1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

90 975 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 556,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010Yêu cầu khách quan lãnh đạo phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 đến năm 2010 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển công nghiệp (20012010) Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010Kết quả Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp trong những năm 2001 2010 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp (2001 2010)

Trang 1

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG

BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 101.1 Yêu cầu khách quan lãnh đạo phát triển công nghiệp

của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 đến năm 2010 101.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát

1.3 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển công

Chương 2 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TỪ QUÁ

TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ

2.1 Kết quả Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát

triển công nghiệp trong những năm 2001 - 2010 562.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

lãnh đạo phát triển công nghiệp (2001 - 2010) 66

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, quy địnhtrình độ phát triển kinh tế của quốc gia Do đó, phát triển công nghiệp ở ViệtNam có vai trò rất quan trọng, tạo ra khả năng nội sinh ngày càng cao và khẳngđịnh tính độc lập trong phát triển kinh tế Trong thời gian qua, ngành côngnghiệp của Việt Nam đã thực hiện tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tếvới hiệu quả cao, đóng góp vào tỷ trọng ngày càng tăng cho phát triển kinh tế -

xã hội Nhiều sản phẩm công nghiệp của nước ta không những đã chiếm lĩnh thịtrường trong nước mà còn khẳng định chỗ đứng trên thị trường thế giới

Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng công nghiệp chưa cao,trình độ quản lý và năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp thấp; côngnghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng; tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩmcông nghiệp chế tạo, chế biến còn thấp; sự liên kết giữa các ngành chưa chặtchẽ; công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển…Do đó công nghiệp của nước ta đisau khá xa so với các nước phát triển và các nước trong khu vực như TháiLan, Singgapo, Malaixia, Inđônêxia

Nằm trong xu thế chung của cả nước, Thái Nguyên, với truyền thống làtỉnh đầu tiên của cả nước triển khai khu công nghiệp gang thép (năm 1959).Đồng thời, là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm vùng trung du Bắc

Bộ Hiện tại, Thái Nguyên đã có cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông,lâm nghiệp, công nghiệp giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh Với những lợi thế về tự nhiên và xã hội như: vị tríđịa lý, tài nguyên khoáng sản, giáo dục và đào tạo, đã tạo nên tiền đề quan trọngcho sự phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Vì thế, trong những năm qua, côngnghiệp Thái Nguyên đã có sự phát triển khá toàn diện và ổn định Cơ cấu sảnxuất công nghiệp có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, qui mô và chất lượng

tổ chức sản xuất của các vùng từng bước được nâng cao, ngành công nghiệp trên

Trang 3

địa bàn tỉnh đã có những đổi mới và khởi sắc Những kết quả đạt được trongcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung, công nghiệp nói riêng trong nhữngnăm đổi mới là tiền đề rất quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của tỉnh.

Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của đất nước về phát triển công nghiệptoàn diện, hiệu quả, bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, pháthuy ưu thế của một tỉnh có ngành công nghiệp phát triển sớm gắn với giảiquyết tốt an sinh xã hội; vấn đề công nghiệp ở Thái Nguyên vẫn còn nhiều bấtcập, nhất là đầu tư phát triển còn chậm so với yêu cầu, việc ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa theo kịp thực tế sản xuất, sự gắn kết giữasản xuất và tiêu dùng chưa thật chặt chẽ, việc phát triển lực lượng sản xuấtchưa đồng đều; đầu tư còn manh mún, phân tán, chưa tạo được môi trườngđầu tư thông thoáng, hấp dẫn, chưa huy động tốt đầu tư phát triển của toàn xãhội; đời sống nhân dân ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều mặt khó khăn

Tình hình trên, đòi hỏi Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyênphải chủ động nắm bắt xu thế phát triển, tận dụng các lợi thế vốn có của tỉnh đểphát huy tốt vai trò tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với pháttriển công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội cơ bản lâu dài của tỉnh

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận văn Thạc

sỹ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Phát triển công nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốcgia, dân tộc; là nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Chính vì vậy, trong những nămqua đã có rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đề cập dưới cácgóc độ khác nhau, tiêu biểu là các nhóm nghiên cứu sau:

Trang 4

Nhóm các công trình đã xuất bản thành sách:

Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của Đỗ Mười (Nguyên Tổng Bí thư

