1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nông thôn việt nam thời lê sơ (1428-1527)

119 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bản và toàn diện về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân cũng như lý giải được nhiều vấn đề liên quan như tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, các mối quan hệ xã hội cũng như s

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường ĐHSP Thái Nguyên, Phòng tư liệu Viện sử học Việt Nam, Thư viện Quốc gia… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo

vệ luận văn

Thái Nguyên, tháng 8, năm 2013

Tác giả

Ma Thị Vui

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ

(1428- 1527)” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi là kết

quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Nhà trường

về sự cam đoan này

Thái Nguyên, tháng 8, năm 2013

Tác giả

Ma Thị Vui

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ 8

1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Lê sơ 8

1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn 14

1.3 Các tổ chức xã hội ở nông thôn 25

1.4 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn 31

Chương 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ 35

2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Lê sơ 35

2.2 Sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân 46

2.3 Nghề thủ công và buôn bán nhỏ 52

2.4 Giao thông và phương tiện đi lại 63

Chương 3 VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ 66

3.1 Phong tục, tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn 66

3.2 Văn học, nghệ thuật và giáo dục ở nông thôn 77

3.3 Nhà ở, ăn, mặc của người dân ở nông thôn 90

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề nông thôn Việt Nam trong lịch sử và hiện tại luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học Đi sâu tìm hiểu về tình hình nông thôn Việt Nam qua các thời kì lịch sử sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về bức tranh ở nông thôn trong quá khứ cũng như hiện tại Từ đó có thể học tập kế thừa những kinh nghiệm quản lý vùng nông thôn cũng như hoạch định chính sách phát triển phù hợp cho khu vực này trong tương lai Bởi cho đến nay phần đa dân số ở Việt Nam vẫn chủ yếu sinh sống trong các vùng nông thôn Đặc biệt nông thôn Việt Nam trong quá khứ và hiện tại lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau

Trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử, nông thôn Việt Nam luôn

có vai trò hết sức to lớn đối với quá trình dựng nước và giữ nước Nông thôn chính là khu vực dân cư sống tập trung chủ yếu bằng nghề nông Về mặt tổ chức hành chính thì nông thôn Việt Nam được chia thành các đơn vị cơ bản là

xã và thôn (hay làng) Trải qua biết bao thăng trầm làng xã chính là nơi khởi nguồn và lưu giữ nền văn hóa dân tộc từ thời kì Hùng Vương cho đến tận ngày nay Đây cũng đồng thời là nơi phát sinh, phát triển của các phong trào đấu tranh giành độc lập sôi nổi quyết liệt từ thời Bắc thuộc cho đến thời kì phong kiến độc lập hay trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Chính

vì vai trò to lớn đó cho nên ngay từ thời phong kiến độc lập các triều đại phong kiến Việt Nam đã rất quan tâm tới các vùng nông thôn Bộ mặt nông thôn Việt Nam qua các triều đại lịch sử do đó có nhiều biến đổi theo xu hướng kế thừa nên rất sinh động đa sắc màu Sự đa dạng này được thể hiện trên nhiều lĩnh vực

từ kinh tế đến văn hóa xã hội Nhưng vấn đề nông thôn dưới mỗi triều đại bên cạnh những nét chung còn chứa đựng những nét đặc thù mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Hơn nữa việc tìm hiểu về nông thôn Việt Nam thời phong kiến dưới một triều đại lịch sử nhất định sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và sự hiểu biết khá căn

Trang 7

bản và toàn diện về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân cũng như lý giải được nhiều vấn đề liên quan như tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, các mối quan hệ xã hội cũng như sự phân hóa giai cấp trong xã hội, thịnh suy của triều đại phong kiến…Qua đó chúng ta có cái nhìn biện chứng mối liên hệ nhất định của nông thôn Việt Nam quá khứ, hiện tại và tương lai

Ngày nay trong quá trình đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì vấn đề xây dựng thành công nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước đưa ra sẽ trở thành thước đo quan trọng Vị trí chiến lược của khu vực nông thôn và vấn đề xây dựng nông thôn mới trong thời gian gần đây được Đảng và toàn xã hội quan tâm đặc biệt Nhưng để phấn đấu xây dựng thành công mô hình nông thôn mới hiện tại và tương lai thì chúng ta phải xem xét vấn đề này trong tổng hòa các mối quan hệ Trong đó những bài học lịch sử, nhất là vấn đề nông thôn Việt Nam dưới các triều đại phong kiến, ngày nay vẫn có mối quan hệ mật thiết và ý nghĩa nhất định

Việc nghiên cứu về tình hình nông thôn Việt Nam dưới một triều đại phong kiến nhất định có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tìm hiểu về các vấn

đề chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và xã hội Vì vậy tôi quyết định chọn đề

tài: “Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ (1428- 1527)” làm đề tài luận văn thạc sĩ

của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Triều Lê sơ được thành lập sau khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh giành thành thắng lợi năm 1428 Trải qua 100 năm tồn tại triều Lê

sơ đã có nhiều đóng góp lớn lao đối với lịch sử dân tộc đặc biệt trong thế kỉ

XV Đồng thời chính triều đại đó đã đưa chế độ phong kiến Đại Việt phát triển đến đỉnh cao, cường thịnh từ chính trị đến kinh tế, văn hóa giáo dục - khoa cử Thậm chí suốt mấy thế kỉ sau đó các triều đại phong kiến Việt Nam đã cố gắng mô phỏng cách tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế, văn hóa, pháp luật giống với thời Lê sơ vốn đã rất hoàn chỉnh Chính vì vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu quan tâm đến triều Lê sơ ở nhiều khía

Trang 8

cạnh khác nhau Trước hết chúng tôi xin điểm qua một số cuốn sách, đề tài nghiên cứu về triều Lê sơ:

Trước hết là các bộ sử cũ chính thống của các sử gia phong kiến: Tiêu

biểu là tác phẩm Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên thế kỉ XVII, Đại Việt

thông sử của Lê Quý Đôn thế kỉ XVIII, Khâm định Việt sử thông giám cương mục- Quốc sử quán triều Nguyễn thế kỉ XIX Các tác phẩm này đã đề cập khá

chi tiết về triều đại Lê sơ trên nhiều phương diện khác nhau từ vị vua đầu tiên đến vị vua cuối cùng của triều Lê Đồng thời có nhiều đánh giá xác đáng đối với các việc làm, hành động nhân cách của từng vị vua Mặc dù không có phần viết nào mô tả chi tiết về nông thôn dưới triều đại này nhưng qua tác phẩm chúng ta vẫn có thể hình dung được những chính sách của nhà nước phong kiến

và tác động của nó đối với khu vực nông thôn - làng xã

Các cuốn sách đã xuất bản: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập 2(NXB, Hà Nội 1960) của tác giả Phan Huy Lê; cuốn Lịch sử Việt Nam tập 1 (NXB Khoa học xã hội năm 1971); cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, tác giả Trương Hữu Quýnh chủ biên, (NXB Giáo dục Hà Nội năm 1998); Cuốn Lịch

sử Việt Nam từ nguyên thủy đến 1858 tác giả Nguyễn Hữu Quýnh, Nguyễn

Cảnh Minh (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999); cuốn “Tiến trình lịch sử

Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (NXB Giáo dục, Hà Nội 2000),

cuốn “Lịch sử Việt Nam thế kỷ X đầu thế kỷ XV” tác giả Nguyễn Danh Phiệt chủ biên (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002); cuốn Lịch sử Việt Nam từ

nguồn gốc đến thế kỉ XIX (NXB Văn hóa thông tin, 2006) Trong những tác

phẩm đó các tác giả đã đi sâu vào các lĩnh vực như tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, giáo dục khoa cử các triều đại trong lịch sử trong đó có triều Lê sơ

Bên cạnh đó cần phải kể đến một số chuyên khảo mà nội dung có liên

quan ít nhiều đến đề tài, tiêu biểu là cuốn“Chế độ ruộng đất và kinh tế nông

nghiệp thời Lê sơ” của tác giả Phan Huy Lê (NXB Văn - Sử - Địa Hà Nội

1959) Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày những nét lớn về chính sách ruộng đất và tình hình kinh tế nông nghiệp của nhà nước Lê sơ thế kỷ XV - một

Trang 9

khía cạnh của nông thôn Nguồn tư liệu chủ yếu của tác phẩm là các bộ sử cũ

của các sử gia phong kiến Cuốn Kinh nghiệm quản lý nông thôn Việt Nam

trong lịch sử, tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1994) Cuốn Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ

thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc, tác giả Vũ Văn Quân, (NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1998); Bài viết Vài nét về tình hình khẩn hoang ở Thanh Hoá thời Lê

sơ, trong sách: Thanh Hoá thời Lê Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh

Hoá xuất bản tác giả Nguyễn Thị Phương Chi (1998)

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình như: Chính sách về xã hội của

nhà nước thời Lê sơ (1428- 1527), Luận án tiến sĩ, Hà Nội năm 2011 của tác

giả Lê Ngọc Tạo

Cùng với các cuốn sách và luận án nói trên còn nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này được đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh

tế, Dân tộc học có thể kể đến: Nguyễn Khắc Đạm “Vấn đề ruộng đất trong lịch

sử Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 65/1965; Nguyễn Đổng Chi “Chế

độ nô tỳ thời Lê sơ và tác dụng của phong trào quần chúng ở các thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (99), tr 34- 40 (1967); Phan Huy

Lê “Chế độ ban cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của các loại

ruộng đất thế nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 199 (1981); Phan Đại

Doãn “Mấy ý kiến về hoạt động thương nghiệp nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ

thế kỉ XVII- XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6/1985; “Nhìn lại làng Việt”,

Tạp chí Khoa học số 1/ 1987; Nguyễn Danh Phiệt “Chế độ phong kiến trong

lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV và những di sản của nó”, Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử số 3/1990; Đặng Kim Ngọc “Vấn đề tuyển dụng quan chức

thời Lê sơ (1428- 1527), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3/1998; Phan Đại Doãn,

Vũ Văn Quân “Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Yên Mô - Ninh Bình)

dưới thời Lê Thánh Tông” Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6/1999; Hoàng Văn

Luân “Quan hệ giữa nhà nước quân chủ tập quyền với làng xã trong thế kỉ XV

ở Việt Nam” Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3/1999; Lê Ngọc Tạo “Những chính

Trang 10

sách, biện pháp của nhà nước Lê sơ phòng chống tệ nạn xã hội” Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử số 4/2000; YUINSU “Cấu trúc của làng xã Việt Nam ở

Đồng Bằng Bắc Bộ và mối quan hệ của nó với nhà nước thời Lê” Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử số 3/2000; Nguyễn Danh Phiệt “Thời Lê sơ vào buổi suy

tàn bi kịch và hệ quả” Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6/2003; YUINSU “Sự thành lập triều Lê và sự xác lập lý luận Nho giáo - từ ý niệm Phật giáo đến ý niệm Nho giáo” Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2/2006; Nguyễn Thị Phương

Chi “Vì sao điền trang thời Lê sơ ít có điều kiện phát triển”, Tạp chí Nghiên

cứu lịch sử, số 3, tr 30- 35 (2009)

Như đã nêu ở trên, cho đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết liên quan đến nhiều lĩnh vực của thời Lê sơ (1428- 1527) song, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nông thôn Việt Nam thời Lê sơ Vì vậy trên

cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước tôi mạnh dạn

chọn vấn đề: Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ (1428- 1527) làm đề tài luận văn

thạc sĩ của mình

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về nông thôn Việt Nam dưới

triều đại Lê sơ (1428- 1527) Trong đó chủ yếu đề cập đến tình hình kinh tế,

văn hóa, xã hội ở nông thôn thời Lê sơ

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Trong phạm vi đề tài: Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ luận văn sẽ đi tìm hiểu khai thác ở các khía cạnh chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa nông thôn thời Lê sơ

Về thời gian: Từ khi triều Lê sơ xác lập - 1428 đến khi kết thúc năm 1527

Về không gian:

- Phạm vi đất nước Việt Nam thời Lê sơ bao gồm khu vực Bắc bộ và toàn bộ khu vực từ Thanh Hóa cho đến Quảng Nam ngày nay

