyển, cho sửa lại nhà Quốc Tử Giám, Mạc Đăng Doanh đến thăm nhà Thái học Tuy nhiên,

ý thức đào tạo một tầng lớp sĩ phu quan liêu chỉ được thực hiện tốt trong thời

Trang 17

gian trị vì của những vị vua đầu vương triều Càng về sau, do chính sách hậu

đãi của nhà Mạc chưa triệt để, nửa vời nên dẫn tới tình trạng “ Tầng lớp quan

liêu mới không đủ làm cơ sở vững chắc cho nhà Mạc” [75, tr 60]

Tầng lớp lao động: Cũng như xã hội dưới các triều đại phong kiến trước đó, đại bộ phận nhân dân thời Mạc là nhân dân lao động, đó là những nông dân tự canh, tá điền, thợ thủ công, tiểu thương Nông dân là tầng lớp xã hội đông đảo nhất Thợ thủ công gồm một số công tượng và chủ yếu là thợ thủ công trong làng xã, thương nhân ở địa phương Nếu như dưới thời Lê quốc sách của nhà nước là “ trọng nông ức thương”, thương nhân là tầng lớp

xã hội bị coi rẻ hơn cả, bị gán cho những tính cách "phi nghĩa", "bất nhân", thương nhân bị đưa xuống hàng cuối của bậc thang xã hội, thì thời Mạc người thợ thủ công và buôn bán không những không bị xem nhẹ mà còn được đề cao

Nhìn chung, đời sống nhân dân tuy còn gặp khó khăn nhất định như chiến tranh, đói kém, thiên tai, mất mùa, nhưng dưới thời Mạc ta thấy không

có một cuộc khởi nghĩa nông dân nào Điều đó đã chứng tỏ chính sách đúng đắn và hợp lí đối với kinh tế của các vị vua nhà Mạc

1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn

Tổ chức chính quyền cấp đạo, phủ, huyện (châu), tổng, xã

Ra đời trong bối cảnh chính trị - xã hội tương đối phức tạp, nên về cơ bản chính quyền trung ương nhà Mạc được xây dựng và củng cố trên cơ sở của nhà nước thời Lê Sơ Bộ máy quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền tiếp tục được duy trì Bên cạnh, các cơ quan ở trung ương Ở địa phương, các đơn vị hành chính vẫn duy trì như thời Lê

Đạo: Là đơn vị hành chính cao nhất ở địa phương dưới thời Mạc, cả nước “ có 13 đạo lộ” [68, tr 158], ngoài Đạo còn có 1 phủ ở trung đô là

Phụng Thiên Phủ

Danh sách 13 đạo thừa tuyên thời Mạc [66]

Trang 18

Đạo Hải Dương: Gồm 4 phủ với 18 huyện, tương đương với địa phận

các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và một số huyện thuộc Hưng Yên và Quảng Ninh ngày nay

Đạo Kinh Bắc: Gồm có 4 phủ, 20 huyện bao gồm địa của các tỉnh Bắc

Ninh và một số huyện thuộc các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên, Lạng Sơn và Hà Nội ngày nay

Đạo Sơn Tây: Gồm 6 phủ, 24 huyện, tương đương với địa phận của

tỉnh Hà Tây, và một số huyện của tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hòa Bình và thành phố Hà Nội

Đạo Sơn Nam: Gồm 11 phủ, 42 huyện tương đương địa phận các tỉnh

Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số huyện của Hưng Yên,

Hà Tây, Hòa Bình và Hà Nội ngày nay

Đạo Lạng Sơn: Có 1 phủ, 7 châu tương đương địa phận tỉnh Lạng Sơn

và một số huyện của tỉnh Bắc Giang ngày nay

Đạo Ninh Sóc: (Thái Nguyên) có 3 phủ 8 huyện và 7 châu, tương

đương địa phận các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, cùng một số huyện thuộc Cao Bằng, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc ngày nay

Đạo Hưng Hóa: Có 3 phủ, 4 huyện và 17 châu, tương đương với địa

phận các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và một số huyện của Lào Cai, Phú Thọ ngày nay

Đạo Tuyên Quang: Có 1 phủ, 1 huyện và 5 châu, tương đương địa phận

tỉnh Tuyên Quang, cùng một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Yên Bái ngày nay

Đạo An Bang: (sau là An Quảng) có 1 phủ, 3 huyện tương đương địa

phận thuộc tỉnh Quảng Ninh và một số huyện thuộc Hải Phòng ngày nay

Đạo Thanh Hoa: Có 4 phủ, 16 huyện và 4 châu tương đương địa phận

tỉnh Thanh Hóa ngày nay

Trang 19

Đạo Nghệ An: Có 9 phủ, 25 huyện và 2 châu, tương đương địa phận

tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay

Đạo Thuận Hóa: Có 2 phủ, 8 huyện và 4 châu, tương đương địa phận

các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một số huyện thuộc Quảng Nam ngày nay

Đạo Quảng Nam: Có 3 phủ, 9 huyện tương đương địa phận thuộc

Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay

Phủ Phụng Thiên (trước đó là Trung đô phủ) nằm ở kinh đô Thăng Long, bao gồm hai huyện Vĩnh Xương (sau là Thọ Xương, nay thuộc địa phận quận Ba Đình, Hà Nội) và Quảng Đức sau là Vĩnh Thuận (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) [66]

Mỗi đạo gồm 3 bộ phận (Tam ty), Thừa ty, Đô ty, Hiến ty tương ứng với thời Lê Thừa ty phụ trách việc dân sự; Đô ty phụ trách việc quân sự và Hiến ty lo việc giám sát, hình ngục ở địa phương

Phủ: Đơn vị hành chính sau đạo, có nguồn gốc từ Trung Quốc, bắt đầu

được sử dụng từ thời Lý Mỗi đạo thường gồm vài phủ trở lên, duy có đạo Tuyên Quang gồm 1 phủ Yên Bình Phủ này quản lí tất cả các châu, huyện trong địa hạt đạo Tuyên Quang Tuy là một đơn vị hành chính, nhưng phủ không có quyền lực của một cấp chính quyền, như không can dự những việc kiện tụng ruộng đất Chức năng chủ yếu của phủ là chăm lo việc học hành, thi

cử Phủ thực sự là đơn vị trung gian giúp đạo quản lí vùng lãnh thổ châu, huyện rộng lớn

Huyện: Huyện cũng là một đơn vị hành chính có từ lâu đời và được sử

dụng cho đến tận ngày nay Chức năng của huyện là quản lí các việc chính sự, quân sự và kiện tụng, trong đó chịu trách nhiệm và có quyền lực đặc biệt quan trọng trong việc quản lí đất đai, thuế khóa, nhân đinh