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam), Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1997; 45 năm xây dựng và phát triển công nghiệp Việt Nam, của Thanh Sơn, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1990; Suy nghĩ về CNH,HĐH ở nước ta, của GS,TS Ngô Đình Giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp ở nước ta hiện nay, của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở nước ta, của Đặng Ngọc Dinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Công nghiệp hóa dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, của PGS, TS Mạch Quang Thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000; Tổng hợp, phân tích, quy hoạch, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam,

Trung tâm thông tin Bộ Kế hoạch và đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1997; Quy hoạch, quản lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, Vụ Kiến trúc Bộ Xây dựng, Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1998; Phát triển kinh tế tri thức, đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam, của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Bác Hồ với Bắc Thái, tập 1, Ty Văn hóa và Thông tin tỉnh Bắc Thái, 1978; Thái Nguyên đất và người, Sở

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, 2007

Các công trình khoa học trên đây đã đi sâu nghiên cứu làm rõ sự lãnhđạo của Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình phát triển công nghiệpnước ta; khẳng định vai trò của công nghiệp trong phát triển đất nước; nêu lênmột số xu hướng biến đổi, vận động của kinh tế công nghiệp của nước tatrong những năm đầu thế kỷ XXI; làm rõ nội dung, chủ trương, giải pháp chủyếu về phát triển công nghiệp; nghiên cứu về công nghiệp dưới khía cạnh đầu

tư, lao động và tạo việc làm ở các khu công nghiêp, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, sử dụng và quản lý tài nguyên đất và nước, sự phân tầng xã hội và việc xoáđói, giảm nghèo trong điều kiện mới; tổng kết sự lãnh đạo của Đảng về đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển công nghiệp; rút ra những

Trang 5

kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước; cung cấp một số tư liệu tham khảo về lĩnh vựccông nghiệp trong tình hình hiện nay.

Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:

Thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu để vùng dân tộc và miền núi đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của Hoàng Đức Nghi, Tạp chí Cộng sản,

số (18/1997); Đẩy manh thu hút đầu tư nước ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của Trịnh Dân, Tạp chí Cộng sản số (6/1996); Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, của PGS, TSKH

Vũ Đình Cự, Tạp chí Cộng sản số (78/2007); Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở một số nước Đông nam Á - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam của Hoàng Thị Bích Loan, Tạp chí Lý luận chính trị (số 1/2006); Một số vấn đề

về phương pháp luận phát triển công nghiệp gắn với phát triển vùng, của Nguyễn Hồng Linh, Tạp chí Công nghiệp tiếp thị, Số tháng 1+2 (2007); Xây dựng con người mới trong sự nghiệp CNH – HĐH, của PGS, TS Đoàn Ngọc Hải, Tạp chí Lịch sử Đảng, số (7/1996); Khủng hoảng kinh tế thế giới và những giải pháp kích cầu ở nước ta, PGS, TS Lê Quốc Lý, Tạp chí lý luận Chính trị số (7/2009); Tập trung sức đẩy mạnh CNH, HĐH nước nhà, Đỗ Mười - 21/9/2006 - Báo Nhân dân; Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới, của GS, TS Đinh Xuân Lý, Tạp chí Lịch sử Đảng, (số 244/2009); Thái Nguyên, vùng đất giàu truyền thống và tiềm năng, của TS Nguyễn Bắc Son - Ủy viên BCHTW Đảng, Bí thư tỉnh ủy

Thái Nguyên (Nay là Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông), Tạp chí sinh

hoạt chi bộ Thái Nguyên (2007), Nxb Thái Nguyên; Đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH xây dựng quê hương Thái Nguyên giàu đẹp, văn minh, của

Nguyễn Ngọc Kim - Nguyên Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái

Nguyên, Tạp chí sinh hoạt chi bộ Thái Nguyên (2007), Nxb Thái Nguyên

Các tác giả trên đã đưa ra các nhận định, đánh giá về phát triển côngnghiệp ở Việt Nam; nêu lên yêu cầu tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa,

Trang 6

hiện đại hóa trong tình hình hiện nay để tạo ra nền tảng vật chất, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; khái quát cácvấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra, từ đó đưa ra các phương pháp tiếp cậnngành công nghiệp một cách toàn diện và xác định chủ trương, giải pháp cơbản đáp ứng nhu cầu cho phát triển công nghiệp ở nước ta nói chung và tỉnhThái Nguyên nói riêng trong tình hình mới.