Trang 11

- Phạm vi xung quanh kinh thành Thăng Long mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông thì vẫn thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Còn kinh thành Thăng Long không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài tuy nhiên những mối quan hệ đặc biệt là quan hệ giao lưu buôn bán giữa người nông dân với kinh thành thì chúng tôi vẫn tiến hành nghiên cứu ở khía cạnh kinh tế của khu vực nông thôn thời kì này

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Luận văn tìm hiểu về tình hình mọi mặt bao gồm từ chính trị - xã hội đến kinh tế văn hóa ở nông thôn thời Lê sơ

Đồng thời thông qua đó đề tài cố gắng tái hiện bức tranh toàn cảnh về nông thôn Việt Nam thời phong kiến dưới triều Lê sơ Tìm hiểu những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam thời Lê sơ, và thông qua các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đề tài sẽ có câu trả lời khách quan đúng đắn về những ưu điểm và hạn chế của nông thôn Việt Nam thời kì này Đồng thời thấy được vai trò to lớn của nông thôn đối với quá trình xây dựng vương triều phát triển thịnh vượng bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam

4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

4 1 Nguồn tư liệu:

- Nguồn tư liệu trong chính sử: Một số sử sách và địa chí cổ: Đại Việt sử

ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục

- Các giáo trình lịch sử Việt Nam giảng dạy trong các trường cao đẳng đại học, sách chuyên khảo về triều đại Lê sơ

- Các luận văn, bài báo nghiên cứu đăng trên tạp chí chuyên ngành như Tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí Dân tộc học

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Ngoài ra có sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, để làm rõ vấn đề nghiên cứu

Trang 12

5 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài “Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ (1428-1527) tác giả

mong muốn trình bày một cách đầy đủ, hệ thống về bộ mặt nông thôn nước ta thời Lê sơ (1428 - 1527)

Ngoài ra, đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy về triều

Lê sơ nói riêng

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn gồm

có ba chương

Chương 1: Cấu trúc xã hội - chính trị ở nông thôn thời Lê sơ

Chương 2: Kinh tế ở nông thôn thời Lê sơ

Chương 3: Văn hóa ở nông thôn thời Lê sơ

Trong luận văn còn có các phần: Mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 13

Chương 1 CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ

1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Lê sơ

Xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV lâm vào tình trạng chính trị khủng hoảng sâu sắc: kinh tế nông nghiệp sa sút nghiêm trọng, xã hội bất ổn định, khởi nghĩa nông dân bùng nổ Bên cạnh đó, Đại Việt lại đứng trước nguy cơ ngoại xâm ngày càng đến gần Phía Nam, Chăm-pa thường xuyên cho quân đánh phá, phía Bắc nhà Minh lăm le chuẩn bị cho quân sang xâm lược

Trước tình hình đó, năm 1406 nhà Minh đem quân xâm lược Đại Việt, với

“binh cường, lực mạnh” nhà Minh nhanh chóng đánh bại nhà Hồ Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh của nhà Hồ bị thất bại, đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong hai mươi năm (1407-1427) Khởi nghĩa Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân đã cùng với nhân dân cả nước đánh bại quân Minh xâm lược Đất nước thanh bình, vương triều Lê sơ độc lập tự chủ được thiết lập Nhà Lê sơ thực hiện các chính sách nhằm khôi phục, ổn định và phát triển đất nước

Thời Lê sơ được tính từ khi Lê Lợi lên ngôi (1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê sơ đến giai đoạn thịnh đạt nhất

Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497) đạt tới đỉnh cao, trở thành nhà nước toàn trị, cực quyền Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộc thời Lý -Trần mang đậm tính Phật giáo sang nền quân chủ quan liêu nho giáo

Về hành chính, năm 1428, Lê Thái Tổ chia đất nước thành 5 đạo: Đông đạo, Tây đạo, Nam đạo, Bắc đạo, Hải tây Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển và tổng quản Hành khiển coi việc dân chính và tư pháp Tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo

Trang 14

Dưới đạo có các đơn vị nhỏ như trấn, lộ rồi đến phủ, huyện, châu, xã Tất cả

hệ thống chính quyền ấy đều tập trung quyền hành vào tay triều đình trung ương

Ở triều đình, đứng đầu là vua rồi đến các chức tả Tướng quốc và hữu Tướng quốc Tiếp theo là các chức Tam Tư, Tam Thiếu, Tam Thái giành riêng cho tôn thất và công thần Dưới là hai ngạch ban văn và ban võ Sau Đại Hành khiển là Thượng thư đứng đầu Bộ (có hai Bộ là Bộ Lại và Bộ Lễ) Bên cạnh đó có một số cơ quan chuyên trách như Khu Mật viện, Hàn Lâm viện, Ngũ Hình viện, Ngự Sử đài, Quốc Tử Giám, Quốc Sử viện, Nội thị sảnh, các quán, cục, ty

Ở địa phương, đứng đầu các đạo là các chức Hành khiển phụ trách mọi việc quân dân Sau đó là các chức An phủ sứ, Tri phủ, Tuyên phủ sứ, Chuyển vận sử đứng đầu các trấn, lộ, huyện Xã có xã quan

Nhìn chung, bộ máy Nhà nước thời Lê Lợi thời gian đầu gần như theo thời Trần Tuy nhiên nó đã là một bước tiến bộ về mức độ tập trung chính quyền Trải qua các đời Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, bộ máy nhà nước càng được củng cố hơn, theo hướng tập quyền, nhằm mục đích tập trung quyền hành vào tay nhà vua, nâng cao hơn nữa tính chuyên chế

Từ 1466-1471, Lê Thánh Tông đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn Đất nước được chia thành 13 đạo thừa tuyên với các cơ quan hành chính thống nhất

Hệ thống hành chính thời Lê Thánh Tông được tổ chức chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến địa phương Chủ trương của Lê Thánh Tông là đảm bảo

sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa

phương, "các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau,

lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, khiến có thói tốt làm hợp đạo đúng phép, không có lầm lỗi làm trái nghĩa phạm hình, để theo trọn các chí của thánh tổ thần tông ta, mà giữ được trị an lâu dài"[ 6; 482]

Các chức tể tướng, bộc xạ, tư đồ đều bị bãi bỏ Vua trực tiếp điều khiển 6 bộ: bộ binh, hình, lễ, lại, công, hộ Đứng đầu là thượng thư, giúp việc có 2 thị lang Đây là cơ quan chính phụ trách mọi công tác của triều đình Giúp việc

Trang 15

cho các bộ còn có 6 tự Để giám sát hoạt động của quan lại nói chung có ngự sử đài và 6 khoa tương ứng với 6 bộ Hàn lâm viện và Quốc tử giám được giữ nguyên như các triều đại trước Quá trình tuyển chọn quan lại qua nhiều đường khác nhau: tập ấm, tuyển cử , chủ yếu là khoa cử

Dưới thời vua Lê Thánh Tông đã tuyển chọn đội ngũ quan lại có năng lực làm việc trong bộ máy nhà nước Để tạo điều kiện cho quan lại trung thành với nhà vua, Lê Thánh Tông đặt quy chế lương bổng, ruộng lộc, phẩm tước rõ ràng thống nhất

Nếu so sánh với những triều vua thời Lý- Trần, hệ thống hành chính quốc gia thời Lê sơ, đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông đã thể hiện một bước tiến cơ bản

Có thể nói nó đã đạt đến đỉnh cao của mô hình Nhà nước quân chủ chuyên chế, quan liêu Vua tuy vẫn giữ những chức năng cơ bản của thời trước nhưng với quyền lực tập trung hơn, quyết đoán hơn Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quyền" Theo đó, nhà vua là "con trời", người giữ mệnh trời, thay trời cai trị dân Vua là người đứng đầu cả nước, đồng thời cũng là người được ban hành mọi chính sách, luật lệ của đất nước Hệ thống các cơ quan hành chính được xếp đặt rõ ràng, có phân công, phân nhiệm cụ thể Hệ thống hành chính thời Lê Thánh Tông thể hiện được tính tập trung từ dưới lên trên, từ địa phương đến trung ương, đề cao quyền hành toàn diện của người đứng đầu Nhà nước

Về luật pháp:

Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi – vua Lê Thái Tổ đã cùng với các đại thần bàn định một số luật lệ và lo đến việc lập pháp Nhà vua

hạ lệnh cho các Tướng hiệu và các quan rằng: "Từ xưa tới nay, trị nước phải có

pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp" [18; 45]

Trải qua các đời vua Thái Tông, Nhân Tông, đặc biệt dưới đời vua Lê Thánh Tông, vào năm 1483, vua sai các triều thần sưu tập các điều luật, pháp

Trang 16

lệnh đã ban bố trong các triều vua thời Lê sơ xây dựng thành bộ luật hoàn

chỉnh vì theo quan niệm của Thánh Tông "Pháp luật là phép công của nhà

nước, vua cùng quan đều phải theo"

Năm 1483, Lê Thánh Tông cho ban hành bộ luật thành văn hoàn chỉnh gồm 722 điều chia thành 16 chương gọi là "Quốc triều hình luật" hay "Luật

Hồng Đức" Về hình thức, đó là bộ luật hình sự với khung hình "suy, trượng,

đồ, lưu, tử" Thực chất, đây là bộ luật tổng hợp và có các điều khoản về điền

sản, dân sự, hôn nhân

Nội dung chủ yếu của Bộ luật là nhằm bảo vệ quyền thống trị của nhà nước trung ương tập quyền (những hành động chống đối triều đình, chống đối

lễ giáo phong kiến bị ghép vào "thập ác'')

Đặc biệt là nhiều điều luật trong "Điền sản" nhằm bảo vệ tô thuế của nhà nước, nghiêm cấm và trừng phạt những hành vi xâm lấn, chiếm đoạt ruộng đất công Luật Hồng Đức giành nhiều điều quy định chi tiết về việc sở hữu ruộng đất, nguyên tắc mua bán, cầm cố ruộng đất nhằm bảo vệ quyền tư hữu tài sản;

trước hết quyền tư hữu ruộng đất và bóc lột địa tô của giai cấp địa chủ Ví dụ:

Điều 341: Bán ruộng đất quan thụ và ruộng đất khẩu phân bị phạt 60 trượng, biếm 2 tư, người viết thay hoặc chứng kiến (tội cũng như thế) giảm một bậc; truy nguyên tiền và ruộng đất nộp cho nhà nước Bán đợ thì phạt 60 trượng, cho chuộc lại; Điều 342: Chiếm ruộng đất công quá hạn (bị phạt như sau: 1 mẫu bị 80 trượng, 10 mẫu bị biếm 10 tư, tội chỉ đến biếm 3 tư; truy tiền hoa lợi ruộng đất nộp cho nhà nước Nếu khẩn đất hoang thì không bị tội; Điều 343: Nhận càn ruộng đất (bị phạt như sau), 1 mẫu trở xuống bị biếm 1 tư, 5 mẫu trở xuống bị biếm 2 tư, 10 mẫu trở xuống bị biếm 3 tư, tội chỉ đến đồ khao đinh Lấn giới hạn (ruộng đất) bị biếm 1 tư và bồi thường tiền hoa lợi tăng thêm 1/10 Nếu là ruộng đất công (tội) gia thêm 1 bậc, bồi thường tiền hoa lợi tăng thêm 2/10 Người giám đương không biết cáo giác bị biếm 1 tư, mất quyền

giám đương [36; 191-192]

Chính sách quản lý ruộng đất của nhà Lê sơ đã được thực hiện quy củ, chặt chẽ, hiệu quả thông qua các điều luật trong "Điền sản chương", góp

Trang 17

phần bảo vệ lợi ích nhà nước phong kiến, đặc biệt là quyền sở hữu tối cao về ruộng đất

Bộ luật cũng bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến, đặc quyền của tầng lớp quý tộc; đồng thời củng cố trật tự xã hội phong kiến, bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc về đạo đức phong kiến Những tội "ác nghịch","bất hiếu","bất mục" đều bị ghép vào tội thập ác

Trong Quốc triều hình luật có những điều luật nhằm bài trừ nạn tham

nhũng, hối lộ, lãng phí của công, ức hiếp dân lành và chú trọng phần nào đến việc bảo vệ lợi ích của dân