Tương đương với đơn vị Huyện ở đồng bằng, ở nông thôn miền núi có đơn vị Châu Đây cũng là đơn vị xuất hiện khá sớm ở Trung Quốc, dưới thời

Trang 20

Đường châu là đơn vị hành chính khá lớn: Cụ thể là dưới thời Đường nước ta

bị chia thành 12 châu cai quản 50 huyện, như châu Phong có 5 huyện, châu Diễn có 7 huyện [1] Như đã nói ở trên, ở nước ta châu tương đương với huyện và được sử dụng ở miền núi Do vậy, chức năng của châu cũng giống như chức năng của huyện Thông qua văn bia và sách Đại Việt sử ký toàn thư

ta biết được một số châu dưới thời Mạc như châu Man, châu Thu Vật, châu Đại Man, châu Vĩnh An

Xã: Đơn vị hành chính cấp cơ sở Dưới xã là thôn (ở nông thôn vùng

đồng bằng) Ở nông thôn miền núi có có đơn vị Động (sách, nguồn); Trong

Đại Việt sử ký toàn thư đã có nhắc tới đơn vị Động: “Năm 1540, Mạc Đăng

Dung cùng… nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương,

La Phù của châu Vĩnh An…”[25, tr 621]

Ngoài các đơn vị hành chính là Đạo, phủ, huyện, xã Dưới thời Mạc còn xuất hiện thêm đơn vị Tổng, đây là đơn vị hành chính độc đáo, đơn vị trung gian giữa huyện và xã Nhằm mục đích tăng cường sự quản lí của nhà nước đối với cấp cơ sở Trong Văn bia xã Tứ kì khắc năm 1574 đã ghi lại 11 Tổng của huyện đó là Tổng: Xuân Cát, Động Hàm, Kim Đới, Văn Thị, Lật Khê, Kim Thanh, Yên Tử Hạ, Tân Duy, Cẩm Khê, Tự Tân, Xuân Úc [66] Tổng có nhiệm vụ giúp huyện đôn đốc việc thu thuế và công dịch ở xã Ngoài

ra tổng còn có chức năng tổ chức lễ hội Có thể nói rằng sự xuất hiện của Tổng là một nét riêng trong tổ chức hành chính nước ta thời phong kiến, điều

đó bắt nguồn từ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cộng đồng ngày một

mở rộng cùng với sự phát triển ngày càng cao của làng xã Sự hiện diện của cấp tổng thời Mạc thể hiện ý muốn can thiệp sâu thêm một bước của chính quyền trung ương đối với làng xã và người nông dân

Tương đương với đơn vị Tổng ở đồng bằng, ở nông thôn miền núi gọi

là Đô Đô được hình thành trên cơ sở liên kết các động lại với nhau Vùng biên giới Đông Bắc, vốn có ba "đô" là Như Tích, Thời La và Chiêm Lãng với

Trang 21

7 "động" là Chiêm Lãng, Thời La, Tư Lẫm, Liễu Cát, Cổ Sâm, Kim Lặc và

La Phù Trong đó, các động Tư Lẫm, La Phù, Liễu Cát và Kim Lặc thuộc

"đô" Như Tích; còn các động Cổ Sâm, Chiêm Lãng thuộc "đô" Chiêm Lãng; động Thời La cũng là đô Thời La [25]

1.3 Tổ chức Hội ở nông thôn:

Thời Mạc xuất hiện khá nhiều Hội nhằm làm việc thiện, khuyến khích học tập ở nông thôn

Hội thiện: Tổ chức ra để làm việc thiện “Các bia dựng trong các chùa,

miếu cho biết hội Thiện khá phát triển Từ các vương hầu, tôn thất, quan lại tại vị hoặc hưu quan đến thường dân trong các làng xã đều đua nhau làm việc thiện” [75, tr 136-137] Biểu hiện của sự phát triển Hội thiện thời Mạc

đó là việc cúng ruộng, tiền… để xây dựng, tu tạo chùa, miếu, hay xây mới hoặc tu sửa đường sá, cầu cống…

Văn bia thời Mạc đã ghi lại khá nhiều sự việc này: Thiện sĩ Diệu Giác,

Chí Thiện, Quảng Đạt Huyền Sơn, phát lòng Bồ đề, rủ tay phương tiện, quyên góp vật liệu, mời thợ khởi công, sửa cũ thành mới chùa Cự Linh thôn Tam Cử

xã Hồng Lục huyện Gia Phú; Cung nhân của Hiến Tông cùng các Vương

sửa chùa Động Ngọ ( Thanh Hà - Hải Dương) ; Bia chùa Đại Bi cho biết : Thiện sĩ các thôn Thượng Lang, Quỳnh Côi xã Ngọc Lâm huyện Tứ Kì, phủ

Hạ Hồng tô tượng phật, tu sửa nhà tiền đường, hậu diện và thềm bậc chùa Đại Bi; Nguyễn Hữu Nguyên và vợ là Đào thị Đĩnh cùng các bạn hữu của các xã Cao Xá, Lôi Xá, Uông Hạ, Hùng Thắng, An Tráng và dân thôn góp tiền tu sửa chùa Cổ Linh (Cẩm Giàng Hải Dương) … Bên cạnh việc quyên

góp tiền để tu sửa, xây dựng lại chùa nhiều người còn cúng ruộng Qua văn

bia ta biết được Tín chủ học Nguyễn (Thanh Hà – Nam sách) cúng vào chùa 1

sào 8 thước ruộng ở xứ Đồng Xoài làm ruộng hương hỏa ; Nguyễn Thị Ngọc

Trang 22

Nha, trung quận phu nhân cúng ruộng 5 sào [68, tr 44 - 196) Ngoài ra còn

góp tiền của để xây dựng, làm mới cầu cống…

Về nguyên nhân phát triển của Hội thiện, theo nhà nghiên cứu Vũ Duy Mền là có lẽ do tác động của hoàn cảnh xã hội thực tại Chiến tranh Lê – Mạc tàn khốc, kéo dài, thiên tai thường xuyên xảy ra, khiến dân chúng mất niềm tin và tìm đến cửa Phật mong được che chở hoặc cầu xin điều thiện Vì vậy nhiều người không tiếc tiền của, ruộng vườn “công đức” vào chùa để mong

