1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo quản trị biến đổi xã hội nông thôn việt nam thời kỳ đổi mới

31 320 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUẢN TRỊ BIẾN Đổi XÃ HỘI NONG THON VIỆT NAM THỦI KỲ Đổi Múi Tô Duy Hợp', Trương Thị Thu Thủy” DẪN LUẬN Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX của ĐCSVN đã khẳng định quan điểm: "Coi công ng

Trang 1

QUẢN TRỊ BIẾN Đổi XÃ HỘI NONG THON VIỆT NAM THỦI KỲ Đổi Múi

Tô Duy Hợp', Trương Thị Thu Thủy”

DẪN LUẬN

Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX của ĐCSVN đã khẳng

định quan điểm: "Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển công nghiệp,

dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu

quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn"

(ĐCSVN 2001: 94) Trong những năm qua, nông nghiệp, nông _

thôn nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên

bên cạnh đó, ở nông thôn đã và đang nảy sinh khá nhiều vấn đề

bức xúc cần được khắc phục, giải quyết Làm thế nào để nâng cao

năng lực quản trị xã hội ở nông thôn song song với việc day

nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhằm hướng tới một nền

nông nghiệp bên vững và xây dựng một nông thôn hiện đại là

một trong những vẫn để nan giải hiện nay

Nội dung bài viết này gồm có hai phần chính: Phần thứ nhất

nêu lên đặc điểm của truyền thống quản trị (tự quản) của làng -

xã nông thôn Việt Nam Phần thứ hai sẽ tập trung vào phân tích

` Hội Xã hội học Việt Nam

” Viện Gia đình và Giới, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

147

Trang 2

một số lĩnh vực, theo chúng tôi, là vô cùng quan trọng trong quá trình quản trị xã hội nông thôn hiện nay nhằm phát triển một nông thôn bển vững Cuối cùng, trong phần kết luận sẽ đưa ra

một số nhận định khái quát

1 Đặc điểm tự quản làng - xã nông thôn Việt Nam trong truyền thống

Có nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu về làng - xã, đặc biệt là về

làng Việt, trong đó có tổng kết đặc điểm truyền thống tự quản cộng đồng Đó là các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Pierre Gourou, Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ, Paris, 1936

- Vũ Quốc Thúc, Nền kinh tế công xã Việt Nam (L"economie

communaliste du Vietnam), Paris- Hanoi, 1950

- Nguyễn Hồng Phong, Xã thôn Việt Nam, Nxb Khoa học Xã

hội, Hà Nội, 1959 |

- Viện Sử học, Nông thôn Việt Nam trong lich sử (nghiên cứu xã

hội nông thôn truyền thống), tập I (1977) và tập II (1978), Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội

- Viện sử học, Nông dân va nông thôn Việt Nam thời can dai, Nxb

- Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1965

- Phan Huy Lê, Nguyễn Đức Nghỉnh, Làng truyền thống ở

Việt Nam, Hà Nội, 1993

~ Diệp Đình Hoa ˆ

148

Trang 3

QUAN TR] BIEN ĐỒI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THO KY BOI MOI

e Tìm hiểu làng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990

‹ Làng Nguyễn, Tìm hiểu làng Việt, H, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội, 1994

- Phan Đại Doãn

‹ Làng Việt Nam, một số uấn đề kinh té va xã hoi, Ha N6i, 1990,

- Kinh nghiém t6 chitc quén ly nông thôn Việt Nam trong lịch sử,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994

‹ Quản lú xã hội nông thôn nước ta hiện nay Một số uẫn đề uà giải

pháp, 1996, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Phan Đại Doãn và Nguyễn Trí Dĩnh (Chủ biên), Tìm hiểu

kinh nghiệm tổ chức quản ly nông thôn ở một số nước khu uực Đông Á

va Dong Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995

-LýN gan Ha, "Ban vé van hoa làng", Tạp chi Khoa học Xã hội,

Bắc Kinh, số 5/1993

- Mạc Đường (Chủ biên), Làng - xã ở châu Á uà ở Việt Nam,

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995

- Phan Huy Lê, "Làng - xã cổ truyền của người Việt, tiến trình

lịch sử và kết cấu kinh tế - xã hội", Trong sách: Các giá trị truyền

thông va con người Việt Nam hôm nay, tập II, Hà Nội, 1996

- Trần Ngọc Thêm, Tìm oề bản sắc uăn hoá Việt Nam, Nxb Thành

phố Hỗ Chí Minh, 1996

- Tô Duy Hợp (Chủ biên)

