Mục lục Trang Mở đầu Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN 1.1 Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn 1.1.1 Khái niệ
Trang 1THỜI KỲ 2010 - 2020
8473
Trang 2THỜI KỲ 2010 - 2020
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
Chủ nhiệm: Th.S Phạm hồng Tú Các thành viên:
PGS.TS Phạm Tất Thắng ThS Đặng Thanh Phương
Th.S Lại Hồng Minh
CN Bùi Thị Thanh Thủy
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN 1.1 Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.1 Khái niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.2 Vai trò, vị trí và đặc trưng cơ bản của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông
thôn
1.1.3 Mối quan hệ trong phát triển thị trường bán lẻ ở nông thôn
1.2 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình phát triển thị trường bán lẻ
hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.2.2 Trình độ phát triển sản xuất ở nông thôn
1.2.3 Trình độ phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn
1.2.4 Trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối hàng hóa tiêu dùng ở nông
thôn
1.2.5 Vai trò tổ chức và quản lý phát triển thị trường của Nhà nước
1.3 Xu hướng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn trong
quá trình CNH, đô thị hóa
1.3.1 Xu hướng phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn
1.3.2 Xu hướng phát triển của cung ứng hàng hóa tiêu dùng trên thị trường nông thôn
1.3.3 Xu hướng phát triển điều kiện cơ sở hạ tầng trên thị trường bán lẻ ở nông thôn
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU
DÙNG Ở NÔNG THÔN THỜI KỲ 1995-2009 2.1 Khái quát về khu vực nông thôn ở nước ta hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực nông thôn nước ta hiện nay
2.1.2 Thực trạng phát triển sản xuất và thu nhập dân cư nông thôn
2.1.3 Một số chủ trương, chính sách về phát triển khu vực nông thôn
2.1.4 Một số đánh giá về khu vực nông thôn hiện nay
2.2 Thực trạng phát triển cầu của dân cư nông thôn về hàng tiêu dùng
2.2.1 Chi tiêu và cơ cấu chi tiêu bình quân đầu người ở nông thôn
2.2.2 Quĩ mua và cơ cấu quĩ mua của dân cư nông thôn
2.2.3 Khối lượng nhu cầu một số hàng tiêu dùng của dân cư nông thôn
2.3 Thực trạng phát triển cung ứng và bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn nước
ta hiện nay
2.3.1 Các chủ thể tham gia cung ứng hàng tiêu dùng trên thị trường bán lẻ nông thôn
nước ta hiện nay
Trang 42.3.2 Thực trạng các kênh cung ứng hàng tiêu dùng ở nông thôn
2.3.3 Thực trạng phát triển các loại hình và kết cấu hạ tầng bán lẻ hàng tiêu dùng trên
thị trường nông thôn
2.3.4 Chính sách phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 1995-2010
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
ở nông thôn nước ta hiện nay
2.3.1 Những kết quả đạt được 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Chương 3:
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN
LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN THỜI KỲ 2010-2020
3.1 Quan điểm và phương hướng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông
thôn thời kỳ 2011-2020 3.1.1 Triển vọng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn thời kỳ
2011-2020
3.1.3 Phương hướng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn trong
thời gian tới
3.2 Các giải pháp phát triển nhu cầu mua sắm trên thị trường nông thôn thời
kỳ 2010-2020
3.2.1 Gia tăng thu nhập bằng tiền của dân cư khu vực nông thôn
3.2.2 Mở rộng, đa dạng hóa nhu cầu tiêu dùng của dân cư nông thôn
3.2.3 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
3.3 Các giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ trên thị trường nông thôn thời kỳ
2010-2020
3.3.1 Đa dạng hóa loại hình bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
3.3.2 Phát triển kênh cung ứng hàng hóa bán lẻ ở nông thôn
3.3.3 Các giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động lưu thông hàng hóa bán lẻ
trên thị trường nông thôn
3.4 Các đề xuất kiến nghị
3.4.1 Đối với chính phủ
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp bán lẻ
Kết luận
Trang 5Chữ viết tắt 1/ Tiếng Anh
ASEAN – Hiệp hội các nước Đông Nam á
FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP- Tổng sản phẩm quốc nội
M&A – Mua và sáp nhập công ty
ODA – Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TNCs – Công ty xuyên quốc gia
USD - Đô la Mỹ
WTO – Tổ chức thương mại thế giới
1/ Tiếng Việt
BGTVT – Bộ Giao thông vận tải
BLHH&DTDV – Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ CNH- Công nghiệp hoá
CN-TTCN – Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp HĐH – Hiện đại hoá
KCHTTM – Kết cấu hạ tầng thương mại
TT mua sắm – Trung tâm mua sắm
TTTM – Trung tâm thương mại
UBND – Uỷ ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nông thôn Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2009, với 70,4% dân số sinh sống, chiếm 62,5% tổng GDP và có số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp 3 lần khu vực thành thị Hiện nay, người tiêu dùng nông thôn không chỉ có nhu cầu mua nhu yếu phẩm mà có thể mua tất cả các mặt hàng, từ máy vi tính, bếp điện, điện thoại di động, tủ lạnh, tivi, đến dịch vụ internet Số người có thu nhập trên 1,5 triệu đồng/tháng ngày càng tăng, đủ khả năng chi tiêu cho những nhu cầu khác ngoài mua sắm thực phẩm Theo Công ty Nghiên cứu thị trường TNS, tại khu vực nông thôn, có 95% hộ gia đình nông thôn sẵn sàng mua tivi, 92% có thể mua bếp điện, bếp gas, 33% có thể mua máy cassette/radio, 30% muốn mua tủ lạnh, 9% muốn mua máy vi tính, 1% muốn kết nối internet Đây thực sự là "mảnh đất màu mỡ" cho các nhà sản xuất kinh doanh nói chung và các nhà bán lẻ nói riêng Tuy nhiên, tiềm năng phát triển của thị trường bán lẻ ở nông thôn hiện nay vẫn chưa được “đánh thức” Hệ thống phân phối của các doanh nghiệp vẫn chưa đến được với người dân, danh mục hàng hóa trên thị trường nông thôn vẫn khá nghèo nàn, chợ vẫn là loại hình bán lẻ phổ biến ở nông thôn, vấn đề nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng chưa được quan tâm,…
Thực tế ở nước ta, từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nay, vấn đề “trở về thị trường nội địa”, “chiếm lĩnh thị trường nội địa”, “thị trường nội địa đang bị sao nhãng”, “doanh nghiệp Việt bỏ quên thị trường nội địa”,… đã được đưa ra làm chủ đề trong nhiều hội thảo, hội nghị Năm
2009, Chính phủ đã thực hiện “Chương trình xúc tiến thương mại, thị trương trong nước”, trong đó có chương trình “hàng Việt về nông thôn” Kết quả thu được từ hoạt động đưa hàng về nông thôn là rất lớn Tình trạng cháy hàng, doanh thu gấp chục lần bình thường chỉ sau vài ngày đưa hàng về giới thiệu… đã khiến nhiều doanh nghiệp không khỏi ngỡ ngàng trước sức tiêu thụ của người dân nông thôn, thị trường mà lâu nay chính các doanh nghiệp trong nước đã bỏ quên
Từ những thực tế trên đây, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tại sao các doanh nghiệp bán lẻ ở nước ta vừa qua lại “bỏ quên” thị trường bán lẻ đầy tiềm năng ở nông thôn? Làm thế nào để phát triển thị trường bán lẻ ở nông thôn? Hơn nữa, Chính phủ cũng đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2009-2015
Trang 7và định hướng đến năm 2020” (Đề án này đã được Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt tại Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010)
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam thời kỳ 2010 - 2020” được Viện Nghiên cứu Thương mại đề xuất nghiên cứu và đã được Bộ Công Thương ký hợp đồng
số 082.01.RD/HĐ-KHCN về thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ này
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu tổng quát: Góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông Việt Nam trong thời kỳ 2010 – 2020
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp và chính sách phát triển thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Khu vực nông thôn là vùng lãnh thổ nằm ngoài khu vực đô thị của cả nước và từng địa phương Đề tài giới hạn phạm vi không gian nông thôn theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ: Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố
+ Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường nông thôn trong giai đoạn 1995 - 2010 và nghiên cứu chính sách phát triển cho giai đoạn 2011 - 2020
+ Về nội dung: Đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu về giải pháp và chính sách phát triển của Nhà nước đối với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm vừa qua, các cơ quan và tổ chức nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu về thị trường nông thôn và thị
Trang 8trường bán lẻ trong nước như: Đề tài khoa học cấp Bộ “Các loại hình kinh doanh văn minh hiện đại, định hướng quản lý nhà nước đối với siêu thị tại Việt Nam” do Vụ Thị trường trong nước thực hiện năm 2001; Đề tài khoa học cấp Bộ “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2002; Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam hiện nay” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2005; Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận doanh theo chuỗi ở Việt nam đến năm 2010” do Trường Cán bộ Thương mại trung ương thực hiện năm 2005; Đề án về “Phát triển thị trường trong nước đến năm 2010 và định hướng đến 2020” do Vụ Thị trường trong nước xây dựng và được thủ tướng chính phủ ra Quyết định phê duyệt vào năm 2007; Tài liệu “Điều tra đánh giá thực trạng doanh nghiệp bán lẻ nhỏ và vừa trong nước” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2007; Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu dịch vụ bán buôn, bán lẻ của một số nước
và khả năng vận dụng vào Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2007; Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị, tổ chức có liên quan cũng đã tổ chức nhiều hội thảo với sự tham gia của nhiều đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước như “Hội thảo quốc tế quản lý nhà nước
về lưu thông hàng hoá trên thị trường nội địa” tại Hà Nội
3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm, tài trợ nghiên cứu của các cơ quan chính phủ, sự nghiên cứu của các công ty tư vấn nước ngoài, đặc biệt là các nghiên cứu của nhà phân phối nước ngoài với mục tiêu thâm nhập thị trường Trong đó, đáng chú ý là các vấn đề nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực cho Bộ Thương mại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Chính phủ Phần Lan tài trợ trong giai đoạn 1998 - 2003 Dự án “Nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hệ thống phân phối của Việt Nam” do Tổ chức Hợp tác quốc
tế Đức (GTZ) thực hiện Các công ty tư vấn của nước ngoài tham gia nghiên cứu về thị trường bán lẻ của Việt Nam như Công ty Nghiên cứu thị trường TNS, Công ty tư vấn AT Keamey, Các nhà phân phối nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam như Metro Cash&Carry (Đức), Pakson thuộc tập đoàn Lion (Malaysia), Zenplza (Nhật Bản), cũng có những nghiên cứu về thị trường bán lẻ Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Các phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Phương pháp logic/lịch sử; phương pháp phân tích/tổng hợp
- Các phương pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu: Phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp chỉ số, phương pháp phân tích động thái, tổ chức hội thảo khoa học,
Trang 95 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở
nông thôn thời kỳ 1995 - 2009
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường bán lẻ
hàng tiêu dùng ở nông thôn thời kỳ 2011 - 2020
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.1 THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.1.1 Khái niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.1.1 Một số khái niệm
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng là khái niệm tổng hợp từ nhiều khái niệm khác nhau, trong đó bao gồm những khái niệm cơ bản như:
+ Khái niệm về thị trường:
Những nghiên cứu và phân tích lý thuyết cho thấy có nhiều khái niệm ở những cấp độ, phạm vi và chứa đựng nội hàm khác nhau về thị trường Theo các nhà kinh điển, thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Thị trường gắn với sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là cơ sở kinh tế quan trọng của thị trường Thị trường phản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội
Thị trường vận động và phát triển tuân theo những qui luật khách quan của nó Adam Smith gọi hệ thống các quy luật khách quan đó là một trật tự thiên định Từ đó ông cho rằng, nhà nước không nên can thiệp vào thị trường, chính sách kinh tế tốt nhất của nhà nước là tự do kinh tế Tư tưởng của Adam Smith đó được phát triển trở thành học thuyết kinh tế - "bàn tay vô hình" Bàn tay vô hình chính là các quy luật kinh tế khách quan chi phối hành động của con người Tuy nhiên, thông qua các chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các công cụ khác, Chính phủ các nước ngày càng can thiệp sâu hơn vào thị trường Ngày nay không tồn tại khái niệm thị trường thuần tuý? Trong nền kinh tế mỗi nước đều tồn tại nhiều dạng thức, nhiều thể loại
và nhiều cấp độ thị trường khác nhau
Trong thực tiễn kinh tế, khái niệm truyền thống và phổ biến nhất cho
rằng, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá
Theo khái niệm này “nơi” là từ xác định một không gian cụ thể, do đó, giữa khái niệm về thị trường và khái niệm về chợ hay những địa điểm mua bán hàng hoá cụ thể không có sự phân biệt rạch ròi Hơn nữa, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và xu hướng phát triển nhanh của thương mại điện tử, ngày nay “nơi” trong khái niệm thị trường này không còn phù hợp bởi ranh giới không gian thị trường đang ngày càng “mờ” dần Vì vậy, trong kinh tế học hiện đại, khái niệm này ít được sử dụng
Trong kinh tế học hiện đại, thị trường được hiểu rộng hơn, thị trường là tổng thể các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán
và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời
Trang 11gian nào Thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua bán hàng hoá và các dịch vụ
Những khái niệm này không còn chỉ rõ không gian cụ thể của thị trường, mà xác định thị trường là quá trình xác lập quan hệ giữa người mua và người bán Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hoá - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ (Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến thị trường hàng hoá
mà không đề cập đến thị trường dịch vụ hay thị trường lao động và thị trường tiền tệ) Đồng thời, các giao dịch mua bán hàng hoá và dịch vụ hiện nay không chỉ diễn ra trong thế giới thực, mà còn được thực hiện qua phương tiện điện tử, nhất là mạng internet - thế giới ảo.