Nhóm các luận văn, luận án:

Đinh Thị Điều, “Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình hình thành và phát triển chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp 1986- 1994”, Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,1996; Đinh Hữu Nghị, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp từ năm 1986 đến năm 1996”, Luận văn Thạc sĩ lịch sử, Học viện Chính trị,

Quân sự, Hà Nội,2004 Những công trình trên đã đi sâu vào nghiên cứuđường lối, chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp trong thời kỳ đổimới

Đồng thời, dưới góc độ kinh tế, một số luận văn, luận án đã đưa ranhững giải pháp nhằm phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên như:

Nguyễn Minh Hiếu, “Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.2011; Nguyễn Hà Minh, “Chính sách phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, 2011; Nguyễn Thế Nam, “Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp thành phố Thái Nguyên”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Thái Nguyên, 2011 Đây là những tài liệu có giá trị tham khảo để bổ sung,kiểm chứng và đối chiếu với những tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn

Như vậy, có thể nói những công trình đề cập đến phát triển côngnghiệp là rất đa dạng và phong phú, nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh

Trang 7

khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh TháiNguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, dưới góc

độ lịch sử Đảng thì chưa có một công trình nào đề cập một cách đầy đủ, hệthống Các công trình nghiên cứu liên quan là những tư liệu quý để tác giảtiếp thu, kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn

Luận văn này kế thừa có chọn lọc các tài liệu trên, đồng thời trên cơ sở tiếpcận các tư liệu, tài liệu về phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên tại các nguồnvăn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, thư viện tỉnh…, để làm rõ Đảng bộ tỉnhThái Nguyên đã lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triểncông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 Đánh giá những thành tựu, hạn chế,làm rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm để vận dụng vào hiện tại

Trang 8

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn

*Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp chuyên ngành Lịch sử Đảng, trong đóchủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợpphương pháp lịch sử, phương pháp lôgic trong nghiên cứu và trình bày luậnvăn Đồng thời có kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích, tổnghợp, thống kê, so sánh để làm rõ những vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

Góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ Thái Nguyên lãnh đạo phát triểncông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

Luận văn là nguồn tư liệu để các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tổchức chính trị - xã hội ở địa phương tỉnh nghiên cứu, vận dụng trong lãnh đạophát triển công nghiệp trên địa bàn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trườngtrong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 1.1 Yêu cầu khách quan lãnh đạo phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 đến năm 2010

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên

Đặc điểm tự nhiên: Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi

Bắc Bộ, liền kề với thủ đô Hà Nội Thái Nguyên có diện tích 3.541,67 km2,nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tứ giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Dương -Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưukinh tế mạnh Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắcnói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung

du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu đã được thực hiệnthông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông tạo thành hình rẻ quạt

mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút

Về địa giới hành chính: Thái Nguyên, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh

Bắc Kạn ; phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc , Tuyên Quang , phía Đônggiáp với các tỉnh Lạng Sơn , Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với Thủ đô

Hà Nội , cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc

200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km Tỉnh TháiNguyên có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện Các đơn vị hành chính này được chiathành 180 xã, trong đó có 123 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồngbằng và trung du

Trang 10

Bước vào thời kỳ đổi mới, Thái Nguyên đứng trước những thời cơ vàthách thức mới Với vị trí như thế, xét ở tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, TháiNguyên có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Về địa hình, địa chất: Tam Đảo là dãy núi tạo thành ranh giới giữa

ba tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang Thái Nguyên có nhiều dãynúi cao chạy theo hướng Bắc - Nam và thấp dần xuống phía Nam Cấu trúcvùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hangđộng và thung lũng nhỏ Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưngđịa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác Đây

là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông, lâm nghiệp và phát triểnkinh tế - xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác

Về tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản

phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển cácngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng

Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộcvành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Khoáng sản đa dạng với 34 loại, phân

bố ở Đại Từ, thành phố Thái Nguyên, Trại Cau (Đồng Hỷ), Thần Sa (Võ Nhai)