‹Ổ Ninh Hiệp, truyền thống uà phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 1997

„ Sự biến đối của làng - xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông

Hồng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000

149

Trang 4

Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng ngày nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003

- Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng Ly thuyết va uận dụng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2000

- Mai Văn Hai, Quan hệ dòng họ ở châu thổ đồng bằng sông Hồng,

Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000

- Bùi Quang Dũng, "Nghiên cứu làng Việt: các vấn đề và triển

vọng", Tạp chí Xã hội học, Hà Nội, số 1/2001 |

- Đặng Kim Sơn, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam

hôm na va tai sau, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008

~ Nhiều tác giả, Nông dân, Nông thôn @ Nông nghiệp Những van

đề đang đặt ra, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008

- Nhiều tác giả, Vấn đề nông nghiệp nông dân nông thôn Kinh

nghiệm Việt Nam, Kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia

Hà Nội, 2009

Qua các nguồn tài liệu đó, ta có thể rút ra một số đặc điểm truyền thống tự quản cộng đồng làng - xã, đặc biệt là của làng Việt như sau:

Đặc điểm thứ nhất của truyền thống tự quản cộng đồng làng -

xã là xét về thực chất thì đó là tập quán dân chủ trực tiếp có

nguồn gốc lâu đời từ trong cộng đồng làng Việt Theo tài liệu lịch

sử thì làng Việt hình thành trực tiếp từ công xã nông thôn, cách

đây trên vạn năm Trần Từ (1984) cho rằng cơ cấu tổ chức làng

Việt cổ truyền có thể được miêu tả bằng mô hình 3 vòng tròn

đồng tâm Trong đó, vòng tròn trong cùng (vòng tròn I) biểu thị vị

trí, vai trò của nhân vật trưởng làng, là người cầm đầu các dòng họ

và các hộ gia đình trong làng thi hành các quyết định của già làng;

vòng tròn giữa (vòng tròn II) biểu thị vị thé, vai trò của các già 150

Trang 5

QUẢN TRỊ BIẾN ĐỒI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THO! KY DOI MOI