Như vậy, khái niệm thị trường hiện đại không chỉ bao gồm thị trường thực, mà cả thị trường ảo Tuy nhiên, dù là thị trường ảo hay thị trường thực thì bản chất của thị trường vẫn là giải quyết các quan hệ giữa người mua và
người bán thông qua việc xác định mức giá của hàng hoá và dịch vụ Người
bán và người mua là hai lực lượng cơ bản trên thị trường, là đại diện cụ thể nhất của 2 yếu tố cung-cầu trên thị trường Trên thị trường, quan hệ cung - cầu hay cụ thể hơn là quan hệ giữa người mua và người bán được giải quyết hay được thực hiện thông qua mức giá cả cụ thể do chính người mua và người bán xác định dựa trên mức giá cả thị trường đã xác lập trước đó Tóm lại, cung - cầu và giá cả hàng hoá, dịch vụ là những yếu tố cơ bản trên thị trường, trong đó cung, cầu là những yếu tố căn bản, có vai trò quyết định đối với giá cả thị trường Ngược lại, giá cả là yếu tố có vai trò tác động kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của cung và cầu, xác định khối lượng cụ thể của cung, cầu trên thị trường
+ Khái niệm về bán lẻ hàng tiêu dùng:
Về khái niệm hàng hoá, cần phân biệt khái niệm hàng hoá tiêu dùng và hàng hoá tư liệu sản xuất Hàng tiêu dùng là những hàng hoá phục vụ cho nhu cầu sống của cá nhân, gia đình Hàng tư liệu sản xuất là những hàng hoá phục vụ cho nhu cầu sản xuất, là yếu tố đầu vào của quá trình tái sản xuất
Về khái niệm bán lẻ, có nhiều khái niệm về bán lẻ hàng hoá Theo từ
điển American Heritage… định nghĩa “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu
dùng, thường là với khối lượng nhỏ và không bán lại” Bán lẻ là hình thức
bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân và gia đình Bán lẻ hàng hoá là khâu kết thúc quá trình lưu thông, hàng hoá đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ
Theo NAICS, US năm 2002, lĩnh vực thương mại bán lẻ (mã ngành 45) bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá (thường không có hoạt động chế biến) và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá trình bán lẻ
44-là khâu cuối cùng trong phân phối hàng hoá Các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng
Trang 12Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức bán từng cái, từng ít một trực tiếp cho người tiêu dùng
Theo tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) trong vòng đàm phán Uruguay về danh mục phân loại ngành dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và theo danh mục sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc
(CPC) định nghĩa: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan
Trong cuốn sách Quản trị Marketing, Philip Kotler đã định nghĩa: Bán lẻ
bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan
Theo tài liệu của WTO về dịch vụ phân phối, hoạt động “bán hàng công nghiệp/thương mại cho các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm cuối cùng như là hoá chất, thiết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất” không thuộc phạm
vi bán lẻ Do đó, khái niệm “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng”
Như vậy, điểm chung trong những khái niệm bán lẻ trên đây là: bán với khối lượng nhỏ; bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra, một vài khái niệm khác còn làm rõ thêm như: bán lẻ hàng hoá và bán lẻ dịch vụ; người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình; không dùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất (phân biệt giữa hàng tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất); bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng; bán lẻ qua cửa hàng, ki ốt và không qua cửa hàng, ki ốt
+ Khái niệm về nông thôn:
Theo Từ điển bách khoa Việt nam (tập 3), nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nông thôn Việt Nam là danh
từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một
Trang 13ngành sản xuất lớn, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản
Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 thánh 06 năm 2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thì
vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của
phường, quận thuộc thị xã, thành phố
Tóm lại, từ những khái niệm cơ bản trên đây có thể định nghĩa khái
niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn như sau: thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là tổng thể các mối quan hệ về lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa những người bán hàng và cung cấp dịch vụ bán lẻ với những người mua hàng hoá và dịch vụ bán lẻ là người tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình) ở nông thôn để họ sử dụng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất Nói cách khác, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là thị trường được giới hạn về địa lý (ở nông thôn), về đối tượng mua
bán (hàng tiêu dùng và dịch vụ bán lẻ), về đối tượng tham gia giao dịch mua bán (người bán hàng trực tiếp cung cấp dịch vụ bán lẻ và người mua là người tiêu dùng cuối cùng), về khối lượng hàng hoá mua bán (khối lượng nhỏ)
1.1.1.2 Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Từ định nghĩa khái niệm trên đây, những dấu hiệu hay căn cứ được sử dụng để phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, bao gồm:
a/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nông thôn theo vùng địa lý:
Trong tiêu thức phân loại này, khu vực nông thôn có thể được phân thành: nông thôn miền núi; nông thôn đồng bằng; nông thôn ven biển Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn miền núi
b/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn theo dấu hiệu của người tiêu dùng:
+ Theo nghề nghiệp của người tiêu dùng, gồm: người tiêu dùng làm
nghề nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản); người tiêu dùng làm nghề phi nông nghiệp (bao gồm: chế biến nông sản; tiểu, thủ công nghiệp; kinh doanh buôn bán nhỏ;…) Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng cho người làm nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn
+ Theo giới tính của người tiêu dùng, gồm: nam; nữ Ví dụ, thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng cho nam giới ở nông thôn
+ Theo tuổi tác của người tiêu dùng, gồm: người già; trung niên; thanh
niên; trẻ em Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng cho trẻ em nông thôn
+ Theo thu nhập của người tiêu dùng, gồm: người có thu nhập cao;
người có nhập trung bình; người có thu nhập thấp Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng cho người có thu nhập cao ở nông thôn
Trang 14+ Theo tình trạng nhu cầu, gồm: người tiêu dùng tiềm năng; người tiêu
dùng mới xuất hiện lần đầu; người tiêu dùng thường xuyên Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng cho khách hàng tiềm năng ở nông thôn
Ngoài ra, phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có thể dựa trên những dấu hiệu khác từ người tiêu dùng như theo hành vi, tâm lý,…
c/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn theo dấu hiệu của người cung cấp dịch vụ bán lẻ:
+ Theo vị trí trong quá trình sản xuất – lưu thông của người cung cấp dịch vụ bán lẻ, gồm: người sản xuất trực tiếp bán lẻ; người chuyên kinh doanh bán lẻ; người vừa kinh doanh bán buôn, vừa kinh doanh bán lẻ; đại lý bán lẻ Ví dụ, thị trường bán lẻ ở nông thôn của người sản xuất
+ Theo loại hình cung cấp dịch vụ bán lẻ, gồm: bán lẻ qua cơ sở bán lẻ (cửa hàng, siêu thị, chợ,…); bán lẻ không qua cơ sở bán lẻ (qua điện thoại, qua catalogs, qua mạng,…) Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng qua điện thoại ở nông thôn
d/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn theo hàng hoá tiêu dùng:
+ Thôn theo mục đích sử dụng của hàng hoá, gồm: hàng lương thực -
thực phẩm (hàng lương thực; hàng thực phẩm; hàng đồ uống và thuốc lá); hàng phi lương thực - thực phẩm (hàng may mặc giầy dép và mũ nón; hàng nội thất và vật liệu xây dựng; hàng phương tiện đi lại; hàng đồ dùng gia đình; hàng giáo dục; hàng văn hoá, thể thao, giải trí…) Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng may mặc ở nông thôn
+ Theo nguồn gốc nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, gồm: hàng kim
loại (đồ nhôm, đồ sắt, đồ đồng, ); hàng phi kim loại (đồ nhựa, đồ gỗ, hàng năng lượng, đồ mây tre, đồ gốm sứ, ) Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng gốm sứ tiêu dùng ở nông thôn
+ Theo xuất xứ sản xuất của hàng hoá, gồm:hàng sản xuất trong nước; hàng nhập khẩu Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng sản xuất trong nước
1.1.2.1 Vai trò trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đối với các nước kém phát triển và đang phát triển nói chung và với nước ta nói riêng, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể như:
Trang 15Trước hết, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là một trong
những cơ sở quan trọng để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nước, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, để đi đến một xã hội ngày càng văn minh, phồn thịnh, con đường đi tất yếu của mọi quốc gia là thực hiện quá trình công nghiệp hoá Nói cách khác, công nghiệp hoá là con đường, cách thức để đạt năng suất lao động xã hội cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước giầu và nâng tầm quốc gia trên bản đồ kinh tế thế giới Đồng thời, các mô hình thực hiện công nghiệp hoá cũng cho thấy, các nước XHCN đã thất bại với chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Vì vậy, từ năm 1978 Trung Quốc đã thay đổi hướng ưu tiên phát triển từ “công nghiệp nặng (sản xuất hàng tư liệu sản xuất) - công nghiệp nhẹ (sản xuất hàng tư liệu tiêu dùng) - nông nghiệp” sang
“nông nghiệp - công nghiệp nhẹ - công nghiệp nặng” Sự thay đổi này đã giúp Trung Quốc đạt được thành tựu phát triển to lớn
Bên cạnh đó, để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nhẹ, các nước cũng từng thay đổi
từ mô hình “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” sang “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” Mặc dù, xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại hiện nay đang ủng hộ cho mô hình “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, các nước thực hiện theo mô hình này đang
có nguy cơ phát triển quá mức các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp, trong khi những ngành công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường nội địa không được chú trọng phát triển đúng mức Chính xu hướng phát triển mất cân đối này đang đặt ra vấn đề xem xét lại vai trò của thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện nay, nhất là với những nước có qui mô thị trường nội địa tương đối lớn như nước ta
Thị trường nội địa nói chung và thị trường nông thôn nói riêng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá sẽ diễn ra những thay đổi to lớn như: 1) Công nghiệp hoá dẫn đến sự gia tăng thu nhập của dân cư, sức mua trong nước ngày càng tăng lên; 2) Cơ cấu tiêu dùng của dân cư nông thôn sẽ thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tiêu dùng các mặt hàng lương thực thực phẩm
và tăng tiêu dùng các mặt hàng công nghiệp; 3) Thị trường hàng tiêu dùng ở nông thôn không chỉ là nơi tiếp nhận các đợt sóng tiêu dùng từ thị trường đô thị, mà còn là thị trường tiêu thụ rộng rãi các sản phẩm cho các doanh nghiệp công nghiệp có trình độ phát triển trung bình, hoặc các doanh nghiệp công nghiệp mới tiếp nhận chuyển giao công nghệ,… Tất cả những điều đó có nghĩa là thị trường hàng tiêu dùng trong nước nói chung và ở nông thôn nói riêng là cơ sở hỗ trợ quan trọng cho quá trình thực hiện công nghiệp hoá
Trang 16Thứ hai, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là một trong
những nhân tố và quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc là chính sang nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường
Nhìn chung, tại các vùng nông thôn nói chung và vùng sản xuất nông nghiệp nói riêng, người tiêu dùng vẫn thường sử dụng nhiều sản phẩm do
chính họ làm ra Trong Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, nền kinh tế đó là cơ sở của phương thức
sinh hoạt cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, và chế độ thị tộc tuyệt đối không thể dung hợp với nền kinh tế tiền tệ Một nền kinh tế nông nghiệp sản xuất tự cấp, tự túc rõ ràng có nhiều hạn chế, là vật cản đối với xu thế vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, của sản xuất và của khoa học, kỹ thuật Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuất và khoa học, kỹ thuật không ngừng phát triển và trong thời đại hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Để chuyển kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá, cần có những điều kiện cơ bản như: phân công lao động xã hội; thị trường; năng lực tổ chức và quản lý sản xuất, tài chính; tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ…
Trong những điều kiện đó, vai trò của thị trường trong sản xuất hàng hoá nói chung, trong việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá nói riêng đặc biệt được coi trọng Bởi vì, đã có kinh tế hàng hoá tức là phải có mua bán, trao đổi sản phẩm, và do vậy, tất yếu phải
có thị trường
Về phương diện này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có những tác động chủ yếu như: 1) Sự hiện diện hay sẵn có của hàng hoá tiêu dùng trên thị trường bán lẻ sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân nông thôn phát triển: mở rộng tiêu dùng sang những hàng hoá mà họ không thể sản xuất; chuyển từ tiêu dùng các sản phẩm tự sản xuất sang sản phẩm có sẵn trên thị trường do chi phí (lao động, nguyên vật liệu) rẻ hơn; 2) Người dân nông thôn với qui mô sản xuất nhỏ có thể trực tiếp tham gia bán sản phẩm dư thừa hoặc với sản phẩm sản xuất chỉ để bán nhưng với số lượng ít ỏi trên thị trường bán lẻ; 3) Cung cấp cho người dân nông thôn những thông tin
về giá cả thị trường, về quan hệ cung cầu, về các thức, hình thức bán hàng,
về mẫu mã sản phẩm, về sử dụng nguyên liệu,… 4) Khuyến khích người dân nông thôn tìm kiếm cơ hội thị trường, sáng tạo ra sản phẩm mới, chuyên môn hoá vào sản xuất sản phẩm để bán, nâng cao trình độ tiêu dùng,… Qua đó, người dân nông thôn có thay đổi, chuyển biến trong nhận thức và tham gia tích cực vào phát triển kinh tế hàng hoá trên địa bàn nông thôn
Thứ ba, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn góp phần thực
hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Trang 17Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, như đã nêu, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn phát triển Chính kinh tế hàng hoá ở nông thôn phát triển là nền tảng vững chắc tạo nên
sự thay đổi toàn diện theo hướng tích cực của đời sống kinh tế - xã hội, củng
cố, giữ vững sự ổn định chính trị ở nông thôn Chẳng hạn, việc phát triển sản xuất sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho dân cư nông thôn, trong đó có bộ phận đáng kể lao động nông thôn sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng Đồng thời, xu hướng gia tăng lao động có việc làm là biện pháp hữu hiệu để thực hiện các chương trình xoá đói, giảm nghèo
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn cũng là nơi tiếp nhận các đợt sóng tiêu dùng từ thị trường đô thị Trong quan hệ này, một mặt góp phần phát triển nhanh thị trường hàng tiêu dùng ở đô thị, mặt khác tạo ra sự gắn kết giữa thị trường đô thị và thị trường nông thôn Qua đó, tiềm năng phát triển tại các vùng nông thôn được khơi dậy và thu hút các doanh nghiệp đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời rút ngắn khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng nông thôn với nhau
Thứ tư, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là thị trường tiềm
năng, rộng lớn để các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối hàng hoá lớn về qui mô cung ứng hàng hoá, rộng về mạng lưới, đa dạng về loại hình bán lẻ và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Các quyết định về xây dựng hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá đã và đang trở thành những chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Hệ thống phân phối mạnh sẽ giúp doanh nghiệp tạo lập được lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn trên thị trường và thành công trong kinh doanh
Trong điều kiện của các nước đang phát triển, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn luôn là thị trường rộng lớn về không gian lãnh thổ và với số lượng đông đảo khách hàng tiềm năng Đồng thời, cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, chính thị trường nông thôn hiện tại sẽ trở thành thị trường đô thị với sức mua ngày càng cao trong tương lai Do đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn sẽ là “miền đất hứa” để phát triển chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Mặt khác, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với độ rộng sẵn
có và trong giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ truyền thống đến hiện đại
sẽ cho phép các doanh nghiệp có thể xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hàng hoá nói chung và hệ thống bán lẻ nói riêng bằng những phương thức, hình thức và qui mô đầu tư phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp và sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu tư của mình Đồng thời, khi thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn phát triển nhanh sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo ra khả năng tái đầu tư
Trang 18Thứ năm, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn thông qua việc
xác lập giá bán lẻ hàng tiêu dùng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống giá cả trong nền kinh tế quốc dân ngày càng hợp lý hơn, phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn sẽ trực tiếp xác lập mức giá cho các sản phẩm lương thực - thực phẩm và các sản phẩm phi lương thực - thực phẩm Qua đó, thị trường này, với qui mô của nó, cũng xác lập quan hệ giá cả hay “cánh kéo giá cả” hợp lý giữa các sản phẩm nông nghiệp
và các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng Khi người tiêu dùng ở nông thôn có
xu hướng gia tăng tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp và giảm tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp, khi đó cánh kéo giá cả có xu hướng doãng ra theo hướng có lợi cho các nhà sản xuất hàng công nghiệp Điều này sẽ kích thích
sự gia tăng sản lượng và cung ứng và làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng ở nông thôn Tính cạnh tranh cao sẽ góp phần làm giảm giá bán lẻ các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng và cánh kéo giá cả
sẽ thu hẹp lại theo hướng có lợi cho người tiêu dùng nông thôn và kích thích tiêu dùng Điều đó lại tạo điều kiện cho các nhà sản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng gia tăng sản lượng, nhưng để đảm bảo tiêu thụ các nhà sản xuất phải cung ứng sản phẩm ở mức giá thấp hơn (trong điều kiện giá trị đồng tiền được duy trì ổn định)
Để đảm bảo cung ứng ở mức giá thấp hơn, các nhà sản xuất, cung ứng hàng tiêu dùng ngoài việc đảm bảo khai thác tối đa công suất nhà máy sẽ phải tìm cách giảm chi phí nguyên vật liệu, lao động và các đầu vào trung gian khác Điều này sẽ tác động kéo giá cả của hàng loạt các hàng hoá, kể cả hàng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và giá cả các dịch vụ liên quan Như vậy, hệ thống giá cả trong nền kinh tế sẽ được điều chỉnh để đảm bảo sự vận hành thông suốt của nền kinh tế
1.1.2.2 Vị trí trong hệ thống thị trường của nền kinh tế
Trước hết, về khái niệm, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn,
do những giới hạn phạm vi của nó, là một bộ phận trong thị trường dịch vụ phân phối nói riêng và hệ thống thị trường của nền kinh tế nói chung Trong nền kinh tế, cùng với những thị trường khác trong hệ thống thị trường chung, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn giữ vị trí trung gian trong quá trình tái sản xuất xã hội giữa một bên là sản xuất và một bên là tiêu dùng
Thứ hai, trong thị trường dịch vụ phân phối, thị trường bán lẻ hàng tiêu
dùng nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn nói riêng là thị trường mà ở đó kết thúc quá trình lưu thông của hàng hoá, hàng hoá đi vào lĩnh vực tiêu dùng và giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ Cụ thể hơn, trong thị trường dịch vụ phân phối, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng là thị trường cuối cùng có sự tham gia trực tiếp của người tiêu dùng cuối cùng, trong khi người sản xuất có thể phải qua nhiều trung gian (người bán buôn,
Trang 19đại lý, người bán lẻ) khác để bán sản phẩm của mình đến người tiêu dùng cuối cùng
Cuối cùng, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng, xét theo phân khúc thị
trường về địa lý, bao gồm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Trong hai loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, do các điều kiện kinh tế - xã hội qui định, có trình độ phát triển chậm hơn Do đó, về trình độ phát triển, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có vị trí đi sau so với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị
1.1.2.3 Những đặc trưng cơ bản của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Những đặc trưng cơ bản của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn gắn liền với đặc trưng của các yếu tố cấu thành như đặc trưng về điều kiện địa lý, về người bán lẻ, về người tiêu dùng, về chủng loại hàng hóa tiêu dùng và giá cả của nó Từ những đặc trưng của các yếu tố cấu thành, có thể nêu một số đặc trưng cơ bản của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, như sau:
+ Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có tính phân tán cao Đặc trưng này gắn liền với đặc điểm phân bố và mật độ dân cư ở khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa
+ Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có nhịp độ hoạt động thấp và mang tính mùa vụ cao Đặc trưng này gắn liền với đặc điểm sản xuất hàng hoá theo mùa, thời điểm thu hoạch, sức mua thấp và tính tự cấp, tự túc
ở khu vực nông thôn
+ Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có sự tham gia bán lẻ trực tiếp với số lượng lớn của các hộ sản xuất Đặc trưng này gắn liền với đặc điểm tổ chức sản xuất phổ biến ở qui mô hộ và giới hạn về năng lực sản xuất, cung ứng của các hộ trên địa bàn nông thôn
+ Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có sự tồn tại khá phổ biến các loại hình bán lẻ truyền thống Đặc trưng này gắn liền với giới hạn về năng lực đầu tư của các hộ kinh doanh ở khu vực nông thôn và điều kiện cơ
sở hạ tầng chưa phát triển, nhất là hạ tầng giao thông, điện, nước sinh hoạt, + Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng chi phối của điều kiện thời tiết, thị trường đô thị, nhất là thị trường trung tâm Đặc trưng này được qui định bởi: sản xuất nông nghiệp phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết, nếu xảy ra mất mùa thì sức mua trên thị trường bị giảm sút nghiêm trọng và ngược lại; phần lớn hàng công nghiệp tiêu dùng được cung ứng cho thị trường bán lẻ ở nông thôn đều thông qua các trung gian bán buôn tại các thị trường đô thị, thị trường trung tâm
Trang 201.1.3 Mối quan hệ trong phát triển thị trường bán lẻ ở nông thôn
1.1.3.1 Mối quan hệ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn trong hệ thống thị trường của nền kinh tế
Trong hệ thống thị trường của nền kinh tế, mối quan hệ giữa thị trường bán
lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với các thị trường khác được thể hiện là mối quan