“báo ứng” về sau

Hội Tư văn: Hội tư văn khá phổ biến vào thời Lê và đã bắt đầu phát triển mạnh ở thời Mạc Đây là tổ chức của các Nho sĩ, đề cao nhà Nho và khuyến khích việc học hành thi cử ở địa phương Hội này vừa có trách nhiệm thắp hương ở đền thờ Khổng Tử và các Tiên hiền (Văn chỉ); vừa có nhiệm vụ

tổ chức các đợt bình văn thơ, giảng kinh sách Văn bia Tiên hiền huyện Tân Minh (nay thuộc huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) khắc năm 1574, cho biết rằng

“ hộ bộ thượng thư giao cho huyện quan, cấp ba sào ruộng ở xứ Đống Gà để dựng đền Tiên Hiền cho tiện thờ cúng” [68, tr 167] chỉ riêng Hội Tư Văn huyện Tân Minh (Hải Phòng) tính đến năm 1574 đã có gần 200 thành viên của 11 tổng; trong đó bao gồm quan lại đương chức, người đỗ đạt và Nho sinh sống ở làng Hội này cũng quy định tế lễ vào ngày 25 tháng 2 hàng năm Sự hoạt động và phát triển của Hội Tư Văn hàng huyện cho thấy phần nào không khí học tập ở Hải Phòng bấy giờ

Giáp: Tên gọi giáp có nguồn gốc từ Trung Quốc Giáp vốn là một đơn

vị hành chính ở nước ta dưới thời thuộc Đường và đến thời Trần, tuy nhiên đến thời Mạc đơn vị giáp đã trở thành một tổ chức xã hội tự nguyện của quần chúng nông dân làng xã

Giáp được đặt tên theo hướng đông, tây, trung, nam (bia chùa Nghiêm Quang , bia chùa Phúc Duyên và quán Viên Dương) hoặc theo số thứ tự: nhị,

Trang 23

tam, lục, thất (bia chùa Hưng Khánh, bia đình xã Trừng Hoài, Huyện Thái Ninh, Thái Bình) Đôi khi giáp được đặt tên theo cách kết hợp phương hướng hoặc phương hướng và số thứ tự: Giáp tây nhất (bia chùa Pháp Vân): Giáp Tây Nam, giáp Tây Bắc, giáp Đông Nam, giáp Đông Bắc (bia chùa Tư Phúc) Trong bia quán Viên Dương, tên của giáp được gọi theo tên thôn: Giáp Thạch Tỉnh Trong bia chùa Ứng Xá thì tên giáp được đặt gọi là “ Ứng Tự, Ứng Tây, Ngoại Đông, giáp Ngoại Tây, giáp Trung Đông, giáp Trung Tây, giáp Áng

Đông, giáp Áng Tây, giáp Áng Bắc” [69, tr 159] Như vậy tùy theo từng

làng xã tên giáp có thể được gọi theo phương hướng, số thứ tự hoặc kết hợp giữa phương hướng với số thứ tự Cũng có thể gọi tên địa danh của thôn hay xóm Đấy chính là những cách đặt tên giáp phổ biến nhất thời Mạc cũng như sau này

Bảng 1.1 GIÁP THỜI MẠC QUA VĂN BIA [69], [75]

Tên giáp Thành

viên Số họ Thuộc xã/ thôn Năm/ số

biaKim Uyên

Xã La Uyên, Huyện Thượng Phúc ( nay thuộc Thường Tín – Hà Nội)

1545/B166

Trang 24

Thôn Thượng Liên Đông,

xã Trừng Hoài (nay thuộc huyện Thái Thụy, Tỉnh Thái Bình)

3 (Đỗ, Vũ, Đàm

3 (Nguyễn, Đỗ, Bùi)

4( Đạm Thị An)

Xã Liêu Hạ, huyện Đường Hào ( nay thuộc huyện Mĩ Hào, Tỉnh Hưng Yên)

Trang 25

Dựa vào bảng trên ta thấy số lượng thành viên trong một giáp khác nhau, trong một giáp gồm nhiều thành viên thuộc nhiều họ khác nhau Ví dụ như giáp nhị 28 người thuộc các họ Đàm, Lê, Vũ Đỗ, Nguyễn, Đào, Bùi, Trịnh Xã Liêu Hạ gồm 4 giáp nhị, tam, lục, thất, trong đó đều có mặt các thành viên của họ Đỗ, họ Đàm, họ Vũ có mặt trong các giáp nhị, tam, thất Xã Trừng Hoài có 3 giáp Nhất, Nhị, Tam, trong đó có 2 giáp đều có mặt họ Phạm Giáp là tổ chức của nam giới, do vậy hầu hết các giáp đều ghi họ và tên nam giới Riêng giáp thất ghi tên nữ giới là Đàm Thị An

Căn cứ vào thông tin trên ta thấy rằng, giáp không phải là tổ chức của những thành viên cùng một dòng họ mà gồm nhiều họ khác nhau Được thành lập trên cơ sở cụm dân cư hoặc dòng họ, gồm nhiều lứa tuổi, giới tính, quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau Nhiệm vụ của giáp là làm việc thiện ở chúa quán “ Phù sinh tống tử” Xã Cối Xuyên gồm các thôn Đức Phong, Đức Phong Tây,

Mỹ Long cùng các giáp Đông, Trung, Nam góp tiền làm lại hướng mới chùa Nghiêm Quang Các giáp cùng với nhân dân xã Thụy Ứng, Thượng Phúc, Hà Tây quyên góp để trùng tu chùa Ưng Xá ; Quan viên ba giáp: giáp Nhất, giáp Nhị, giáp Tam thôn Thượng Liên Đông, xã Trừng Hoài, huyện Thanh Lan dựng đình mới; Tí chủ các giáp (110 vị) xã Vuân Ổ, Tiên Du, Từ Sơn cùng các tín sãi bỏ tiền đúc chuông chùa Hồng Phúc ; Các giáp Nhị, Tam, Lục, Thất cùng Hội chủ quan viên hương trưởng xã Liêu Hạ, Huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, đúc lại chuông đồng, làm gác chuông và thềm đá chùa Hưng Khánh ; Các giáp Thạch Tỉnh, Đông, Tây, Trung cùng các quận chúa, phu nhân và nhân dân trong xã Thượng Thụy “ phát khởi lòng lành, chuẩn bị vật liệu, tu sửa tòa thượng điện, lại tô tượng phật ở đấy và làm nhà hậu đường như một tòa báu” ; Các giáp Tây Nam, Chính Đông, Tây Bắc, Đông Nam cùng các tín chủ thôn Sơn Đồng và đại sĩ các xã đúc chuông chùa Tư Phúc [68, tr 142 – 313]