Là sản phẩm của nhà nước phong kiến, ra đời sau cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Bộ luật Hồng Đức rất chú ý đến quốc gia Đại Việt thống nhất bao gồm nhiều thành phần các dân tộc khác nhau Riêng đối với người phụ nữ, luật Hồng Đức cũng có những điều bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ Về kinh

tế, con gái được hưởng quyền chia gia tài bình đẳng như con trai (Điều 387) Gia đình không có con trai, con gái trưởng được quyền thừa kế hương hỏa (Điều 309)

Về mặt hôn nhân, người con gái đã đính hôn nhưng chưa làm lễ thành hôn

mà người con trai bỗng mắc ác tật hoặc phạm tội phá tài sản thì người con gái được quyền từ hôn và trả của Những quy định nói trên đối với phụ nữ có tính chất tiến bộ, lần đầu tiên được đặt ra trong pháp luật thành văn ở nước ta

Về quân đội và quốc phòng

Thời Lê sơ, cùng với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền trung ương tập quyền, tổ chức quân đội cũng được xây dựng có quy củ Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, đầu năm 1429, Lê Lợi cho 25 vạn quân trở về làm ruộng, giữ lại 10 vạn quân thường trực [72; 154] Số quân còn lại này chia làm 6 quân ngự tiền đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đô và cung điện nhà vua, và quân 5 đạo đóng giữ ở các địa phương Trong số 10 vạn quân, Lê Lợi chia làm 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau, có 4 phiên về làm ruộng

và một phiên ở lại thường trực Mỗi khi có việc dụng binh, Nhà nước mới điều động toàn bộ quân đội và có khi bắt lính bổ sung thêm

Trang 18

Năm 1466, Lê Thánh Tông cải tổ lại hệ thống tổ chức quân đội Quân đội toàn quốc chia làm hai loại thân binh hay cấm binh bảo vệ kinh thành và ngoại binh trấn giữ các sứ

Quân đội ở các đơn vị cũng được quy định thống nhất, mỗi ti gồm 100 người, mỗi sở gồm 400 người, chia làm 20 đội, mỗi đội 30 người

Cũng như thời Lí - Trần, nhà Lê sơ thực hiện chính sách "Ngụ binh ư nông" cho quân lính thay phiên nhau về nhà làm ruộng Dưới thời Thánh Tông, chế độ tập luyện của quân đội được quy định chặt chẽ Tất cả các hạng quân đội đều được theo bậc cấp ruộng đất công xã ở xã thôn từ 8,5 đến 4 phần Các

võ quan được cấp lộc điền bổng lộc như các tầng lớp quan lại khác

Trên cơ sở một đội quân mạnh, nhà Lê tiến hành chính sách biên giới rất cương quyết Các nước láng giềng ở phía Tây và Nam như Ai Lao, Chân Lạp mỗi lần xâm lấn bờ cõi đều lập tức bị đánh tan

Để quản lý và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp dụng những biện pháp như trấn áp và phủ dụ Triều đình đã cử phần tử trung kiên nhất lên miền núi chiêu dân lập ấp đời đời cai trị địa phương Họ biến thành dòng họ "phiên thần" Chính sách này đã có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ biên cương tổ quốc, tạo ra sự giao thoa văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược, quá trình tộc người thông qua quan hệ hôn nhân có sự giao thoa

Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ khẩu, khảo sát địa hình, lập bản đồ hành chính quốc gia, đề cao tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân văn hóa Nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và chính sách ngoại giao cương quyết, thời Lê sơ cương giới lãnh thổ Tổ quốc được gìn giữ, bảo vệ Đại Việt trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á

Trải qua các triều đại Đinh -Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Lê sơ, chế độ quân chủ chuyên chế từng bước được hoàn thiện cùng với các thiết chế chính trị, kinh tế-

xã hội Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497), với cuộc cải cách hành chính lớn, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phong kiến đạt trình

Trang 19

độ tiên tiến đồng thời cũng khẳng định vai trò thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến một cách đầy đủ

1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn

Tổ chức chính quyền cấp lộ, phủ, châu, huyện, xã

Ngay từ năm 1427, khi còn bao vây Đông Đô, Lê Lợi đã bước đầu xây dựng bộ máy chính quyền, chia các lộ thành 4 đạo Đất nước được giải phóng, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho nhà Lê là xây dựng bộ máy chính quyền mới từ trung ương xuống địa phương Lãnh thổ Đại Việt mới được mở rộng bao gồm miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ giáp đến đèo Hải Vân Năm 1428, Lê Lợi lại chia cả nước thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa), đứng đầu mỗi đạo

có chức Hành khiển coi việc dân chính và tư pháp, ngoài ra có chức tổng quản

chỉ huy các vệ quân trong đạo Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Triều Lê

lúc mới lên, theo quan chế của triều Trần, chia đặt chức Đại Hành khiển và Hành khiển 5 đạo, cho chia giữ các việc sổ sách, kiện tụng về quân dân, những chức ấy đều ở ban văn, ngang với Tể tướng” Dưới đạo có các đơn vị nhỏ như

trấn, lộ rồi đến phủ, huyện, châu, xã Đứng đầu các đơn vị hành chính trên gồm: Các An phủ sứ, Tri phủ, Tuyên phủ sứ, Chuyển vận sử đứng đầu các trấn,

lộ, huyện Xã có xã quan Tất cả hệ thống chính quyền ấy đều tập trung quyền hành vào tay triều đình trung ương

Nhìn chung bộ máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương thời vua

Lê Thái Tổ vẫn chủ yếu dựa vào quy chế tổ chức của triều Trần, tuy nhiên nó

đã là một bước tiến về mức độ tập trung chính quyền Đến đời vua Lê Thánh Tông tổ chức hành chính có nhiều thay đổi Theo đó ở địa phương, Lê Thánh Tông bãi bỏ các đạo cũ, chia cả nước làm 13 đạo thừa tuyên và gồm 52 phủ,

178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường với các cơ quan hành chính thống nhất 13

đạo thừa tuyên thời kì này cụ thể như sau:

Trang 20

Thiên Trường/Sơn Nam

Vốn có tên là thừa tuyên Thiên Trường, năm 1469 đổi thành thừa tuyên Sơn Nam Năm 1490 đổi làm xứ Sơn Nam, sang đời Lê Uy Mục lại gọi là trấn Sơn Nam1

Bắc Giang/Kinh Bắc: Thời Lê Thái Tông vốn là 2 đạo Bắc Giang

thượng và Bắc Giang hạ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Bắc Giang, năm 1469 đổi

là thừa tuyên Kinh Bắc, thời Lê Tương Dực đổi là trấn Kinh Bắc2

là huyện Phú Xuyên, Hà Nội)

Phủ Ứng Thiên, gồm có các huyện: Thanh Oai (nay là huyện Thanh Oai và một phần quận Hà Đông,

Hà Nội), Chương Đức (tức huyện Chương Mỹ và một phần quận Hà Đông, Hà Nội), Sơn Minh (tức huyện Ứng Hòa, Hà Tây cũ), Hoài An (phần nam huyện Ứng Hòa và một phần huyện Mỹ Đức, Hà Nội)

Phủ Lý Nhân: tương đương tỉnh Hà Nam hiện nay; gồm các huyện: Nam Xang (huyện Lý Nhân và một phần thành phố Phủ Lý, Hà Nam hiện nay), Kim Bảng (Kim Bảng hiện nay), Duy Tiên (Duy Tiên hiện nay), Thanh Liêm (Thanh Liêm và một phần thành phố Phủ Lý hiện nay), Bình Lục (Bình Lục hiện nay)

Phủ Khoái Châu: gồm các huyện Đông Yên (nay là huyện Khoái Châu thuộc Hưng Yên), Kim Động (huyện Kim Động và một phần thành phố Hưng Yên hiện nay), Tiên Lữ (huyện Tiên Lữ và một phần thành phố Hưng Yên hiện nay), Thiên Thi (Ân Thi hiện nay), Phù Dung (Phù Cừ hiện nay)

Phủ Thiên Trường (một phần Nam Định hiện nay): gồm các huyện Tây Chân (Nam Trực, Trực Ninh

và một phần thành phố Nam Định hiện nay), Giao Thủy (Giao Thủy và Xuân Trường hiện nay), Mỹ Lộc (huyện Mỹ Lộc và một phần thành phố Nam Định hiện nay), Thượng Nguyên (nam Mỹ Lộc hiện nay)

Phủ Nghĩa Hưng (tức phủ Kiến Hưng thời Trần, một phần Nam Định hiện nay): gồm các huyện Đại

An (Nghĩa Hưng hiện nay), Vọng Doanh (nam Ý Yên hiện nay), Thiên Bản (Vụ Bản hiện nay), Ý Yên (bắc Ý Yên hiện nay)

Phủ Thái Bình (một phần tỉnh Thái Bình hiện nay): gồm các huyện Thụy Anh (phía bắc huyện Thái Thụy hiện nay), Phụ Dực (phía đông huyện Quỳnh Phụ hiện nay), Quỳnh Côi (phía tây huyện Quỳnh Phụ hiện nay), Đông Quan (một phần huyện Đông Hưng hiện nay)

Phủ Tân Hưng (Long Hưng thời Trần, phía tây bắc Thái Bình hiện nay): gồm các huyện: Ngự Thiên (một phần huyện Hưng Hà hiện nay), Duyên Hà (một phần huyện Hưng Hà hiện nay), Thần Khê (một phần huyện Đông Hưng và thành phố Thái Bình hiện nay), Thanh Lan (phía nam huyện Thái Thụy hiện nay)

Phủ Kiến Xương (nam Thái Bình hiện nay) gồm các huyện: Thư Trì (một phần huyện Vũ Thư và thành phố Thái Bình hiện nay), Vũ Tiên (một phần các huyện Vũ Thư và Kiến Xương hiện nay), Chân Định (một phần huyện Kiến Xương hiện nay)

Phủ Trường Yên (đông Ninh Bình hiện nay) gồm các huyện: Gia Viễn (phía đông Gia Viễn, huyện Hoa Lư và thành phố Ninh Bình hiện nay), Yên Mô (huyện Yên Mô và thị xã Tam Điệp hiện nay), Yên Khang (Yên Khánh hiện nay)

Phủ Thiên Quan (tây Ninh Bình hiện nay) gồm các huyện Phụng Hóa (Nho Quan hiện nay), Yên Hóa (tây Gia Viễn hiện nay), Lạc Thổ (các huyện Lạc Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy và Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình hiện nay)

Phủ Từ Sơn gồm các huyện Đông Ngàn (sau là huyện Từ Sơn, nay là thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và một phần các huyện Đông Anh, Gia Lâm của Hà Nội và huyện Kim Anh của tỉnh Phúc Yên cũ, tức là một phần huyện Sóc Sơn, Hà Nội hiện nay), Yên Phong (huyện Yên Phong và một phần thành phố Bắc Ninh hiện nay), Tiên Du (huyện Tiên Du, một phần thành phố Bắc Ninh và một phần huyện Gia Lâm hiện nay), Võ Giàng (một phần huyện Quế Võ và một phần thành phố Bắc Ninh hiện nay), Quế Dương (một phần Quế Võ hiện nay)

Phủ Thuận An gồm các huyện: Gia Lâm (quận Long Biên và một phần huyện Gia Lâm, Hà Nội hiện nay), Siêu Loại (huyện Thuận Thành hiện nay), Văn Giang (huyện Văn Giang, Hưng Yên và xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, Hà Nội hiện nay), Gia Định (huyện Gia Bình hiện nay)

Trang 21

Quốc Oai/Sơn Tây: Vốn là lộ Quốc Oai thượng, trung và hạ thời Lê Thái

Tổ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Quốc Oai, năm 1469 đổi là thừa tuyên Sơn Tây, năm 1490 đổi là xứ Sơn Tây, thời Lê Tương Dực đổi là trấn Sơn Tây3

Nam Sách/Hải Dương: Vốn là lộ Nam Sách thượng và Nam Sách hạ,

năm 1466 gộp vào là thừa tuyên Nam Sách, năm 1469 đổi là thừa tuyên Hải Dương4

An Bang: Thời Lê Thái Tổ là An Bang thuộc Đông Đạo, từ năm 1466 là

thừa tuyên An Bang, năm 1490 gọi là xứ An Bang, thời Lê Tương Dực đổi là trấn An Bang5