hệ giữa một bên là cung và một bên là cầu về các yếu tố đầu vào cho phát triển thị trường bán lẻ Chẳng hạn, giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng và thị trường bất động sản có mối quan hệ cầu và cung mặt bằng kinh doanh bán lẻ Hay giữa thị trường tài chính, tiền tệ với thị trường bán lẻ có mối quan hệ cung - cầu về vốn, tín dụng Giá cả các hàng hoá, dịch vụ đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và hiệu quả kinh doanh bán lẻ Ngược lại, nhu cầu về hàng hoá và dịch
vụ đầu vào trên thị trường bán lẻ sẽ qui định tính chất, qui mô và trình độ phát triển của thị trường cung cấp về hàng hoá và dịch vụ đó
1.1.3.2 Mối quan hệ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn trong thị trường dịch vụ phân phối của nền kinh tế
Trong thị trường dịch vụ phân phối, mối quan hệ giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng với thị trường sản xuất và thị trường bán buôn hàng tiêu dùng được thể hiện là mối quan hệ tương hỗ giữa các công đoạn trong quá trình lưu thông hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng Trong đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng đảm nhận khâu kết thúc quá trình lưu thông, phân phối sản phẩm, đồng thời tiếp nhận thông tin thị trường, thông tin từ phía người tiêu dùng để phản hồi lại cho các nhà sản xuất, các nhà bán buôn Thị trường đầu ra của sản xuất hàng tiêu dùng là thị trường cung cấp, bắt đầu quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá, tiếp nhận thông tin phản hồi từ thị trường bán lẻ Thị trường bán buôn là thị trường trung gian tiếp nhận sản phẩm từ các nhà sản xuất để cung cấp cho các nhà bán lẻ, đồng thời tiếp nhận thông tin thị trường từ các nhà bán lẻ để phản hồi lại cho các nhà sản xuất
Trong mối quan hệ này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng chịu sự chi phối của thị trường cung cấp (các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà bán buôn) về nguồn hàng, cơ cấu hàng hoá, giá cả, Đồng thời, nó hỗ trợ cho các nhà bán lẻ trên thị trường mở rộng mạng lưới bán lẻ, tiết kiệm cho phí (thời gian, vận chuyển, ) trong việc thu mua, tổ chức nguồn hàng bán lẻ Ngược lại, thị trường bán lẻ sẽ có tác động điều chỉnh thị trường cung cấp (các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà bán buôn) về phân bố nguồn hàng, cơ cấu sản xuất hàng hoá tiêu dùng, giá cả, và hỗ trợ các nhà sản xuất mở rộng tiêu thụ sản phẩm
1.1.3.3 Mối quan hệ trong phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn và thị trường đô thị
Mối quan hệ phát triển giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là mối quan hệ phát triển theo lãnh thổ và mối quan hệ phát triển trên cùng một thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
Trang 21Trong mối quan hệ phát triển theo lãnh thổ, mối quan hệ giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là mối quan hệ “thôn tính” một chiều Trong đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là bên “bị thôn tính” trên các phương diện như: 1) Thị trường đô thị
“chiếm đoạt” hay “lôi kéo” một bộ phận nhu cầu mua hàng hoá tiêu dùng, nhất
là về các mặt hàng giá trị cao từ thị trường nông thôn; 2) Quá trình đô thị hoá biến thị trường nông thôn thành thị trường đô thị, hay thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là dư địa cho thị trường đô thị phát triển
Trong mối quan hệ phát triển trên cùng một thị trường, mối quan hệ giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
ở đô thị là mối quan hệ giữa các cấp độ về trình độ phát triển Trong đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là thị trường có trình độ phát triển cao hơn
cả về cung, cầu và các điều kiện cho phát triển thị trường nói chung và phát triển hệ thống kinh doanh bán lẻ nói riêng Trong mối quan hệ này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là “bệ đỡ”, còn cho thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là “lực kéo” Vai trò “bệ đỡ” của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn thể hiện trên các khía cạnh: 1) Cung cấp một bộ phận khách hàng; 2) Cung cấp một phần không gian thị trường; 3) Tiếp nhận các “đợt sóng” tiêu dùng đã có dấu hiệu thoái trào để thị trường đô thị bắt đầu một “đợt sóng” tiêu dùng mới Vai trò “lực kéo” của thị trường đô thị thể hiện ở khía cạnh: 1) Thông qua việc chuyển giao các “đợt sóng” tiêu dùng, bán lẻ cho khách hàng từ thị trường nông thôn sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn phát triển; 2) Sự phát triển của các nhà bán lẻ ở thị trường đô thị sẽ góp phần chuyển giao công nghệ bán lẻ hiện đại hoặc trực tiếp đầu tư phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại cho thị trường nông thôn
1.1.3.4 Các mối quan hệ khác trong phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Ngoài những mối quan hệ mang tính trực tiếp trên đây, trong phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn còn có những mối quan hệ với các thị trường khác như:
+ Mối quan hệ phát triển giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất trên địa bàn nông thôn (nông - lâm - thuỷ sản, sản phẩm làng nghề) Trong đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm của vùng nông thôn là cơ sở để thúc đẩy thị trường nông thôn phát triển Thị trường tiêu thụ sản phẩm của vùng nông thôn không chỉ có vai trò hiện thực hoá thu nhập bằng tiền cho người tiêu dùng, làm tăng quỹ mua, mà còn thúc đẩy sản xuất hàng hoá, giảm dần tính tự cấp, tự túc và mở rộng nhu cầu tiêu dùng của dân cư nông thôn
+ Mối quan hệ giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với thị trường du lịch: Các vùng nông thôn chứa đựng nhiều tài nguyên du lịch, như du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch cảnh quan kiến trúc và văn hoá,… Đây
Trang 22là những tiềm năng quan trọng cho phát triển thị trường du lịch ở nông thôn Thị trường du lịch ở nông thôn phát triển sẽ thu hút được lượng lớn khách hàng cho thị trường bán lẻ, mở ra cơ hội bán lẻ trực tiếp của các hộ sản xuất trên địa bàn nông thôn, thúc đẩy phát triển các phương thức bán lẻ hiện đại,…
+ Trong thời đại toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, thị trường của mỗi quốc gia trở thành một bộ phận ngày càng khăng khít của thị trường thế giới
Do đó, mối quan hệ tác động qua lại giữa các thị trường của một quốc gia nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn nói riêng cũng ngày càng toàn diện hơn, mạnh mẽ hơn và trực tiếp hơn
1.2 NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN 1.2.1 Các điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội
Trước hết, các điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội là những yếu tố cơ
bản tạo nên môi trường sống của con người – môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường văn hoá, Nhu cầu tiêu dùng của con người thường chứa đựng trong nó những nét đặc trưng cơ bản nhất của môi trường sống Nói cách khác, các điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành lối sống và nhu cầu tiêu dùng của dân cư nói chung và dân cư nông thôn nói riêng
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng chủ yếu đến cơ cấu nhu cầu và cơ cấu hàng hoá tiêu dùng của dân cư Chẳng hạn, cơ cấu tiêu dùng hàng hoá của dân cư nông thôn vùng biển sẽ khác biệt so với dân cư nông thôn miền núi về các mặt hàng thực phẩm Người dân vùng biển thường có tỷ trọng tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản cao hơn, nhưng tiêu dùng các sản phẩm thịt thấp hơn so với dân cư miền núi Hay, người dân vùng khí hậu ôn đới sẽ tiêu dùng các mặt hàng may mặc, giầy dép, các mặt hàng năng lượng nhiều hơn so với người dân ở vùng khí hậu nhiệt đới…
Môi trường văn hoá có ảnh hưởng chủ yếu đến hình thức bên ngoài của sản phẩm (kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc,…) Ví dụ, người theo đạo hồi thường mặc trang phục màu đen, trắng, hay người dân tộc thiểu số thường mặc những bộ trang phục có màu sắc sặc sỡ,… Ngoài ra, môi trường văn hoá cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng thực phẩm Ví dụ, người theo đạo Hindu không ăn thịt bò,…
Môi trường xã hội có ảnh hưởng chủ yếu đến tình trạng phân bố nhu cầu tiêu dùng, các trào lưu, xu hướng tiêu dùng trên thị trường Những nơi có môi trường xã hội tốt sẽ thu hút con người đến sống và làm việc và sẽ trở thành nơi có mật độ người tiêu dùng cao và ngược lại Các trào lưu và xu hướng tiêu dùng trên thị trường có thể là trào lưu, xu hướng tiêu dùng chung của cả xã hội, nhưng cũng có thể chỉ của bộ phận xã hội ở một vùng nào đó,
ở những lứa tuổi nhất định và ở những nghề nghiệp nào đó
Trang 23Thứ hai, những thay đổi về môi trường sống sẽ kéo theo những biến đổi
về nhu cầu tiêu dùng của dân cư Môi trường sống ở nông thôn có thể diễn ra
do những thay đổi về: môi trường tự nhiên; cách thức tổ chức xã hội ở nông thôn; qui mô dân số và cơ cấu dân số theo giới tính, theo nghề nghiệp, theo lứa tuổi; sự xâm nhập của các dòng văn hoá mới; sự hình thành các tổ chức
xã hội, nghề nghiệp ở nông thôn… Chẳng hạn, sự biến đổi về khí hậu hiện nay đang tạo nên xu hướng tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường Quá trình đô thị hoá sẽ làm thay đổi cách thức tổ chức xã hội, cơ cấu dân số theo nghề nghiệp,… sẽ làm thay đổi thói quen tiêu dùng, cơ cấu tiêu dùng, hành vi mua sắm,… Xu hướng toàn cầu hoá và tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, các quốc gia hiện nay đã tạo cơ hội cho người tiêu dùng tiếp cận và tiếp nhận nhiều hơn các hàng hoá tiêu dùng mang đậm những nét đặc trưng của các vùng, các nền văn hoá khác nhau
Thứ ba, các điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội ở nông thôn còn tác động
trực tiếp đến quá trình phát triển sản xuất ở đó, như: sự hình thành các vùng sản xuất đặc sản, cơ cấu nghề nghiệp, năng suất lao động, cơ cấu sản phẩm,… Tất cả những điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sản phẩm sản xuất ra, tính mùa vụ, giá cả và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường,… Những yếu tố này sẽ qui định khả năng thu nhập và qui mô tiêu dùng của dân cư nông thôn trên thị trường bán lẻ
1.2.2 Trình độ phát triển sản xuất ở nông thôn
Quá trình phát triển sản xuất là quá trình chuyển biến lâu dài từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ phát triển theo chiều rộng là chính sang phát triển theo chiều sâu là chính Nền sản xuất nhỏ gắn với loại hình tái sản xuất giản đơn và tính tự cấp tự túc cao Nền sản xuất lớn gắn với loại hình tái sản xuất
mở rộng và nền kinh tế hàng hoá phát triển theo hướng: 1) Sự gia tăng qui
mô sản xuất, qui mô sản lượng sản phẩm trên cơ sở sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào, các nguồn lực của sản xuất; 2) Tăng qui mô sản lượng sản phẩm do tăng năng suất lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Đối với kinh tế nông thôn, lý luận và thực tiễn lịch sử cho thấy, bước chuyển từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn là quá trình diễn ra đồng thời của: 1) Tiến trình hình thành những vùng nông nghiệp chuyên canh, tập trung qui mô lớn tạo ra thị trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; 2) Tiến trình hình thành lao động chuyên môn hoá tạo tiền đề cho sự ra đời của các ngành sản xuất phi nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, phát triển các loại thị trường; 3) Chuyển từ hình thức tư hữu nhỏ sang hình thức tư hữu lớn về tư liệu sản xuất; 4) Nhà nước tham tham gia vào quá trình chuyển biến của nền sản xuất hàng hóa giản đơn thông qua các chính sách kinh tế, đẩy mạnh tích luỹ
Trong quá trình đó ở nông thôn, những người nông dân, thợ thủ công vẫn dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của chính họ
Trang 24Do đó, sản xuất hàng hoá ở nông thôn về cơ bản là vẫn là nền sản xuất hàng hoá nhỏ và tồn tại xen kẽ với nền kinh tế tự nhiên Điều đó có nghĩa là ở nông thôn, sản xuất của người dân nông thôn vẫn vừa tạo ra sản phẩm hàng hoá để tự tiêu dùng, vừa để cung ứng cho thị trường.