Trang 26

1.4 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn

- Tầng lớp trí thức nho học

Dưới thời Mạc, giáo dục Nho học đã đào tạo được một đội ngũ quan lại đông đảo phục vụ đắc lực cho bộ máy nhà nước Bên cạnh một bộ phận tri thức chốn quan trường thì cũng có đông đảo tri thức Nho học lựa chọn cuộc sống tự do, tự tại nơi làng xã

Tầng lớp tri thức Nho học ở nông thôn nhà Mạc gồm khá nhiều thành phần Họ là những người đã đỗ đạt (không ra làm quan) hoặc chưa đỗ đạt, những người đã nghỉ hưu, thầy cúng, ông đồ, thầy lang Các vị quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, bên cạnh đó còn có những người trong Hội tư văn Nhìn chung, ở nông thôn thì tầng lớp tri thức Nho học chiếm một tỉ lệ khá đông đảo, họ tham gia vào hầu hết các công việc ở làng xã từ các hoạt động văn hóa tín ngưỡng cho đến việc quản lý làng xã Thực tế đó phản ánh rõ nét tình hình xã hội và chính sách khoa cử thời Mạc lúc bấy giờ Trong làng xã thì Nho sĩ được hưởng các quyền lợi ưu đãi của làng xã Việc ưu đãi này xuất phát từ vai trò thực tế của Nho sĩ trong đời sống cư dân

Tóm lại, cùng với lực lượng khá đông đảo, tri thức Nho học ở nông thôn thời Mạc đã góp phần quan trọng trong quá trình tham tích cực vào các hoạt động sinh hoạt văn hóa nơi làng xã

- Tầng lớp quan chức địa phương ở nông thôn

Gồm các chức quan đứng đầu các đạo, phủ, huyện (châu), tổng, xã Ví

dụ, theo tư liệu văn bia, chúng ta biết được một số người từng làm giám sát ngự sử cấp đạo như:

Nguyễn Khẳng Công, Giám sát ngự sử đạo Tuyên Quang, 1562

Nguyễn Khẳng Công, Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, 1567

Đàm Văn Tiết, Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, 1583

Trang 27

Nguyễn Văn Cự, Giám sát ngự sử đạo Kinh Bắc, 1591

Đàm Văn Tiết, Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, 1592

Nguyễn Khẳng Công, Giám sát ngự sử đạo Hưng Hóa, 1563

Lê Hạng, Giám sát ngự sử đạo Hưng Hóa, 1587

Nguyễn Khắc Cần, Giám sát ngự sử đạo Thanh Hoa, 1583

Nguyễn Đồng Dần, Giám sát ngự sử đạo Quảng Nam, 1562 [ 70] Ngoài chức quan đứng đầu mỗi đạo còn có các chức quan đứng đầu Tam Ty (ba bộ phận cấu thành nên mỗi đạo): Thừa ty (Thừa tuyên sứ hoặc thừa chánh sứ), Hiến ty (Hiến sát sứ ty) và Đô ty (Đô chỉ huy sứ ty)

Bảng 1.2 CHỨC QUAN CHÍNH Ở TAM TY MỖI ĐẠO [69]

B.124

Trang 28

Nguyễn Kinh Tuân, Tham nghị đạo Kinh Bắc, 1585

Ngô Hoằng, Hiến sát sứ đạo Tuyên Quang, 1537

Lê Quang Bí, Hiến sát sứ đạo Sơn Tây,

1535 Nguyễn Quang Hiến, Phó sứ đạo Hải Dương, 1541

Vũ Hoằng, Phó sứ đạo Tuyên Quang,

1537 Trần Chấp Huyền, Phó sứ đạo Tuyên Quang, 1583

Trang 29

Trong các chức quan của tam ty ở địa phương thì chức quan Thừa chánh sứ là quan trọng nhất Chức quan này (Tức Thừa ty) phụ trách vấn đề kinh

tế, thuế khóa, hành chính cũng như các hoạt động sinh hoạt văn hóa làng xã Dưới Thừa chánh sứ có hai bộ phận giúp việc là Tham chính và Tham nghị

Hiến sát sứ là chức quan đứng đầu Hiến ty, giúp việc có chức Thiêm

sự Hiến ty có nhiệm vụ giám sát ngục hình ở địa phương Bên cạnh Thừa Ty và Hiến Ty là Đô ty Đô ty đảm nhiệm lực lượng quân đội ở địa phương, đứng đầu

Đô ty là chức quan Đô chỉ huy sứ, giúp việc có Đồng tri và Thiêm sự

Đứng đầu phủ là trưởng quan gọi là Tri phủ và phó quan là Đồng tri phủ Những chức quan này được khá nhiều văn bia ghi lại: Đỗ Bá Chiêu chức Tri phủ phủ Yên Bình; Đồng Tri phủ, phủ Lâm Thao Hoàng Trung; Sĩ nhân

Lê Thọ Khảo Đồng Tri phủ phủ An Bắc; Trần Thiêm Cẩn Tri phủ phủ An Bình; [68, tr 53 – 234] Với chức năng nổi bật là chăm lo việc giáo dục, thi

cử trong phủ nên có chức quan đảm nhận việc này là Huấn đạo: Như “Huấn đạo phủ Quốc Oai Phạm Đăng Tiên; Huấn đạo phủ Thanh Đô, Nho học Mạc

Thế Lộc; Tân Hưng phủ Nho học Huấn đạo Phạm Hộc Lạc Thiện [68] Cùng

khuyến nông, hộ đê với các viên quan là Khuyến nông sứ và Hộ đê sứ

Dưới thời Mạc, viên trưởng quan của huyện là Tri huyện, phó quan là Huyện thừa: Vũ Giới, chức Tri huyện huyện Phúc Yên; Huyện thừa Tri huyện huyện Thanh Oai Trịnh Hướng; Huyện thừa Dương Hữu Độ; Tri huyện huyện Yên Lãng Vũ Chính Thiện; Nguyễn Nhật Cường, Huyện thừa huyện Phong Dương; Nguyên huyện thừa huyện Sơn Dương Nguyễn Khắc Gia [68, tr 53 – 199]

Chức tương đương huyện (sử dụng ở nông thôn miền núi) là châu Đứng đầu Châu là chức Tri châu, giúp việc là chức Đồng tri châu Văn bia

thời Mạc đã ghi lại khá cụ thể các chức quan này: “Nguyễn Cung, chức Đồng

Tri châu Nguyễn Công Quyết, chức tri châu châu Man Bùi Bá Thông, chức

Trang 30

Đồng Tri châu châu Thu Vật” ; Nguyễn Văn Linh, chức Đề lại châu Đại Man [68, tr 53- 54)