Nhóm nguyên liệu cháy gồm than mỡ, than đá, phân bố tập trung ởvùng Đại Từ, Phú Lương Than mỡ chất lượng tương đối tốt, có trữ lượngtiềm năng khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó trữ l ượng thăm dò 8,5 triệutấn (lớn nhất ở Việt Nam) Thái Nguyên là tỉnh có trữ lượng than đá lớnthứ hai cả nước (sau tỉnh Quảng Ninh) với trữ lượng thăm dò khoảng 90triệu tấn Nhóm khoáng sản kim loại đen như sắt, mangan, titan và kim loạimàu như: chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vonfram, antimoan, thuỷ ngân,vàng , khoáng sản kim loại của Thái Nguyên là một trong nhiều ưu thế sovới các tỉnh khác trong vùng, đồng thời có ý nghĩa đối với cả nước

Trang 11

Về kim loại đen: Sắt với 41 mỏ và điểm quặng (18 mỏ nhỏ và vừa, 23điểm quặng) có trữ lượng và tiềm năng lớn, phân bố chủ yếu dọc tuyến Đại

Từ, Thái Nguyên Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn với

hàm lượng Fe 58,8 đến 61,8%, được xếp vào loại chất lượng tốt.

Cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường 259, gồm các mốc quy mônhỏ từ 1 đến 3 triệu tấn, tổng trữ lượng quặng phong hoá đạt trên 30 triệutấn Titan phát hiện có 21 mỏ và điểm quặng (1 mỏ vừa, 2 mỏ nhỏ, 18 điểmquặng), phân bố chủ yếu ở phía bắc Đại Từ Khoáng sản titan với thành phầnchính của quặng là limônhit có hàm lượng 30 đến 80% tổng trữ lượng titan đãthăm dò đạt xấp xỉ 18 triệu tấn Ngoài ra có nhiều mỏ và điểm quặng mangan,sắt có hàm lượng 40 đến 60%, trữ lượng thăm dò khoảng 5 triệu tấn, phân bốrải rác ở nhiều nơi

Kim loại màu: Thiếc, vonfram là khoáng sản tiềm năng của Thái Nguyên,thiếc có ở Đại Từ, tổng trữ lượng Sn02 của các mỏ chính này là 13.600 tấn.Vonfram ở khu vực Đá Liền được đánh giá là có quy mô với trữ lượng khoảng28.000 tấn

Nhóm khoáng sản phi kim loại có pyrit, barit, phôtphorit Trong đóđáng chú ý nhất là phôtphorit với 2 mỏ nhỏ và một điểm quặng La Hiên,Núi Vân, Làng Mới, tổng trữ lượng đạt khoảng 60.000 tấn Khoáng sản vậtliệu có sét xi măng trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn, đá vôi xây dựng có trữ l-ượng xấp xỉ gần 100 tỉ mét khối

Khoáng sản của Thái Nguyên phong phú, tạo điều kiện cho sự phát triểncác ngành công nghiệp, góp phần đưa tỉnh trở thành một trong những trung tâmcông nghiệp lớn của vùng trung du miền núi Bắc Bộ

Về hạ tầng giao thông: Thái Nguyên hiện có 3 tuyến quốc lộ đi qua là

Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B và Quốc lộ 37 Tuyến Quốc lộ 3 vốn chỉ có 2 làn xe vàhiện được cho là quá tải, tuyến đường này đang được đầu tư để mở rộng song

Trang 12

song với việc xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên với 4 làn

xe dự kiến hoàn thành vào năm 2013 Đường cao tốc có mặt đường rộng34,5m và dài hơn 61km có điểm đầu là Quốc lộ 1A mới thuộc xã Ninh Hiệp(Gia Lâm, Hà Nội) và điểm cuối là tuyến đường tránh thành phố TháiNguyên, tuyến đường này sẽ nằm về bên phải quốc lộ 3 cũ trừ đoạn từ xãLương Sơn (thành phố Thái Nguyên) đến tuyến đường tránh thành phố Theoquy hoạch thì sẽ có đường hầm Tam Đảo nối giữa hai tỉnh Thái Nguyên -Vĩnh Phúc, nếu dự án được khởi công và hoàn thành sẽ giảm bớt thời gian dichuyển từ tỉnh Thái Nguyên tới Vĩnh Phúc và một số tỉnh thành khác

Về đường sắt, tỉnh có tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều, hay còngọi là tuyến đường sắt Hà Thái; tuyến đường sắt Quan Triều - Núi Hồng dài33,5 km chỉ sử dụng để chuyên chở khoáng sản, cộng thêm hệ thống đườngsắt nội bộ trong khu Gang Thép

