NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH10Những vấn đề lý luận phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình10Thực trạng phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 28QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI46Những quan điểm cơ bản về phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình hiện nay46Một số giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới57
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH 10
1.1 Những vấn đề lý luận phát triển công nghiệp ở tỉnh
1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 28
Chương 2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH
2.1 Những quan điểm cơ bản về phát triển công nghiệp ở tỉnh
2.2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp ở tỉnh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Đối với nước ta, phát triển công nghiệp có vị thế quan trọng, đóng gópvào tỷ trọng ngày càng tăng cho phát triển kinh tế Đến cuối năm 2010, tỷtrọng công nghiệp và xây dựng đạt 41,7% (công nghiệp chiếm 34,2%), tốc độtăng trưởng của giá trị tăng thêm của công nghiệp đạt khoảng 6,2%, giá trị sảnxuất công nghiệp toàn ngành tăng xấp xỷ 14% so với năm 2009 Nhiều sảnphẩm công nghiệp nước ta không những đã chiếm lĩnh thị trường trong nước
mà còn khẳng định chỗ đứng trên thị trường thế giới
Tuy nhiên chất lượng, hiệu quả tăng trưởng công nghiệp chưa cao; năng suấtlao động, trình độ quản lý nói chung còn thấp Năng lực cạnh tranh của sản phẩmcông nghiệp thấp; công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng; tỷ trọng xuấtkhẩu các sản phẩm công nghiệp chế tạo, chế biến còn thấp; sự liên kết giữa cácngành chưa chặt chẽ; công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển Do đó, công nghiệp ViệtNam đang đi sau khá xa so với các nước phát triển và các nước trong khu vực nhưSingapo, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia Thực tế nêu trên, đặt ra cho chúng ta yêucầu tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả quátrình phát triển công nghiệp của nước nhà trong những năm tới
Những năm qua, cùng với các tỉnh, thành trong cả nước, Ninh Bình đã tiếnhành các giải pháp tăng cường tổ chức quản lý, điều chỉnh cơ cấu ngành côngnghiệp; ban hành chính sách khuyến khích và ưu đãi đối với các nhà đầu tư vào cáckhu, cụm công nghiệp; chính sách phát triển nhân lực, đổi mới khoa học công nghệ,
mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm ngành công nghiệp vàbảo vệ môi trường Tuy nhiên, quá trình phát triển công nghiệp ở Ninh Bìnhnhững năm qua cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về nhận thức lý luậncũng như hoạt động thực tiễn Trong đó, đáng chú ý nhất là phải điều chỉnh cơ cấucông nghiệp, chú trọng các ngành công nghiệp chủ lực có giá trị gia tăng cao Mặt
Trang 3khác, lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với đặc thù phát triển công nghiệp NinhBình; đổi mới tổ chức quản lý, phân bố các cơ sở công nghiệp hợp lý trên địa bàntỉnh Những vấn đề nêu trên đều nhằm tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của NinhBình, tăng cường hợp tác liên tỉnh, liên vùng và liên ngành cho phát triển côngnghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo động lực to lớn thúc đẩy cácngành kinh tế khác cùng phát triển.
Góp một phần nghiên cứu vấn đề lớn nêu trên mà đảng bộ, chính quyền vànhân dân tỉnh Ninh Bình đang phải toàn tâm, toàn lực tổ chức thực hiện, do đó học
viên chọn đề tài “Phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành kinh tế chính trị của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Vấn đề phát triển công nghiệp nước ta nói chung và phát triển công nghiệp
ở tỉnh Ninh Bình nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cấp bách trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội Vấn đề phát triển công nghiệp thu hút đông đảo các nhàlãnh đạo chính trị, nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân quan tâm nghiên cứu.Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài rất nhiều, trong đó đáng chú ý
là công trình của các tác giả sau:
Viện Kinh tế Việt Nam có đề tài: “Lý luận và thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn ở Việt Nam”, do PGS TS Trần Đình Thiên làm Chủ nhiệm.
Đề tài đã đề cập trên góc độ lý luận về quá trình phát triển công nghiệp trong nềnkinh tế quốc dân như: quan niệm về công nghiệp hoá dưới các góc độ; khả năng rútngắn quá trình công nghiệp hoá; khả năng nhảy vọt cơ cấu để rút ngắn quá trìnhcông nghiệp hoá; khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện hiệnđại Đề tài cũng nêu lên vấn đề tiến triển của nhận thức và thực tiễn công nghiệphoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội có đề tài: “Đô thị hoá trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam - những thách thức và giải pháp”, do
Trang 4ThS Bùi Thị Thiêm làm chủ nhiệm Đề tài đã khái quát hoá cơ sở lý luận chung về
đô thị hoá Trên cơ sở khảo sát thực trạng quá trình đô thị hoá, về quy mô, đặc trưng
cơ bản của đô thị hoá trong quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong thờigian qua Đề tài phân tích những tác động của đô thị hoá tới quá trình công nghiệphoá, chủ yếu về lĩnh vực phát triển kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng nhưphát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một số giải pháp pháttriển đô thị trong quá trình công nghiệp hoá đất nước, thúc đẩy quá trình đô thị hoáphù hợp với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời hạn chếcác tác động tiêu cực của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội
Phạm Anh Tuấn (2010), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn gắn với phát triển bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị,
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng Tác giả đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận vềquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển bền vững ở tỉnh NinhBình; đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển bềnvững ở tỉnh Ninh Bình Đồng thời đề xuất phương hướng, giải pháp gắn côngnghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn với phát triển bền vững ở tỉnh Ninh Bình
PGS, TS Nguyễn Minh Khải, tài liệu lưu hành nội bộ “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa” dành cho đối tượng bổ túc cán
bộ cao cấp khoá 12 Tác giả đã luận giải tính tất yếu khách quan phải đẩy mạnhcông nghiệp hóa ở nước ta để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội; trình bày bài học kinh nghiệm trong lịch sử của các nước trên thế giới về côngnghiệp hóa cổ điển, công nghiệp hóa cận đại và công nghiệp hóa hiện đại, côngnghiệp hóa rút ngắn, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ; đồng thời đúc rútkinh nghiệm quá trình công nghiệp hóa và sau này là quá trình công nghiệp hóagắn với hiện đại hóa ở nước ta Trên các cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, tác giả đãvạch ra một số kiến nghị về phương hướng và giải pháp đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Trang 5PGS TS Lê Cao Đoàn, “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn - Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành
(2008) Công trình này đề cập đến những nội dung chủ yếu như: Những vấn đề lýluận về công nghiệp hoá Công nghiệp hoá và thời đại phát triển cổ điển, thời đạiphát triển hiện đại Quá trình rút ngắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn sựphát triển thành kinh tế phát triển hiện đại, đặc biệt ở các nước Đông Á, TrungQuốc và Việt Nam
ThS Nguyễn Văn Hùng (2009), Một số vấn đề về đổi mới công tác quy hoạch và phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở nước ta Tạp chí Khu
công nghiệp ra ngày 02/12/2009 Trong bài viết này tác giả đề cập đến vấn đề quyhoạch phát triển công nghiệp ở nước ta hiện nay, chỉ ra những hạn chế trong quyhoạch phát triển công nghiệp, đặc biệt là gắn quy hoạch phát triển công nghiệp vớibảo vệ môi trường, đây là một vấn đề bức thiết được sự quan tâm rất lớn của toànthể xã hội trong quá trình phát triển công nghiệp Trên các cơ sở đó, tác giả nêu lêncác phương hướng và giải pháp để giải quyết các vấn đề này
Lê Thế Giới, Đại học Đà Nẵng, Xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Tác
giả đã luận giải rằng chiến lược phát triển công nghiệp luôn giữa vai tròtrọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia pháttriển vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế Đối với ViệtNam, Đảng ta xác định chiến lược của 10 năm đầu thế kỷ XXI là đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng hình thành một nước côngnghiệp hiện đại Vì vậy, một hệ thống các chính sách công nghiệp đúng đắn
sẽ là công cụ hữu hiệu để Chính phủ thực hiện mục tiêu phát triển củangành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Trên cơ sở nghiên cứu kinhnghiệm của các nước phát triển và những điều kiện cụ thể của Việt Nam,bài viết này đề xuất một số định hướng trong việc định hình chiến lược
Trang 6phát triển công nghiệp cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay.
PGS TS Chu Hữu Quý - PGS TS Nguyễn Kế Tuấn, Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Do Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia phát hành Nội dung chủ yếu là đưa ra những kết quả nghiên cứu
về con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn củanước ta trong thời gian vừa qua
GS.TS Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới Nxb CTQG, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả
đã đưa ra một cách nhìn tổng quan về những vấn đề kinh tế Việt Nam trongthời kỳ đổi mới, trong đó tác giả đã phân tích khá sâu sắc về vấn đề pháttriển công nghiệp với vai trò là đầu tàu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,phát triển vùng kinh tế trọng điểm nói riêng và là động lực chủ yếu nhằmphát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung
Bộ Kế hoạch đầu tư và ngân hàng phát triển châu Á, trung tâm kinh tế
học quốc tế Canberra, Sydney, tháng 4/1998:“Chính sách phát triển công nghiệp và các doanh nghiệp”.