Xã là đơn vị hành chính thấp nhất cấp cơ sở ở Việt Nam nói chung và nhà Mạc nói riêng

Bảng 1.3 MỘT SỐ CHỨC QUAN Ở XÃ [70]

Xã trưởng Phi Khắc Thuần

Hoàng Tử Kình Đào Tĩnh

Nghĩa Thời Trung Nguyễn Dĩnh Bùi Gia Mô Trần Xuân Cảnh

Lê Hiệu Hoàng Đàm

Dưỡng Mông ( Hải Dương)

-

Kì Lân ( Ninh Bình)

- Ngọc Lâm ( Hải Dương) Tây Tựu ( Hà Tây cũ) Đào Yêu ( Hải Phòng) Cẩm Viên ( Vĩnh Phúc) Thổ Hoàng ( Hưng Yên)

Xã quan Vũ Văn Toán

Bùi Gia Mô

Lê Tông Đức

Dưỡng Mông ( Hải Dương) Tây Tựu ( Hà Tây cũ) Cẩm Viên ( Vĩnh Phúc)

Xã Chính Nguyễn Văn Bảng

Trần Công Đạo Bùi Do

Nguyễn Thế Vinh Phạm Kim Chu

Phù Ninh ( Vĩnh Phúc)

Đệ Nhị ( Nam Định) Bàng Động ( Hải Phòng) Thu Hộ ( ?)

Quảng Động ( Quốc Oai)

Xã sử Nguyễn Đình Tộ Phù Ninh ( Vĩnh Phúc)

Dựa vào bảng trên chúng ta có thể thấy rằng đứng đầu xã là chức Xã trưởng ( trưởng quan ở xã) đảm nhận mọi công việc chung trong làng xã, còn gọi là xã quan hay xã chính Giúp việc cho xã trưởng là chức Xã sử

Trang 31

Trong Hồng Đức Thiện chính thư đã quy định bầu xã trưởng như sau:

“Các làng bầu xã trưởng, phải kén chọn cho được người; theo lệ thì có xã chính, xã sử và xã tư, mỗi người giữ một việc Bầu ai phải là người đứng tuổi

có hạnh kiểm; không được bầu người bậy bạ, mượn việc công, kiếm lợi tư, kết hợp bè đảng để hại đến phong hóa, trái lệnh này thỉ chỉ bắt tội kẻ thủ xướng

ra việc bảo cử bậy này” [42] Như vậy, căn cứ vào tiêu chuẩn chọn lựa xã

trưởng ta thấy xã trưởng phải là người có đạo đức, phẩm hạnh, có tấm lòng

thiện để mọi người cùng noi theo như trong Điều 115 đã ghi “Xã trưởng phải

là người tiêu biểu cho phong hóa, phải nên khuyên dân làm điều thiện, xa điều

ác, sinh ra mối tranh dành, lại kết lập bè đảng, rông rỡ làm điều phi lý để đến nỗi mất thuần phong và sinh ra bạc tục, thì sẽ bị khép vào tội đồ” [42]

Ngoài ra trong điều 122 cũng nói rõ “Các làng, xã trưởng trước bầu

không được người, đã bị cách mất chức dịch; bây giờ lại phải bầu người khác

để giữ việc, thế mà vẫn cố ý kéo bè đảng làm hại làng; như vậy, quan viên sẽ

Đứng đầu Tổng là chức “Tổng chính” (Chánh tổng, cụ chánh) Trong văn bia thời Mạc đã có nói đến chức quan đứng đầu Tổng “ Tổng chính Nguyễn Đình Tứ” [68, tr 68) Đứng đầu động là “động chủ”

- Thợ thủ công

Thời Mạc, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên thủ công nghiệp khá phát triển Sự phát triển của thủ công nghiệp dẫn tới số lượng của thợ thủ công ngày càng đông đảo Hiện không có số liệu chính xác về số lượng thợ thủ công thời Mạc, nhưng có thể khẳng định chắc chắn, dưới thời Mạc số lượng thợ thủ công không những đông đảo mà còn rất tài hoa Điều này căn

cứ vào các nghề thủ công thời kì này cũng như trình độ chạm khắc trên các ngôi đình, chùa

Trang 32

Cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều làng nghề thủ công, thủ công nghiệp đã dần tách khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp Người thợ thủ công được tự do đi lại để hành nghề, được nhà nước tôn trọng Thợ thủ công thời nhà Mạc được tự do bán những sản phẩm do mình làm ra Hơn nữa họ còn được ghi tên lên những sản phẩm do mình tạo ra Điều này thể hiện tư tưởng tiến bộ của thợ thủ công thời Mạc Mặc dù có số lượng đông đảo và có trình

độ kỹ thuật, nhưng do tính chất của nền kinh tế, thợ thủ công không trở thành một lực lượng xã hội riêng, có khả năng xây dựng một nền kinh tế riêng biệt, các làng thủ công vẫn mang tính chất nông nghiệp

- Tầng lớp nông dân

Nông dân nói chung là những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp… Với đặc trưng là nền kinh tế nông nghiệp, nên nông dân là một tầng lớp đóng vai trò quan trọng trong xã hội Vai trò của nông dân không chỉ thể hiện ở số lượng đông đảo nhất mà họ còn là lực lượng sản xuất cơ bản nhất trong toàn xã hội Nông dân làng xã cày cấy trên bộ phận ruộng đất công làng xã thì có nghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước Bộ phận nông dân cày cấy trên ruộng đất được triều đình ban cấp cho quan lại thì nộp tô cho chủ Ngoài ra nông dân còn có các nghĩa vụ khác như phục dịch trong quân đội, lao dịch và đóng thuế cho nhà nước

Tiểu kết

Ra đời trong bối cảnh chính trị - xã hội khá phức tạp, nên sau khi thành lập nhà Mạc đã bắt tay vào công cuộc ổn định và cai quản đất nước Về cơ bản nhà Mạc vẫn tiếp tục duy trì thiết chế hành chính xã hội như thời Lê

cố gắng của nhà Mạc trong việc tăng cường phạm vi ảnh hưởng của mình tới khu vực nông thôn Tuy nhiên do nhiều yếu tố khác nhau mà tổ chức

bộ máy nhà nước thời Mạc chưa được chặt chẽ so với thời Lê từ trung ương

tới địa phương: “Nhà Mạc chỉ đủ sức quản lí vùng đất thuộc quyền kiểm soát

Trang 33

của mình với những đơn vị hành chính có sẵn từ trước, nhà Mạc không thể kiểm soát và cai quản chặt chẽ từ trên xuống dưới như thời Lê được” [75, tr 43]