lang, là tập thể những người cao tuổi trong làng (đã lên lão) có

quyền để ra các chủ trương, chính sách và cả những biện pháp lớn

để cả làng cùng nhau thực hiện và giám sát công việc làng - xã; và

vòng tròn ngoài cùng (vòng tròn II] biểu thi vi thé, vai trò của dân

làng, bao gồm tất cả những người trưởng thành trong làng, có

quyền dân chủ trực tiếp, nghĩa là qua các cuộc họp thảo luận dân

chủ, công khai với trưởng làng nhằm thực hiện tốt các chủ trương,

chính sách do các già làng - đại điện quyển lực tối cao của dân

làng nêu ra

Theo quan điểm mô hình hoá, ta có thể thấy mô hình tập

quán dân chủ làng Việt này tương tự mô hình nhà nước cộng hoà

dan chủ nhân dân; trong đó quyền lập pháp thuộc về toàn dân,

song được uỷ nhiệm cho tập thể già làng, quyền hành pháp thuộc

về trưởng làng do dân bầu chọn trực tiếp và quyền tư pháp cũng

thuộc về toàn dân, nhưng được trao cho các già làng

Công cụ pháp lý của tập quán dân chủ này là lệ làng hay

hương ước Lệ làng hay hương ước theo cách gọi của Bùi Xuân

Đính (1985) là "Tập quán pháp", có giá trị tương tự như luật pháp

nhà nước, có chức năng kiểm soát, điều chỉnh hành vi của mọi

người dân trong làng qua cơ chế thưởng - phạt hợp lý, hợp tình

Tập quán dân chủ làng Việt ở điểm xuất phát nguyên thuỷ

của nó có bản tính tự trị, trước khi Nhà nước xuất hiện Từ khi có

Nhà nước quản lý, thì dân chủ tự trị chuyển thành dân chủ tự

quản, mức độ và phạm vi tự quản (hoàn toàn hay một phần) tuỳ

thuộc tương quan giữa Nhà nước và cộng đồng làng - xã

Đặc điểm thứ hai của truyền thông tự quản cộng đồng làng -

xã, đó là làng Việt có khả năng tự quản cộng đồng toàn diện

Trong hương ước của làng có sự ghỉ nhận quyền tự quản toàn

điện của cộng đồng làng, kể từ chủ quyền lãnh thổ đến chủ quyển

151

Trang 6

chính trị, kinh tế, xã hội và đến chủ quyền văn hoá, tư tưởng của dân làng Cơ sở kinh tế của tự quản cộng đồng làng Việt là chế độ ruộng đất công (hay gọi là công điền, công thổ) và sự phân công lao động - nghề nghiệp của dân làng Cơ sở chính trị của tự quản

cộng đồng làng Việt là thiết chế tam quyền nguyên - phân - hợp

theo mô hình 3 vòng tròn đồng tâm như đã nói ở trên

Ngoài ra, cũng theo Trần Từ (1984; 1991), còn nhiều hình thức

tổ chức khác tạo thành hệ thống tự quản cộng đồng nhằm củng cố

các quan hệ và hoạt động của dân làng, đó là:

Các quan hệ huyết thống và thân tộc: nhiệm vụ của gia đình

va dong ho

Các quan hệ láng giềng: nhiệm vụ của ngõ, xóm

Các quan hệ bình đẳng theo lớp tuổi: nhiệm vụ của giáp

Các quan hệ và hoạt động tự nguyện: nhiệm vụ của phe, phường, hội

Làng Việt là một đơn vị văn hoá xã hội độc lập, làm thành cái

mà người ta gọi là văn hoá làng Nghĩa là, mỗi làng Việt đều có bản sắc văn hoá riêng: biểu tượng tâm linh (Thành hoàng làng)

riêng, có lễ hội riêng (gọi là hội làng) và nhiều phong tục, tập quán

riêng Ý thức cộng đồng làng Việt là tự quản toàn diện kinh tế,

chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường

Đặc điểm thứ ba của truyền thống tự quản cộng đồng làng - xã,

đó là làng Việt có khả năng tự quản cộng đồng bền vững Tự quản là một hằng tính xuyên lịch sử của cộng đồng làng Việt Nếu tổng kết những cột mốc lịch sử lớn và quan trọng thì ta thấy năng lực tự quản cộng đồng làng Việt có lúc thăng (lên) có lúc trầm (xuống); song chưa bao giờ bị xoá số hoàn toàn trong bản sắc văn hoá tam nông Việt Nam Trong trường kỳ lịch sử, đã có ít nhất

2 lần năng lực tự quản đó bị đứt gãy, đó là thời kỳ nhà nước thuộc

152

Trang 7

QUAN TRỊ BIỂN ĐỒI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỒI MỚI

địa nửa phong kiến, cộng đồng làng Việt bị tước mất năng lực tự

quản thực sự và thời kỳ nhà nước định hướng Xã hội chủ nghĩa

kiểu cũ, trong thời kỳ bao cấp trước Đối mới, cộng đồng làng Việt

bị tước mắt năng lực tự quản toàn diện Nhưng do những đứt gãy

này rất ngắn ngủi so với toàn bộ tiến trình lịch sử tam nông Việt

Nam (hơn 80 năm thuộc địa nửa phong kiến và hơn 30 năm thực

hiện cơ chễ quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp xã hội chủ

nghĩa); hơn thế nữa, hơn hai mươi năm Đổi mới vừa qua đã khắc

phục sai lầm của thời kỳ bao cấp, cho nên có căn cứ khoa học để

kết luận rằng năng lực tự quản cộng đồng làng Việt, nhất là ở

đồng bằng sông Hồng, là khá bền vững

2 Quản trị xã hội nông thôn hiện nay trên một số lĩnh vực chính

2.1 Cơ sở hạ tầng nông thôn

Nghị quyết Trung ương 7 khóa X (2008) của Đảng Cộng sản

Việt Nam đã khẳng định mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết

cầu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại là một mục tiêu quan

trọng Nhiều chính sách, chương trình hành động đã được đưa ra

để thực hiện mục tiêu này và đã mang lại những kết quả tích cực,

ví dụ như chương trình phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt khó