Do là tỉnh trung du nên giao thông đường sông của tỉnh chủ yếu chỉphát triển ở sông Cầu và sông Công đoạn cuối nguồn thuộc tỉnh, dự án Cụmcảng Đa Phúc đang được xây dựng tại huyện Phổ Yên và được mong đợi cóthể kết nối đến cảng Hải Phòng

Đặc điểm về dân số: Theo số liệu điều tra dân số 01/04/2009, dân số

tỉnh Thái Nguyên là 1.123.116 người thuộc 325.680 hộ gia đình, trong đónam có 555.371 người chiếm 49,45% và nữ là 567.745 người chiếm 50,55%,

tỉ số giới tính nam/nữ là 97,8/100 Tổng dân số đô thị là 287.265 người(25,6%) thuộc 97.300 hộ và tổng dân cư nông thôn là 835.851 người (74,4%)thuộc 228.380 hộ Cũng như toàn quốc, Thái Nguyên có dân số trẻ với nhómtuổi lao động từ 15 đến 60 là 779.261 người, chiếm 69,38% tổng dân số.Nhóm tuổi dưới 15 có 249.001 người, chiếm 22,17% tổng dân số, còn nhómngười trên 60 tuổi có 94.854 người, tức chiếm 8,45% Thái Nguyên là mộtmiền đất văn hoá đa sắc tộc, vừa là cái nôi, điểm hội tụ nền văn hoá đặc sắc

Trang 13

của các dân tộc thiểu số cư trú trong vùng vừa là nơi giao lưu, hội nhập vớinền văn hoá của cộng đồng các dân tộc khác tạo nên một nền văn hoá phongphú đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc

Đặc điểm về Giáo dục và đào tạo: Tỉnh Thái Nguyên được coi là một

trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Thủ đô Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh Trên địa bàn tỉnh hiện có Đại học Thái Nguyên, đây là mộttrường đại học cấp vùng của khu vực trung du, miền núi phía Bắc và đượcthành lập vào năm 1994, đại học bao gồm nhiều đơn vị thành viên như:Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Nông lâm, Trường Đại học Ydược, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Đại học Kinh tế vàQuản trị Kinh doanh, Trường Đại học Khoa học, Trường Cao đẳng Kinh tế

Kỹ thuật, Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông, Khoa Ngoạingữ, Trung tâm học liệu, Trung tâm giáo dục quốc phòng và một số đơn vịtrực thuộc Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn có 18 trường caođẳng và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Tổng số sinh viên trên địa bàntỉnh Thái Nguyên ước tính vào khoảng trên 150.000 người Ngoài ra, TrườngĐại học Việt Bắc- một trường đại học tư thục cũng đã được thành lập trên địabàn tỉnh Thái Nguyên vào tháng 8 năm 2011.Đây là nguồn lực rất quan trọngphục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh

Đặc điểm về kinh tế - xã hội: Thái Nguyên là trung tâm chính trị,

kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nóichung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa trung du, miền núi với vùngđồng bằng Bắc Bộ

Kinh tế Thái Nguyên với đặc điểm là không có độ mở cao, phụ thuộckhông nhiều vào xuất khẩu và tỷ trọng sản xuất của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài thấp hơn so với bình quân chung cả nước nên khikinh tế suy thoái bởi ảnh hưởng khủng hoảng trên thế giới, tỉnh ít bị ảnh

Trang 14

hưởng hơn so với bình quân cả nước Mặt khác, với sự năng động của cáccấp chính quyền trong chủ động theo sát tình hình, phân tích các diễn biến,tiếp thu các ý kiến chỉ đạo, đóng góp, đề cao trách nhiệm, quyết liệt chỉ đạođiều hành thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra và với nhiều nỗ lực cốgắng, đoàn kết phấn đấu của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân cácdân tộc trong tỉnh đã tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội vàduy trì được nhịp độ phát triển.