Thời Mạc, do tác động của tình chính trị - xã hội nên ở nông thôn các

tổ chức Hội ra đời và phát triển khá mạnh mẽ Bên cạnh hội Thiện, tổ chức giáp ra đời với mục đích làm việc thiện thì ở nông thôn còn có hội Tư văn – tổ chức của những tri thức nho học Sự xuất hiện của hội Tư văn cùng với sự đông đảo của tầng lớp tri thức nho học ở nông thôn một mặt góp phần vào việc nâng cao dân trí của người dân ở nông thôn Mặt khác thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với giáo dục

Trang 34

CHƯƠNG 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI MẠC 2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Mạc

2.1.1 Ruộng đất công làng xã

Đây là cơ sở kinh tế, chỗ dựa của làng xã trong các triều đại phong kiến Về hình thức ruộng đất nằm trong tay làng xã và tính tự trị của làng xã vẫn trong một chừng mực nhất định Tuy nhiên, do đặc điểm của thiết chế nhà nước trung ương tập quyền, vua là người có quyền lực tối cao, nắm trong tay tất cả diện tích ruộng đất của đất nước Nhà nước chỉ duy trì một loại ruộng đất công để thực hiện chính sách “quân điền” Điều đó đã giúp nhà nước phong kiến can thiệp sâu tới làng xã và thực hiện nền quân chủ của mình Do

đó, làng xã mất dần tính tự trị cũng như quyền sở hữu ruộng đất của mình và đương nhiên làng xã từ một đơn vị độc lập trở thành một bộ phận giúp nhà nước quản lí số ruộng đất đó

Nếu như dưới thời triều Lê Thánh Tông chính sách quân điền còn phát huy tác dụng, thì đến thời Mạc chính sách này không còn phát huy được tính tích cực vốn có của nó Có thể khẳng định, thời Mạc ruộng đất công làng xã ngày càng giảm sút Điều này có thể lí giải là do hiện tượng biến công vi tư ngày càng phát triển, mặt khác một phần lãnh thổ của Nhà Mạc quản lí bị thu hẹp do cựu thần nhà Lê lập chính quyền mới ở Thanh Hóa, mặt khác nhà Mạc

còn phải dùng ruộng công làng xã để : “Ưu đãi, lôi kéo một số người làm

quan cho nhà Mạc, lực lượng quân đội cũng cần được quan tâm để họ có thể phục vụ cho nhà Mạc một cách tích cực nhất” [53, tr.15] Đó là chính sách

“binh điền” (ruộng lính) mà Mạc Phúc Hải năm Quảng Hòa thứ 3 (1543) đã

ban lệnh rằng: “Xã nào ngoài số ruộng đất tư mà có ruộng quan và ruộng

chùa thì tùy theo số ruộng đó, chiếu cấp hạng nhất Trung hiệu mỗi người hai phần rưỡi Xã nào không có ruộng thì mỗi người một phần Xã nào tùy số

Trang 35

ruộng nhiều đáng được hai phần, thì hai phần ấy cũng không được quá hai mẫu, rồi thùy theo cấp bậc giảm dần, còn bao nhiêu ruộng sẽ theo nhân số trong xã mà chia đồng đều” [31, tr 347]

Như vậy, căn cứ vào phép cấp lộc điền trên ta thấy nhà Mạc chủ yếu ưu tiên cấp ruộng cho hạng Trung hiệu và Trung sĩ Mặt khác ta biết rằng lực lượng này dưới thời Mạc khá đông đảo (hơn 10 vạn) Và như vậy, số ruộng công của làng xã được dùng để cấp cho binh lính trước, sau đó số còn lại mới chia cho nhân dân – quân điền Nếu như dưới thời Lê, hầu hết ruộng đất đều

để thực hiện chính sách “ quân điền” thì dưới thời Mạc, nhà nước phải chia số ruộng đất đó thành nhiều phần khác nhau Trên thực tế, chính sách “quân điền” dưới thời Mạc không phát huy được hiệu quả, ngược lại nó còn xâm phạm nghiêm trọng diện tích ruộng đất công làng xã

Trước tình trạng ruộng đất công ngày càng thu hẹp, nhà Mạc đã đưa ra nhiều điều luật để hạn chế tình trạng trên: Điều 80 trong Hồng Đức thiện

chính quy định “ Ruộng tư mà xâm lấn ra ruộng hoang ở bãi tha ma, để làm

ruộng riêng của mình, thì cho phép đi trình báo, sẽ bắt kẻ trái bị trọng tội” Hay

“Điều 248 – Ngầm chiếm ruộng công Tên Mỗ khinh nhờn điển lệ, làm trái pháp

luật, phạm tội ngầm chiếm ruộng công, quyết phải khép vào tội đồ, và bắt chịu tội trượng tám chục; cứ chiếu luật thi hành chứ không tha thứ” [42]

Tóm lại, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc giải quyết tình trạng ruộng đất, song dưới thời Mạc vì nhiều lí do khác nhau mà diện tích ruộng đất công giảm mạnh Sự thu hẹp của diện tích ruộng đất này đã ảnh hưởng không nhỏ tới khẩu phần ruộng đất của nhân đinh trong làng xã cũng như đời sống của nông dân

2.1.2 Ruộng đất thuộc quyền sở hữu tƣ nhân

- Sở hữu ruộng đất của nhà giàu

Mặc dù chế độ tư hữu ruộng đất phát triển mạnh dưới thời Mạc, song hầu như không có chủ sở hữu lớn về ruộng đất Số người có ruộng đất khoảng

Trang 36

10 mẫu chỉ có 7 người [61] Ngoài ra tất cả những chủ sở hữu có trên dưới 10 mẫu ở thời Mạc đều là những thành viên của hoàng tộc, những đại thần triều đình, số dân làng có ruộng đất trên 10 mẫu thì hầu như không có

- Sở hữu ruộng đất của nông dân khá giả

Theo tư liệu văn bia, thời Mạc có khá nhiều chủ sở hữu ruộng đất là nông dân Trong 27 chủ sở hữu ruộng đất ở làng Phù Than (Bắc Ninh) thì có