Phủ Bắc Hà gồm các huyện: Tân Phúc (Đa Phúc cũ, một phần Sóc Sơn hiện nay), Kim Hoa (một phần Sóc Sơn hiện nay), Hiệp Hòa (Hiệp Hòa hiện nay), Yên Việt (Việt Yên hiện nay)

Phủ Lạng Giang gồm các huyện Phượng Nhãn (một phần Yên Dũng hiện nay), Hữu Lũng (huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn hiện nay), Bảo Lộc (Lạng Giang hiện nay), Yên Thế (Yên Thế và Tân Yên hiện nay), Lục Ngạn (Lục Ngạn và Lục Nam hiện nay)

3

Gồm các phủ:

Phủ Quốc Oai gồm các huyện: Từ Liêm (quận Cầu Giấy, một phần quận Tây Hồ, một phần quận Thanh Xuân và một phần huyện Từ Liêm hiện nay), Thạch Thất (Thạch Thất hiện nay), Đan Phượng (huyện Đan Phượng và một phần huyện Từ Liêm hiện nay), Mỹ Lương (Mỹ Đức, Hà Nội và Lương Sơn, Hòa Bình hiện nay), Phúc Lộc (huyện Phúc Thọ và một phần thị xã Sơn Tây hiện nay)

Phủ Tam Đái gồm có các huyện: Yên Lãng (thị xã Phúc Yên hiện nay), Yên Lạc (Yên Lạc hiện nay), Bạch Hạc (Vĩnh Tường hiện nay), Lập Thạch (các huyện Lập Thạch và Sông Lô hiện nay), Phù Ninh (huyện Phù Ninh, một phần thị xã Phú Thọ và một phần thành phố Việt Trì hiện nay)

Phủ Thao Giang gồm các huyện Sơn Vi (Lâm Thao hiện nay), Thanh Ba (Thanh Ba hiện nay), Hoa Khê (Cẩm Khê hiện nay), Hạ Hòa (Hạ Hòa hiện nay), Tam Nông (Tam Nông hiện nay)

Phủ Đoan Hùng gồm các huyện Đông Lan (Lê Hiến Tông đổi là Đông Quan, tương đương khu vực ngã ba sông Lô và sông Chảy hiện nay), Tây Quan (hữu ngạn sông Lô cạnh Phù Ninh hiện nay), Sơn Dương (Sơn Dương thuộc Tuyên Quang hiện nay), Đương Đạo (đông bắc Sơn Dương hiện nay), Tam Dương (các huyện Tam Dương và Tam Đảo, Vĩnh Phúc hiện nay)

Phủ Quảng Oai gồm các huyện Ma Nghĩa (đến Lê Chiêu Tông đổi là Minh Nghĩa, tức một phần thị xã Sơn Tây và một phần Ba Vì, Hà Nội hiện nay), Tân Phong (một phần Ba Vì hiện nay)

Phủ Thượng Hồng gồm các huyện: Đường Hào (Mỹ Hào, Hưng Yên hiện nay), Đường Yên (Bình Giang, Hải Dương hiện nay), Cẩm Giàng (huyện Cẩm Giàng và một phần thành phố Hải Dương hiện nay), Thanh Miện (Thanh Miện hiện nay), Tứ Kỳ (Tứ Kỳ hiện nay), Vĩnh Lại (Vĩnh Bảo, Hải Phòng hiện nay)

Phủ Nam Sách gồm các huyện: Thanh Lâm (huyện Nam Sách và một phần thành phố Hải Dương, Hải Dương hiện nay), Chí Linh (Chí Linh hiện nay), Thanh Hà (huyện Thanh Hà và một phần thành phố Hải Dương hiện nay), Tiên Minh (Tiên Lãng, Hải Phòng hiện nay)

Phủ Kinh Môn gồm các huyện: Giáp Sơn (Kinh Môn hiện nay), Đông Triều (huyện Đông Triều và thành phố Uông Bí hiện nay), An Lão (An Lão hiện nay), Nghi Dương (Kiến Thụy hiện nay), Kim Thành (Kim Thành hiện nay), Thủy Đường (Thủy Nguyên hiện nay), An Dương (huyện An Dương và quận Hải An hiện nay)

Trang 22

Lạng Sơn: Thời Lê Thái Tổ thuộc Bắc Đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Lạng

Sơn, năm 1490 đổi là xứ Lạng Sơn, thời Lê Tương Dực đổi là trấn Lạng Sơn6

Thái Nguyên/Ninh Sóc: Thời Lê Thái Tổ thuộc Bắc đạo, năm 1466 đặt

thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 đổi là thừa tuyên Ninh Sóc7

Tuyên Quang: Thời Lê Thái Tổ thuộc Tây đạo, năm 1466 đặt thừa

tuyên Tuyên Quang, năm 1490 đổi là xứ Tuyên Quang, thời Lê Tương Dực đổi

là trấn Minh Thuận8

Hƣng Hóa: Thời Lê Thái Tổ là 2 lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc Tây

đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Hưng Hóa, năm 1490 đổi là xứ Hưng Hóa, thời

Lê Tương Dực đổi là trấn Hưng Hóa9

Thanh Hóa: Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, thời Lê Thái Tông

gồm 6 phủ Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Trường Yên, Thiên

Phủ Phú Bình gồm các huyện Phổ Yên (Phổ Yên hiện nay), Đại Từ (Đại Từ hiện nay), Tư Nông (Phú Bình hiện nay), Bình Nguyên (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc hiện nay), Đồng Hỷ (Đồng Hỷ hiện nay), Văn Lãng (Văn Lãng, Lạng Sơn hiện nay), Võ Nhai (Võ Nhai hiện nay) và châu Định Hóa (huyện Định Hóa hiện nay)

Phủ Thông Hóa (tỉnh Bắc Kạn hiện nay) gồm huyện Cảm Hóa (Ngân Sơn và Na Rì hiện nay) và châu Bạch Thông (thị xã Bắc Kạn, các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn và Chợ Mới hiện nay)

Phủ Cao Bình, vốn là phủ Bắc Bình (tỉnh Cao Bằng hiện nay) gồm các châu: Thạch Lâm (Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An hiện nay), Quảng Uyên (Quảng Uyên và Phục Hòa hiện nay), Thượng Lang (Trà Lĩnh và Trùng Khánh hiện nay), Hạ Lang (Hạ Lang hiện nay)

Vị Xuyên (Vị Xuyên và Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang hiện nay), Thu Vật (Yên Bình thuộc Yên Bái hiện nay), Đại Man (Chiêm Hóa hiện nay), Bảo Lạc (Bảo Lạc thuộc Cao Bằng hiện nay)

Phủ Gia Hưng gồm các huyện: Thanh Nguyên (Tân Sơn, Thanh Sơn và Thanh Thủy thuộc Phú Thọ hiện nay), Phù Hoa (Phù Yên thuộc Sơn La hiện nay), Mai Châu (nam Mai Châu thuộc Hòa Bình hiện nay), Mộc Châu (phần còn lại của Mai Châu thuộc Hòa Bình và Mộc Châu thuộc Sơn La hiện nay), Việt Châu (Yên Châu và Bắc Yên hiện nay), Thuận Châu (Thuận Châu hiện nay)

Phủ Quy Hóa gồm các huyện: Văn Chấn (Văn Chấn thuộc Yên Bái hiện nay), Yên Lập (Yên Lập thuộc Phú Thọ hiện nay), Trấn Yên (Trấn Yên thuộc Yên Bái hiện nay), Văn Bàn (Văn Bàn thuộc Lào Cai hiện nay), Thủy Vĩ (thành phố Lào Cai hiện nay)

Phủ An Tây gồm các châu: Chiêu Tấn (thị xã Lai Châu, các huyện Tam Đường và Phong Thổ hiện nay), Quỳnh Nhai (Quỳnh Nhai thuộc Sơn La hiện nay), Lai (thị xã Mường Lay và huyện Mường Tè hiện nay), Luân (giữa Quỳnh Nhai và Tuần Giáo hiện nay)

Trang 23

Quan; năm 1466 đặt thừa tuyên Thanh Hóa; năm 1490 đổi là xứ Thanh Hóa, Lê Tương Dực đổi là trấn Thanh Hóa10

Nghệ An: Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên

Nghệ An, năm 1490 đổi là xứ Nghệ An, Lê Tương Dực đổi làm trấn Nghệ An Tương đương tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay11

Thuận Hóa: Thời Lê Thái Tổ là hai lộ Tân Bình và Thuận Hóa thuộc

đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên Thuận Hóa, năm 1490 đổi là xứ Thuận Hóa, Lê Tương Dực đổi là trấn Thuận Hóa12

Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa) gồm các huyện Thụy Nguyên (từng mang tên Ứng Thụy và Lương Giang, tức phía Bắc huyện Thiệu Hóa, phía Bắc huyện Thọ Xuân và phần lớn huyện Ngọc Lặc hiện nay), Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc hiện nay), Đông Sơn (huyện Đông Sơn và một phần huyện Thiệu Hóa, một phần thành phố Thanh Hóa hiện nay), Lôi Dương (một phần các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Thiệu Hóa và Thường Xuân hiện nay), Yên Định (Yên Định hiện nay), Cẩm Thủy, Thạch Thành (một phần Thạch Thành hiện nay), Bình Giang (tây bắc Thạch Thành hiện nay)

Phủ Hà Trung có các huyện: Hoằng Hóa (huyện Hoằng Hóa và một phần thành phố Thanh Hóa hiện nay), Thuần Hựu (Hậu Lộc hiện nay), Tống Sơn (huyện Hà Trung và thị xã Bỉm Sơn hiện nay)

Phủ Tĩnh Gia có các huyện: Nông Cống (các huyện Như Xuân, Như Thanh, phần lớn huyện Nông Cống và một phần huyện Triệu Sơn hiện nay), Ngọc Sơn (huyện Tĩnh Gia và một phần huyện Nông Cống hiện nay), Quảng Xương (huyện Quảng Xương, thị xã Sầm Sơn và một phần thành phố Thanh Hóa hiện nay)

Phủ Thanh Đô có huyện Thọ Xuân (phần lớn huyện Thường Xuân hiện nay, khác với huyện Thọ Xuân hiện tại[13]) và các châu: Quan Gia (gần biên giới Lào hiện nay), Tầm (tây bắc Quan Hóa hiện nay), Lang Chánh (Lang Chánh hiện nay), Sầm (Sầm Nưa thuộc Lào hiện nay)

Phủ Đức Quang gồm các huyện Thiên Lộc (huyện Can Lộc, một phần huyện Lộc Hà và một phần thị

xã Hồng Lĩnh hiện nay), Chân Phúc (huyện Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và một phần thành phố Vinh hiện nay), Thanh Chương (Thanh Chương hiện nay), Hương Sơn (các huyện Hương Sơn, Hương Khê và một phần huyện

Vũ Quang hiện nay), Nghi Xuân (Nghi Xuân hiện nay)

Phủ Hà Hoa gồm các huyện Thạch Hà (thành phố Hà Tĩnh, huyện Thạch Hà và một phần huyện Lộc

Hà hiện nay), Kỳ Hoa (Kỳ Anh và Cẩm Xuyên hiện nay)

Phủ Quỳ Châu (huyện Quỳ Châu hiện nay), gồm các huyện Thúy Vân và Trung Sơn

Phủ Trà Lân gồm 4 huyện Tương Dương (Tương Dương, Nghệ An hiện nay), Kỳ Sơn (Kỳ Sơn, Nghệ

An hiện nay), Vĩnh Khang (một phần Tương Dương, Nghệ An hiện nay), Hội Nguyên (tả ngạn sông Lam từ Thanh Chương đến cửa Rào)

Phủ Ngọc Ma gồm có châu Trịnh Cao (châu gồm 12 động) thuộc Lào hiện nay

Phủ Lâm An chỉ có 1 châu Quỳ Hợp gồm 12 động và 11 sách, vốn là đất Bồn Man nay khoảng huyện Hương Khê Hà Tĩnh và huyện Nakai Khăm Muộn của Lào, đầu nguồn của sông Ngàn Sâu

Phủ Trấn Biên: thuộc đất Lào hiện nay

Phủ Trấn Ninh: là đất Bồn Man, nhập vào Đại Việt từ thời Lê Thánh Tông, gồm 7 huyện: Quang Vinh, Minh Quảng, Cảnh Thuần, Kim Sơn Thanh Vị, Châu Lang, Trung Thuận, đều thuộc Lào hiện nay