Trong cơ chế kinh tế mới, kể từ khi tái lập (năm 1997) đến nay, nền kinh

tế của tỉnh phát triển và có mức tăng trưởng khá Tuy nhiên, cho đến trước năm

2001 kinh tế Thái Nguyên vẫn là một nền kinh tế theo cơ cấu nông, lâm, côngnghiệp Ngành công nghiệp Thái Nguyên đã được hình thành từ những nămđầu thập niên 60 của thế kỷ XX Trải qua 4 thập kỷ thăng trầm do hậu quả củachiến tranh, do sự thay đổi cơ chế quản lý , đến nay ngành công nghiệp củaThái Nguyên đã có một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh với sự có mặt của hầu hếtcác ngành công nghiệp như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất Trong đócông nghiệp luyện kim và sản suất sắt thép, phôi thép là ngành công nghiệpchủ yếu của Thái Nguyên Công nghiệp đóng góp khoảng 30 - 40% vào GDPcủa tỉnh Trong các cơ sở công nghiệp trong nước, có 8 cơ sở do Trung ươngquản lý (Công ty chè Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Công tygang thép Thái Nguyên, Công ty kim loại màu, Công ty điêzen Sông Công,Công ty phụ tùng máy số 1, Nhà máy cơ khí Phổ Yên, Nhà máy y cụ số 2) và

17 cơ sở công nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý Các cơ sở côngnghiệp này đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghiệp của tỉnh.Cho đến thời điểm này, ngành công nghiệp Thái Nguyên đã được đầu tư đổimới về máy móc thiết bị, “Sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Thái Nguyên làthan sạch, thiếc thỏi, xi măng, thép cán, gỗ xẻ và các sản phẩm nông, lâm sảnchế biến khác Nhiều sản phẩm hàng hoá mới cũng được thị trường chấp nhậnnhư giấy, thép, đồ uống, hàng may mặc, vật liệu xây dựng” [63, tr.39]

Trang 15

Trong bảng xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của ViệtNam năm 2010, tỉnh Thái Nguyên đạt 56,54 điểm, xếp thứ 42 trên tổng số 63tỉnh thành, tuy nhiên thứ hạng của Thái Nguyên lại cao hơn hai trung tâmkinh tế lớn nhất của miền Bắc là Hà Nội (thứ 43) và Hải Phòng (thứ 48)

Công tác an sinh xã hội cũng đạt những kết quả đáng khích lệ: TháiNguyên là một trong những địa phương đạt kết quả cao nhất toàn quốc trongchương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo theo Quyết định số 167/QĐ-

CP của Chính phủ; là địa phương về đích đầu tiên trong chương trình xâydựng nhà ở cho sinh viên, với 52 công trình cao tầng đã hoàn thành; tỷ lệ hộnghèo trong toàn tỉnh năm 2010 là 10,8%, giảm 5,19% so với năm 2005, vượtmục tiêu kế hoạch Nghị quyết Kinh tế phát triển cao cũng đã tạo điều kiện đểviệc thực hiện các mục tiêu văn hoá - xã hội trên địa bàn đạt và vượt kếhoạch; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.Các thiết chế văn hoá, giáo dục, y tế được đầu tư xây dựng Thái Nguyênđang từng bước xứng đáng với vai trò trung tâm vùng về kinh tế, giáo dục -đào tạo, y tế, văn hoá của khu vực trung du miền núi Bắc Bộ

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội nói trên đã đem lạicho Thái Nguyên những lợi thế và tiềm năng trong việc phát triển kinh tế - xãhội nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng Tuy vậy, để Thái Nguyênthực sự là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của miền Bắc nói chung,của vùng trung du miền núi nói riêng, một trung tâm công nghiệp hỗ trợ củamiền Bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đòi hỏinhân dân tỉnh Thái Nguyên phải đoàn kết và nỗ lực hơn nữa, tận dụng tối đanhững thuận lợi, vượt qua khó khăn, khẳng định vị thế là trung tâm kinh tế, giáodục và đào tạo, y tế, văn hóa của khu vực trung du miền núi Bắc Bộ

Trang 16

1.1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên trước năm 2001

Trước năm 2001, cùng với sự phát triển cả nước, kinh tế TháiNguyên đã có bước tăng trưởng khá Xuất phát điểm từ một tỉnh có nềnkinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, các cơ sở sản xuất côngnghiệp, đặc biệt là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể Do đó,thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh trước năm 2001 nổi nên những nét

cơ bản sau:

* Thành tựu:

Trước năm 2001, cùng với những thành công của sự nghiệp đổi mớiđất nước, các ngành kinh tế của Thái Nguyên cũng từng bước khẳng định vàphát triển