Tạp chí Kinh tế và dự báo, Hà Nội, 9/2004: “Ninh Bình, tiềm năng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010” Tác giả đã nêu lên tiềm
năng to lớn của Ninh Bình trong phát triển công nghiệp sản xuất, chế biến vậtliệu xây dựng, công nghiệp chế biến thực phẩm với cơ sở là vùng tài nguyên
đá vôi, than bùn, đất sét vô cùng lớn trên địa bàn tỉnh dành cho sản xuất ximăng; vùng nguyên liệu cây công nghiệp, hoa quả, chè dành cho côngnghiệp chế biến thực phẩm; thêm vào đó là mặt bằng rộng lớn, địa chất ổnđịnh, nền đất cứng thuận lợi cho phát triển công nghiệp nặng; ngoài ra cònphải kể đến sự thuận lợi trong giao thông vận tải, là đầu mối giao thông Bắc -Nam cả về đường bộ, đường sắt, đường sông và đường biển
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đã tập trung phân tích làm
rõ một số vấn đề về phát triển công nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội Các
Trang 7quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp ở Việt Nam Tuynhiên cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về phát triểncông nghiệp ở Ninh Bình dưới đúng góc độ Kinh tế chính trị học Mác - Lênin
3 Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp ởtỉnh Ninh Bình, phân tích làm sáng tỏ những quan điểm và giải pháp địnhhướng đúng đắn quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển công nghiệp tỉnh Ninh Bình
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình đặt trong bốicảnh phát triển công nghiệp chung của cả nước và phát triển công nghiệp vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Thời gian khảo sát và lấy số liệu từ năm 1991 đến 2012
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
Đề tài dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphát triển công nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác -Lênin (trừu tượng hoá khoa học) và các phương pháp khác như: kết hợp lôgíc
và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của luận văn
Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháttriển công nghiệp ở nước ta nói chung và phát triển công nghiệp ở tỉnh NinhBình nói riêng
Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền tỉnhNinh Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy vàhọc tập môn Kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn kết cấu 2 chương với 4 tiết
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH
1.1 Những vấn đề lý luận phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
1.1.1 Phát triển công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
* Công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Đứng ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau sẽ có quan niệm về công nghiệpvới các tiêu chí khác nhau
Ở góc độ phương pháp sản xuất
Công nghiệp được coi là một phương pháp sản xuất - phương pháp sảnxuất công nghiệp với các tiêu chí cơ bản là sản xuất dựa trên cơ sở máy móc,
sử dụng kiến thức khoa học, công nghệ, có năng suất lao động cao
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, các công cụ sảnxuất đã từng bước được phát triển và người lao động ngày càng làm chủviệc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đó chính lànhững bước tiến có tính chất cách mạng trong phương pháp sản xuất củanhân loại - bước tiến từ phương pháp sản xuất thủ công lạc hậu sangphương pháp sản xuất công nghiệp
Khi nghiên cứu nước Anh, C.Mác cho rằng việc việc phát triển sản xuấtbằng máy móc - phương pháp sản xuất công nghiệp, diễn ra trước tiên trong côngnghiệp nhẹ Và cứ như thế, phương pháp sản xuất công nghiệp được nhân rộng rathay thế cho phương pháp sản xuất thủ công trong toàn bộ nền sản xuất xã hội
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm cho phương pháp sản xuất, lao động công nghiệp ngày càng cóchiều rộng và bề sâu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế
xã hội Đứng ở góc độ này, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ được nhiềungười quan niệm là ngành công nghiệp
Trang 10Ở góc độ phân công lao động xã hội
Công nghiệp được coi là một lĩnh vực, khu vực hay ngành kinh tế quantrọng, bao gồm tất cả các ngành công nghiệp hợp thành
C.Mác và V.I.Lênin đã dùng đến thuật ngữ lĩnh vực hay khu vực côngnghiệp để chỉ toàn bộ các ngành công nghiệp hợp thành khu vực côngnghiệp và đối diện với lĩnh vực nông nghiệp Lĩnh vực công nghiệp cùngvới các lĩnh vực khác hợp thành nền kinh tế quốc dân C.Mác viết: “Cuộccách mạng trong phương thức sản xuất của một lĩnh vực công nghiệp này gây
ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực khác” [31, tr.553] V.I.Lênin viết: “Sự phânchia khu vực không phải là đặc điểm riêng của nền công nghiệp nướcNga, mà là của cả công trường thủ công nói chung; công trường thủ côngkhông chỉ tạo ra từng khu vực rộng lớn mà còn chuyên môn hoá nhữngkhu vực đó Và đó cũng là sự đánh dấu đặc thù sự tách rời giữa côngnghiệp và nông nghiệp” [27, tr.539-540]
Với quan niệm “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nềnkinh tế” của chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cũng có thể coi công nghiệp
là một khu vực hay lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân
Từ điển Kinh tế chính trị viết rằng: “công nghiệp do hai nhóm hợpthành; sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng Trình độ pháttriển của công nghiệp quyết định thực lực kinh tế của đất nước, khả năng quốcphòng, mức trang bị cho nền kinh tế quốc dân bằng các công cụ lao động hiệnđại, mức tăng năng suất lao động và sự phát triển kỹ thuật của nước nhà” [49,tr.85] Mặc dù ở đây không dùng thuật ngữ “lĩnh vực” hay “khu vực” côngnghiệp, nhưng thực chất cũng là một cách nói khác về thuật ngữ ấy
Một quan niệm khác, công nghiệp là một ngành kinh tế - ngành côngnghiệp C.Mác viết: “Nếu chỉ xét riêng bản thân lao động thì người ta có thểgọi sự phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn như nông nghiệp,
Trang 11công nghiệp, là sự phân công lao động chung” [31, tr.368] V.I.Lênin viết:
“Kinh tế hàng hoá phát triển đưa đến chỗ làm tăng thêm số lượng các ngànhcông nghiệp riêng biệt và độc lập; xu hướng của sự phát triển này là nhằmbiến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng, mà cả việc sản xuấttừng bộ phận của sản phẩm và những việc sản xuất sản phẩm riêng, mà thậmchí có từng thao tác trong việc chế biến sản phẩm thành sản phẩm tiêu dùng,thành một ngành công nghiệp riêng biệt” [27, tr.21-22]
Từ điển Kinh tế chính trị viết rằng: “Công nghiệp là ngành kinh tế chủđạo của nền kinh tế quốc dân, toàn bộ các xí nghiệp (công xưởng, nhà máy,trạm phát điện, hầm mỏ, xí nghiệp ) chế tạo công cụ lao động, khai thácnguyên vật liệu và nhiên liệu khai thác rừng và chế biến các sản phẩm dongành chế biến và nông nghiệp sản xuất ra” [49, tr.85-86]
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và lực lượngsản xuất xã hội đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới Đó cũng là một biểu hiện mới trong sự phát triển mạnh mẽ của phân cônglao động trong nước, trong khu vực và trên thế giới Tình hình đó càng thúc đẩyhơn nữa sự ra đời của các ngành công nghiệp mới
Khi phân loại công nghiệp, chúng ta thấy có công nghiệp nặng và côngnghiệp nhẹ ; công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương, côngnghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh; công nghiệp vùng lãnhthổ và công nghiệp khu vực tập trung Đó chỉ là sự phân loại để có chínhsách, cơ chế quản lý phù hợp trong quá trình phát triển công nghiệp
* Quan niệm phát triển công nghiệp và phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình Quan niệm phát triển công nghiệp
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể quan niệm một cách chungnhất về phát triển công nghiệp ở mỗi quốc gia: Là quá trình gắn liền với sựphát triển của phân công lao động trong nước và quốc tế; gắn liền với sự pháttriển của cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế hàng hoá, với sự hình
Trang 12thành và phát triển của thị trường trong nước và quốc tế, với hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế, đó cũng chính là quá trình thúc đẩy sự phát triển cácngành công nghiệp riêng biệt trong nền kinh tế quốc dân, phù hợp với điềukiện mỗi nước và điều kiện quốc tế đưa công nghiệp ngày càng chiếm tỷtrọng cao trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
Với Việt Nam, quá trình phát triển công nghiệp cũng không nằm ngoàinhững vấn đề chung nhất đó Cụ thể là:
Phát triển công nghiệp ở Việt Nam là kết quả tất yếu và là thước đo hếtsức quan trọng của quá trình phân công lao động xã hội Đến lượt nó, sự pháttriển công nghiệp lại thúc đẩy phân công lao động xã hội sâu hơn, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động hợp lý, hiệu quả hơn
Sự phát triển công nghiệp của Việt Nam gắn liền với sự phát triển củakinh tế hàng hoá, với sự hình thành và phát triển thị trường Công nghiệp rađời và từng bước phát triển là biểu hiện cụ thể của một trong hai điều kiện rađời, phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường Đến lượt mình, kinh tếhàng hoá, kinh tế thị trường phát triển lại thúc đẩy các ngành công nghiệpphát triển mạnh mẽ hơn nữa Do tác động của thị trường mà các ngành côngnghiệp phải thường xuyên đổi mới kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hạ giáthành sản phẩm để đứng vững trong cạnh trạnh; phát triển các ngành côngnghiệp theo chiều rộng và chiều sâu, thị trường các yếu tố đầu vào và đầu
ra của sản xuất tạo các điều kiện cho phát triển công nghiệp Khi thị trường
mở rộng từ quốc gia đến quốc tế thể hiện tính chất xã hội hoá của sản xuấtcông nghiệp càng cao, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển không chỉtrong nước, mà còn vươn ra thế giới Đó là nền công nghiệp hiện đại, mởcửa, hội nhập với công nghiệp khu vực và thế giới
Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam là quá trình làm xuất hiệncác ngành công nghiệp cụ thể trong nền kinh tế quôc dân với trình độ côngnghệ ngày càng cao Từ công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đến công nghiệp
Trang 13chế biến; từ công nghiệp nhà nước đến công nghiệp tư nhân và công nghiệpđầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đều có bước phát triển.