Trong quá trình tái sản xuất nói chung, sản xuất là khâu mở đầu, trực tiếp tạo ra của cải vật chất, sản phẩm xã hội, phục vụ tiêu dùng Sản xuất giữ vai trò quyết định đối với các khâu phân phối, trao đổi và tiêu dùng Do đó, trình độ phát triển sản xuất ở vùng nông thôn nào đó sẽ có ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đó trên những phương diện chủ yếu như:
+ Về phương diện sản xuất ở nông thôn tạo ra sản phẩm để tự tiêu dùng, đây chính là biểu hiện của nền kinh tế tự cấp, tự túc Trong điều kiện đó qui
mô nhu cầu mua trên thị trường bán lẻ ở nông thôn hầu như rất thấp và thị trường thiếu cơ sở để phát triển
+ Về phương diện sản xuất ở nông thôn tạo ra sản phẩm để bán, một mặt, qui mô, cơ cấu và trình độ phát triển sản xuất sẽ quyết định qui mô và
cơ cấu sản phẩm, cũng như phương thức và hình thức cung ứng sản phẩm trên thị trường bán lẻ nói chung và thị trường bán lẻ ở nông thôn nói riêng
Mặt khác, nó mang lại thu nhập bằng tiền cho người dân nông thôn Một
phần thu nhập bằng tiền đó sẽ được người dân sử dụng để mua hàng tiêu dùng trên thị trường bán lẻ và hình thành “cầu thực tế” trên thị trường bán lẻ
ở nông thôn Rõ ràng, qui mô và những đặc trưng cơ bản của “cầu thực tế” trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở vùng nông thôn nào đó sẽ do trình độ phát triển và cơ cấu sản xuất ở đó quyết định Qui mô và những nét đặc trưng của “cầu thực tế” trên thị trường sẽ quy định tần suất mua - bán, cũng như tính chất và hình thái mua - bán trên thị trường
Như vậy, quá trình phát triển trình độ sản xuất ở nông thôn từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn sẽ tác động mang tính quyết định đến trình độ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn một cách toàn diện, từ qui mô,
cơ cấu hàng hoá cung ứng trên thị trường đến phương thức, hình thức, tần suất mua bán trên thị trường, cũng như dung lượng và cơ cấu của “cầu thực tế” trên thị trường
1.2.3 Trình độ phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn
Mặc dù, sản xuất quyết định qui mô và cơ cấu tiêu dùng, chất lượng và tính chất của sản phẩm quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng Theo C.Mac “Sản xuất không phải chỉ tạo ra vật phẩm cho tiêu dùng, mà còn đem lại cho tiêu dùng tính xác định của nó, tính chất của nó, sự hoàn thiện của nó” Tuy nhiên, C.Mac cũng khẳng định, tiêu dùng lại tạo ra nhu cầu và mục đích của sản xuất Hơn nữa, sản xuất quyết định tiêu dùng, nhưng quá
trình phát triển nhu cầu của người tiêu dùng là một hiện tượng khách quan do
Trang 25tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, văn hoá, xã hội,… chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các nhà sản xuất không còn định hướng sản xuất dựa trên khả năng của sản xuất, mà chuyển sang định hướng sản xuất theo nhu cầu thị trường Người tiêu dùng là “thượng đế”, nhu cầu của người tiêu dùng là một căn cứ quan trọng để xác định khối lượng, cơ cấu, chất lượng sản phẩm xã hội Sư phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực phát triển của sản xuất Như vậy, với tư cách là mục đích và động lực của sản xuất, tiêu dùng
có tác động trở lại đối với sản xuất
Theo thuyết A.Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Tháp nhu cầu của con người bao gồm: Nhu cầu sinh lý (vật chất); Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận); Nhu cầu được tôn trọng; Nhu cầu tự hoàn thiện
Nhu cầu sinh lý (vật chất) là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, nhà ở, tình dục…) Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người
Nhu cầu về vật chất của con người ở những mức thu nhập khác nhau sẽ khác nhau Những tầng lớp dân cư có thu nhập thấp sẽ dành phần lớn chi tiêu cho nhu cầu về hàng hoá lương thực - thực phẩm Đối với tầng lớp có thu nhập trung bình, tỷ trọng chi tiêu cho lương thực - thực phẩm sẽ giảm dần và tăng tỷ trọng chi tiêu cho các mặt hàng may mặc, đồ dùng gia đình,… Đối với tầng lớp
có thu nhập cao, người tiêu dùng sẽ chi tiêu nhiều hơn cho các mặt hàng văn hoá, giáo dục, thể thao, giải trí,… Đồng thời, thu nhập càng cao, người tiêu tiêu dùng càng có xu hướng chuyển từ sử dụng các mặt hàng chất lượng thấp, giá rẻ, sang các mặt hàng chất lượng cao, giá đắt để thoả mãn một phần nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng
Như vậy, trình độ phát triển của nhu cầu nói chung với tư cách là một yếu
tố cơ bản của thị trường sẽ có ảnh hưởng không chỉ đến phía cung (bao gồm người sản xuất và người bán buôn, bán lẻ) mà cả yếu tố giá cả hàng hoá trên thị trường bán lẻ Rõ ràng, trình độ phát triển của nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh
tế thị trường hiện đại là yếu tố quan trọng xác lập trình độ phát triển của thị trường bán lẻ
Đối với khu vực nông thôn, do hạn chế về mức thu nhập và khả năng gia tăng thu nhập nhanh cũng như do tác động của các điều kiện tự nhiên, văn hoá,
xã hội, nên trình độ phát triển nhu cầu tiêu dùng nói chung thường ở mức thấp hơn so với khu vực đô thị Điều đó sẽ không chỉ hạn chế trình độ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn về qui mô, cơ cấu, chủng loại hàng
Trang 26hoá cung ứng và mức giá trên thị trường, mà còn hạn chế khả năng đầu tư phát triển các cơ sở kinh doanh của các nhà phân phối nói chung và các nhà bán lẻ nói riêng ở thị trường nông thôn
1.2.4 Trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối hàng hoá tiêu dùng
ở nông thôn
Kênh phân phối hàng hoá là một tập hợp các tổ chức, cá nhân cùng làm nhiệm vụ đưa hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Trên thị trường, hệ thống kênh phân phối hàng hoá được các doanh nghiệp thiết lập nhằm đảm bảo việc điều hành và vận chuyển sản phẩm, dịch vụ của mình đến người tiêu dùng, đảm bảo tiêu thụ hàng hoá nhanh, nhiều với chi phí thấp nhất
Hệ thống kênh phân phối trên thị trường có thể được thiết lập trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng, hoặc qua 1 hay nhiều cấp trung gian thương mại
Như vậy, hệ thống các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường là “gạch nối”, những cách thức mà qua đó sản xuất được kết nối với tiêu dùng Kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng
và dòng thông tin phản hồi từ người tiêu dùng đến người sản xuất
Sơ đồ 1.1 Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất tới
người tiêu dùng cuối cùng
Trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối, về cơ bản, được xác định bởi: qui mô hay dung lượng của dòng chảy hàng hoá qua các kênh phân phối; mức độ hợp lý về thời gian lưu thông của hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng, về chi phí lưu thông và mức giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng, về lợi nhuận đạt được của các doanh nghiệp thành viên trong kênh
Người sản xuất
Người tiêu dùng
Người sản xuất
Người sản xuất
Người bán buôn
Người bán
lẻ
Người tiêu dùng
Người sản xuất môi giới Đại lý Người bán buôn Người bán lẻ tiêu dùngNgười
Kênh ngắn
Kênh trung
bình
Kênh dài
Trang 27trường; mức độ bao phủ của mạng lưới bán lẻ trên thị trường; mức độ cung cấp dịch vụ bán hàng và sau bán hàng cho người mua… Do đó, trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối hàng hoá trên thị trường bán lẻ, một mặt
do trình độ phát triển của sản xuất, tiêu dùng quyết định Mặt khác, nó có tác động trở lại đối với cả sản xuất và tiêu dùng Trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối càng cao sẽ càng mang lại lợi ích thực tế cho cả người sản xuất và người tiêu dùng, qua đó góp phần thúc đẩy cả sản xuất và tiêu dùng phát triển
Đối với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, do hạn chế về trình độ phát triển của cả sản xuất và tiêu dùng, nên trình độ phát triển của hệ thống kênh phân phối cũng còn thấp Những biểu hiện về trình độ phát triển thấp của hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng ở nông thôn như: các loại hình bán lẻ truyền thống vẫn tồn tại khá phổ biến; khả năng cung cấp các dịch vụ trong và sau bán hàng của người bán lẻ thấp; lưu lượng hàng hoá lưu thông qua các kênh phân phối thấp;… Vì vậy, những tác động trở lại của hệ thống kênh phân phối hàng hoá đối với quá trình sản xuất và tiêu dùng ở nông thôn cũng chưa cao
Sơ đồ 1.2 Các loại hình bán lẻ hàng hoá
Bán hàng rong
Các chợ
Kiốt, cửa hàng bán lẻ
Siêu thị
Trung tâm thương mại
Cửa hàng tiện ích…
Loại hình bản lẻ truyền thống
Loại hình bản lẻ hiện đại
Các loại
hình bán
lẻ hàng
hoá
Trang 281.2.5 Vai trò tổ chức và quản lý phát triển thị trường của Nhà nước
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là một bộ phận trong hệ thống thị trường của nền kinh tế Do đó, sự phát triển của nó cũng chịu sự điều tiết của Nhà nước Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã dần được khẳng định qua sự phát triển của các học thuyết kinh tế Trường phái cổ điển và tân cổ điển cho rằng sự cân bằng về kinh tế do thị trường tự điều tiết, nhưng học thuyết của J.M Keyns cho rằng muốn có cân bằng, Nhà nước phải điều tiết nền kinh tế Lý thuyết của Keyns đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi Theo Ông cùng với sự tăng lên của thu nhập là sự tăng lên của nhu cầu Vì vậy, để phát triển sản xuất phải tìm cách tăng cầu, kích thích cầu phát triển Lý thuyết của Keyns thuộc trường phái trọng cầu Theo
lý thuyết của Keyns, sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường được thông qua các chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, lãi suất và các công cụ khác Thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu hiện nay càng ủng
hộ mạnh mẽ cho sự cạn thiệp của Nhà nước vào kinh tế Nhà nước cần thị trường để tăng trưởng và phát triển kinh tế Thị trường cần Nhà nước để xử
lý tính không hoàn hảo của thị trường, đảm bảo công bằng kinh tế, ổn định thị trường, giải quyết những ảnh hưởng ngoại ứng và cung cấp những hàng hoá công cộng cho thị trường Như vậy, vai trò, chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn
Đối với phát triển thị trường nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nói riêng, yếu tố Nhà nước có ảnh hưởng khá toàn diện đến sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế, như:
+ Thiết lập khuôn khổ về luật pháp nói chung và cho thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nói riêng Cụ thể là thiết lập khuôn khổ về luật pháp nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trên thị trường bán lẻ Trong đó, trọng tâm là xây dựng và thực thi hệ thống luật pháp hoàn chỉnh nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển hiệu quả các hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá; đảm bảo hàng hoá lưu thông thông suốt qua các hệ thống phân phối nói chung, các hệ thống phân phối bán lẻ nói riêng, chống các hành vi độc quyền thống lĩnh thị trường và các hình thức phân phối bán lẻ bất hợp pháp, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng
+ Tạo lập môi trường kinh doanh nói chung và môi trường kinh doanh bán
lẻ nói riêng Môi trường kinh doanh bán lẻ là tổng thể các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các quyết định hoặc hoạt động của các nhà phân phối nói chung và nhà bán lẻ nói riêng Những yếu tố này bao gồm cả các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Để đảm bảo cho thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nói chung và ở nông thôn nói riêng, Nhà nước cần duy trì
ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị - xã hội, giải quyết việc làm, công bằng
xã hội và xoá đói giảm nghèo, phát triển văn hoá (nhất là văn hoá tiêu dùng),
Trang 29bảo vệ môi trường sinh thái và khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên thị trường ở khu vực nông thôn
+ Đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển của nền kinh tế nói chung và từng thị trường trong nền kinh tế nói riêng Đối với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
ở nông thôn, các cơ sở hạ tầng cần được quan tâm phát triển bao gồm: viễn thông, vận tải, thông tin kinh tế, và kể cả những kết cấu hạ tầng thương mại mang tính cộng đồng như chợ nông thôn
+ Hỗ trợ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn như: bảo
vệ các nhà phân phối, nhà bán lẻ trong nước nói chung và ở vùng nông thôn nói riêng trước sức cạnh tranh của các nhà phân phối nước ngoài; hỗ trợ phát triển
cả về phía cung và phía cầu trên thị trường bán lẻ tại các vùng nông thôn kém phát triển, vùng sâu, vùng xa Đồng thời, Nhà nước có thể trực tiếp tổ chức xây dựng một số hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá cho các ngành hàng quan trọng, trên các địa bàn đặc thù thông qua sử dụng khu vực kinh tế Nhà nước (vốn, đất đai, tài sản mà Nhà nước trực tiếp quản lý, các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc độc quyền tự nhiên )
+ Cải cách khu vực công, nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp các dịch vụ công cho các đối tượng tham gia thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
+ Xây dựng định hướng phát triển cho thị trường nông thôn thông qua các công cụ như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và qui hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nói riêng, xây dựng định hướng phát triển tiêu dùng ở khu vực nông thôn trong từng giai đoạn phát triển,
+ Xây dựng và điều chỉnh hệ thống quản lý thị trường từ trung ương đến địa phương, giảm bớt thủ tục hành chính, đảm bảo sự vận hành của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐÔ THỊ HOÁ 1.3.1 Xu hướng phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn
Đối với các nền kinh tế trong giai đoạn thực hiện CNH, quá trình đô thị hoá cũng sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn Các quá trình này sẽ làm thay đổi cơ bản những cơ sở hình thành và phát triển nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân nông thôn do những thay đổi về: cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động theo nghề nghiệp; năng suất lao động tăng lên kéo theo sự gia tăng thu nhập của dân cư nông thôn; điều kiện nhà ở; môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái; môi trường văn hoá; Những thay đổi đó sẽ làm thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân nông thôn và hình thành những xu hướng tiêu dùng mới Trong đó, nhưng xu hướng cơ bản về phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn trong quá trình thực hiện CNH, đô thị hoá như:
Trang 30+ Xu hướng mở rộng “dải” nhu cầu tiêu dùng của dân cư và tạo ra nhiều thang bậc nhu cầu tiêu dùng tương ứng với các “ngưỡng” thu nhập khác nhau, cũng như các phân khúc người tiêu dùng theo tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, Xu hướng này phát triển do quá trình gia tăng thu nhập, chuyên môn hoá trong sản xuất, sự hình thành các vùng sản xuất chuyên canh qui mô lớn và phân hoá giàu nghèo
+ Trong “dải” nhu cầu tiêu dùng của người dân nông thôn, xu hướng thay đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng theo các nhóm hàng hoá sẽ diễn ra liên tục
và tương ứng với mức độ cải thiện thu nhập của người dân Trong đó, tỷ trọng nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá lương thực - thực phẩm có xu hướng giảm dần và nhu cầu về các hàng hoá đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại,
sẽ tăng nhanh hơn do cải thiện về điều kiện nhà ở, cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, cung cấp điện Đồng thời với xu hướng này, một bộ phận dân cư nông thôn có thu nhập cao sẽ có xu hướng chuyển sang tiêu dùng những mặt hàng hoá cùng loại, nhưng có giá trị và giá trị sử dụng cao hơn + Xu hướng gia tăng mức độ “đậm đặc” của nhu cầu tiêu dùng ở các vùng nông thôn do quá trình di dân để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới Nói các khác, tính phân tán của nhu cầu tiêu dùng trên thị trường nông thôn sẽ ngày càng giảm dần
+ Cùng với xu hướng gia tăng mức độ đậm đặc của nhu cầu tiêu dùng, trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn cũng sẽ hình thành các đợt sóng tiêu dùng và sẽ diễn ra với ở qui mô và cường độ ngày càng lớn hơn + Xu hướng cá biệt nhu cầu của các thành viên trong hộ gia đình nông thôn với nhiều thế hệ sinh sống sẽ ngày càng rõ nét, nhất là đối với các mặt hàng thuộc nhu cầu tiêu dùng cá nhân và đối tượng tiêu dùng trẻ Xu hướng này diễn ra, một phần do tác động của phía cung ứng, một phần do sự cải thiện về thu nhập và nhận thức của các đối tượng tiêu dùng
+ Do tác động của quá trình công nghiệp hoá và dòng di cư lao động trẻ, nhất là lao động nam từ khu vực nông thôn ra thành thị, vai trò nội trợ và mua sắm trong gia đình sẽ có xu hướng chuyển dần sang nhóm cao tuổi, hưu trí, nhất là nữ giới ở nhóm tuổi từ 40 - 55 Do đó, nhu cầu sử dụng, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, nhất là đối với các mặt hàng đồ dùng gia đình, các mặt hàng nội trợ, của các đối tượng này sẽ giữ vai trò quan trọng trong quyết định mua sắm trên thị trường bán lẻ ở khu vực nông thôn
+ Xu hướng gia tăng nhu cầu mua sắm và tần suất mua sắm của người tiêu dùng trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn do ảnh hưởng của các yếu tố như: thu nhập và tỷ trọng thu nhập bằng tiền trong tổng thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tăng lên; xu hướng mở rộng cung ứng hàng hoá của các nhà phân phối trên thị trường nông thôn; chu kỳ sống của các mặt hàng tiêu dùng đang có xu hướng giảm do các doanh nghiệp sản xuất
Trang 311.3.2 Xu hướng phát triển của cung ứng hàng hoá tiêu dùng trên thị trường nông thôn
Quá trình thực hiện CNH sẽ làm gia tăng năng lực sản xuất trong nền kinh tế nói chung và năng lực sản xuất các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng nói riêng Các doanh nghiệp sản xuất vì mục tiêu lợi nhuận sẽ luôn hướng tới việc gia tăng qui mô sản xuất để đạt được lợi ích kinh tế nhờ qui mô (lợi ích cận biên) Tuy nhiên, để hiện thực hoá lợi ích đó, các doanh nghiệp phải phát triển thị trường tiêu thụ, phát triển các kênh phân phối sản phẩm và đảm bảo tiêu thụ hết sản lượng sản phẩm được sản xuất ra Trong đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là một trong những thị trường đầy tiềm năng mà các doanh nghiệp không thể bỏ qua Hơn nữa, cùng với quá trình CNH và đô thị hoá, bộ phận cầu về hàng hoá tiêu dùng trên thị trường nông thôn sẽ ngày càng được cải thiện Điều đó sẽ càng kích thích các nhà cung ứng (người sản xuất, các trung gian thương mại) quan tâm phát triển các kênh phân phối trên thị trường nông thôn Từ đó, những xu hướng phát triển chủ yếu về cung ứng hàng hoá tiêu dùng trên thị trường nông thôn sẽ diễn ra bao gồm:
- Xu hướng gia tăng liên kết giữa các nhà sản xuất và các doanh nghiệp thương mại để tạo thành những kênh phân phối hợp lý nhằm gia tăng khả năng cung cấp hàng hoá cho thị trường nông thôn Đây là xu hướng có nguồn gốc sâu xa từ xu hướng ngày càng chuyên môn hoá sâu của các nhà sản xuất
và xu hướng khác biệt hoá trong tiêu dùng của các cá nhân
- Trong hệ thống các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nông thôn, vai trò của các trung gian thương mại sẽ ngày càng lớn Xu hướng này, một mặt do thị trường nông thôn rộng, trong khi mật độ nhu cầu còn thấp, vì vậy các doanh nghiệp sản xuất sẽ không thể phát triển mạng lưới bán lẻ đến từng khu vực thị trường nông thôn Mặt khác, do áp lực cạnh tranh tại các thị trường đô thị ngày càng lớn, các trung gian thương mại sẽ buộc phải mở rộng mạng lưới kinh doanh nói chung và mạng lưới bán lẻ nói riêng, trong đó có khu vực nông thôn
- Xu hướng tập trung hoá để hình thành các tập đoàn lớn trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ có khả năng phát triển hệ thống kênh phân phối bao phủ rộng từ thị trường đô thị đến thị trường nông thôn Trên thế giới, xu hướng này đã có từ lâu như các tập đoàn Metro Cash & Carry (Đức), Walmart (Hoa Kỳ), Carrefour, Cora (Pháp), Tesco (Anh) Với mức độ chuyên môn hoá cao
và hệ thống phân phối tốt, hình thức tổ chức này có vị trí dẫn dắt phát triển thương mại bán buôn, bán lẻ trên thị trường Nó có những ưu điểm nổi trội như cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến theo hệ thống thông suốt từ trung tâm đến cơ sở, khả năng nghiên cứu và nắm bắt thị trường nhanh nhạy, chính xác, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến Đặc biệt, do kinh doanh số lượng hàng hoá lớn với chủng loại phong phú, phục vụ