Kinh tế tiếp tục phát triển Nổi bật là sản xuất nông, lâm nghiệp pháttriển khá…, sản xuất công nghiệp tuy còn gặp nhiều trở ngại nhưng đãđược tổ chức lại, cố gắng vượt qua nhiều thách thức để ổn định và từngbước vươn lên; một số sản phẩm như xi măng, tấm lợp, gạch tuynen,giấy, bao bì…tăng thêm sức sản xuất; giá trị sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp địa phương tăng bình quân hàng năm 13% [25, tr.8]

Tỷ trọng hàng công nghiệp phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chếbiến hàng xuất khẩu được quan tâm, bước đầu tổ chức thực hiện có hiệu quảviệc gắn công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu đối với một số cây trồngnhư: Chè, gỗ, nhãn, vải và các sản phẩm nông sản làm thức ăn gia súc…Địnhhướng qui hoạch và thực hiện một bước qui hoạch các khu công nghiệp tậptrung trên các địa bàn dân cư

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, tổchức lại sản xuất, tiếp tục nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh cho doanhnghiệp Đến tháng 6 năm 2001 đã có 53 doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi

Trang 17

thành công ty cổ phần thuộc tỉnh quản lý, trong đó có 23 doanh nghiệp thuộcngành công nghiệp và xây dựng Khu vực dân doanh có 313 doanh nghiệpđược thành lập (theo Luật doanh nghiệp) và 8540 hộ kinh doanh cá thể và 92hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh

Với chính sách và chủ trương phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt

là từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp, khu vực dân doanh phát triển với tốc

độ khá nhanh, giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao nhất trong các loại hìnhdoanh nghiệp, ngoài việc tạo ra các sản phẩm, mặt hàng mới đã thu hút khoảng20.000 lao động, góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo

và thực hiện chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp và nông thôn

Tích cực đẩy mạnh cơ khí hoá, điện khí hoá, phát triển công - nôngnghiệp, cây công nghiệp, “Nhịp độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp - xâydựng bình quân hàng năm tăng: 14,5%, làm tăng tỉ trọng của công nghiệptrong GDP của tỉnh, khẳng định tính đúng đắn của chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa tỉnh” [26, tr.16]

Được sự quan tâm của Trung ương, các doanh nghiệp đã được đầu tưphát triển sản xuất, đổi mới công nghệ để có sản phẩm đạt chất lượng caohơn, phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu, đóng góp cho ngân sách Nhànước, tạo được vị thế mới trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Khôngngừng áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất, đổi mớithiết bị công nghệ theo hướng lựa chọn, ứng dụng công nghệ hoặc chuyểngiao Đã khuyến khích các doanh nghiệp đăng ký tham gia dự án hỗ trợ ápdụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO Đã quy hoạch và từng bướchình thành các khu công nghiệp trong tỉnh theo Quyết định số 3044/2001/QĐ-UBND ngày 8/8/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định vềtiếp nhận, thẩm định, cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy phép đầu tư vào cáckhu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Theo đó đã hình thành mới 4 khu, cụmcông nghiệp với hàng chục cơ sở công nghiệp đi vào hoạt động

Trang 18

Những kết quả đạt được trong phát triển công nghiệp đã góp phầnquan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trước nhữngnăm 2001 Với chủ trương, chính sách đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóanói chung và công nghiệp nói riêng, đã tạo bước phát triển mới trong quátrình quy hoạch, đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất côngnghiệp của tỉnh Thái Nguyên.

* Nguyên nhân của những thành tựu:

Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ tỉnh đãnắm chắc yêu cầu của thực tiễn, tích cực đổi mới tư duy lãnh đạo, do đó đã cónhững đột phá về cơ chế chính sách, mở đường cho sản xuất phát triển,

“Trong phát triển các ngành công nghiệp luôn gắn kết chặt chẽ giữa chínhsách của Trung ương với điều kiện cụ thể của tỉnh; có nhiều cơ chế thu hútcác nguồn lực về vốn và lao động ” [55, tr.7]

Cơ cấu kinh tế được xác lập theo đúng hướng công nghiệp - dịch vụ và khaithác bước đầu có hiệu quả, về điều kiện, tiềm năng của tỉnh, cơ cấu trong ngànhcông nghiệp thay đổi theo xu hướng chất lượng và giá trị sản phẩm, sản xuất gắnvới thị trường Tập trung phát triển kinh tế công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầngthương mại dịch vụ, du lịch Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, công tác bồithường giải phóng mặt bằng và tiến độ các công trình, dự án trọng điểm