Quá trình phát triển công nghiệp ở nước ta đồng thời là quá trìnhchuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý, hiệu quả cao Trong đócông nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Sự tăng lên về tỷ trọngcông nghiệp trong GDP là chỉ tiêu chí quan trọng đánh dấu sự phát triển mạnh
mẽ công nghiệp Việt Nam
Sự phát triển như phân tích ở trên, cho ta thấy bức tranh phát triển côngnghiệp Việt Nam đa dạng về quan hệ sở hữu, phong phú về ngành nghề sảnxuất, quy mô, trình độ khoa học công nghệ và đa dạng các loại hình côngnghiệp cạnh tranh, trong đó công nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Quan niệm phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng, phát triển công nghiêp ởtỉnh Ninh Bình là một bộ phận của phát triển công nghiệp quốc dân Nó cũngmang đầy đủ những đặc điểm phát triển công nghiệp chung cả nước Tuynhiên, xuất phát từ điều kiện riêng có tính đặc thù của Ninh Bình nên pháttriển công nghiệp ở tỉnh có những đặc điểm, tiềm năng, ưu thế cũng nhưnhững hạn chế, bất lợi riêng
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về phát triển công nghiệp và pháttriển công nghiệp Việt Nam, vận dụng vào điều kiện phát triển công nghiệp
cụ thể ở tỉnh Ninh Bình, tác giả khái quát quan niệm về phát triển côngnghiệp ở tỉnh Ninh Bình như sau
Phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình là quá trình Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân cùng các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tiếnhành quy hoạch, xây dựng và phát triển các khu, cụm và cơ sở công nghiệptrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với cuộc cách mạngkhoa học - công nghệ và kinh tế thị trường, phù hợp với tiềm năng và lợi thế
Trang 14của địa phương, làm cho công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, chiếm tỷtrọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh hướng tới xây dựng NinhBình thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
* Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế nước ta
Phát triển công nghiệp luôn được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lượcxuyên suốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vai trò đó được thể hiện trênnhững vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, công nghiệp là trụ cột của nền kinh tế, quy định trình độ phát
triển kinh tế quốc gia
Phát triển công nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗiquốc gia, dân tộc, cũng như của toàn nhân loại Mức độ và trình độ phát triểncủa công nghiệp vừa là kết quả, vừa là cơ sở tạo ra sự cải biến, cách mạng cảcông cụ sản xuất, tư liệu lao động và phương pháp sản xuất ở mỗi quốc gia,dân tộc Công nghiệp càng phát triển càng thể hiện sự phát triển của lực lượngsản xuất và phân công lao động xã hội, làm cho mức độ trang bị của nền kinh
tế, phương hướng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế càng tăng lên và do
đó quyết định sự tăng lên về trình độ của cả nền kinh tế
Với Việt Nam, từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu đi lên phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi phải tiến hành đổimới kỹ thuật, nâng cao cả về số lượng, chất lượng trang bị kỹ thuật của toàn
bộ nền kinh tế, từng bước chuyển từ lao động thủ công dựa trên kinh nghiệmtruyền thống là chủ yếu với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp sang laođộng sử dụng máy móc, ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - côngnghệ của nhân loại, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; từng bướcxây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, lấy công nghiệp làm trụ cột Trên có sở đó,tạo tiền đề thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác cùng phát triển
Trang 15Thứ hai, phát triển công nghiệp ở Việt Nam tạo ra khả năng nội sinh ngày
càng cao và khả năng bảo đảm độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế
Ở mức độ nhất định, chúng ta có thể coi nền kinh tế độc lập, tự chủ lànền kinh tế đang vận động, có quan hệ và tác động qua lại với nền kinh tế thếgiới nhưng không lệ thuộc và phụ thuộc một chiều vào bên ngoài
Với Việt Nam, để có được một nền kinh tế độc lập, tự chủ cần phảitiếp tục đổi mới một cách sâu rộng với hiệu quả cao, tạo ra sự chuyển độngđồng bộ nền kinh tế hướng vào việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất,đồng thời từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; đẩymạnh phát triển công nghiệp, tiến tới nâng cao khả năng đổi mới trang thiết
bị kỹ thuật, công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế, nâng cao sức sản xuất vànăng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế Với ý nghĩa đó, sự phát triểnmạnh mẽ của công nghiệp là vấn đề có ý nghĩa trọng yếu đối với quá trìnhxây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, phát triển công nghiệp sẽ góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho
quá trình chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao tốc độ tăngtrưởng kinh tế và thu nhập quốc dân
Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc trụ vững, pháttriển các cơ sở kinh tế, các doanh nghiệp phụ thuộc quyết định vào sức cạnhtranh của chúng Lý luận và thực tiễn đều cho thấy chỉ khi dựa trên cơ sở sảnxuất với khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, dựa trên phương pháp quản lýkhoa học, hợp lý, tối ưu hoá - tức là dựa vào sự phát triển của phương pháp vàphương tiện sản xuất công nghiệp - mới từng bước đạt được thắng lợi trongcạnh tranh, mới đảm bảo cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nammang tính tích cực, chủ động và có hiệu quả cao
Thực tiễn hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế cho thấy nước nào có ưuthế về công nghiệp, công nghệ, kỹ thuật sẽ có lợi thế hơn trên thương trườngquốc tế Nhờ đó mà sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường trong nước và thị
Trang 16trường thế giới ngày càng mạnh, lấn át các loại hàng hoá và dịch vụ do cácnước kém phát triển sản xuất
Trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hiệu quả của nó cũngphụ thuộc rất lớn vào năng lực nhất định của bản thân công nghiệp trongnước Trên cơ sở đó mới kiểm soát, định hướng được sự đầu tư của nướcngoài vào chính ngành mình cũng như các ngành kinh tế - xã hội khác của đấtnước, mới làm cho đầu tư nước ngoài vừa có hiệu quả kinh tế cao, từng bướclàm tăng tiềm lực và sức mạnh công nghiệp của đất nước vừa giữ được độclập tự chủ trong quá trình chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ tư, phát triển công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh
tế nhà nước sẽ từng bước được củng cố, từng bước làm thay đổi bộ mặt xãhội, nâng cao dân trí, đoàn kết dân tộc, nâng cao số lượng và chất lượng giaicấp công nhân, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ thể hiện ở năng suất, chất lượng,hiệu quả sản xuất kinh doanh và nắm các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, mà cònthể hiện ở khả năng kỹ thuật, công nghệ, khả năng dẫn dắt và định hướng các thànhphần kinh tế khác đồng thời giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội nảysinh Các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước phải vươn lên mạnh mẽ để địnhhướng và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Cũng từ đó mà côngnghiệp nhà nước từng bước tạo cho mình một cơ sở vật chất kỹ thuật thích hợp đểkhông ngừng tăng cường, hoàn thiện vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân
Cũng từ sự phát triển đó mà trình độ dân trí và sự đoàn kết dân tộc đượcnâng lên từng bước, tạo thành sức mạnh dân tộc để xây dựng nền kinh tế, xâydựng xã hội mới theo con đường xã hội chủ nghĩa C.Mác đã viết : “Bản chấtcủa đại công nghiệp đòi hỏi phải có sự thay đổi lao động, có sự di chuyển chứcnăng và tính chất cơ động toàn diện của người công nhân” [30, tr.692] Sự pháttriển mạnh mẽ của công nghiệp sẽ đưa đến kết quả tất yếu là phá huỷ từng bước
Trang 17những quan hệ xã hội cũ không còn phù hợp; đoạn tuyệt với cách sống cát cứ,đói nghèo, lạc hậu Và theo đó tình đoàn kết dân tộc cũng tăng lên.
Ở góc độ khác, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp sẽ làm cho giaicấp công nhân ngày càng phát triển, theo đó Đảng của giai cấp công nhâncũng ngày càng giữ được uy tín và địa vị xứng đáng trong xã hội; Đảng vàNhà nước: “cũng sẽ dành được một vị trí xứng đáng cho việc giáo dục , vềmặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn” [31, tr.694] Và do đó càng làm chogiai cấp công nhân hoàn thiện thêm; ngày càng làm tăng thêm sức mạnh củagiai cấp công nhân Đúng như C.Mác đã nói: “Sự tiến bộ của công nghiệp -đem lại sự đoàn kết cách mạng của công nhân ” [30, tr.612]
Thứ năm, phát triển công nghiệp góp phần tạo tiền đề kinh tế, xã hội
vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới và cấpbách đòi hỏi đất nước phải dựa trên cơ sở phát triển kinh - tế xã hội, phát triểncông nghiệp để từng bước xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân độinhân dân đủ khả năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ chế độ kinh tế - xã hội
Sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ở nước ta là sức mạnh tổng hợp,bao gồm sức mạnh của nền kinh tế và chế độ xã hội; sức mạnh dân tộc kếthợp với sức mạnh quốc tế và thời đại; sức mạnh của lực lượng vũ trang nhândân mà nòng cốt là Quân đội nhân dân Trong đó sức mạnh kinh tế bao gồm
cả quy mô, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và chế độ kinh tế, là yếu
tố xét đến cùng quyết định sức mạnh quốc phòng của đất nước Điều này đãđược Ph.Ănghen khẳng định: “Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, những điềukiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái trợ giúp cho bạo lực chiếnthắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó thì bạo lực không còn
là bạo lực nữa” [30, tr.242] Quá trình tổ chức xây dựng nền quốc phòng, bảo
vệ Tổ quốc đòi hỏi phải có một khối lượng cơ sở vật chất bảo đảm, phát triển
Trang 18mạnh mẽ công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là conđường chủ yếu để có được khối lượng cơ sở vật chất ấy
1.1.2 Tính tất yếu và nội dung phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
* Tính tất yếu phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Thứ nhất, xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình.
Tỉnh Ninh Bình nằm ở vùng cực nam đồng bằng châu thổ sông Hồng,cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 80 km về phía Nam, nằm trên tuyến đườnghuyết mạch Bắc - Nam Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam; phía Đông Bắc giáp tỉnhNam Định; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây - Tây Namgiáp tỉnh Thanh Hoá; phía Tây - Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình
Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh
tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồngbằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Trên địa bàn tỉnh cóQuốc lộ 1A, Quốc lộ 10; 12A; 12B và đường sắt Bắc - Nam chạy qua cùng hệthống sông ngòi dày đặc như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sôngVạc, Sông Vân tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện chogiao lưu phát triển kinh tế trong và ngoài vùng
Tính đến năm 2010, tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Ninh Bình là139.173 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 96.928 ha; diện tích đất phinông nghiệp (gồm đất ở, đất chuyên dùng và các loại khác) là 32.449 ha; đấtchưa sử dụng là 9.796 ha (trong đó, diện tích đất bằng chưa sử dụng là 4.994
ha, diện tích đất dốc chưa sử dụng là 4.802 ha)
Tài nguyên khoáng sản tuy không phong phú về chủng loại, song cómột số loại có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, là nguồn nguyên liệu tại chỗdồi dào, chi phí thấp cho các ngành công nghiệp khai thác, chế biến, gồm:
Tài nguyên đá vôi với trữ lượng hàng chục tỷ m³, chất lượng tốt, chiếmdiện tích trên 1,2 vạn ha, rất thuận lợi để phát triển công nghiệp khai thác và sảnxuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất clanhke, xi măng và đá xây dựng
Trang 19Tài nguyên quặng đôlômit (2,3 tỷ tấn) có chất lượng tốt, hàm lượngMgO từ 17% đến 19% tập trung ở xã Thạch Bình, Phú Long (huyện NhoQuan), xã Yên Đồng (huyện Yên Mô), xã Đông Sơn (thị xã Tam Điệp) có thểdùng làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xâydựng và sản xuất một số hoá chất khác.