Trang 24

Quảng Nam: Năm 1471, vùng đất phía Nam Thuận Hóa mới chiếm được

từ Chiêm Thành được đặt thành đạo thừa tuyên thứ 13, gọi là Quảng Nam13

Các chức quan đứng đầu 13 đạo thừa tuyên có Tam ti (chức Hành khiển trước đó bị bãi bỏ)

+ Đô Tổng binh sứ ti (gọi tắt là Đô ty) phụ trách quân đội và phòng vệ địa phương Đứng đầu là Đô tổng binh sứ

+ Thừa tuyên sứ ti (Thừa ty - về sau dưới thời Lê mạt đổi thành Thừa chính sứ ty) phụ trách các công việc dân sự từ hộ tịch, thuế khóa, kiện tụng sản xuất, nhân sự cho đến phong hóa Đứng đầu là chức Thừa tuyên sứ, hàm tòng tam phẩm (kém Đô tổng binh sứ - đứng đầu Đô ty 1 bậc) giúp việc có các chức tham chính, tham nghị, chủ sự, thôi quan và từ 3 - 10 nha lại

+ Hiến sát sứ ti (Hiến ty) chuyên giữ việc tâu bày, đàn hoặc khám đoán,

xét hỏi, hội đồng kiểm soát, khảo khóa, tuần hành, nghĩa là “giữ việc đàn hoặc

các nha môn Đô ty, Thừa ty, phủ huyện, châu ở bản xứ và cùng Thừa ty khảo xét công các quan viên trong hạt”, “lại xem các huyện trong bản hạt hoặc có tai ương, lụt hạn và tình cảnh xã hội nào bị phiêu tán, sầu khổ, cùng là các nha môn trong hạt có kẻ nào tham ô, trái phép…Hằng năm phải đi tuần trong hạt,

dò hỏi cho được sự thật”[6; 30,44]

Ngoài ra còn có giám sát ngự sử 13 đạo, các cơ quan hà đê, khuyến nông

ti chuyên chăm lo đê điều và sản xuất nông nghiệp

Phủ Tân Bình: gồm các huyện Kiến Lộc (Quảng Ninh, Quảng Bình hiện nay), Lệ Thủy (Lệ Thủy hiện nay), Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc Quảng Trị hiện nay) và châu Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa tỉnh Quảng Bình hiện nay)

Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương (Triệu Phong hiện nay), Hải Lăng (Hải Lăng hiện nay), Đan Điền (Quảng Điền và một phần Phong Điền hiện nay), Kim Trà (Hương Trà và một phần Phong Điền hiện nay), Tư Vang (Hương Thủy và Phú Lộc hiện nay), Điện Bàn (Điện Bàn thuộc Quảng Nam hiện nay)

Châu Tỉnh An thuộc Lào hiện nay

Trang 25

Ba ty có nhiệm vụ và quyền hạn riêng, các chức Đô tổng binh sứ hay Thừa tuyên sứ chỉ có quyền đối với ty của mình và trực tiếp chịu trách nhiệm trước vua và cán bộ ở trung ương, không có một chức quan đứng đầu đạo thừa tuyên chỉ đạo mọi việc

Dưới đạo là phủ Phủ là cấp trung gian giữa thừa tuyên và huyện châu Đứng đầu là chức tri phủ, hàm tòng lục phẩm Nhiệm vụ của tri phủ là tra xét báo cáo lên hai ty Thừa, Hiến Giúp việc tri phủ có 2- 5 nha lại Huyện (ở miền xuôi), châu (ở miền núi) là cấp làm việc trực tiếp đối với xã thôn “gần nhau” đứng đầu là Tri huyện hay Tri châu, hàm tòng thất phẩm Giúp việc có Huyện thừa và từ 2- 5 nha lại Nhiệm vụ của Tri huyện là tra khám các vụ kiện về ly hôn, điền thổ, thu thuế khóa, tuần hành trong hạt, vỗ về khuyên bảo, giúp đỡ nhân dân trong sinh hoạt sản xuất, cùng các chức trong Đô ty nã bắt trộm cướp, trông coi phong hóa và thi tuyển học sinh khi có kì thi Hương Nhiệm vụ của Tri châu cũng tương tự Ngoài ra các quan Phủ, huyện còn chịu trách nhiệm chọn đặt các xã trưởng Trong trường hợp dân đã bầu trước rồi thì quan phủ, huyện phải xem xét lại để giữ hay bỏ chức xã trưởng

Ở xã chức xã quan được đổi gọi là xã trưởng Đơn vị hành chính xã cũng được nhà nước quy định chặt chẽ cụ thể: Xã lớn gồm 500 hộ trở lên có 5 xã trưởng; xã vừa 300 hộ trở lên có 4 xã trưởng; xã nhỏ gồm 100 hộ trở lên có 2

xã trưởng Những nguyên tắc và thể lệ lập xã mới, bầu cử xã trưởng cũng được quy định rõ ràng Năm 1462, theo sắc chỉ của Lê Thánh Tông thì tiêu chuẩn của

người được bầu làm xã trưởng như sau: “ Lấy hạng giám sinh, sinh đồ tuổi cao

nhưng học nghiệp không tiến bộ, hoặc xét các con em nhà hiền lành, tuổi từ 30 trở lên, không vướng việc quân, những hạng đó người nào biết chữ, có hạnh kiểm nên làm xã trưởng của xã đấy để tiện làm việc”[18; 430] Ngoài ra để

tránh bè phái, sự nể nang trong công việc nhà nước có lệnh cho châu huyện

chọn đặt xã trưởng: “nếu là con cô con cậu, đôi con dì với nhau, con trai con

gái cùng gả bán cho nhau làm thông gia, đều không được cùng làm xã trưởng trong một xã Nếu đã làm xã trưởng rồi, nên chọn người nào có thể làm được việc thì lưu lại, còn thì tâu lên để cho về hạng cũ”[18; 430]

Trang 26

Có thể nói việc bầu xã trưởng đã được vua Lê Thánh Tông quy định rất chặt chẽ, thể hiện vai trò của nhà nước cũng như mối quan hệ gắn kết giữa trung ương và địa phương trong thời kì này

Ở miền thượng du các bản mường vẫn được giao cho tù trưởng cai quản như

cũ Riêng mạn biên giới phía Bắc, nhà Lê cử thêm một số tướng giỏi người miền xuôi lên trấn trị và biến thành “phiên thần” đời đời nối nhau cai quản địa phương

Sử sách không chép rõ cách thức bầu xã trưởng.Việc bầu xã trưởng xong phải báo lên quan trên huyện, châu Các quan trên sẽ kiểm tra lại, nếu ở đâu bầu sai người thì sẽ bị bãi miễn Việc bầu xã trưởng thể hiện tính dân chủ đẳng cấp thời Lê sơ

Về chức trách nhiệm vụ của xã trưởng bao gồm:

- Nghĩa vụ thu thuế:

Chế độ ruộng đất thời Lê sơ phức tạp, có nhiều loại thuộc quyền sử dụng khác nhau Hằng năm xã trưởng có nhiệm vụ thu đủ số thóc thuế ở ruộng công thuộc phạm vi xã quản lý nộp vào kho của triều đình Nếu xã trưởng không thu

đủ theo kỳ hạn hoặc biển thủ sẽ bị xử tội lưu đày Những năm hạn hán, mất mùa, xã trưởng phải trình báo lên trên huyện, phủ để xin miễn giảm thuế cho dân Nếu xã trưởng để thiếu số thu trong xã thì theo quy định, cả xã trưởng và người dân thiếu thuế phải truy thu: cứ mỗi suất người dân thiếu phải nộp 7 phần, xã trưởng nộp 3 phần Các xã trưởng cố ý thu cao hơn quy định để tư túi

mà bị phát hiện sẽ bị phạt và phải trả lại cho dân

- Giữ gìn an ninh trật tự:

Xã trưởng có trách nhiệm về an ninh trong xã Xung quanh làng cho trồng che gai để phòng trộm cướp Các trai đinh trong làng được tổ chức thành từng đội với vũ trang thô sơ để thay nhau đi tuần phòng, dưới sự chỉ huy của

Xã sử hoặc xã tư

Dân làng xã hoặc xã bên cạnh nghe hiệu lệnh có trôm cướp phải đến hợp lực đánh cướp Nếu dân làng hoặc xã bên cạnh trốn tránh không đến cứu thì phạt theo luật lệ Với xã trưởng thiếu trách nhiệm cũng bị trị tội theo luật, chỉ trường hợp cướp quá mạnh thì không truy cứu

Trang 27

Người có công đánh cướp được thưởng theo lệ làng, người bị thương được dân làng trích tiền chạy chữa; người bị chết được chôn cất chu đáo

Tại các chùa, quán và nhà dân có sư, đạo sĩ hay người lạ đến trú ngụ trên

5 ngày phải khai báo với xã trưởng; nếu không khai báo sẽ bị biếm 1 tư; người trú ngụ quá 3 tháng mà xã trưởng che giấu thì bị tội biếm chức hoặc tội đồ Đầy

tớ nhà quyền thế cậy thế ăn hiếp dân lành mà xã trưởng bỏ qua không báo quan trên sẽ bị biếm 1 tư

Tại đường làng ngõ xóm, đầu đường xó chợ có người đau ốm không ai thăm nuôi thì xã trưởng phải dựng lều cho họ ở và chăm sóc; chẳng may người

ốm bị chết thì phải chôn cất và trình báo lên trên Nếu làm trái lệnh, xã trưởng

sẽ bị bãi chức

- Chọn lính:

Xã trưởng phải chọn người đủ tiêu chuẩn sức khoẻ đăng lính và không thuộc diện các gia đình quá nghèo khó Nếu thiên vị bỏ người hạng nhất, hạng nhì mà đưa người kém vào quân đội thì bị xử tội: đưa sai 1 người vào lính bị tội

đồ làm khao đinh; đưa sai từ 2-5 người bị tội lưu đày, đưa sai 6 - 9 người thì bị thắt cổ

Với người đào ngũ về làng, xã trưởng có trách nhiệm bắt lại đưa trở lại quân ngũ phục vụ cho hết kỳ hạn hoặc bắt người khác thế chỗ Nếu xã trưởng làm hết chức phận mà tráng đinh vẫn không tuân thủ thì báo quan trên lấy pháp luật trị tội Xã trưởng thấy có lính trốn mà không bắt thì bị biếm hoặc đi đày

- Chọn thí sinh:

Để đảm bảo đúng nhân tài có thực học tham gia kỳ thi Hương (kỳ đầu tiên trong 3 kỳ thi Hương, Hội và Đình), triều đình giao cho Xã trưởng có trách nhiệm làm giấy bảo lãnh cho số học trò trong xã đi thi Sự bảo lãnh này gồm những mặt: đức hạnh, có học vấn Những người bất hiếu, bất kính, cãi lộn với xóm làng, loạn luân, điêu toa… tuy có học vấn cũng không được đi thi Ngoài

ra còn có lệnh cấm nhà phường chèo, hát xướng, ngụy quan, phản nghịch thì bản thân và con cháu không được đi thi

Trang 28

Triều đình quy định số thi sinh tối đa cho mỗi xã: đại xã cử 20 người, trung xã cử 15 người, tiểu xã cử 10 người Nếu thí sinh khai man hoặc nhờ người thi hộ, Xã trưởng biết không khai báo thì cả hai cùng bị trị tội

Đối với các quan lại cấp lộ, phủ, huyện thì đều có sự giám sát của các

quan lại cấp trên một cách chặt chẽ Sách Đại Việt sử kí toàn thư có ghi: “ Về

công trạng của các quan ở lộ, trấn, huyện đều giao cho Hành khiển bản đạo khảo xét, của tướng hiệu các trấn thì giao cho Tổng quản, Tuyên úy khảo xét, các quan ở sảnh, viện, cục, thì giao cho Thiếu bảo, hữu bật khảo xét, các quan

ở tả hữu ban, nội điện thì giao cho Đô áp nha, Hữu ban, Nội mật viện khảo xét Đều chia ra làm ba bậc, cần phải công minh đúng đắn, không được thiên tư điên đảo” [18; 131]

Như vậy có thể thấy ở địa phương, Lê Thánh Tông cũng đặt các cơ quan chuyên trách, không giao cho một vài người cai quản như trước Chủ trương của Lê Thánh Tông là đảm bảo sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống

Từ trung ương xuống địa phương, “các chức lớn nhỏ cùng rằng buộc nhau,

nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau, lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, khiến có thói tốt làm hợp đạo đúng phép, không

có lầm lỗi làm trái nghĩa phạm hình, để theo trọn cái chí của thánh tổ thần tông ta, mà giữ được trị an lâu dài”[6; 482]

Theo thống kê năm 1471 tổng số quan lại là 5370 người trong đó quan địa phương là 2615 người Các quan lại từ trung ương xuống địa phương đều phải trải qua thi cử và đỗ đạt Các quý tộc họ Lê muốn làm quan cũng phải như vậy Trừ xã trưởng cấp xã thì do dân tiến cử, nhưng phải đủ tiêu chuẩn nhất định của nhà nước

Nhà Lê từ thời Lê Thái Tổ không phân phong con cháu đi trấn trị các nơi, không giao cho họ các chức vụ quan trọng trong triều nếu họ không có tài, học hành kém, không cho phép họ được thành lập điền trang Chính quyền thời

Lê sơ như vậy vừa mang tính quan liêu, vừa mang tính chuyên chế cao độ

Hệ thống hành chính địa phương thời Lê Thánh Tông bao quát các hoạt động chính của nhà nước, vừa xác định mối quan hệ với trung ương vừa đảm

Trang 29

bảo mối quan hệ với nhân dân Sự thống thuộc từ trên xuống là rõ ràng, phủ quản các huyện, huyện quản các xã nhưng phủ lại chịu trách nhiệm trước 3 ty Mỗi cấp như vậy đều có nhiệm vụ riêng, không dẫm đạp lên nhau, số lượng nhân viên các nha rất gọn nhẹ Dĩ nhiên điều này rất phù hợp với thực tế xã hội Đại Việt đương thời cũng như khả năng nuôi dưỡng của đất nước Đây là một

lý do cực kì quan trọng khiến cho nó được duy trì suốt trong các thế kỉ XVI- XVIII sau này

Nhà Lê đặc biệt quan tâm đến việc thanh tra các quan lại của mình, Hiến sát sứ ty chuyên làm việc thanh tra này (vua Lê đã ban hành bản quy định nhiệm vụ 32 điêu) Trong hoàn cảnh của một xã hội kinh tế thị trường đang mở rộng, đồng tiền đang chi phối mọi hoạt động, sự thành lập một cơ quan thanh tra như vậy là cần thiết Không dừng lại ở đây, Lê Thánh Tông còn đặt 13 cai đạo giám sát ngự sử, phụ trách 13 đạo thừa tuyên theo dõi, giúp đỡ hoạt động của Hiến ty

Hạn chế của hệ thống hành chính địa phương thời Lê sơ là không đặt một chức quan đứng đầu, có thẩm quyền quyết định một số vụ việc đột xuất ở địa phương Điều này rất cần, đặc biệt khi xã hội hay lắm việc rối loạn Chính

vì vậy mà các triều đại sau đã đưa chức Đô tổng binh sứ lên thành Trấn thủ chịu trách nhiệm chính về mọi hoạt động chính của thừa tuyên Dẫu vậy thì hệ thống hành chính địa phương thời Lê sơ vẫn là một di sản chính trị quý giá, có

ý nghĩa bài học cho đời sau

Tóm lại nếu so sánh với những triều đại thời Lý- Trần, hệ thống hành chính quốc gia thời Lê sơ, đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông đã thể hiện một bước tiến cơ bản Có thể nói nó đã đạt đến đỉnh cao của mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế, quan liêu Hệ thống các cơ quan hành chính được xếp đặt rõ ràng,

có phân công, phân nhiệm cụ thể, không dẫm đạp lên nhau Theo đó các bộ chịu trách nhiệm trực tiếp trước vua, các cơ quan Cơ quan địa phương cũng có mối mối liên hệ dọc với cấp trên ở trung ương, đảm bảo quyền lực của nhà vua

và sự thống nhất chính trị của cả nước

Trang 30

1.3 Các tổ chức xã hội ở nông thôn

Trong nông thôn thời Lê sơ có khá nhiều tổ chức hội được hình thành với mục đích khác nhau Ở đây có thể thấy một số tổ chức hội tiêu biểu như sau:

Tổ chức Họ- tộc

Thời Lê, làng xã là đơn vị cơ sở ở vùng đồng bằng, trung du và một phần miền núi nước ta Đơn vị hành chính cấp xã được xác định rõ ràng Ngoài bộ máy hành chính xã gồm Xã trưởng, xã tư, xã sử điều hành làng xã, các làng - thôn thuộc xã để tồn tại theo cách tự quản, tự trị riêng đều tự hình thành nên nhiều loại tổ chức xã hội: nửa tự nguyện hoặc tự nguyện nhóm họp của dân làng Trong đó có tổ chức mang tính huyết thống họ - tộc khá phổ biến

Họ là tổ chức mang tính tự nhiên huyết thống, gắn bó các thành viên với nhau trong các nghi lễ chung - giỗ tổ, xây dựng nhà thờ họ…Nhân đó tôn vinh

tổ tiên, giáo dục con cháu trong họ đạo lý uống nước nhớ nguồn, phát huy truyền thống của cha ông Mọi người đồng tộc đều có ý thức giữ gìn nhà thờ họ (từ đường) Trong đó lưu giữ bài vị của tổ tiên Việc giữ gìn mồ mả và hương hỏa đều được các họ trong làng đặc biệt quan tâm Sự hình thành và phát triển của các tộc họ thường gắn liền với việc hình thành phát triển của mỗi làng xã Theo con số trong Hồng Đức bản đồ gần một vạn làng xã đã được hình thành

từ các thế kỉ trước Đến thời Lê thế kỉ XV, ở đó đã xuất hiện nhiều dòng họ lớn chẳng hạn như ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc - Nghệ An có họ Nguyễn; họ Phan, Phạm, Lê Nguyễn ở Đông Ngạc; Họ Nguyễn, Nghiêm ở Tây Mỗ; Họ Vũ,

Lê, Nhữ ở Mộ Trạch, Bình Giang - Hải Dương…[44; 12] Các họ trong làng xã bấy giờ chưa được tổ chức quy củ như ở các thế kỉ sau này Song trong các họ dù lớn, dù nhỏ đều tự tổ chức, nhằm duy trì hoạt động cần thiết của các dòng họ

Họ có trưởng tộc Tộc trưởng chính là con trai trưởng trong dòng họ đảm nhiệm Trừ khi con trưởng (ngành trưởng) bất hiếu, bỏ phế việc thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ hoặc tật bệnh thì phải cho con thứ (nam) thay làm tộc trưởng Trách nhiệm của tộc trưởng là phải chăm lo giữ gìn ngôi nhà thờ họ Hàng năm mỗi dịp giỗ tổ con cháu trong họ xa gần về dâng cúng hương hỏa, lễ vật; báo đáp công ơn khai sáng của tổ tiên

Trang 31

Nhà thờ họ thường xây dựng trên chính mảnh đất của tổ tiên khi đến khai

mở làng Thời Lê, quy mô của các nhà thờ họ chưa lớn kiến trúc xây dựng đơn giản Song từ đường vẫn là ngôi nhà chung thiêng liêng đối với tất cả họ - tộc Thời Lê Thánh Tông đã quy định luật về thừa tự hương hỏa: Theo đó con trưởng được thừa hưởng việc thừa tự hương hỏa Phần hương hỏa đó chiếm 1/20 tổng số diện tích ruộng cha mẹ để lại [44; 11] Số ruộng đó giành riêng cho con trưởng, cày cấy thu hoa lợi lo cúng giỗ hàng năm

Người trong họ - tộc cùng nhau lo giữ phần mộ tổ tiên không để sạt lở, mất mộ, hoặc để người khác xâm táng Mộ phần cũng là mối quan tâm, gắn kết giữa những người đồng tộc ở làng xã với nhau Thông lệ cứ đến tết thanh minh hàng năm là con cháu trong họ tộc có nghĩa vụ đi tảo mộ Họ coi đó là nhiệm

vụ thiêng liêng mà các thành viên trong họ - tộc tự nguyện thực hiện

Đối với các danh gia vọng tộc, những họ có công khai quốc đánh giặc Minh khôi phục non sông dựng nên triều Lê đều ghi gia phả thực lục Trong đó chép lại công trạng bình Ngô của các thành viên trong họ thời bấy giờ, làm vẻ vang cho đồng tộc con cháu Điển hình là gia phả họ Lê ở Hải Lịch xã Thọ Hải, Hải Xuân, Thanh Hóa, gia phả họ Ngô ở Thạch Mỹ, Thọ Xuân, Thanh Hóa, gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống ở Thuận Thượng, Đại Từ, Thái Nguyên được ghi lại với niềm tự hào về chiến công bình Ngô oanh liệt và lòng biết ơn đối với tổ tiên [44; 12]

Thời Lê khoa cử đỗ đạt nhiều, những dòng họ đỗ Trạng nguyên, Tiến sĩ cũng được ghi vào gia phả, nêu tấm gương hiếu học, học giỏi Như họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu Nghệ An; họ Phan, họ Phạm, họ Lê ở làng Đông Ngạc…[ 44; 13] Tuy nhiên lập gia phả chưa phải là hiện tượng phổ biến ở thế

kỉ XV, mà mới hình thành ở những họ khai quốc; khoa cử đậu đạt như một số dòng họ nêu trên Lập gia phả là một công việc quan trọng của dòng họ Tổ chức của dòng họ thời Lê ngày càng quy củ hơn Nhiều họ tạo thành một làng, vai trò của dòng họ tất ảnh hưởng đến cuộc sống của làng xã đương thời

Do ảnh hưởng rất lớn đối với làng xã của các dòng họ nhất là dòng họ lớn cho nên để ngăn chặn hạn chế tệ nạn bè phái ở làng xã, pháp luật nhà nước

Trang 32

quy định chỉ cho một người trong một họ làm Xã trưởng Đại xã hoặc trung xã gồm 4 đến 5 xã trưởng phải phân bổ ở các họ khác nhau, nhằm đảm bảo việc thực hiện khách quan lệ làng và phép nước Điều này cho thấy ở các vùng nông thôn hiện tượng bè phái theo dòng họ không phải hiếm Có những dòng họ nắm trong tay rất nhiều quyền lực Thậm chí chi phối, thâu tóm hoạt động của cả một làng Vì vậy nhà nước mới ban hành quy định lập xã trưởng như trên

Như vậy ở thời Lê sơ, tổ chức dòng họ cùng vai trò của dòng họ trong các làng xã đóng vai trò đáng kể, không thể phủ nhận Song vai trò đó cũng có giới hạn, họ - tộc chỉ là một tổ chức thành viên bên cạnh một số tổ chức xã hội khác, cùng hoạt động nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của làng

Tổ chức Giáp

Dưới thời Lý, giáp là tên gọi một đơn vị hành chính, sang thời Trần giáp được đổi thành hương Đến thời Lê, hương giáp hầu như biến mất Trong Hồng Đức bản đồ chỉ còn ghi lại 18 hương và 2 giáp Hai giáp này thuộc huyện Hưng Nguyên, phủ Anh Đô Nghệ An Một vài đơn vị hương, giáp còn lại thời Hồng Đức có trùng khớp như hương, giáp với tính chất hành chính như trước hay không rất khó khẳng định Song nhiều tư liệu lịch sử cho thấy rằng trong một

số làng xã, giáp vẫn tồn tại nhưng không phải dưới danh nghĩa tổ chức hành chính như các thời trước, mà là tổ chức xã hội tự nguyện của nam giới Bấy giờ Giáp đã tồn tại với sắc thái riêng khác hẳn với thời kì trước

Nguyên tắc tổ chức của Giáp là tổ chức tự nguyện của nam giới, theo lớp

tuổi ở làng xã Về điều này sách Hồng Đức thiện chính chép khá sơ lược:

Người con nuôi được ghi tên vào Giáp của cha Cha ở giáp nào thì con ở Giáp

ấy Khi cha mẹ qua đời, người con nuôi được thừa hưởng các quyền lợi như chúc thư mà cha mẹ để lại, hoặc con nuôi được hưởng các phần ruộng vườn như con đẻ, mà pháp luật quy định