13 vị là nông dân Trong số 206 chủ sở hữu ruộng làng Hòa Niều (Hải Phòng)

có 180 là dân làng, trong đó có một số vị có từ 3 đến 5 mảnh Trong số 20 chủ

sở hữu ruộng làng Phương Để (Nam Định) có 18 nông dân, trong đó có 2 vị

có 2 mảnh, những người khác có 1 mảnh Mặc dù số ruộng của họ không nhiều, nhưng căn cứ vào số ruộng đất cúng vào chùa hay gửi cho làng xã thì chứng tỏ có nhiều nông dân dư ruộng đất Một số người già ở thôn Cao Dương (Thái Bình) đã gom được 7 mẫu cúng cho chùa làng, Nguyễn Văn Tòng cúng cho cho làng An Lí (Lí Nhân, Hà Nam) 6 sào 3 thước để dựng miếu Thần vào năm 1531, Nguyễn Thị Tam được bầu làm Hậu Phật đã cúng cho làng 1 mẫu ruộng và 1 chiếc ao để làm đình Nguyễn Thị Bảo, hiệu Từ Chân cúng 3 sào ruộng để giửi giỗ cho cha mẹ, tên thụy là Viễn Đao và hiệu Diệu Đạt lại cúng 3 sào ở xứ Đồng Ngải làm ruộng Tam Bảo Tạ Bá Thăng có

5 sào 5 thước ruộng ở xứ Đồng Duối và Đồng Chằm gửi giỗ cho vị tự Phúc Thăng [66, tr 197]

Như vậy, dựa vào những thông tin trên ta thấy rằng thời Mạc mặc dù chưa xuất hiện những địa chủ lớn, nhưng trong làng xã đã bắt đầu xuất hiện những nông dân khá giả, nắm trong tay diện tích ruộng đất lớn Điều đó cho thấy chế độ tư hữu ruộng đất ngày càng phát triển dưới thời Mạc

- Sở hữu ruộng đất của nhà chùa

Đầu thế kỉ XVI, Phật giáo hưng khởi, lan tỏa trên khắp các địa bàn, các tầng lớp Sự phát triển của Phật giáo thời kì này được biểu hiện trên nhiều

Trang 37

khía cạnh Bên cạnh các ngôi chùa được xây dựng và trùng tu từ các thế kỉ trước như chùa Phật Tích, Bút Tháp, Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu ở Kinh Bắc, Quỳnh Lâm, Sùng Quang Nhiều ngôi chùa mới được tu sửa và xây mới, đa

số các ngôi chùa này là do các hoàng thân trong hoàng tộc của họ Mạc, họ Lê

– Trịnh, các quan lại góp tiền của để xây mới và tu sửa “Văn bia cho biết

168 ngôi chùa được xây dựng và tu bổ dưới thời Mạc, trong đó có khoảng 80 ngôi được sự tham gia công đức của các thành viên trong hoàng tộc và quan lại trong triều đình nhà Mạc” [66, tr 234] Nhìn chung, so với thời Lí –

Trần, dưới thời nhà Mạc số lượng chùa cũng như diện tích ruộng đất mà nhà chùa sở hữu đã giảm đáng kể Tuy nhiên theo văn bia thời Mạc, có một số chùa cũng nắm diện tích ruộng khá lớn: chùa Pháp Vũ (Thường Tín, Hà Nội)

có 70 mẫu, chùa Thánh Ân (Bắc Ninh) cũng có 70 mẫu, chùa Linh Vệ (Ninh Bình) 59 mẫu, chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu, chùa Nghiêm Quang (Hải Dương) 31 mẫu 1 sào, chùa Bảo Phúc (Hà Nội) 25 mẫu 9 thước, chùa Thiên Phúc (Hải Phòng) 26 mẫu, 1 sào 1 thước, chùa Hoàng Đô (Hà Nội) 13 mẫu 3 sào, chùa Thanh Quang (Nam Định) 13 mẫu 3 sào, chùa Hưng Khánh (Hà Nội) 12 mẫu, chùa Sùng Khánh (Hà Nam) 11 mẫu 1 sào Một số chùa khác có

số ruộng khoảng vài mẫu, như chùa Hồng Khánh (Hải Phòng), Tam Giáo (Hà Nội) [69]

Bảng 2.1 RUỘNG CÚNG VÀO CHÙA THỜI MẠC [66]

Chủ sở hữu Chức danh Năm Số

lượng Nguồn gốc ruộng

Đỗ Thị Sâm Hậu Phật 1538 1m Ruộng tư

Đào Tân Tước bá 1554 1m6s Ruộng tư gửi giỗ

Nguyễn Vĩnh

Miên

Thượng thư bộ Lễ

1557 10m Lộc điền để cho con cháu

Vị họ

Nguyễn

Dân làng 1557 1s 8t Ruộng tư cúng cho làng

Trang 38

Thái hoàng thái hậu

1561 26m 1s Phân điền cúng vào chùa

Bà họ Vũ Thái

hoàng thái hậu

1561 26m 2s Phân điền và mua

Bà họ Vũ Thái

hoàng thái hậu

1562 1m 9s Phân điền và mua

Vương Ngọc

Diên

Vinh quốc Thái phu nhân

1571 3m Ruộng tư

Phúc Tuy Công chúa 1572 5m Ruộng thế nghiệp

Cụ ông, cụ bà Dân làng 1578 7m Ruộng tư

Bà họ Vũ Thái

hoàng thái hậu

1579 1m 5s 2t Mua cúng vào chùa

Bà họ Vũ Thái

hoàng thái hậu

Phủ sinh 1579 4m 8s Lộc điền lưu truyền về sau

Lê Quang Bí Thượng

thư, quận công

1579 50m,80,

11m 4s 5t

Lộc điền, thế nghiệp điền

1579 5s Ruộng tư

Phạm Thị Tam Hậu phật 1579 1m Ruộng tư

Trang 39

Bà họ Bùi Thái

hoàng Thái hậu

1582 30m Phân điền

Thọ Phương Công chúa 1582 20m Phân điền để bán

Bà Khiêm Thái hậu 1583 3m Mua để cúng

Vị họ

Nguyễn

Tĩnh Quốc công

1589 7m Phân điền

Mạc Thị

Ngọc Ỷ

Công chúa 1592 2m 8s Phân điền

Dựa vào bảng số liệu trên, ta thấy ruộng đất của nhà chùa được nhiều thành phần cúng tiến, từ vương hầu, quý tộc, quan lại cho đến dân làng, với số lượng và nguồn gốc ruộng khác nhau Pháp luật thời Mạc cũng có những điều luật nhằm bảo vệ diện tích ruộng chùa Điều 81 trong Hồng Đức thiện chính

quy định “Ngầm chiếm ruộng Tam bảo (ruộng chùa), cho phép đi trình, sẽ

bắt kẻ chiếm ruộng bị tội tám mươi trượng, khép vào tội đồ” [42] Nếu so với

thời Lí- Trần thì diện tích ruộng chùa nhà Mạc không nhiều nhưng nếu so với diện tích ruộng đất công đang ngày càng thu hẹp thì nó vẫn chiếm một số lượng đáng kể trong bộ phận ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Mạc