Tài nguyên đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi thấp và ở những vùngtương đối bằng phẳng thuộc thị xã tam điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn vàYên Mô, các bãi bồi ven sông khác Đây chính là nguồn nguyên liệu tại chỗrất dồi dào với giá thành thấp cho công nghiệp sản xuất gạch ngói, làmnguyên liệu cho sản xuất clanhke, ximăng, làm khuôn đúc trên địa bàn Tỉnh
Tài nguyên nước khoáng ở Cúc Phương (huyện Nho Quan), ở Kênh Gà(huyện Gia Viễn) có trữ lượng lớn, hàm lượng MgCO3 và các khoáng chất cao; cótác dụng bổ sung khoáng chất, chữa bệnh có thể dùng cho phát triển công nghiệpsản xuất nước khoáng, nước giải khát và sản xuất các loại khoáng chất vi lượng
Ngoài ra tỉnh còn có tài nguyên than bùn với trữ lượng 2,6 triệu tấn,phân bố ở xã Quang Sơn (thị xã Tam Điệp) và huyện Nho Quan có thể dùngcho công nghiệp sản xuất phân vi sinh và sản xuất clanhke, xi măng, nunggạch, ngói, sản xuất sắt, thép
Đặc điểm về dân cư, dân số và nguồn nhân lực: Theo tổng điều tra dân
số ngày 01/4/2009, số dân của tỉnh Ninh Bình là 898.459 người, chiếm gần4,6% số dân của vùng Đồng bằng Sông Hồng Mật độ dân số 642 người/km²,thấp hơn mật độ trung bình của vùng (trung bình của vùng là 932 người/km²)
Nguồn nhân lực của tỉnh Ninh Bình xuất phát từ hai nguồn chủ yếu lànguồn nhân lực tự đào tạo trong tỉnh và nguồn nhân lực thu hút từ bên ngoàitỉnh Nguồn nhân lực trong tỉnh đã và đang phát triển khá nhanh cả về sốlượng và chất lượng do đang nằm trong “thời kỳ dân số vàng”, khá thuận lợicho tăng trưởng nhanh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Trang 20Do chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên đáng kể, cơ sở vật chấtđược tăng cường, hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề của Tỉnhđược mở rộng cho nên tỉnh đã trực tiếp đào tạo được một lực lượng laođộng đông đảo và có trình độ có thể phục vụ trực tiếp cho quá trình phát triểncông nghiệp của Tỉnh Bình quân 1000 người có gần 300 người đi học, trong
đó số sinh viên, học sinh nghề chiếm tỷ lệ lớn (là nguồn nhân lực chất lượngcao phục vụ phát triển công nghiệp) Đội ngũ giảng viên có trình độ thạc sỹ,tiến sỹ đang tăng nhanh do chủ trương tích cực tạo nguồn đi học và thu hútnhân tài của các trường đại học, cao đẳng và trung học nghề trong Tỉnh
Hệ thống giao thông đường bộ trong Tỉnh và liên tỉnh đã được nângcấp, gồm: 4 tuyến quốc lộ (1A, 10, 45, 12B) với tổng chiều dài trên 110 km;
16 tuyến tỉnh lộ (477, 477B, 477C, 477D, 480, 480B, 480C, 480C, 480D,
478, 478B, 479, 479D, 480, 480B, 480C, 480D, 480E, 481, 481D, 481B) dài215,7 km, trong đó 11/16 tuyến với tổng chiều dài 140 km đã và đang đượcnâng cấp lên tiêu chuẩn cấp II, III, IV; Các đường liên xã của các huyện
và các đường chính của thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp dài 157km; hệ thống đường giao thông nông thôn 1.338 km (trong đó có 95%được cứng hoá mặt đường trên 95% vào năm 2010) Chỉ tính riêng trong
5 năm 2006 - 2010, Tỉnh đã chủ động nâng cấp, xây dựng mới khoảng
100 km quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ Đường cao tốc đoạn qua Ninh Bìnhđang triển khai xây dựng, sắp hoàn thành, khi hoàn thành, đường cao tốcnày cùng với quốc lộ 1 đang được hoàn thiện mở rộng và nâng cấp sẽ tạo
ra trục giao thông đường bộ vô cùng thuân lợi cho công cuộc phát triểnkinh tế - xã hội nói chung và phát triển công nghiệp của Tỉnh nói riêng.Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay hệ thống giao thông đường bộ trongTỉnh thực sự chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt làphát triển công nghiệp và dịch vụ, du lịch
Trang 21Hệ thống giao thông đường thuỷ gồm 18 tuyến sông với tổng chiều dài gần299,8 km, trong đó Trung ương quản lý 4 tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long,sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều dài 156,5 km Tỉnh có 3 cảng chính doTrung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng Ninh Phúc và cảng K3 (thuộc nhàmáy nhiệt điện Ninh Bình) đã được nâng cấp Hàng loạt các bến xếp dỡ hàng hoá,
ụ tàu, khu neo tránh tàu thuyền nằm trên các bờ sông và cửa sông được tu sửa
Tuyến đường sắt Bắc - Nam qua địa bàn tỉnh có chiều dài 19 km với 4
ga (Ninh Bình, Cầu Yên, Gềnh và Đồng Giao), thuận lợi trong vận chuyểnhành khách và hàng hoá, nhất là vận chuyển vật liệu xây dựng Hệ thốngđường sắt cao tốc đang được quy hoạch, thiết kế và triển khai sẽ tạo điều kiệnthuận lợi rất lớn cho sự phát triển của Tỉnh
Nhìn chung, hệ thống giao thông các loại của tỉnh tuy đã và đang có bướcphát triển mạnh mẽ, song vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Cụ thể như
hệ thống đường bộ hiện tại còn hạn chế về quy mô và tải trọng, đặc biệt là tại cácđiểm nút, các vành đai, tuyến du lịch trọng điểm và tuyến quốc lộ 1A - là điểmcần tập trung nâng cấp, xây dựng mới Bên cạnh đó cần phát triển các tuyến giaothông ven biển và miền núi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tạođiều kiện đẩy mạnh phát triển công nghiệp nói riêng trên địa bàn Tỉnh
Thứ hai, xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp
ở tỉnh Ninh Bình thời gian qua
Những năm qua, nhất là từ sau ngày tái lập tỉnh đến nay, Đảng bộ, quân vàdân Ninh Bình đã đoàn kết, vượt mọi khó khăn, triển khai thực hiện tương đốitoàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộTỉnh lần thứ XIII và XIV đề ra, với kết quả năm sau cao hơn năm trước
Tăng trưởng kinh tế: giai đoạn 2001 – 2005, tăng trưởng kinh tế đạtbình quân 11,9%/năm, gấp 1,3 lần giai đoạn 1996 – 2000, cao hơn 1,5 lần sovới bình quân chung của cả nước (7,5%) và có bước cải thiện rõ rệt về chấtlượng tăng trưởng Giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng
Trang 22năm đạt 16,5%, cao hơn 2 lần bình quân chung của cả nước trong giai đoạnnày Tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất của các ngành đạt cao: nông,lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 4,3%/năm; công nghiệp - xây dựng đạt24,1%/năm và dịch vụ đạt 19,5%/năm
Bình quân GDP/người: năm 2005 gấp 2,1 lần năm 2000, đạt 5,6 triệu đồng,nhưng chỉ bằng 53% so với mức chung của cả nước và bằng 54,2% của vùngĐồng bằng Sông Hồng Giai đoạn 2006 - 2010, GDP/người tăng mạnh do quy mônền kinh tế tăng nhanh và thực hiện tốt chủ trương phát triển dân số hợp lý, đến
2010 đạt trên 20,6 triệu đồng, gấp 3,7 lần so với năm 2005, bằng 92% bình quânvùng Đồng bằng Sông Hồng và bằng 94% bình quân chung của cả nước
Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ Từ một tỉnh thuần nông, nền kinh tế của Tỉnh đã phát triển theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm nhanh(năm 2000 là 46,3% đến năm 2011 còn 15%), công nghiệp tăng mạnh (từ 21,6%năm 2000 đến năm 2011 đạt 49%)
Quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình trong những năm
qua đã hình thành được một số ngành mũi nhọn, một số khu, cụm côngnghiệp, đồng thời bước đầu đã phát triển đa dạng các ngành công nghiệpmới Phát triển một số sản phẩm công nghiệp chủ lực như xi măng, thép,phân bón… từ đó phát huy tối đa lợi thế so sánh của Tỉnh
Đã huy động có hiệu quả sự tham gia của các thành phần kinh tế trongtham gia phát triển công nghiệp, đã khiến các ngành công nghiệp của Tỉnhphát triển đa dạng hơn và mở rộng về quy mô, trình độ công nghệ, chủng loại
và chất lượng sản phẩm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của tầng lớp dân cưcũng như đáp ứng nhu cầu của thị trường xuất khẩu
Tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tăng nhanh góp phầnquan trọng vào tăng thu nhập của nền kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội
và chất lượng sản phẩm, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn tích lũylớn cho nền kinh tế tỉnh nhà
Trang 23Sự phát triển các ngành công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng cho các bướcchuyển dịch trong những năm tiếp theo Việc phát triển công nghiệp đã thúcđẩy sự hình thành và phát triển nhiều ngành công nghiệp mới, qua đó làmtăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường Côngnghiệp phát triển kéo theo sự phát triển về công nghệ, trang thiết bị máy móckhông chỉ trong sản xuất công nghiệp mà còn lan tỏa sang các ngành nghề,lĩnh vực khác trong nền kinh tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa của Tỉnh cũng như mục tiêu lâu dài của đất nước
Phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình tuy tốc độ tăng trưởng khá nhanhnhưng chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, sự phát triển này chưa thật vữngchắc Còn nhiều bật cập về giảm chi phí sản xuất; khả năng cạnh tranh của các sảnphẩm công nghiệp trên thị trường; kêu gọi đầu tư nước ngoài; khâu quy hoạch, kếhoạch, quản lý; đầu tư xây dựng cơ bản còn dở dang; đầu tư khoa học - côngnghệ; các dịch vụ cho phát triển công nghiệp; thị trường của các sản phẩm côngnghiệp còn nhỏ hẹp cả về thị trường trong nước và thị trường quốc tế; phát triểncông nghiệp hỗ trợ mới chỉ sơ khai; vấn đề về môi trường và xử lý nước thải vàchất thải… từ đó đặt ra phải phát triển công nghiệp ở Tỉnh theo hướng bền vững
Thứ ba, xuất phát từ vai trò của phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Các ngành công nghiệp là trụ cột, là động lực chủ yếu trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trong nhiều năm tới
Công nghiệp phát triển sẽ tạo động lực to lớn thúc đẩy các ngành xâydựng, nông nghiệp, dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh chóng hơn Tạođiều kiện để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế để đẩy nhanh tốc độtăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà
Phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình theo định hướng xã hội chủnghĩa, sẽ tạo điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh từngbước được củng cố; từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, nâng cao dân trí;góp phần cùng cả nước tăng cường khối đại đoàn đoàn kết dân tộc, nâng cao