Theo quy định, các trai đinh từ 16- 18 tuổi đóng tiền hương ẩm, mỗi tuổi

là một quan tiền cổ Lệ đóng góp tùy thời và tùy mỗi làng xã mà quy định khác nhau, trai đinh mới được vào Giáp Tùy theo tục lệ mỗi làng xã mà trai đinh trong Giáp được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Nhưng Bàn (Giáp ở Đông

Trang 33

Ngạc), Hóa (Giáp ở Kim Đôi)…Các Nhưng Bàn và Hóa là lực lượng chủ yếu thực thi chức năng của Giáp [44; 13]

Mỗi Giáp cử ra Giáp trưởng để điều hành việc Giáp Yêu cầu đối với người làm giáp trưởng là đã từng vào Giáp lâu năm, thuộc hàng chiếu trên của Giáp, thông thường Giáp trưởng phải là người có uy tín trong Giáp, không nhất thiết là người lớn tuổi nhất Thời hạn của người làm Giáp trưởng là hai năm hoặc 4 năm tùy theo lệ từng làng điều kiện cụ thể của từng Giáp Giáp trưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực thi việc Giáp, việc làng

Thông thường các đơn vị hành chính đều đặt tên chữ để dễ gọi vì thế Giáp cũng được đặt tên theo quy cách riêng Giáp được đặt tên chữ do người Giáp đó nghĩ ra và được mọi người chấp nhận Chẳng hạn xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội bấy giờ gồm 6 Giáp: Tố Thôn, Ninh Thượng, Nhân Hậu, Đinh Thượng, Đinh Hạ, Nội Đình [44; 12] Hoặc một số nơi cũng có trường hợp tên của xóm đồng thời cũng là tên của Giáp

Thành viên trong Giáp thông thường là người của 1 xóm, rất hiếm khi có thành viên của xóm bên cạnh Về quy mô của Giáp thì tương đương với xóm Nhưng cũng có trường hợp xóm lớn có thể có 2 Giáp Đối với tổ chức dân cư xóm, yếu tố địa vực cộng sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng đối với Giáp yếu tố địa vực lại mờ nhạt do Giáp có chức năng riêng

Về chức năng của Giáp tùy theo số Giáp ở làng xã mà cử ra một nửa trong đó nhận trách nhiệm đăng cai việc giáp việc làng hàng năm

Ngoài việc tham gia các lễ tết chung của làng xã, Giáp còn tiến hành nhiều lễ thức riêng dành cho các thành viên mới nhập Giáp Giáp tham gia việc thiện ở chùa quán, hoặc kì giỗ hậu hàng năm Giáp tham dự tích cực vào việc hiếu Nếu thành viên nào của Giáp mất thì cả Giáp đưa tang trừ người già cả, đau yếu

Trong Giáp những người cao tuổi và vào giáp sớm rất được coi trọng Theo đó ai vào Giáp trước được ngồi chiếu trên ai vào Giáp sau ngồi chiếu dưới Trên chiếc chiếu hàng Giáp ít nhiều còn hiện hữu tính dân chủ làng mạc

Tổ chức Giáp thời Lê còn chất phác, đơn giản, hoạt động của Giáp vẫn bó buộc

Trang 34

chưa được mở rộng ra nhiều mặt khác của đời sống làng xã Ở các thế kỉ tiếp sau đó khi mà ảnh hưởng của Nho giáo mạnh mẽ khiến tổ chức Giáp cũng thay đổi so với chức năng ban đầu của nó Mặc dù vậy, dưới thời Lê sơ nơi nào Giáp hình thành đều phát huy vai trò xã hội của mình Giáp cùng với bộ máy làng xã; các tổ chức xã hội khác - thành viên tộc - họ, Hội chủ - Hội thiện duy trì sự

tự quản, tự trị của làng xã, góp phần duy trì sự tồn tại bền vững của làng trước những biến đổi thăng trầm của xã hội

Tổ chức Hội chủ- Hội thiện

Thời Lý- Trần vốn trọng đạo Phật nên chùa chiền được xây dựng ở rất nhiều nơi Sang thời Lê sơ vừa trải qua binh hỏa của cuộc kháng chiến chống Minh, vua Lê Thánh Tông đề cao Nho giáo; Phật giáo ít được quan tâm, nên chùa chiền xuống cấp, đổ nát Thậm chí nhà nước còn có lệnh cấm nhân dân không được xây dựng thêm chùa mới Trước tình hình đó người dân ở làng đã

tự nguyện phát tâm công đức, bỏ tiền của thuê thợ trùng tu sửa chữa lại chùa quán Hoặc họ tập hợp nhau lại thành Hội chủ - Hội thiện, góp tiền của, ruộng đất công đức vào chùa Hội chủ do một người đứng đầu ghi tên các thiện nam, tín nữ, các sãi ông, vãi bà Bất cứ ai có lòng làm việc thiện đều có thể tham gia Hội chủ Thường đối với những chùa danh tiếng thành viên Hội chủ không chỉ thuộc một làng, một xã mà có thể cả một vùng rộng lớn nhiều xã thuộc huyện, phủ Hội chủ không phân biệt thành phần xã hội: quan lại cao cấp, cấp thấp, thường dân, đàn ông, đàn bà, người giàu, kẻ nghèo…Mọi người đều có thể tham gia Hội chủ, tùy theo hoàn cảnh kinh tế và đời sống riêng mỗi thành viên Những nghĩa cử đóng góp cho chùa quán rất được tôn trọng

Thời Lê sơ, Hội chủ được mở rộng hơn về hình thức và nội dung hoạt động Thông thường Hội chủ đều do một người đứng đầu khởi xướng Các hội viên tham gia Hội chủ hoàn toàn mang tính chất tự nguyện Các thiện nam, tín

nữ tham gia Hội chủ còn gọi là tín chủ hay thí chủ, thiện sĩ Trong lúc khó khăn cần sửa chữa chùa quán hay một công trình nào đó, người đứng đầu hội chủ phải có nghĩa vụ đứng ra kêu gọi sự đóng góp của các tín chủ

Trang 35

Hoạt động cốt yếu của Hội chủ là góp tiền của, ruộng nương để trùng tu các chùa, đền, quán, đình đã bị đổ nát hay hư hỏng nặng; hoặc làm mới các cầu qua sông đào hay mương để nhân dân trong các làng xã tiện đường qua lại Tất

cả những hoạt động đó thường được ghi lại trên các bia đá dựng ở chùa quán, đình nhiều nơi; nhằm mục đích khuyến thiện Chung quy những tất cả những hoạt động mà bia đã ghi lại trên các chùa, đình như làm mới cây cầu, tô lại tượng Phật, sửa chữa thượng điện, hoặc trùng tu lại chùa…đều là việc làm thiện

Ở nông thôn, dân làng xã ai có lòng làm việc thiện đều có rất cơ hội thực hiện,

mà không nhất thiết phải tham gia Hội chủ, Hội thiện mới được thể hiện lòng thành Hoạt động của Hội chủ - Hội thiện đã mang lại hiệu quả nhất định Việc bắc cầu, sửa sang bến đò, tu sửa đình, chùa, quán, tạo cảnh quan kiến trúc đẹp mắt vừa tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho đời sống thôn quê Chính vì hoạt động thiết thực đó mà Hội chủ - Hội thiện nhận được sự ủng hộ rất lớn từ các tầng lớp nhân dân

Mặt khác hoạt động của Hội chủ - Hội thiện thời Lê phản ánh nét chủ đạo về đời sống tâm linh của nhân dân ở làng quê Dưới triều Lê Thánh Tông, Nhà nước luôn đề cao Nho giáo trong khi đó ở các làng quê đạo Phật và các tín ngưỡng dân gian lại được coi trọng hơn Chùa đổ nát được các Hội chủ dựng lại, hoặc tạo mới tượng Phật, đúc chuông mới khiến cõi Phật sống động, gần gũi với dân làng hơn Như vậy ngoài việc tham gia bảo tồn gìn giữ các công trình kiến trúc văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, Hội chủ còn góp phần tích cực vào đời sống tâm linh, một mảng của đời sống tinh thần của nhân dân thời Lê

sơ Có lẽ đó cũng là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao nhà nước phong kiến tìm mọi cách hạn chế sự phát triển của Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác nhưng các tôn giáo, tín ngưỡng ấy vẫn tồn tại dai dẳng sống động ở thôn quê

Sự tồn tại của các tổ chức xã hội trong làng xã như Tộc - họ, Giáp, Hội chủ - Hội thiện thể hiện tính năng động và tinh thần tự chủ tự quản cao của các làng xã thời Lê Các tộc họ, Hội chủ trong làng xã vốn có từ thời trước, sang thời Lê các tổ chức quần chúng đó được tăng cường hơn về hình thức lẫn nội

Trang 36

dung hoạt động Riêng tổ chức giáp mới xuất hiện thời vua Lê Thánh Tông Đó

là tổ chức tự nguyện của nam giới, thể hiện sự sáng tạo của dân làng Thành viên của Giáp đôi khi cũng là thành viên của Tộc - họ và Hội chủ Các tổ chức trên còn tồn tại ở các thế kỉ tiếp theo cho dù xã hội trải qua không ít những biến động thăng trầm

Nhìn chung các tổ chức xã hội ở làng như Tộc - họ, Giáp, Hội chủ đã góp phần đắc lực bảo lưu văn hóa truyền thống duy trì đời sống, củng cố tinh thần cộng đồng thôn xã và đất nước Vì vậy nhà nước Lê sơ đã đề ra nhiều chính sách đối với các làng xã nhằm khống chế và hướng các làng xã vào quỹ đạo quân chủ, tạo ra cơ sở xã hội tương đối ổn định và vững chắc, làm nền tảng cho một thể chế xã hội phát triển thịnh vượng trong lịch sử dân tộc Do đó dù các tổ chức xã hội tồn tại dưới nhiều tên gọi và hình thức khác nhau nhưng nhà nước Lê sơ không cấm đoán mà mặc nhiên thừa nhận

1.4 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn

Những sự kiện lớn về chính trị, kinh tế của thế kỉ XV đã làm thay đổi ít nhiều kết cấu giai cấp trong xã hội Các tầng lớp tồn tại trong xã hội nông thôn thời Lê sơ như: Tầng lớp quan chức địa phương, Nho sĩ, nhà giàu và tầng lớp nông dân, thợ thủ công và tiểu thương, số ít nông nô, nô tỳ

Tầng lớp quan chức địa phương, nhà giàu Bộ phận quý tộc dòng họ vua, tuy được ban cấp nhiều ruộng đất thế nghiệp vẫn không cấu thành một lực lượng có điền sản và thế lực chính trị ở địa phương Một số lớn công thần khai quốc được ban họ vua (quốc tính) song không hình thành một lớp quý tộc Sang thời Thánh Tông, họ dần dần trở lại với họ gốc của mình Các quan lại trung, cao cấp do được ban nhiều ruộng lộc mà trở thành địa chủ, song không cách biệt với các địa chủ thường hoặc nhân dân và phần lớn xuất thân khoa cử Trong lúc đó, tầng lớp nhà giàu hầu như rải ra ở các làng, xã, dần dần trở thành những người chủ về mọi mặt Thành phần địa chủ này là những người giàu có

ở nông thôn và có nhiều thế lực Diện tích ruộng đất mà tầng lớp này sở hữu rất lớn Người nông dân thiếu ruộng đất còn nhận ruộng đất của địa chủ để cày cấy, nộp tô Cùng với thế lực này là cường hào làng xã Thực chất của tầng lớp

Trang 37

cường hào là những người trong bộ máy quản lý làng xã câu kết với một vài địa chủ đầu sỏ để thành một tầng lớp có uy thế chính trị và kinh tế, lũng loạn đời sống nhân dân làng xã Họ, một mặt khai thác triệt để những yếu tố thiếu chặt chẽ, những kẽ hở của luật pháp và chính sách Nhà nước đối với làng xã; mặt khác, lợi dụng sự phức tạp, tính rối rắm của cơ cấu tổ chức và những phiền phức của phong tục tập quán để củng cố quyền lực và chính quyền lực đó đã biến họ thành những kẻ tha hóa Ở nông thôn thời Lê tệ nạn cường hào địa chủ