Trang 32tiện lợi cho người mua hàng, kết hợp với ưu đãi tăng chiết khấu cho người mua số lượng lớn, hình thức này đem lại hiệu quả khá cao
- Xu hướng kết hợp chức năng (2 trong 1) giữa bán buôn và bán lẻ của các doanh nghiệp phân phối Đây là xu hướng phát triển chung của các doanh nghiệp phân phối trên phạm vi toàn cầu do: 1) Trong điều kiện tính cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ngày càng tăng, doanh nghiệp nào nắm được mạng lưới bán lẻ sẽ nắm được thị trường tiêu thụ hàng hoá; 2) Các doanh nghiệp bán lẻ hiện nay ngày càng có xu hướng phát triển chuỗi các cơ sở bán
lẻ Các doanh nghiệp bán lẻ sẽ phải phát triển các cơ sở nguồn hàng để đảm bảo cung ứng cho các cơ sở bán lẻ và qua đó sẽ kết hợp phát triển hoạt động bán buôn; 3) Sự kết hợp giữa bán buôn và bán lẻ sẽ cho phép các doanh nghiệp phân phối hợp lý hoá quá trình vận chuyển hàng hoá, tiết kiệm chi phí lưu thông,… qua đó làm gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Xu hướng thâm nhập ngày càng mạnh của thương mại điện tử vào thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, trước hết là ở những vùng nông thôn phát triển năng động, có cơ sở hạ tầng viễn thông tốt Lợi ích của thương mại điện tử đối với dịch vụ bán lẻ thể hiện rất rõ trên các mặt như: Tăng được năng suất do việc quản lý mua sắm và kho dự trữ đạt hiệu quả cao hơn (kiểm kê hàng hoá không cần giấy tờ) hoặc do cải thiện được hệ thống kênh phân phối trong và ngoài nước, tiết kiệm được chi phí giao dịch, đem lại cảm giác thoải mái, tiện lợi khi mua hàng, tăng cường hiệu quả quảng cáo, marketing bán hàng và thanh toán tiền hàng, tăng nhanh khả năng phổ biến
và tiếp thu công nghệ mới Do có tính ưu việt như vậy nên trong những năm gần đây, doanh số thương mại điện tử trên thế giới đã có sự tăng trưởng chóng mặt, bình quân khoảng 70% mỗi năm
- Xu hướng phát triển hệ thống bán lẻ, phân phối theo hình thức nhượng quyền thương mại (franchising) cũng được áp dụng ngày càng phổ biến ở trên thị trường bán lẻ nói chung và thị trường bán lẻ ở nông thôn nói riêng Bản chất của hình thức tổ chức này là doanh nghiệp kinh doanh một ngành hàng nào đó, sau khi đã đạt được những thành công trong kinh doanh và đã xây dựng được một thương hiệu mạnh sẽ nhượng quyền thương mại cho các doanh nghiệp hay cá nhân khác theo hợp đồng ký kết giữa hai bên Nội dung của nhượng quyền thương mại cũng có nhiều mức độ khác nhau, quyền lợi
và nghĩa vụ của bên nhượng quyền và bên nhận quyền sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào hợp đồng được ký giữa hai bên Hình thức nhượng quyền thương mại trong bán buôn, bán lẻ ngày càng phổ biến trên thế giới và cũng đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam Đối với thị trường bán lẻ ở nông thôn, hình thức kinh doanh này tuy còn mới mẻ, nhưng sẽ có triển vọng phát triển nhanh nhờ giảm thiểu được chi phí đầu tư xây dựng cơ sở bán lẻ của các doanh nghiệp nhượng quyền
Trang 33- Xu hướng gia tăng các dịch vụ khách hàng trên thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, bên cạnh việc đảm bảo hàng hoá phong phú về chủng loại, mẫu mã chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý, doanh nghiệp nào có các dịch vụ phục vụ khách hàng tốt hơn thì khả năng thành công cao hơn Các dịch vụ bổ sung trong quá trình kinh doanh có rất nhiều loại, có dịch vụ trực tiếp diễn ra trong quá trình bán hàng như: dịch vụ bao bì, đóng gói; vận chuyển hàng đến tận nhà; bảo hành sửa chữa; các dịch vụ hậu mãi Các dịch vụ phục vụ sự tiện lợi cho khách hàng như: kết hợp giữa nơi bán hàng và nơi giải trí, có chỗ cho con trẻ vui chơi (trong khi người lớn mua hàng) có thể có phòng chiếu phim, chơi
games, phòng vẽ, tô vẽ nặn tượng…
1.3.3 Xu hướng phát triển điều kiện cơ sở hạ tầng trên thị trường bán lẻ
ở nông thôn
Nhìn chung đối với khu vực nông thôn, các điều kiện cơ sở hạ tầng thường kém phát triển hơn nhiều so với các khu vực đô thị Hạn chế này không chỉ cản trở các nhà cung cấp phát triển hệ thống kênh phân phối hàng hoá, mà còn hạn chế sự phát triển nhu cầu tiêu dùng của dân cư nông thôn Chẳng hạn, tình trạng kém phát triển về hạ tầng viễn thông sẽ làm tăng chi phí về thời gian và tiền bạc đối với các doanh nghiệp phân phối khi thực hiện các giao dịch kinh doanh, đồng thời nó cũng hạn chế nhu cầu sử dụng các mặt hàng liên quan đến sử dụng dịch vụ viễn thông
Các điều kiện cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cơ sở hạ tầng trong nền kinh
tế nói chung thường có chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm và/hoặc tỷ suất lợi nhuận thấp Do đó, hầu hết các cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế thuộc danh mục các hàng hoá công cộng mà Nhà nước có chức năng đảm bảo cung cấp
Đối với các nền kinh tế đang trong quá trình thực hiện CNH, đô thị hoá, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là rất lớn, vượt quá khả năng đầu tư của nền kinh tế Do đó, trong giai đoạn đầu của thời kỳ CNH, Nhà nước thường đầu tư tập trung vào một số khu vực trọng điểm và thường là các vùng phát triển kinh tế năng động Tuy nhiên, có những vấn đề thuộc chức năng kinh tế mà Nhà nước cũng phải quan tâm, đó là vấn đề phát triển công bằng, giảm bớt khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng, miền, Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn cũng sẽ từng bước được Nhà nước quan tâm đầu tư theo những xu hướng sau:
- Xu hướng phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, viễn thông ở khu vực nông thôn trong thời kỳ thực hiện CNH sẽ diễn ra trước hết ở những vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các trung tâm CNH và các vùng thuộc hành lang liên lạc giữa các trung tâm CNH hoá Tiếp đến là xu hướng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp tại các vùng nông thôn có qui mô sản xuất, sản
Trang 34lượng sản phẩm lớn nhắm hỗ trợ cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm phát triển Sau đó là xu hướng phát triển đồng bộ các cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, qua đó hỗ trợ cho hoạt động giao lưu hàng hoá giữa khu vực nông thôn với khu vực đô thị, giữa các vùng, miền với nhau
- Cùng với xu hướng gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế nói chung và ở nông thôn nói riêng là xu hướng phát triển của các doanh nghiệp tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ, trong đó bao gồm cả những dịch vụ với
tư cách là đầu vào cho hoạt động phân phối bán lẻ Chẳng hạn, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ vận chuyển hàng hoá, dịch vụ du lịch, dịch vụ công nghệ thông tin,… Khi xu hướng này diễn ra sẽ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phân phối, như sự xuất hiện hình thức bán lẻ qua điện thoại, dịch
vụ tư vấn khách hàng, dịch vụ giao hàng tại nhà,… Tuy nhiên, ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng kém phát triển, xu hướng này sẽ không diễn ra mạnh mẽ như tại khu vực đô thị
- Đối với hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại ở nông thôn, những xu hướng phát triển chủ yếu sẽ diễn ra bao gồm:
+ Xu hướng các loại hình kết cấu hạ tầng bán lẻ hiện đại sẽ thay thế dần các loại hình kết cấu hạ tầng bán lẻ truyền thống, nhất là loại hình chợ và quán hàng, sạp hàng của các hộ kinh doanh nhỏ Xu hướng này diễn ra do tác động của các yếu tố như: 1) số lượng người sản xuất nhỏ đưa sản phẩm đến chợ bán sẽ giảm dần xu hướng phát triển sản xuất hàng hoá qui mô lớn ở nông thôn trong thời kỳ CNH; 2) Các hộ kinh doanh nhỏ ở khu vực nông thôn sẽ mất khả năng cạnh tranh trước các nhà bán lẻ chuyên nghiệp trên thị trường nông thôn; 3) Các chính sách, qui định của Nhà nước về tiêu chuẩn xây dựng các cơ sở bán lẻ, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm,…; 4) Những thay đổi của người dân nông thôn về nhu cầu, cách thức tiêu dùng, thói quen mua sắm…
+ Xu hướng phát triển các loại hình kết cấu hạ tầng bán lẻ qui mô nhỏ, đan xen trong các khu, cụm dân cư Xu hướng này diễn ra do tác động của các yếu tố như: 1) Mật độ dân số trên địa bàn nông thôn thường thấp, phân
bố ít tập trung hơn so với địa bàn đô thị; 2) Khả năng thu nhập, lượng nhu cầu và tần suất mua của dân cư nông thôn thấp và lại bị sức hút khá mạnh từ các thị trường bán lẻ ở đô thị; 3) Yêu cầu đảm bảo hiệu quả đầu tư cơ sở bán
lẻ của các nhà phân phối
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN THỜI KỲ 1995 - 2009
2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực nông thôn nước ta
Tổng diện tích lãnh thổ của nước ta là 33105,1 ngàn ha, trong đó diện tích dất sản xuất nông nghiệp chiếm 29% và diện tích đất lâm nghiệp chiếm 44,6%, trong khi diện tích đất chuyên dùng (gồm đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất có mục đích công cộng, đất quốc phòng, đất công trình sự nghiệp, trụ sở cơ quan) chỉ chiếm có 4,9%
Việt Nam là nước có địa hình nhỏ hẹp kéo dài từ Bắc đến Nam với chiều dài tính theo đường thẳng là 1650 km Lãnh thổ Việt Nam được phân thành 8 vùng sinh thái nông nghiệp, 6 vùng công nghiệp, 7 vùng địa-kinh tế
và 6 vùng kinh tế - xã hội Ngoài ra, trên 3 miền của đất nước có 4 vùng kinh
tế trọng điểm làm đầu tàu cho phát triển kinh tế của cả nước và vùng miền Ở ven biển, có 13 khu kinh tế, trên dọc biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia có một loạt các khu kinh tế cửa khẩu với những ưu đãi riêng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước và làm động lực cho phát triển kinh tế của các vùng
Khu vực nông thôn nước ta có địa giới rộng và phổ biến ở tất cả các vùng kinh tế - xã hội Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ, khu vực nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố Như vậy, khu vực nông thôn bao gồm các đơn vị hành chính là thị trấn và xã Hiện cả nước có 9.121 xã và 625 thị trấn, chiếm tới 87,7% tổng số 11.112 xã, phường, thị trấn (số liệu 2009)
Các làng và xóm là đơn vị tổ chức quan trọng nhất của nông thôn Việt
Nam Một làng gồm nhiều xóm gộp lại Đồng thời, người dân nông thôn, mặc dù chủ yếu làm nông nghiệp, nhưng ngoài ra họ còn làm nhiều nghề nghiệp khác Trong một số làng, một số dân cư hoặc phần lớn dân cư có một nghề nghiệp khác ngoài nghề nông Những người có cùng nghề này tập hợp