Trang 24số lượng và chất lượng giai cấp công nhân; từ đó, góp phần nâng cao vai tròlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình xuất phát từ yêu cầukhách quan của quá trình kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốcphòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn tỉnh
* Nội dung phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Đại hội Đại biểu tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX(2010) xác định phươnghướng, nhiệm vụ khái quát đối với phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh giaiđoạn 2011- 2015 là: “Quản lý, khai thác hợp lý, phát huy hiệu quả các khu, cụmcông nghiệp hiện có; đầu tư xây dựng các khu công nghiệp mới; nâng cao quy
mô, chất lượng thu hút đầu tư; khuyến khích các dự án công nghệ cao, côngnghệ sạch, sản phẩm mới có giá trị cao nhằm duy trì tốc độ tăng giá trị sản xuấtcông nghiệp Và tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm (theo giá cốđịnh 1994) ngành công nghiệp là 16%”[10, tr.143] Đồng thời đề ra mục tiêu đếnnăm 2015, ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng 48% GDP toàn tỉnh
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình đến 2020,
do Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình ban hành đã xác định, quá trình phát triểncông nghiệp của tỉnh phải đạt được mục tiêu chung là: tốc độ tăng trưởngGDP bình quân/năm của ngành công nghiệp khoảng 15,7%/năm giai đoạn
2011 - 2015 và khoảng 12%/năm cho giai đoạn 2016 - 2020; tương đươngmức bình quân chung 13 - 14%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020 GDP côngnghiệp đạt khoảng 7,8 - 8,4 nghìn tỷ đồng vào năm 2015 và khoảng 14,5 - 15nghìn tỷ đồng vào năm 2020 (theo giá cố định 1994) trên cơ sở khai thác, pháthuy tiềm năng, lợi thế cạnh tranh và đẩy mạnh đổi mới khoa học - công nghệ
Trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp do Đại hộiĐảng bộ tỉnh khoá XX và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh NinhBình đến năm 2020 đã đề ra cùng với lý luận kinh tế chính trị về phát triểncông nghiệp, tác giả xác định nội dung phát triển công nghiệp ở tỉnh NinhBình hiện nay tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 25Một là, duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng cao và mở rộng quy mô của các
ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Phát triển công nghiệp là sự gia tăng cả số lượng cũng như chất lượng củaquá trình sản xuất Do đó, quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình phảiphát triển mở rộng quy mô cơ sở sản xuất và giá trị sản xuất, đồng thời nâng caotốc độ phát triển hàng năm của ngành công nghiệp địa phương Sự mở rộng quy
mô của ngành công nghiệp Ninh Bình phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc
độ tăng trưởng công nghiệp phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời
kỳ và các lĩnh vực với nhau Sự gia tăng về lượng của ngành có thể biểu hiệndưới dạng hiện vật hoặc giá trị, và có thể xem xét qua các nội dung về giá trị giatăng hay tổng giá trị sản xuất của ngành tạo ra trong một thời gian nhất định
Quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình phải gắn liền với tính bềnvững và việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao, sự gia tăng liên tục,
có hiệu quả cả về chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển Hơn thế nữa, quá trình ấyphải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học kỹ thuật, vốn,nhân lực trong một cơ cấu công nghiệp hợp lý Đồng thời phải hết sức giảm thiểunguy cơ phát triển công nghiệp không bền vững và xu hướng phát triển quá nóng
Hai là, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình theo hướng hợp lý, hiệu quả
Trong quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình, phải luônchú ý nâng cao dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có trình độ khoa học -công nghệ tiến tiến, có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong cấu thành giátrị sản phẩm Đây là nội dung thể hiện chất lượng của quá trình phát triểnngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình Đặc biệt việc phân tích cơ cấu cácphân ngành trong ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc đánhgiá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của tỉnh nhà theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thông thường cơ cấu phân ngànhphản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nềnkinh tế Ví dụ, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuậtcao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công
Trang 26nghiệp, dược phẩm, hóa mỹ phẩm chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nềnkinh tế đạt mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao hơn so với nhữngngành công nghiệp khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghệ lắp ráp
Ngoài ra một số chỉ tiêu kinh tế khác cũng thường được sử dụng là cơcấu giá trị sản xuất, chỉ tiêu này phản ánh giá trị hàng năm được sản xuất rathuộc sở hữu của một nền kinh tế hay cũng có thể là một ngành kinh tế Tuynhiên, ở các nước đang phát triển giá trị sản xuất thường lớn hơn rất nhiều sovới giá trị tăng thêm tạo ra trong cùng một thời gian do hiệu quả sản xuấtchưa cao Một ưu thế của cơ cấu giá trị gia tăng là phản ánh rõ hơn nhữngkhía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh và cùng với cơ cấu theo giátrị gia tăng, cơ cấu lao động của ngành cũng được phản ánh rõ ràng hơn
Ba là, nâng cao dần tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp có trình độ
khoa học - công nghệ tiên tiến, chứa đựng lượng giá trị và tỷ trọng giá trị giatăng cao trong mỗi đơn vị sản phẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Hầu hết các nền kinh tế đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trởthành một nền công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chungtrong chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng công nghiệp là: từ chỗ sảnxuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu làcác loại sản phẩm công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấpnhư lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông, lâm, thủy sản chuyển dầnsang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm
cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử Chính vì vậy, quá trình phát triển côngnghiệp ở tỉnh Ninh Bình cần chú trọng chuyển dịch cơ cấu hàng công nghiệp
từ những mặt hàng sơ chế, trình độ khoa học, kỹ thuật thấp sang những loạisản phẩm hoàn chỉnh dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ, kỹ thuật cao
Bốn là, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và sản
phẩm công nghiệp trên địa bàn Tỉnh
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
và nhu cầu sản xuất Để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu ngày càng nâng caocủa xã hội, ngành công nghiệp tỉnh Ninh Bình phải không ngừng nâng cao chất
Trang 27lượng, tính năng, đổi mới sản phẩm cũng như không ngừng nâng cao năng lựccạnh tranh các sản phẩm của mình Đây là nội dung quan trọng để tăng cườngkhả năng đáp ứng nhu cầu trên thị trường cũng như chất lượng và khả năngcạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp của tỉnh Ninh Bình trên thị trường
Như vậy, mỗi nội dung phát triển công nghiệp ở trên, bên cạnh ý nghĩa kinh
tế còn có nghĩa về chính trị, xã hội, thể hiện định hướng xã hội chủ nghĩa nghĩatrong quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình Các nội dung đó cũngchính là cở sở để đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
1.2.1 Thành tựu phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình và nguyên nhân
* Thành tựu chủ yếu
Kể từ khi tái lập tỉnh Ninh Bình (năm 1991) đến nay, tỉnh đã chuyểndịch cơ cấu kinh tế rất nhanh chóng, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2000 chođến nay Từ một tỉnh cơ bản thuần nông, đến nay tỉnh đã xây dựng được một
cơ cấu kinh tế tương đối hiện đại, hợp lý và hiệu quả, trong đó có vai trò nòngcốt của ngành công nghiệp Các thành tựu chủ yếu trong quá trình phát triểncông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình có thể khái quát trên các mặt cụ thể sau:
Thứ nhất, tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình luôn đạt mức cao và liên tục trong nhiều năm qua:
Sau nhiều năm kêu gọi, thu hút đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp,quy hoạch và xây dựng các khu, cụm công nghiệp, giá trị sản xuất côngnghiệp có bước phát triển khá, tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn
1992 - 2011 của tỉnh đạt 20,5%/năm
Tốc độ phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình ngày càng tăng caotrong những năm gần đây Nếu trung bình cả giai đoạn 1992 - 2011, tốc độtăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm của toàn tỉnh là20,5%/năm thì trong đó, bình quân mỗi năm giai đoạn 1992 - 1995 đạt tốc độtăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là 7,1%/năm,giai đoạn 1996 - 2000 đạt 18,3%/năm, giai đoạn 2001 - 2005 đạt 26,8%/năm,
và giai đoạn 2006 - 2011 đạt 27,1%/năm
Trang 28Như vậy, tỉnh Ninh Bình đã đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất côngnghiệp rất cao và liên tục trong khoảng thời gian dài Tốc độ tăng trưởng giátrị sản xuất công nghiệp của tỉnh không những giai đoạn sau luôn cao hơn giaiđoạn trước mà còn luôn cao hơn rất nhiều so với các tỉnh thuộc vùng Đồngbằng Sông Hồng nói riêng và cả nước nói chung Đây chính là một thành tựunổi bật trong phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình, khẳng định một cáchsinh động và đầy sức thuyết phục trong thực tiễn về tiềm năng to lớn trongphát triển công nghiệp của tỉnh nhà.