đã khiến nhà nước phong kiến phải ban hành nhiều quy định xử lý Chẳng hạn

vào tháng Một năm Hồng Đức thứ hai (1471), Lê Thánh Tông đã ra sắc dụ cho

các quan thừa tuyên, phủ huyện ở xứ Sơn Nam, trong 100 ngày phải “mau mau

đi xem xét những nơi nào núi chằm bờ biển trong hạt chỗ nào hình thế có thể khơi đắp ngòi cừ đê đập để làm ruộng, chỗ nào có hùm sói làm hại, cường hào thao túng, phong tục kiêu bạc, dân sinh đau khổ…phải lần lượt tâu trình cẩn thận” [18; 331]

- Lần thứ hai, 14 năm sau (ngày 14 tháng Một năm Ất Tỵ, niên hiệu Hồng Đức,

1485), Lê Thánh Tông lại “nhắc lại lệnh về hào cường hoành hành …Hễ là hào cường cậy thế mà phạm các tội đánh người bị thương, cướp đoạt ruộng đất, tài vật của người khác, cày phá mồ mả, xâm phạm làm tổn hại đến người khác, từ 3 lần trở lên, rõ là hành vi ngang ngược của bọn cường hào mà dẫu có

ân xá cũng không được hưởng, thì bị trừng trị theo tội hào cường hoành hành

[18; 399]

Tầng lớp quan viên: Đây là thành phần chiếm số lượng ít ỏi ở làng xã nhưng lại có vai trò rất quan trọng Họ là người đại diện cho nhà nước thừa hành việc quản lý làng xã Thông thường thành phần này xuất thân từ chính làng xã họ cai quản Mặc dù trách nhiệm quyền hạn của họ dưới thời Lê được nhà nước quy định rất rõ ràng nhưng không thể phủ nhận rằng quyền lực và ảnh hưởng của bộ phận này ở làng xã là rất lớn

Tầng lớp Nho sĩ: Ở các vùng nông thôn thế kỉ XV tầng lớp Nho sĩ tuy không đông đảo nhưng số lượng cũng không phải quá ít ỏi Bởi đây là thời kì nền giáo dục Nho học rất phát triển, nhà nước tạo nhiều điều kiện cho con em

Trang 38

bình dân có thể được học hành thi cử như con em quý tộc Hệ thống giáo dục được mở xuống cấp xã thôn Những Nho sĩ nông thôn có vai trò rất quan trọng trong bộ máy hành chính cấp thôn xã Thường theo quy định những người được lập làm xã trưởng phải là người có học nhưng không đỗ đạt Hoặc bên cạnh đó còn bộ phận Nho sĩ mở các lớp dạy tư ở làng, xã, những quan lại về hưu…Vì là thành phần có học vấn nên rất được coi trọng ở nông thôn làng xã

Tầng lớp nông dân chiếm tuyệt đại đa số cư dân, sống chủ yếu ở các làng

xã, bao gồm nông dân tư hữu, tá điền và một ít nông nô Phần lớn nông dân được chia ruộng công, cày cấy sinh sống, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và ít nhiều được học hành Đây là đối tượng được nhà nước phong kiến rất quan tâm

từ đời sống sinh hoạt đến sản xuất nhưng đồng thời cũng là đối tượng bị bóc lột nhiều nhất

Bấy giờ ruộng thượng đẳng nộp thuế cho nhà nước 60 thăng thóc và 6 tiền/mẫu Ruộng trung đẳng nộp thuế cho nhà nước 40 thăng thóc và 4 tiền/mẫu Ruộng hạ đẳng nộp thuế cho nhà nước 20 thăng thóc và 3 tiền/mẫu (1 thăng = l,2 - l,4 kg) Thuế nhân đinh: 8 tiền - 1 quan 2 tiền/năm Được sự cho phép của nhà nước, những nông dân nghèo, không ruộng đất có thể họp nhau đi khai hoang xây dựng làng xóm, đồng ruộng mới Đất đai khai phá được, họ chia nhau làm ruộng tư (bấy giờ nhà nước chưa đánh thuế ruộng tư), dành một phần làm ruộng công nộp thuế

Tầng lớp thợ thủ công và tiểu thương ngày càng đông hơn nhưng chưa trở

thành một lực lượng lớn mạnh Họ bị xem là những kẻ “bỏ gốc”, theo “ngọn”,

ngoại trừ dân các làng thủ công chuyên nghiệp hoặc dân phường ở Thăng

Long Trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh Tông có câu nói về

thương nhân:

Lừa đảo lọ xem nào có khác

Người ta lại bán được người ta

Nô tì vẫn còn là một lực lượng trong xã hội Mặc dù so với thời Trần số lượng đã giảm nhiều Pháp luật nhà Lê hạn chế nghiêm ngặt việc bán mình làm

nô hoặc bức dân đinh tự do làm nô tì

Trang 39

Điều 168 của Lê triều hình luật quy định: “vương công, thế gia tự tiện

thích chữ vào dân đinh làm gia nô (sung công, thu danh tịch cũng vậy) một người thì xử biếm 3 tư, nếu là quan nhất, phị phẩm trở lên thì phạt tiền 100 quan, cứ 3 người tăng 1 bậc, tội chỉ đến biếm 5 tư, phạt tiền 500 quan"

Cuộc đấu tranh của nô tì (bỏ trốn) và các lệnh cấm bắt, mua bán người thiểu số làm nô đã giảm dần số lượng nô tì

Như vậy các thành phần tầng lớp ở nông thôn thế kỉ XV khá đa dạng với chức trách, nghĩa vụ và quyền hạn khác nhau Theo đó mối quan hệ giữa các tầng lớp trong làng xã cũng trở nên phức tạp hơn

Tiểu kết

Dưới thời Lê sơ cấu trúc xã hội - chính trị ở khu vực nông thôn có nhiều thay đổi theo hướng chặt chẽ, quy củ hơn với mục đích tập trung quyền lực vào tay triều đình trung ương Đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông, nhà nước có nhiều thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy ở các làng xã nhưng vẫn dựa theo đặc điểm của từng vùng một cách hợp lý Nhà nước trung ương có nhiều cố gắng nhằm can thiệp sâu và chi phối xuống các địa phương Chính vì vậy khu vực nông thôn cũng chịu tác động không nhỏ nhất là đối với cơ cấu tầng lớp xã hội Có những tầng lớp đông đảo lên và có vị trí rất quan trọng ở khu vực nông thôn như tầng lớp trí thức nho học, tầng lớp quan liêu Nguồn gốc xuất thân của những tầng lớp trên cũng đa dạng hơn Đặc biệt khi nền giáo dục Nho học phát triển và Nho giáo trở thành quốc giáo Nhưng bên cạnh đó có những tầng lớp ngày càng bị thu hẹp do sự biến đổi của thời đại và tác động của các chính sách nhà nước trung ương như tầng lớp nông nô, nô tỳ Tầng lớp này đặc biệt đông đảo dưới triều Trần do sự phát triển của điền tranh - thái ấp Đến cải cách của

Hồ Quý Ly với chủ trương hạn điền hạn nô tầng lớp này đã giảm xuống đáng

kể Thời Lê sơ tầng lớp nông nô, nô tỳ vẫn tồn tại nhưng không còn đông đảo như trước do sự phá vỡ của kinh tế điền tranh - thái ấp và chính sách cấm nuôi, mua bán nô tỳ của nhà nước thời kì này

Trang 40

Chương 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ

2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Lê sơ

2.1.1 Ruộng đất công làng xã

Nhà nước quân chủ tập trung thời Lê sơ là một nhà nước mạnh và

ổn định Trong sự phục hồi và phát triển kinh tế, Nhà nước đó đã đề cao vai trò chỉ đạo và sự can thiệp của mình vào đời sống kinh tế - xã hội, duy trì

sự cân bằng giữa những yếu tố nhà nước và dân gian, công hữu và tư hữu Thời

Lê sơ, nền kinh tế tiểu nông - sản xuất nhỏ làng xã đã được duy trì và khuyến khích, với sự can thiệp và bảo hộ của một Nhà nước thu tô, trọng nông Nhà nước đó cũng có thái độ dè dặt, không khuyến khích nền kinh tế công thương nghiệp hàng hóa phát triển, nắm độc quyền giao thương với nước ngoài Là một triều đại trọng nông “dĩ nông vi bản” ngay từ khi mới thành lập nhà Lê đã

có nhiều chính sách quan tâm đến lĩnh vực này Trong đó đặc biệt phải kể đến chính sách ruộng đất Chính sách ruộng đất được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Như chính sách phong thưởng ruộng đất cho các công thần, chính sách ban cấp ruộng đất cho các quan lại, quý tộc…Ở đây chúng tôi quan tâm đặc biệt hơn cả là chính sách của nhà nước đối với bộ phận ruộng đất công làng

xã Ruộng đất công làng xã hay "xã dân công điền" là một bộ phận quan trọng

của ruộng đất quốc hữu Bộ phận ruộng đất công này có một lịch sử lâu dài, trước thời Lê sơ nó đã tồn tại và sau thời Lê sơ nó vẫn tồn tại Ruộng đất công làng xã thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước

Loại ruộng đất công này về sở hữu là của nhà nước nhưng trên thực tế nhà nước giao cho xã thôn quản lý Làng xã chia cho dân trong xã cày cấy nộp tô

Thực hiện chính sách quốc hữu hóa ruộng đất, việc quản lý ruộng đất công thời Lê Thái Tổ, trước hết là việc quản lý số ruộng, đo đạc ruộng đất Nếu như dưới thời Trần, trong khoảng 175 năm tồn tại nhà Trần chỉ đo đạc ruộng đất một lần vào cuối thế kỷ XIV thì thời Lê Sơ, ngay sau khi thiết lập vương triều, nhà nước đã tiến hành kiểm kê số ruộng vào năm 1429 Phan Huy Chú

Ngày đăng: 21/11/2014, 02:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ XIX, Quyển thượng, Tập san Đại học Sư phạm xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1956
2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1994
3. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2000
4. Phan Kế Bính (2003), Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
5. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Bộ giáo dục đào tạo Hà Nội – Đại học ngoại ngữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà
Năm: 2005
6. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
7. Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ (2009), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
Tác giả: Cổ luật Việt Nam: Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Nguyễn Đổng Chi (1967), “Chế độ nô tỳ thời Lê sơ và tác dụng của phong trào quần chúng ở các thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (số 99), tr. 34- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ nô tỳ thời Lê sơ và tác dụng của phong trào quần chúng ở các thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1967
9. Nguyễn Đổng Chi (1960), “Ý nghĩa chính sách quân điền trong thời kỳ phong kiến Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 12), tr 23-25; (số 13), tr 41-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa chính sách quân điền trong thời kỳ phong kiến Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1960
10. Nguyễn Thị Phương Chi (1998), Vài nét về tình hình khẩn hoang ở Thanh Hoá thời Lê sơ", trong sách: Thanh Hoá thời Lê" Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: trong sách: Thanh Hoá thời Lê
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 1998
11. Nguyễn Thị Phương Chi (2009), “Vì sao điền trang thời Lê sơ ít có điều kiện phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 3), tr 30- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao điền trang thời Lê sơ ít có điều kiện phát triển”," Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 2009
12. Ngô Thị Kim Doan (2004), Văn hóa làng xã Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, công ty văn hóa Bảo Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
13. Phan Đại Doãn (Chủ biên) (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
14. Phan Đại Doãn (Chủ biên) (1996), Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp
Tác giả: Phan Đại Doãn (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc (1996), Mối quan hệ làng, họ và gia đình truyền thống, trong: Tương Lai (Chủ biên), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (quyển II), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ làng, họ và gia đình truyền thống", trong: Tương Lai (Chủ biên), "Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
16. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
18. Đại Việt sử ký toàn thư (2004), tập II, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
20. Nguyễn Khắc Đạm (1995), “Góp mấy ý kiến về vấn đề ruộng tư trong lịch sử Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 74), tr 35- 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp mấy ý kiến về vấn đề ruộng tư trong lịch sử Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Năm: 1995
21. Nguyễn Đình Đầu (1988), “Thử tìm hiểu đất nước qua 10.004 tập địa bạ”, Tạp chí Khoa học (số 4), tr 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu đất nước qua 10.004 tập địa bạ”, Tạp chí" Khoa học
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Năm: 1988

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w