khăn miễn núi và vùng sâu, vùng xa

Theo số liệu trong Điều tra nông, lâm thủy sản toàn quốc năm

2006 (Tổng cục Thống kê), các con số thống kê cho thấy, kết cầu

hạ tầng nông thôn đã được nâng cấp và hoàn thiện cả về chiều

rộng và chiều sâu, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới Đó là kết

quả đáng khích lệ trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung

ương 5 (khóa IX, 2001) về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 Tuy nhiên, bên

cạnh những thành tựu đạt được, nông thôn nước ta còn những

vấn để cần được tiếp tục quan tâm trong thời gian tới Đó là

153

Trang 8

những vấn đề cụ thể như việc xây dựng, nâng cấp giao thông nông thôn ở các tỉnh miễn núi và đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn gặp nhiều khó khăn, gần 20% số xã ở Tây Bắc và đồng bằng sông Cứu Long chưa có đường ô tô đến trung tâm xã Bên cạnh

đó, việc nâng cấp hệ thống đường giao thông liên thôn tiến hành không đều giữa các vùng Hệ thông giao thông liên thôn chủ yếu mới được nâng cấp ở các vùng đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ Chất lượng đường giao thông liên thôn ở các vùng khác, đặc biệt là ở Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên còn rất hạn chế Ở những vùng này, số xã có đường liên thôn được nhựa hoá, bê tông hoá trên 50% chỉ chiếm dưới 20%, riêng ở Tây Bắc chỉ đạt 7,1% Về điện khí hoá, mặc dù số hộ sử dụng điện tăng rất nhanh ở miễn núi, nhưng cho đến nay vẫn còn một số tỉnh miễn

núi tỷ lệ hộ chưa sử dụng điện còn cao như Lai Châu là 46,6% Tỷ

lệ này ở Điện Biên là 38,3% và Hà Giang là 33,5%,

Nguyên nhân của những vấn để cụ thể trên thì có nhiễu, song có lẽ tập trung nhất ở năng lực quản trị nông thôn, " trong thực tế, vấn đề quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay chưa vận động cùng hướng với chủ trương của Đảng và Nhà nước là chuyển mạnh sang thể chế kinh tế thị trường; đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn" (Viện Xã hội học Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010: 444) Ví dụ như về chính sách đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, với phương thức đầu tư có một chủ thể đầu tư duy nhất là Nhà nước (rõ nhất là dịch vụ cung cấp điện cho khu vực nông thôn) thì tư duy bao cắp vẫn còn tổn tại dai dẳng trong không ít

cán bộ cấp cơ sở cũng như người dân, chưa đề cao vai trò làm chủ, vai trò giữ gìn, duy tu và phát triển các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của người dân địa phương Thêm vào đó là các

nguồn lực đầu tư bị phân tán, không đồng bộ, không có trọng tâm

154

Trang 9

QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

trọng điểm dẫn đến việc quản lý chất lượng công trình lỏng lẻo,

lãng phí và thất thoát nguồn vốn đầu tư, không gắn xây dựng,

phát triển cơ sở hạ tầng với bảo vệ môi trường sinh thái, khiến đời

sống người dân địa phương bị ảnh hưởng, tài nguyên đất, rừng,

nước bị hủy hoại nghiêm trọng do việc quản lý tài nguyên lỏng

lẻo, trách nhiệm quản lý không rõ ràng

Theo Nguyễn Dũng Sinh, Đảng và Nhà nước cần phải có

những chính sách khai thác nguồn vốn đầu tư trong tất cả các

thành phần kinh tế; ban hành các văn bản về công tác quản lý cụ

thể hơn về trách nhiệm, quyền hạn của từng đối tượng tham gia

nhiệm vụ xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; nâng

cao tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý, công khai, minh

bạch, mở rộng dân chủ, tăng cường khả năng giám sát của cộng

đồng xã hội đối với chủ thể và đối tượng của công tác quản lý;

nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở (Viện Xã hội học

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 2010:

444-446) thì việc xây dựng, phát triển và duy tu, bảo vệ cơ sở hạ

tầng nông thôn mới hướng đến được chiều sâu chất lượng

Phương châm "Nhà nước và Nhân dân cùng làm" trong xây

dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn chưa được quán triệt

trong nhiều dự án cụ thể, đặc biệt là dự án nâng cấp đường giao

thông nông thôn (PMŨ 18, chương trình 125, ) Tình trạng cán

- bộ quản lý dự án móc ngoặc với chủ doanh nghiệp đấu thầu dự

án làm chậm tiến độ, giảm chất lượng công trình, thiệt hại lợi ích

của cộng đồng làng - xã và cả của toàn xã hội chưa ngăn chặn

được, thậm chí có chiều hướng gia tăng Bức xúc nhất hiện nay là

tình trạng nông dân bị thu hồi đất để phục vụ các dự án xây dựng

đường giao thông mới, khu công nghiệp và khu đô thị mới, giải

toả đền bù bất hợp lý mà người chịu nhiều thiệt hại nhất là nông

dân đến mức gây bức xúc trong dư luận xã hội xung quanh câu

chuyện "nông dân trắng tay"!

155

Trang 10

Nhiều dự án xuất phát từ tư tưởng đúng đắn và tốt đẹp; tuy nhiên đo quản trị yếu kém, lệch lạc nên kết quả không như mong muốn, thậm chí có nguy cơ dẫn tới phát triển xấu và phản phát

triển Các thí dụ điển hình đó là dự án tách khu sản xuất ra khỏi

khu dân cư ở các làng nghề, trên thực tế hình thành 2 làng nghề:

làng cũ và làng mới, thực chất là dãn dân làng nghề, không giải quyết được vấn đề tiếng én va 6 nhiễm môi trường khu dân cư

Tình trạng ô nhiễm môi trường do tăng trưởng nhanh kinh tế làng

nghề ngày càng gia tăng trầm trọng chưa có lỗi thoát là lỗi của

người dân và cả của hệ thống quản lý do không thực hiện đúng

luật môi trường mà vấn thiếu chế tài xử phạt nghiêm minh Trong

chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hiện nay, tại các xã được Nhà nước (trung ương hoặc địa phương) lựa

chọn đầu tư thí điểm đang có xu hướng chú trọng quá mức vào xây dựng hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm,

khu thương mại mới, khu công nghiệp mới, ), có thể dẫn tới viễn cảnh phát triển thiên lệch, bắt cập, và không bền vững

2.2 Những biến đổi trong đời sống văn hóa

Những biến đổi trong đời sống văn hóa ở nông thôn là một trong những khía cạnh nên được quan tâm nhất trong quá trình quản trị nông thôn hiện nay So sánh những giá trị văn hóa của đời sống nông thôn truyền thống với những giá trị văn hóa của xã hội nông thôn đang chuyển đổi ngày nay người ta có thể nhận thấy có sự chuyển dịch trong các giá trị và khuôn mẫu ứng xử Ở

xã hội nông thôn truyền thống, đó là tình trạng trọng nông ức thương, lấy nông nghiệp truyền thống làm gốc Phân hạng xã hội dựa trên các dạnh vị: vua, quan, dân; trong dân thì chủ yếu là sỹ, nông, công, thương Xã hội truyền thống coi trọng tước vị (trọng quan) và kinh nghiệm (trọng người già) Trong xã hội nông thôn ngày nay, giá trị trọng nông đang bị giảm trừ do quá trình đa