Thứ hai, quy mô các ngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình được mở
rộng nhanh chóng qua các năm:
Được tạo tiền đề từ tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm, quy
mô của các ngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình đã được mở rộng nhanh chóng
Tỷ trọng các ngành công nghiệp trong GDP toàn tỉnh tăng từ 18,9% năm 1991,lên 48,2% năm 2011 Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Ninh Bình năm 2011đạt 12.826,6 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), tăng gấp 42 lần so với năm 1991
Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp,tỉnh đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư thôngthoáng, tăng cường thu hút các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp.Trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai xây dựng 5 khu công nghiệp: GiánKhẩu, Khánh Phú, Tam Điệp, Khánh Cư và Phúc Sơn Tỷ lệ lấp đầy của khucông nghiệp Gián Khẩu đạt 100%; Khánh Phú đạt 95,4%; Tam Điệp đạt51,5% Đến hết năm 2011, tổng số dự án đầu tư vào các khu công nghiệpđược cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực là 65 dự án, với số vốn đăng ký
là 39.864, 2 tỉ đồng; có 17 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký
là 358,48 triệu USD, có 02 dự án xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu côngnghiệp với số vốn đăng ký 1.242 tỉ đồng; đăng ký sử dụng 29.458 lao động;tổng diện tích đất cho thuê là 436,4 ha Các dự án trong khu công nghiệp đang
Trang 29duy trì sản xuất ổn định, đóng góp lớn vào tăng trưởng giá trị sản xuất côngnghiệp của tỉnh trong nhiều năm qua
Bên cạnh các cơ sở, nhà máy, công ty, xí nghiệp công nghiệp riêng lẻđược xây dựng trong thời gian trước kia, tỉnh Ninh Bình đã lập quy hoạch, kếhoạch và từng bước xây dựng, phát triển được 7 khu công nghiệp và 6 cụmcông nghiệp tập trung mới như:
Khu công nghiệp Khánh Phú (thuộc xã Ninh Phúc, thành phố Ninh
Bình và xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh) Tổng diện tích đất phát triển là334ha (giai đoạn I: 171,16ha, giai đoạn II: 168ha), trong đó đất xây dựng nhàmáy là 231,54ha Các loại hình sản xuất chủ yếu: phân đạm 56 vạn tấn/năm,than (sàng tuyển) 300.000 tấn/năm; bốc dỡ hàng hoá 1,1 triệu tấn/năm; đóngmới và sửa chữa tàu thuyền
Khu công nghiệp Tam Điệp (thuộc xã Quang Sơn và một phần thuộcphường Tây Sơn, thị xã Tam Điệp) Diện tích 450ha (giai đoạn I: 200ha, giai đoạnII: 250 ha), trong đó đất xây dựng nhà máy là 228,3ha Dự kiến bố trí công nghiệpchế biến nông sản, thực phẩm, may mặc, giầy da, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệuxây dựng, điện tử và công nghiệp sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng khác
Khu công nghiệp Gián Khẩu (thuộc địa bàn các xã Gia Trấn, Gia Tân,
Gia Xuân, Gia Thanh, Gia Lập, huyện Gia Viễn) Tổng diện tích là 262ha.Đây là khu công nghiệp đa ngành như dệt may; cơ khí sản xuất, lắp ráp; sảnxuất vật liệu xây dựng; sản xuất, lắp ráp điện tử
Khu công nghiệp Khánh Cư (thuộc các xã Khánh Cư, Khánh Hải, huyệnYên Khánh) Tổng diện tích 170 ha, tập trung phát triển công nghiệp chế tạo vàsản xuất thiết bị, phụ tùng vận tải, gồm các ngành nghề chủ yếu: cơ khí chế tạo,lắp máy; sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí đóng tàu và dịch vụ cảng
Khu công nghiệp Xích Thổ (thuộc xã Xích Thổ, huyện Nho Quan) Tậptrung sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm sản xuất phụ gia công nghiệp; vậtliệu xây dựng; chế biến đồ gỗ; cơ khí chế tạo, lắp máy
Trang 30Khu công nghiệp Phúc Sơn (thuộc phường Ninh Sơn và xã Ninh Phúc,thành phố Ninh Bình) Tổng diện tích 145ha, là khu công nghiệp sạch với sảnphẩm may mặc, lắp ráp điện tử, dụng cụ đo lường và sản xuất phần mềm.Được thành lập trên cơ sở cụm công nghiệp Phúc Sơn đã được quy hoạch, thuhồi đất và xây dựng một phần cơ sở hạ tầng, có các điều kiện về kinh tế, xãhội rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp.
Khu công nghiệp Sơn Hà (thuộc địa bàn xã Sơn Hà và xã Quảng Lạchuyện Nho Quan) Tổng diện tích 300ha là khu công nghiệp chế biến nôngsản, thực phẩm; thức ăn gia súc; may mặc; sản xuất vật liệu xây dựng
Cụm công nghiệp Đồng Hướng (thuộc xã Đồng Hướng, huyện KimSơn) Tổng diện tích 100ha, giao thông thuỷ, bộ thuận lợi, gần nhiều làngnghề Các yếu tố hạ tầng khác như cấp điện, cấp nước, bưu chính, viễnthông… đã có sẵn và khá đồng bộ
Cụm công nghiệp Bình Minh (thuộc thị trấn Bình Minh, huyện KimSơn), là đất bãi bồi ven biển Giao thông thuỷ, bộ thuận lợi, điện, nước, thôngtin tốt và gần khu nguyên liệu (cói, thuỷ sản)
Cụm công nghiệp Yên Mô (cạnh đường cao tốc Ninh Bình - ThanhHoá, thuộc 2 huyện Yên Khánh và Yên Mô) Tổng diện tích đất phát triển300ha Đây là cụm công nghiệp giáp đường cao tốc, thuận lợi về giao thông,vận chuyển hàng hoá tập trung các ngành cơ khí chế tạo máy, công nghiệpchế biến nông sản thực phẩm; chế biến thức ăn gia súc, may mặc
Cụm công nghiệp Đồng Phong (thuộc xã Đồng Phong, huyện NhoQuan) Tổng diện tích là 150 ha: chế biến nông lâm sản, cơ sở sửa chữa cơkhí; chế biến lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc; may mặc
Cụm Công nghiệp Mai Sơn (thuộc huyện Yên Mô) Tổng diện tích đấtphát triển 50ha, bố trí các loại hình công nghiệp may mặc, hàng tiêu dùng,sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm, dịch vụ,sửa chữa cơ khí, lắp máy
Trang 31Cụm Công nghiệp Khánh Nhạc (huyện Yên Khánh) Tổng diện tích 30
ha, bố trí sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sửa chữa máy móc thiết bị phục vụnông nghiệp; các cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm
Như vậy, các ngành công nghiệp ở Ninh Bình đã phát triển nhảy vọt vềquy mô, tính cả về giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị tài sản công nghiệp,quy mô các cơ sở, khu, cụm công nghiệp, diện tích mặt bằng nhà xưởng, sốlượng công nhân Nếu trong những năm tới, tỉnh Ninh Bình phát huy tốt quy
mô công nghiệp hiện có, đồng thời lấp đầy diện tích các cơ sở, khu, cụm côngnghiệp đã được quy hoạch như đã thống kê ở trên thì quá trình phát triển côngnghiệp ở tỉnh Ninh Bình sẽ thực sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng cả
về số lượng, cơ cấu và giá trị sản xuất công nghiệp và nâng cao được vị thếcũng như năng lực cạnh tranh về công nghiệp của tỉnh nhà
Thứ ba, sự phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình đã đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh nhà theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Với tốc độ tăng trưởng cao và quy mô được mở rộng nhanh chóng,công nghiệp tỉnh Ninh Bình đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Theo số liệu của Sở Kế hoạch
và Đầu tư tỉnh Ninh Bình, tỷ trọng công nghiệp chuyển dịch rõ nét, từ chỗchỉ chiếm 18,9% trong GDP toàn tỉnh năm 1991 lên 48,2% năm 2011, đãlàm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của tỉnh Ninh Bình
Theo số liệu của Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Ninh Bình, khu vực côngnghiệp ngoài Nhà nước đã trở thành khu vực đóng góp chủ yếu vào giá trị sảnxuất của ngành, chiếm tới trên 75% Đây là thành công bước đầu trong việchuy động các nguồn lực tổng hợp của các thành phần kinh tế cho công cuộcphát triển công nghiệp của tỉnh Trong khi các tỉnh và thành phố khác trong cảnước chưa huy động tốt sự tham gia đầu tư, phát triển công nghiệp từ cácthành phần kinh tế ngoài nhà nước, phải trông chờ vào nguồn vốn đầu tư côngcho phát triển công nghiệp, thì thành công trong huy động nguồn vốn từ cácthành phần kinh tế ngoài nhà nước của tỉnh Ninh Bình là hết sức đáng quý,
Trang 32đáng để các tỉnh và thành phố khác học hỏi và nhân rộng mô hình này Từ đógóp phần giảm thiểu nguy cơ tăng gánh nặng nợ công và tình trạng đầu tưcông kém hiệu quả ở nước ta hiện nay.