với nhau để tạo thành phường Có rất nhiều phường với các loại nghề nghiệp khác nhau như: phường gốm, phường chài, phường mộc, phường chèo, phường tuồng, Trước đây, các làng với lũy tre bao bọc có xu hướng nhấn mạnh vào tính dị biệt, tính đồng nhất Hệ quả của nó là tính tự cung tự cấp, cục bộ; gia trưởng, tôn ti và thủ tiêu vai trò cá nhân… Quá trình CNH và đô thị hóa hiện nay đang tác động mạnh mẽ đến đời sống, kinh tế - xã hội của làng, xóm Việt Nam: lũy tre làng không còn là hàng rào ngăn cách làng với bên ngoài; nhiều vùng nông thôn trở thành đất đô thị, đất công nghiệp
Trang 36Việt Nam có một nền văn hóa rất đa dạng, phong phú và giàu bản sắc bởi đó là sự giao hòa văn hóa của 54 sắc tộc cùng tồn tại trên lãnh thổ Bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cùng với nền văn minh lúa nước của người dân Đông Nam Á Việt Nam còn là một nước có nhiều tôn giáo: Phật giáo; Công giáo; Cao Đài; Hòa Hảo; Tin Lành và Hồi giáo Ngoài ra, người Chăm ở Nam Trung bộ có theo đạo Bà la môn Đại đa số người dân Việt Nam có tục lệ thờ cúng tổ tiên, nhiều người theo các tín ngưỡng dân gian khác như Đạo Mẫu Việt Nam, và thường đến cầu cúng tại các đền chùa Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo Dân số nông thôn:
Theo số liệu điều tra dân số của Tổng cụ Thống kê năm 2009, dân số cả nước là 86.024,6 ngàn người Trong đó, dân số khu vực nông thôn là 60.558,6 ngàn người, chiếm 70,4% trong tổng số dân số cả nước; dân số khu vực thành thị là 25.466 ngàn người, chiếm 29,6% tổng dân số của cả nước Trong thời kỳ 1996-2009, do quá trình CNH, đô thị hóa, tốc độ tăng dân
số của khu vực nông thôn luôn thấp hơn so với tốc độ tăng dân số cả nước và ngày càng giảm dần Tốc độ tăng dân số nông thôn giai đoạn 1996-2000 là 0,64%/năm, giai đoạn 2002 - 2005 là 0,39%/năm và giai đoạn 2006 – 2009 là 0,21%/năm
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dân số nông thôn theo vùng
Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Số liệu điều tra mức sống dân cư - Tổng cục Thống kê năm 2009
Phân bố dân số nông thôn theo vùng: theo số liệu năm 2009, tỷ lệ dân số nông thôn vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung là 23,66%, vùng Đồng bằng sông Hồng là 22,93%, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 21,93%, vùng Miền núi và Trung du phía Bắc là 15,38%, vùng Đồng Nam bộ
là 9.98% và Tây Nguyên là 6,11% Trong thời kỳ 1995-2009, so với tổng dân
Trang 37số nông thôn cả nước, tỷ lệ dân số nông thôn của các vùng đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ có xu hướng giảm, trong khi đó các vùng khác đều có xu hướng tăng
Trên địa bàn nông thôn đang diễn ra quá trình di cư mạnh mẽ đến các khu công nghiệp các đô thị và từ các vùng nông thôn phía Bắc đến các vùng nông thôn phía Nam, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ
Hộ gia đình nông thôn:
Theo điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, nhân khẩu bình quân 1
hộ trên địa bàn cả nước đều có xu hướng giảm dần Trong đó, nhân khẩu bình quân hộ nông thôn giảm từ 4,49 người/hộ (2002) còn 4,41 người/hộ (2004), 4,28 người/hộ (2008), 4,14 người/hộ (2008)và 3,86 người/hộ (2009)
Bảng 2.1: Số hộ gia đình cả nước phân theo thành thị nông thôn
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2009
Tốc độ tăng số hộ gia đình cả nước trong giai đoạn 2002 – 2009 là 3,38%/năm, thành thị là 5,89%/năm và nông thôn chỉ là 2,4%/năm Đồng thời tỷ lệ hộ gia đình nông thôn so với cả nước đã giảm dần qua các năm từ 74,06% năm 2002 còn 69,32% năm 2009
Bảng 2.2: Số hộ gia đình nông thôn cả nước năm 2009
phân theo vùng
Cả nước
Nông thôn
Số hộ nông thôn/ cả nước
Số hộ N thôn các vùng/ cả nước
Chung 22639.36 15692.82 69,32 100
Đồng bằng sông Hồng 5576.87 3940.95 70,67 25,11
Trung du và miền núi phía Bắc 2753.15 2262.76 82,19 14,42
Bắc Trung bộ và DH miền Trung 4952.86 3674.38 74,19 23,41
Tây Nguyên 1243.91 860.72 69,19 5,48
Đông Nam Bộ 3710.18 1633.35 44,02 10,41
Đồng bằng sông Cửu Long 4402.40 3320.65 75,43 21,16 Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2009
Trang 38Tỷ lệ hộ nông thôn so với tổng số hộ gia đình của vùng Miền núi và
trung du phía Bắc cao nhất (82,19%), tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long
(75,43%), Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (74,19%), Đồng bằng sông
Hồng (70,67%), Tây Nguyên (69,19%) và thấp nhất là vùng Đông Nam bộ
(44,02%)
Số hộ nông thôn theo vùng: Đồng bằng sông Hồng chiểm tỷ lệ 25,11%;
Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (23,41%); Đồng bằng sông Cửu Long
(21,16%) Miền núi và trung du phía Bắc cao nhất (14,41%), vùng Đông Nam
bộ (10,41%) Tây Nguyên (5,48%)
Điều kiện cơ sở hạ tầng ở nông thôn:
Bảng 2.3: Tiếp cận một số cơ sở hạ tầng của các thôn ấp năm 2008
ĐB sông Hồng
Trung du-MN phía Bắc
Bắc TB
và DH miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
khách thuê đi nơi khác 62,3 45,7 46,5 54,4 81,5 91,0
II Khoảng các trung bình từ thôn ấp không cơ sở hạ tầng có đến (Km):
Trang 39Theo số liệu bảng 2.3 cho thấy, vùng Đông Nam bộ tỷ lệ các thôn ấp
có cơ sở hạ tầng trên địa bàn cao nhất cả nước, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên và cuối cùng là vùng Trung du và miền núi phía Bắc Đồng thời, các vùng có tỷ lệ cơ sở hạ tầng cao cũng là những vùng có khoảng cách trung bình từ các thôn ấp không có cơ sở hạ tầng trên địa bàn đến cơ sở hạ tầng ở địa bàn thôn ấp khác thấp hơn
Nhìn chung, cơ sở hạ tầng ở nông thôn đã có sự cải thiện đáng kể trong giai đoạn vừa qua như: Đường giao thông nông thôn được xây dựng và nâng cấp cả về số lượng và chất lượng; Hệ thống trường học các cấp ở nông thôn tiếp tục được mở rộng và phát triển; Chương trình cung cấp nước sạch nông thôn đạt được những kết quả khả quan; Mạng lưới thông tin, văn hóa phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân; Hệ thống ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng nhân dân được hình thành ở khu vực nông thôn nhiều hơn những năm trước, tạo thuận lợi cho nhân dân tiếp cận vay vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Hệ thống ngân hàng, chợ, làng nghề
và cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản đã góp phần thúc đẩy phát triển đa dạng sản xuất kinh doanh ở nông thôn
2.1.2 Thực trạng phát triển sản xuất và thu nhập dân cư nông thôn
Trong những năm vừa qua, bên cạnh những thành tựu về phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất ở khu vực nông thôn cũng đã chuyển dịch nhanh theo hướng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở nông thôn:
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục Thống kê, tỷ
lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chủ yếu làm công việc nông – lâm - thủy sản ở khu vực nông thôn là 63,6%, giảm so với 70,7% vào năm 2002 Trong số các việc làm phi nông – lâm – thủy sản, tỷ lệ việc làm tăng nhanh ở các ngành công nghiệp chế biến (từ 9,1% năm 2002 lên 11,7% năm 2009), thương nghiệp (tương tự, từ 7,3% lên 7,9%), các dịch vụ khác (từ 1,6% lên 2,4%),… Các vùng nông thôn có tỷ lệ việc làm phi nông lâm – thủy sản cao nhất
là Đông Nam bộ (78,4%), Đồng bằng sông Hồng (60,3%), Đồng bằng sông Cửu Long (45%), Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (42,4%), Tây Nguyên (29,6%) và Trung du và miền núi phía Bắc (26,4%)
Cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ xã có cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn đã tăng từ 50,2% (2004) lên 57% (2008), nhưng tỷ lệ xã có làng nghề lại giảm từ 12,1% còn 7,7% Tỷ lệ xã có
cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn cao nhất là ở vùng Đông Nam bộ (69,4%), Đồng bằng sông Hồng (66,3%), Đồng bằng sông Cửu Long (64,2%), Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (60,0%), Trung du và miền núi phía Bắc (38,4%) và thấp nhất là Tây Nguyên (36,2%)
Trang 40Nếu tính theo vùng địa lý, tỷ lệ xã có cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn cao nhất là ở vùng Đồng bằng (66,0%), tiếp đến là vùng Trung
du, bán sơn địa (65,8%), ven biển (62,7%), vùng núi thấp (49,4%) và cuối cùng là vùng núi cao (31,8%)
Sản xuất nông nghiệp:
Mặc dù, hoạt động sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn tuy
có xu hướng tăng trong những năm vừa qua, nhưng sản xuất chính vẫn là các ngành nghề nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Những nét cơ bản về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong những năm vừa qua như sau: + GDP bình quân trên 1 lao động của khu vực nông nghiệp năm 2009 là
14 triệu đồng, bằng 40,3% so với mức chung của nền kinh tế và chỉ bằng 27,5% của khu vực dịch vụ, 21,6% của khu vực công nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001 – 2009, tốc độ tăng mức GDP bình quân một lao động của khu vực nông lâm thuỷ sản lại cao nhất, tăng 13,87%/năm, cao hơn so với khu vực công nghiệp - xây dựng (chỉ tăng 7,84%/năm) và khu vực dịch
so với cả nước, thấp nhất là vùng Đông Nam bộ (6,98%/năm)
Năm 2009, vùng có số lượng trang trại cao nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 48,5% tổng số trang trại cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (15,2%), Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (15,08%), vùng Đông Nam bộ (11,2%), vùng Tây Nguyên (6,52%), cuối cùng là vùng Trung
du, miền núi phía Bắc (3,45%)
+ Các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung theo hướng chuyên canh tạo
ra sản lượng hàng hoá lớn đảm bảo cung cấp cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong giai đoạn 1996 – 2000 và 2001 - 2009 như thuỷ sản, gạo, cà phê, chè, tiêu, điều,…
Mức thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn:
Trong những năm vừa qua, với những thành tựu đạt được trong phát triển sản xuất nông nghiệp và xu hướng gia tăng việc làm phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn, thu nhập của dân cư nông thôn đã từng bước được cải thiện đáng kể
Theo số liệu điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân nhân khẩu của dân cư nông thôn tăng từ 275,1 ngàn đồng năm
2002 lên 378,1 ngàn đồng (2004), 505,7 ngàn đồng (2006) và 762,2 ngàn