2.2 Sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân

2.2.1 Sản xuất nông nghiệp

Cùng với ruộng đất, hoạt động sản xuất nông nghiệp ý nghĩa quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của nước ta gắn liền với đặc trưng của văn minh lúa nước Sau khi ổn định triều chính, nhà Mạc đã

Trang 40

có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp Một trong những vấn đề cốt yếu gắn liền với sản xuất nông nghiệ

tới việc đào kênh, khai hoang Tại vùng Dương Kinh, nhà Mạc đã cho khai đào, nắn uốn một loạt các dòng kênh để thuận tiện đi lại, dẫn nước vào đồng Đắp đê Chân Kim, đê này bắt nguồn từ chùa Đại Minh thôn Phú Xá xã Đoàn Xá huyện Kiến Thụy qua các xã Tân Phong, Minh Tân, Tú Sơn đến chợ Qúy Kim, phường Hợp Đức, quận Dương Kinh ngày nay Dân trong vùng gọi là đê nhà Mạc vì nó án ngữ, che chắn cho

ấp thang mộc Cổ Trai Ngoài ra nhà Mạc còn cho đắp đê Kim Điền (Hải Phòng), đê Hà Nam (Quảng Ninh)

Sự phát triển của vùng Dương Kinh kéo theo sự khởi sắc của các huyện xung quanh như Tân Minh, Vĩnh Lại, Thủy Đường (vùng Tiên Lãng, An Lão, Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên thuộc Hải Phòng), Thanh Lâm thuộc Thanh Hà (Hải Dương) với nhiều công trình được xây dựng, mở mang Ngày nay còn lại một đoạn dấu tích như kênh Cái Giếc – vùng Thượng huyện Vĩnh Bảo đào từ thời Mạc để tưới tiêu và vận tải; “Kênh nhà Mạc”- từ sông Văn Úc qua khu căn cứ núi Voi huyện An Lão thông với sông Đa Độ đổ ra cửa sông Cổ Trai – Đa Ngư vừa lấy nước tưới vừa làm đường giao thông thủy, đến chỗ đập Tắc Giang, thị trấn Đối, nhà Mạc lại đào thẳng bãi bồi làng Thù Du xã Minh Tân,

để thông dòng nước Thơ ca địa phương có câu “ Gập ghình đỉnh thấp đỉnh cao, bàn cờ hang đá, Kênh triều Mạc xưa” Ngoài ra còn có bãi nhà Mạc: Ở chỗ giáp ranh huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng và huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Nam do Ninh Vương Mạc Phúc Tư khoanh vùng trồng cây ngập mặn, vừa bảo vệ đất đai, vừa làm nơi dấu quan Vương còn dựng vườn hoa Thiên Long Uyển ở làng Yên Khánh tả nhạn sông Giá thuộc huyện Đông Triều, đối ngạn làng Qùy Khê huyện Thủy Nguyên Vườn hoa Thiên Long nay vẫn còn Không những vậy, các công trình lấn biển khai hoang, lập làng được nhà Mạc tiến hành thường xuyên như “ Bát Trang” - 8 trang trại do nhà Mạc khai khẩn

Ngày đăng: 21/11/2014, 01:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An (2009), Ô Châu cận lục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu cận lục", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2. Đào Duy Anh (1994), "Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Dương Văn An (2009), Ô Châu cận lục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2. Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
3. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
4. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ XIX, Quyển thượng, Tập san Đại học Sư phạm xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1956
5. Trần Thị Kim Anh (2001), “Bia chợ xã Đông Ngạc – thêm một bài văn bia thời Mạc”, Tạp chí Hán Nôm, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bia chợ xã Đông Ngạc – thêm một bài văn bia thời Mạc”, "Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Trần Thị Kim Anh
Năm: 2001
6. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí mĩ thuật người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn học nghệ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí mĩ thuật người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
7. Phan Kế Bính (2011), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
8. Tống Thanh Bình (2009), Nhà Mạc với công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 – 1546, Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Mạc với công cuộc ổn định xã hội Đại Việt từ 1527 – 1546
Tác giả: Tống Thanh Bình
Năm: 2009
9. Nguyễn Đình Chiến (1999), Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn ở thế kỉ XV – XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn ở thế kỉ XV "– "XIX
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
10. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
11. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
12. Ngô Kim Chung (1975), “Ruộng đất tư hữu và những hình thức khai thác ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời phong kiến”, Tạp chí kinh tế, (số 85) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ruộng đất tư hữu và những hình thức khai thác ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời phong kiến”," Tạp chí kinh tế
Tác giả: Ngô Kim Chung
Năm: 1975
13. Tống Văn Chung (2001), Xã hội học nông thôn, NXb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Năm: 2001
14. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (đồng chủ biên) (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Bộ giáo dục đào tạo Hà Nội – Đại học ngoại ngữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (đồng chủ biên)
Năm: 2005
15. Nguyễn Sinh Cúc, Nguyễn Văn Tiêm (1996), Nửa thế kỷ phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 1945- 1995, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 1945- 1995
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc, Nguyễn Văn Tiêm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
16. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2007), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2007
17. Ngô Thị Kim Doan (2004), Văn hóa làng xã Việt Nam, Nxb văn hóa thông tin, công ty văn hóa Bảo Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2004
18. Phan Đại Doãn (Chủ biên) (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
19. Phan Đại Doãn (Chủ biên) (1996), Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp
Tác giả: Phan Đại Doãn (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20. Phan Đại Doãn (2010), Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
21. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (1996), Mối quan hệ làng, họ và gia đình truyền thống, trong: Tương Lai (Chủ biên), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (quyển II), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ làng, họ và gia đình truyền thống", trong: Tương Lai (Chủ biên), "Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 CHỨC QUAN CHÍNH Ở TAM TY MỖI ĐẠO [69] - nông thôn việt nam thời mạc (1527-1529)
Bảng 1.2 CHỨC QUAN CHÍNH Ở TAM TY MỖI ĐẠO [69] (Trang 27)
Bảng 1.3 MỘT SỐ CHỨC QUAN Ở XÃ [70] - nông thôn việt nam thời mạc (1527-1529)
Bảng 1.3 MỘT SỐ CHỨC QUAN Ở XÃ [70] (Trang 30)
Bảng 3. 1 KIẾN TRÚC CHÙA MẠC QUA XÂY DỰNG, TU BỔ [70] - nông thôn việt nam thời mạc (1527-1529)
Bảng 3. 1 KIẾN TRÚC CHÙA MẠC QUA XÂY DỰNG, TU BỔ [70] (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w