Thứ tư, Tỉnh đã xây dựng được một số ngành công nghiệp mũi nhọn
có ưu thế cạnh tranh cao như công nghiệp sản xuất clanhke, ximăng, gạch,
đá, phôi thép, thép xây dựng, phân bón…
Những năm qua Ninh Bình đã thực hiện khá tốt mục tiêu huy độngnguồn lực ưu tiên phát triển công nghiệp theo hướng tập trung vào những sảnphẩm có ưu thế cạnh tranh Trong đó xác định công nghiệp sản xuất vật liệuxây dựng là ngành công nghiệp mũi nhọn của Tỉnh với hai sản phẩm côngnghiệp chủ lực là xi măng, clanhke và phôi thép cùng với thép xây dựng cácloại Năm 2010, sản lượng xi măng và clanhke của toàn tỉnh đạt 8,4 triệu tấn(chiếm khoảng 10% sản lượng xi măng của cả nước) Trong đó: công ty ximăng The Vissai 3,6 triệu tấn, công ty xi măng Tam Điệp 1,4 triệu tấn, công
ty xi măng Duyên Hà 2,0 triệu tấn, công ty xi măng Hướng Dương 1,4 triệutấn Sản lượng gạch đất nung của tỉnh cũng rất lớn, đạt 650 triệu viên/năm
Sản lượng thép xây dựng toàn tỉnh hiện nay đã đạt 200 ngàn tấn/năm.Tuy nhiên trong những năm tới sản lượng phôi thép và thép xây dựng của tỉnh
sẽ có bước tăng trưởng đột phá lên hơn 1.700.000 tấn/năm khi nhà máy luyệncán thép chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình công suất 1 triệu tấn phôi thépvuông/năm và 500.000 tấn thép cán hợp kim dự ứng lực/năm do Công tyTrách nhiệm hữu hạn cán thép Tam Điệp làm chủ đầu tư, phía đối tác nướcngoài là Tập đoàn thép Kyoei (đã được khởi công từ tháng 3/2012) đi vàohoạt động Đến khi đó, sản phẩm phôi thép và thép xây dựng các loại củacông nghiệp tỉnh nhà sẽ chiếm thị phần rất lớn trong thị trường thép ViệtNam, đưa Ninh Bình trở thành địa phương sản xuất thép chủ lực của cả nước
Hiện nay, tỉnh Ninh Bình đã đưa vào sản xuất nhà máy Đạm Ninh Bìnhvới công suất 56 vạn tấn/năm, là một trong hai nhà máy sản xuất phân đạm lớn
Trang 33nhất miền Bắc, cùng với nhà máy Phân đạm Hà Bắc đảm bảo đáp ứng toàn bộnhu cầu sử dụng phân đạm của ngành Nông nghiệp toàn miền Bắc, thay thếhoàn toàn lượng phân đạm phải nhập khẩu Phân đạm là một sản phẩm côngnghiệp chủ lực mới của các ngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình hiện nay.
Việc thu hút, ưu tiên và hình thành các sản phẩm công nghiệp chủ lựccủa tỉnh nhà với các sản phẩm xi măng, clanhke, phôi thép, thép xây dựng,phân bón là thành công bước đầu trong quá trình phát huy lợi thế và đầu tư
có trọng tâm vào các ngành công nghiệp mũi nhọn có ưu thế cạnh tranh caocủa tỉnh Ninh Bình Các ngành công nghiệp mũi nhọn này vẫn sẽ giữ vai tròtrụ cột trong toàn bộ quá trình phát triển các ngành công nghiệp ở tỉnh NinhBình trong những năm tới, đồng thời tạo điều kiện tiền đề hỗ trợ về vốn, kinhnghiệm tổ chức, quản lý, và cơ sở hạ tầng cho sự phát triển các ngành côngnghiệp mới trong bước đi tiếp theo của nền công nghiệp tỉnh nhà
Thứ năm, cơ cấu các ngành cụ thể trong công nghiệp có sự chuyển dịch
theo hướng bước đầu đa dạng hoá các ngành nghề công nghiệp của tỉnh
Bên cạnh việc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là sản xuấtvât liệu xây dựng, tỉnh Ninh Bình đã bước đầu phát triển đa dạng hoá cácngành nghề công nghiệp trên địa bàn như:
Về sản phẩm mới trong lĩnh vực công nghiệp, Ninh Bình là một trongnhững địa phương sớm đi vào nghiên cứu và sản xuất thép chất lượng cao Dự
án nhà máy luyện cán thép chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình công suất 1 triệutấn phôi thép vuông/năm và 500.000 tấn thép cán hợp kim dự ứng lực/năm doCông ty Trách nhiệm hữu hạn cán thép Tam Điệp làm chủ đầu tư, có tổng sốvốn lên tới 218 triệu USD (tương đương 4.578 tỷ đồng) được khởi công từtháng 3/2012 tại khu công nghiệp Khánh Phú (huyện Yên Khánh) Đây làNhà máy luyện cán thép chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình được xây dựng vớicông nghệ tự động hóa tiên tiến nhất khu vực Đông Nam Á, tiết kiệm điện,thân thiện với môi trường sinh thái
Trang 34Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung của tỉnh Ninh Bình cũng không ngừngnghiên cứu, sản xuất ra những sản phẩm mới Thời gian qua, Xí nghiệp đãnghiên cứu và sản xuất được máy nâng hạ hiện đại nhất Việt Nam, góp phầnquan trọng vào việc phát triển những ngành công nghiệp khác của đất nước.
Xí nghiệp đã cung cấp hàng chục thiết bị nâng hạ có sức nâng lớn và rất lớn,phục vụ các công trình trọng điểm của Quốc gia như: Thủy điện Sơn La, SêSan; các nhà máy đóng tàu, thay thế các sản phẩm nhập ngoại, nâng cao tỷ lệnội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm
Vừa qua, Ninh Bình cũng có thêm một sản phẩm mới, đó là lắp ráp ô
tô Nhà máy này tuy mới đi vào hoạt động, nhưng cũng góp phần giải quyếtcông ăn việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương Nhàmáy này cũng đang cùng với các doanh nghiệp trên địa bàn từng bước nội địahóa một số sản phẩm phục vụ cho quá trình tự nghiên cứu và sản xuất ô tô
Ngoài ra, Ninh Bình cũng có nhiều cơ sở công nghiệp khác như sảnxuất kính, sản xuất các linh kiện phụ trợ cho ô tô, sản xuất giày… Tiếp đó,sản xuất phân bón cũng là thế mạnh của công nghiệp Ninh Bình Vừa quaNinh Bình đã cùng với Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đầu tư xây dựng Nhàmáy Đạm Ninh Bình, cuối tháng 3/2012, Nhà máy đã cho ra dòng sản phẩmđầu tiên với công suất 56 vạn tấn/năm Có thể thấy đây cũng là một ngànhcông nghiệp mới và là một dấu ấn trong phát triển công nghiệp của NinhBình Nhà máy đi vào hoạt động sẽ có những đóng góp không nhỏ vào ngânsách địa phương và giải quyết công ăn việc làm
Qua các thông kê, phân tích sự chuyển dịch cơ cấu các ngành cụ thểtrong công nghiệp của tỉnh Ninh Bình ở trên ta thấy tỉnh nhà đã có bước điđúng đắn và thu được những thành tựu khả quan trong lộ trình từng bước pháttriển các ngành công nghiệp mới và đa dạng hoá các ngành nghề sản xuấtcông nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đây là phương hướng đúng đắn, song cần tiếptục đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và hỗ trợ cho các ngành công nghiệp mới này
Trang 35phat triển, để từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ cấu công nghiệp đa dạng,hợp lý, hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh cao, đồng thờiđảm bảo tính bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Thứ sáu, trình độ sản phẩm, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của
sản phẩm công nghiệp trên địa bàn Tỉnh đã và đang tăng lên nhanh chóng
Trong những năm gần đây, tỉnh Ninh Bình đã chú trọng thu hút và ưutiên rất lớn đối với các ngành công nghiệp mới, có dây chuyền công nghệ hiệnđại, sạch và thân thiện với môi trường Các ngành công nghiệp mới này tạo racác sản phẩm chứa đựng hàm lượng khoa học công nghệ cao cùng với tỷtrọng giá trị gia tăng trong cấu thành giá trị sản phẩm tương đối lớn
Giai đoạn 2001 - 2010, ngành công nghiệp của Tỉnh đã có nhiều sảnphẩm tăng rất nhanh về sản lượng cùng với một số sản phẩm mới được sảnxuất ra với công nghệ hiện đại đã được thị trường chấp nhận
Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh Ninh Bình (2001 - 2010)
9 Gạo, ngô xay sát Ng.tấn 376 499 497 559 614,6 494,4 507
Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Ninh Bình
Bên cạnh các sản phẩm công nghiệp chủ yếu như clanhke, xi măng, đáxây dựng, thép, bê tông, gạch nung, phân hoá học đã xuất hiện một số sảnphẩm công nghiệp mới có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị cũngnhư giá trị gia tăng cao, như sản phẩm cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô của công ty
Ô tô Thành Công, sản phẩm tàu thuỷ, sản phẩm thiết bị y tế, sản phẩm thiết bị
Trang 36máy nâng hạ tải trọng lớn và cực lớn, hiện đại nhất trong dòng sản phẩm này
ở Việt Nam của nhà máy cơ khí Quang Trung, sản phẩm thép dự ứng lực củacông ty Trách nhiệm hữu hạn thép Tam Điệp đã góp phần nâng cao GDPcủa tỉnh nói chung và của ngành công nghiệp Tỉnh nói riêng
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, xét về tổng thể, sản lượng cũng như
tỷ trọng của các sản phẩm công nghiệp chứa đựng hàm lượng khoa học - côngnghệ cao và có tỷ trọng giá trị gia tăng lớn của các cơ sở công nghiệp trên địabàn tỉnh Ninh Bình vẫn còn thấp Nhưng đây chính là những tín hiệu tích cựcban đầu cho phương hướng từng bước đa dạng hoá các sản phẩm công nghiệp
và nâng dần tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp chứa đựng hàm lượng khoahọc - công nghệ cao và tỷ trọng giá trị gia tăng lớn của tỉnh Ninh Bình
Quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình đã thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp những năm qua Tổng giá trị xuất khẩunăm 2011 đạt 263,7 triệu USD, tăng gấp 140,7 lần so với năm 1991 NinhBình đã có nhiều mặt hàng mới để xuất khẩu mà năm 1991 chưa có, như hàngdệt may, giày vải, xi măng…
Thứ bẩy, sản xuất công nghiệp phát triển tạo điều kiện chuyển dịch cơ
cấu lao động trên địa bàn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Các ngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình phát triển nhanh trong thờigian vừa qua đã làm chuyển dịch cơ cấu lao động của Tỉnh theo hướng tăngnhanh tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp Từ đó tạo điều kiệnnâng cao tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ, đồng thời giảm dần tỷtrọng lao động trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh Ninh Bình
Trang 37Hiện tại, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế củaTỉnh là 515.400 người (năm 2010), trong đó lao động công nghiệp là 163.800người (chiếm tỷ lệ 31,8%) và lao động đã qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệkhoảng 29,5%, là tỷ lệ khá cao trong vùng.