156

Trang 11

QUAN TRI BIEN ĐỒI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỒI MỚI

dạng hóa nghề nghiệp, nghề nông không còn là nghề sinh sống

duy nhất, thậm chí là lựa chọn hạng chót trong thang giá trị nghề

nghiệp ở nông thôn

Trong xã hội nông thôn đương đại, khả năng thăng tiến, thay

đổi vị thế xã hội đã được mở rộng hơn trước bằng quá trình học

hành nghề phi nông nghiệp Làm quan không còn là con đường

thăng tiến duy nhất trong xã hội Trật tự xã hội: sỹ, nông, công,

thương không còn là một trật tự bất biến Thậm chí, vị trí của các

nhà kinh doanh, các doanh nghiệp ở nông thôn được để cao hơn

7 Họ được coi là nhóm xã hội vượt trội ở nông thôn

Về tính cộng đồng, xã hội nông thôn truyền thống để cao tỉnh

thần cộng đồng làng - xã, có khuynh hướng đồng nhất các giá trị

xã hội trong cộng đồng, không dé cao sy khác biệt, đa dạng Cá

nhân phụ thuộc cộng đồng Trong xã hội nông thôn đương đại, sự

ton tại và phát triển của cộng đồng phải tính đến lợi ích nhóm và

của từng cá nhân trong cộng đồng ấy Bổn phận đối với cộng -

đồng vẫn được tôn trọng song ý nghĩa tuân thủ tuyệt đối các lợi

ích chung mà không tính tới lợi ích riêng đã không còn như xưa

Xã hội nông thôn truyền thống quý nghía, khinh lợi, an phận

thủ thường, để cao hà tiện Tư tưởng bình quân nông dân, cào

bằng, không chấp nhận những điểm "trồi" về mức sống và lối

sống Trong xã hội nông thôn đương đại, chủ nghĩa kinh nghiệm

không còn vị trí độc tôn do sự phát triển hơn của hệ thống giáo

dục phổ thông, giáo dục nghề và hệ thống truyền thông đại

chúng trong xã hội nông thôn, do đó vai trò của người già không

- còn vị trí như người quyết định mọi công việc của gia đình và

cộng đồng như xưa nữa

Truyền thống tình làng nghĩa xóm, trọng các giá trị cộng đồng

vẫn là hạt nhân cơ bản của sự phát triển làng - xã Trong xã hội

truyền thống, tình làng nghĩa xóm, tương thân, tương ái, ghi ơn

công lao của các bậc tiền nhân, nhớ về nguồn cội, tổ tiên là những

157

Trang 12

giá trị xã hội chung được chia sẻ Ở xã hội nông thôn đương đại,

sự áp chế của tính đồng nhất cộng đồng, sự thanh nhàn, bằng lòng với cái nghèo không còn hiệu lực như xưa nữa, xu hướng vươn tới làm giàu, chú trọng đến lợi ích vật chất là một giá trị xã hội ngày càng được phổ biến hơn trong xã hội nông thôn hiện nay Tiêu dùng không còn là một giá trị xã hội bị lên án Tâm thế đồng nhất văn hóa, chủ nghĩa bình quân nông dân kiểu cào bằng

đang đứng trước những thách thức của xu hướng khang định hơn

sự khác biệt, đa văn hóa dạng văn hóa của một số nhóm có mức

sống nổi trội hơn do có sự chuyển dịch nghề kịp thời và khả năng

tận dụng các lợi thế mà họ tích tụ được quyền lực, vốn, vị trí dia

lý, các cơ may,

Tính thiêng liêng của các giá trị tỉnh thần chung của cộng đồng, các hình thái tôn giáo và tín ngưỡng nông nghiệp là những giá trị văn hóa được tôn trọng chung song da bat dau bi giải thiêng ở một số nhóm xã hội có nghề nghiệp phi nông nghiệp, có

sự đi động xã hội cao, học vấn cao hơn truyền thống Xu hướng

thế tục hóa của xã hội hiện đại tuy chưa đủ sức phá vỡ các giá trị

tỉnh thần truyền thống trên song cũng là một thực tế cần tính đến (Tô Duy Hợp chủ biên 2000)