Như vậy, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp còn thấp, lượng laođộng dự bị cho ngành công nghiệp còn rất dồi dào nếu làm tốt công tác chuyểndịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành côngnghiệp (tỷ lệ thời gian nông nhàn ở khu vực nông thôn còn khá lớn, chiếm hơn25%) Tỷ lệ thất nghiệp đô thị của tỉnh trong thời gian qua khá thấp (3,7%)
Công nghiệp có bước phát triển khá đã góp phần nâng cao chất lượngđời sống của người lao động, với thu nhập ngày càng tăng Năm 2010, thunhập bình quân đầu người của Ninh Bình đạt 1,2 triệu đồng/người/tháng, gấp2,4 lần so với năm 2006 và gấp 4,7 lần so với năm 2002; trong đó thu nhậpbình quân đầu người ở khu vực thành thị đạt 1,8 triệu đồng/người/tháng Dothu nhập tăng khá, nên đã có nhiều hộ dân mua sắm được các tiện nghi và đồdùng đắt tiền phục vụ cho sinh hoạt gia đình như xe máy, ti vi, máy giặt,…góp phần quan trọng trong việc cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất, văn hóatinh thần của các tầng lớp dân cư
Đánh giá chung thành tựu phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bìnhtrong những năm qua đó là: quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh trongnhững năm qua đã tận dụng tương đối tốt lợi thế so sánh của địa phương, thúc đẩykhu vực công nghiệp tăng trưởng rất nhanh, đặc biệt trong những năm gầnđây Đã hình thành được những ngành công nghiệp mũi nhọn có ưu thế cạnhtranh cao như công nghiệp xi măng, luyện và cán thép, sản xuất phân bón Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã bước đầu phát triển được một số cơ sở công nghiệp ứngdụng công nghệ hiện đại (sản xuất ô tô, đóng tàu, thép, xi măng) đã tạo khối lượngsản phẩm lớn, giá trị cao Sự phát triển của công nghiệp tỉnh nhà là động lựcchủ yếu nhất trong phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm,tăng thu nhập cho người dân địa phương, phấn đấu tiến tới toàn dụng lao động
Trang 38trên địa bàn; góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnhtheo hướng tiến bộ, hợp lý và có hiệu quả cao, đẩy nhanh quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá theo hướng hiện đại của tỉnh.
* Nguyên nhân của thành tựu
Nguyên nhân khách quan
Nằm trong xu hướng và được tạo tiền đề từ sự phát triển kinh tế - xãhội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá của cả nước Được
sự quan tâm đầu tư cả từ trong tỉnh, trong nước, cũng như từ nước ngoài trong
xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội rất thuận lợi cho phát triển côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên trục giaothông chính Bắc - Nam Có hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường sắt,đường thuỷ phát triển rộng khắp, vô cùng thuận lợi cho việc vận chuyển máymóc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu cho các ngành sản xuất công nghiệp đòi hỏiquy mô sản xuất lớn Bên cạnh đó là nguồn tài nguyên khoáng sản, đất đai, mặtbằng với nền đất cứng, địa chất ổn định thuận lợi cho việc xây dựng và vận hànhcác công trình công nghiệp lớn
Nhu cầu về các sản phẩm công nghiệp do Tỉnh sản xuất rất dồi dào và
ổn định Ngày nay, nhu cầu xây dựng của cả nước là rất lớn, do đó, nhu cầu
về các mặt hàng vật liệu xây dựng do Tỉnh sản xuất như sắt thép, xi măng, đáxây dựng, gạch, ngói là rất lớn Thuận lợi cho việc tiêu thụ các sản phẩmcủa ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của Tỉnh
Tỉnh có lợi thế so sánh hơn nhiều tỉnh bạn về một số sản phẩm côngnghiệp Nhất là về nguồn tài nguyên tại chỗ dồi dào với chi phí thấp đáng kể
so với các tỉnh bạn Cụ thể như trữ lượng đá vôi, đất sét, than bùn, quặngđôlômít, nước khoáng vô cùng lớn mà nhiều tỉnh khác không có được
Nguyên nhân chủ quan
Đảng bộ, chính quyền các cấp của tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quátrình phát triển công nghiệp của tỉnh hết sức sát sao, coi phát triển công nghiệp
Trang 39là động lực chính yếu nhất trong thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội của tỉnh.Coi phát triển công nghiệp là bước đi chính yếu đầu tiên trong toàn bộ quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Xác định từ nay đến năm 2020,công nghiệp vẫn sẽ là trụ cột chính trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Trên cơ sở quan điểm ấy, cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp của Tỉnh đã đềxuất các chủ trương, đề ra các nghị quyết chuyên đề, xây dựng các quy hoạch,
kế hoạch, đề án phát triển công nghiệp của Tỉnh hết sức đúng đắn và kịp thời
Các chủ thể sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh đã nhìn thấy đượclợi thế to lớn của Tỉnh trong phát triển công nghiệp và đã mạnh dạn đầu tưnguồn vốn rất lớn để xây dựng, phát triển các cơ sở công nghiệp trên địa bànTỉnh Đặc biệt là họ đã nhìn thấy tiềm năng và lợi thế to lớn trong đầu tư pháttriển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn Tỉnh
Tỉnh có nguồn lao động tại chỗ rất đông đảo với giá cả sức lao độngtương đối thấp so với nhiều tỉnh khác, đặc biệt là khi so sánh với các tỉnh phíaNam và các vùng đô thị, cận đô thị lớn khác
1.2.2 Những hạn chế, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
* Hạn chế chủ yếu
Tuy công nghiệp của Ninh Bình đã có bước phát triển khá, nhưng vẫntiềm ẩn những nguy cơ không bền vững, biểu hiện cụ thể trên các vấn đề sau:
Thứ nhất, cơ cấu các ngành công nghiệp chưa đa dạng, vững chắc
Hiện tại mới chỉ tập trung phần lớn giá trị sản xuất công nghiệp ở sảnxuất clanhke và ximăng cùng với sản xuất phôi thép và thép các loại Tỷ trọngcông nghiệp gia công, lắp ráp vẫn là chủ yếu, công nghiệp hỗ trợ chậm pháttriển; tốc độ đổi mới công nghệ chưa cao Nhiều lĩnh vực công nghiệp khácquy mô hoạt động còn nhỏ, manh mún, dẫn tới thị trường và khả năng cạnhtranh của một số sản phẩm công nghiệp còn yếu Tỷ trọng công nghiệp cơ khí,chế tạo, công nghiệp sạch còn thấp và chưa có định hướng rõ để thu hút đầu
tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 40Thứ hai, trình độ khoa học - công nghệ nhìn chung chưa cao
Đặc biệt thể hiện rõ ở các dây chuyền sản xuất xi măng của các công ty tưnhân, do họ có ít vốn, lại muốn quay vòng vốn, khấu hao máy móc nhanh, sớm thulợi nhuận Với nhiều dây chuyền công nghệ sản xuất clanhke, ximăng rẻ tiền củaTrung Quốc vừa kém hiện đại, lại hay trục trặc phải dừng vận hành để sửa chữa
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng khá nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm
năng của Tỉnh, sự phát triển này chưa thật vững chắc
Việc tận dụng những lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh chưa đạt hiệu quảnhư mong muốn, điều này dẫn đến sức phát triển của ngành công nghiệp chưađạt sức tối đa, sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp còn chậmchạp, thành phần kinh tế quốc doanh chưa thể hiện là sức mạnh đầu tàu nắm giữcác ngành công nghiệp chủ chốt, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị sản xuất.Chi phí sản xuất có giảm nhưng vẫn cao đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh củacác sản phẩm công nghiệp trên thị trường Điều này được thể hiện qua giá trị sảnxuất tăng nhưng giá trị gia tăng lại tăng không nhiều Việc thu hút và sử dụngcác nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài còn nhiều hạn chế Việc xây dựng và điềuchỉnh bổ sung quy hoạch chưa kịp thời, quản lý thực hiện còn nhiều hạn chế,thiếu sự chặt chẽ và hiệu quả Các dịch vụ cần thiết cho phát triển công nghiệpchưa đáp ứng đầy đủ như hệ thống ngân hàng, xúc tiến thương mại
Thứ tư, thị trường của các sản phẩm công nghiệp của Tỉnh còn nhỏ bé
Thị trường của các sản phẩm công nghiệp còn nhỏ hẹp cả về thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế, điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao nănglực cạnh tranh để mở rộng thị trường Với lợi thế của Tỉnh là điều kiện tựnhiên thuận lợi và nguồn nhân công dồi dào tạo điều kiện để hạ thấp chi phísản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh so với các sảnphẩm cùng loại Tỉnh cần phải đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn Tỉnh nâng cao trình độ khoa học - công nghệ trong quá trình sản xuất
Thứ năm, các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển.
Sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ mới chỉ sơ khai, thậm chíhiện nay vẫn chưa có chiến lược tổng thể phát triển ngành công nghiệp này, do đó