Phan Hồng Giang cho rằng, mặc dầu có những thay đổi về kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam ngày nay, nhưng các thiết chế văn hoá truyền thống vẫn đóng một vai trò quan trọng trong

đời sống văn hoá ở các cộng đồng làng - xã Các thiết chế văn hoá truyền thống một mặt thoả mãn nhu cầu tâm linh của người dân

nông thôn, mặt khác nó tham gia vào quá trình bảo tổn và phát huy các giá trị văn hoá cổ truyền trong đời sống đương đại Những nơi nào còn có đình, đền, miễu, chùa và các lễ hội tương ứng thì nơi đó duy trì được đời sống văn hóa làng — xã ốn định và

phong phú hơn Nhìn chung, mức độ bảo lưu của các thiết chế

văn hoá truyền thống không đồng đều: Các tỉnh phía Bắc có mức 158

Trang 13

QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

độ bảo lưu cao hơn, những nơi có nhiều làng cổ hơn có mức độ

bảo lưu tốt hơn, những nơi là vùng đất mới (khai hoang, kinh tế

mới) của thì mức độ bảo lưu các thiết chế này và hoạt động văn

hoá truyền thống yếu kém hơn (Phan Hồng Giang 2007: 65)

Quá trình di động xã hội mạnh, cùng với tốc độ đô thị hóa,

quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp đang diễn ra

ở nông thôn sẽ là những tác nhân quan trọng phá vỡ tính chất

"khép - kín" của làng - xã, làm chuyển đổi các đặc điểm xã hội của

nó từ một xã hội mang đặc điểm cộng đồng tính, sang một xã hội

mang đặc điểm hiệp hội tính, tức là xã hội đô thị hoá, công nghiệp

hoá, hiện đại hoá Quá trình đổi mới theo hướng tự do hóa thị

trường, mở rộng dân chủ hóa đã làm tăng thêm độ đa dạng hóa

trong đời sống văn hóa xã hội nông thôn, nét đặc trưng của tiến

bộ văn hóa - văn minh (Tô Duy Hợp chủ biên 2000: 157)

2.3 Quản trị nguôn nhân lực nông thôn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về "Dân là gốc", "Dân là chủ" không xa

lạ gì với chúng ta, và khi kế thừa tư tưởng này, Đảng Cộng sản

Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đương đại cũng luôn xác định

quan điểm "Con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục

tiêu của sự phát triển" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 30) Đảng

và Nhà nước đã tiếp nhận quan điểm "Con người là trung tâm của

các chiến lược phát triển" do UNDP để xuất và đã được thử

nghiệm thành công ở nhiều nước trên thế giới Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội 2011-2020 xác định 1 trong 3 khâu đột phá

chính là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (Đảng Cộng

sản Việt Nam, 2011) Trong những văn bản quan trọng khác như

Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 và Nghị quyết

số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 về Chương trình

hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ

7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông

dân, nông thôn cũng xắc định đào tạo nguồn nhân lực nông thôn

159

Trang 14

là một mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã

hội đất nước! Tuy nhiên, trong 11 nội dung của Chương trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -

2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 4 tháng 6 năm

2010 (văn bản số 800/QĐ-TTg) và trong 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới (ban hành kèm theo Quyết định sé 491/QD-

TTg ngày 16 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ) thì yếu

tố con người và nguồn nhân lực nông thôn chưa được quan tâm đúng mức về số lượng, chất lượng và cơ cầu nguồn nhân lực, còn

thiếu hụt quan điểm hệ thống phức hợp, lên ngành Việc đáp

ứng tiêu chí số 5 (về trường học) và số 14 (về giáo dục) và đáp ứng

tiêu chí số 15 (vẻ y tế) trong Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới là những nỗ lực đáng ghi nhận nếu đạt được, nhưng trong một tầm nhìn xa đến năm 2020 mà chúng ta vẫn loanh quanh ở

những con số biểu thị mặt số lượng mà chưa đầu tư đúng mức

đến mặt chất lượng nguồn nhân lực, khi mà những vấn nạn trong giáo dục và y tế ngày càng trầm trọng và bề tắc?, trong khi tỷ lệ chỉ

! Xây dựng 03 chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020 là 1/ Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (1/2009), 2/ Chương

- trình mục tiêu quốc gia về thích ứng với sự biến đổi khí hậu (V/200), 3/ Chương

trình Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn (bổ sung vào Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo) (I/200) Trích Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hồ Xuân Hùng tại Hội

nghị toàn thể ISG ngày 18 tháng 11 năm 2008

Www isgmard org.un/ [Ba0% 20ea0% 20cua% 207 %20Hung- VN doc —

Một số vẫn để cơ bản trong Nghị quyết 26-NQ/TW và Chương trình hành

động của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam

? Xem thêm, Hoàng Tụy và cộng sự 2004 Kiến nghị của Hội thảo về Chấn

hưng, Cải cách, Hiện đại hóa giáo dục (gửi Trung ương Đảng và Chính

phủ); Nguyễn Quang A "Tín dụng học đường và những để án 16.000 tỷ đồng", Nguyên Ngọc "Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?"; và nhiều bài viết khác trong Những ấn đề giáo dục hiện nay — Quan điểm uà giải pháp Nhiều tác giả 2008 Nxb Trị thức Hà Nội

160

Trang 15

QUAN TRỊ BIẾN ĐỒI XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỒI MỚI

cho giáo dục và y tế của Việt Nam hàng năm luôn chiếm tỷ lệ rất

lớn trong dự toán ngân sách nhà nước thì liệu đến năm 2020, Việt

Nam có được một nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh

tranh với khu vực và quốc tế? Và có cơ hội nào cho nguồn nhân

lực nông thôn phát triển đủ năng lực để xây dựng nông thôn,

nông nghiệp, nông dân bền vững khi mà vấn để này không được

dé cap cy thé va quan tâm đến như việc xây dựng các cơ sở vật

chất, đổi mới chương trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học, v.v trong các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục

và đào tạo đến năm 20201?

! Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông bước đầu dự toán kinh phí là 70 nghìn tỷ đồng, trong đó số tiền chỉ cho việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa chỉ khoảng hơn 960 tỷ (chưa đầy 1/70 tổng

dự toán) Số tiền còn lại chỉ cho các việc khác như xây đựng cơ sở vật chất trường học khoảng 35 nghìn tỷ (chiếm 1/2 tổng dự toán), mua sắm thiết

bị, đồ dùng dạy học khoảng 30 nghìn tỷ (gần một nửa tổng dự toán), đào

tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 390 tỷ đồng (http://giaoduc.net.vn/giao-

duc-24h/28-tin-tuc/4493-b-giao-dc-len-ting-v an-70000-t-ng html)

Xem thém 1/ “70 ngan ty lam sách giáo khoa hay đổi mới giáo dục? http:/laodong.com.vn/Tin-tuc/70-ngan-ti-lam-sach-giao-khoa-hay-doi-

moi-giao-duc/46740 2/ “Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chỉ cho giáo dục"

cao nhất thế giới” http/dantricom.vn/C25/s25-392976/viet-nam-thuoc- nhom-nuoc-co-ty-le-chi-cho-giao-duc-cao-nhat-the-gioi.htm 3/ Bảo, Hồ Tú; Quang, Trần Hữu và những người khác "Đề án cải cách giáo dục

Việt Nam (Phân tích và để nghị của nhóm nghiên cứu giáo dục Việt

Nam)" Tạp chí Thời đại mới, số 13, tháng 3-2008 4/ Dự toán chỉ phát triển các sự nghiép gido duc- dao tao- day nghề, tế, vin hod, xa hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh; quản lý hành chính: 335.560 tỷ đồng, tăng 9,7% so đự toán năm 2009, chiếm 57,6% tổng chỉ NSNN (Dự toán Ngân sách nhà nước

năm 2010

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549?p fol

der_id=2201720&p_recurrent_news_id=15264375)

161

Ngày đăng: 08/07/2015, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w