Các nguồn vốn được quan tâm và tập trung khai thác, trong đó cónguồn vốn đất là nguồn vốn thu hút từ nội lực của tỉnh cũng như các nguồnlực bên ngoài, “Môi trường đầu tư được cải thiện rõ rệt, các quan hệ vùngđược xác lập rõ ràng hơn, liên kết kinh tế giữa Thái Nguyên với các tỉnh bạnđược hình thành Sức ép phải phát triển nhanh hơn, đột phá hơn ngày càng rõ,các thành phần kinh tế ngày càng được chú trọng” [60, tr.7]

Doanh nhân được quan tâm và tạo điều kiện để phát triển; cải cáchdoanh nghiệp nhà nước được tiến hành quyết liệt, do đó đã tạo được môitrường và tâm lý tốt cho doanh nghiệp

Trang 19

Hoạt động văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo, quốcphòng - an ninh được quan tâm và thực hiện đạt kết quả khá tốt, ổn định chínhtrị luôn được được giữ vững.

Hoạt động của Công ty gang thép Thái Nguyên và nhiều đơn vị sảnxuất công nghiệp Trung ương chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất côngnghiệp trên địa bàn bị đình trệ, sa sút trong những năm 1997 - 1998, làm hạnchế và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Lãnh đạo và chính quyền tỉnh còn lúng túng trong việc sắp xếp, củng

cố, đổi mới doanh nghiệp nhà nước và chậm chuyển đổi hợp tác xã theo Luật;đầu tư còn manh mún, phân tán, chưa tạo được môi trường đầu tư thôngthoáng, hấp dẫn, chưa huy động tốt đầu tư phát triển của toàn xã hội…

Đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp chưa có bài bản, năng lực, trình

độ của đội ngũ cán bộ quản lý của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế; chưanăng động trong sản xuất kinh doanh và tìm kiếm thị trường, ngại đầu tư đổimới nên sản phẩm kém sức cạnh tranh, “Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản

lý doanh nghiệp vẫn còn tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào

sự can thiệp của tỉnh để tháo gỡ khó khăn hoặc tạo ưu thế để hưởng những ưuđãi và độc quyền” [ 60, tr.9]

Trang 20

* Nguyên nhân của hạn chế:

Những khuyết điểm, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan

là do điểm xuất phát về kinh tế của tỉnh thấp, nguồn vốn để phát triển hạnhẹp, lại chịu tác động của khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực,ảnh hưởng của thiên tai

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan là chính, trong đó có trách nhiệmcủa Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Việc nhận thức và vận dungđường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng chưa sâu sắc, chưa sáng tạo,còn thụ động, thỏa mãn với kết quả ban đầu, “Đầu tư nước ngoài vào tỉnhtăng chậm, quy mô nhỏ Đầu tư trong tỉnh dàn trải, còn để thất thoát và tiêucực; tình trạng nợ đọng vốn kéo dài Một số lợi thế như nguồn nhân lực, tàinguyên khoáng sản, kinh tế đồi rừng, mặt nước…khai thác chưa có hiệuquả” [26, tr.26]

Quá trình triển khai, chỉ đạo, điều hành còn thiếu tập trung, thống nhất,chưa phát huy hết khả năng sức mạnh của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chứctrong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển công nghiệp.Chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chủ trương,chính sách, chậm tổng kết, rút kinh nghiệm để phát huy những nhân tố mới

Việc qui hoạch, định hướng phát triển khu công nghiệp còn lúng túng,triển khai phát triển chưa toàn diện, thiếu vững chắc Chưa khuyến khích cácngành nghề phát triển, thị trường tiểu thủ công, mỹ nghệ và chất lượng sảnphẩm chưa được mở rộng và nâng cao

Năng lực và hệ thống quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành pháttriển ngành công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Đây làvấn đề hết sức cấp bách, nếu không được quan tâm giải quyết, sẽ là một yếu

tố hạn chế đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Trang 21

Từ những nguyên nhân nêu trên, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải vận dụngđúng đắn, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng cũng như yêu cầu củacông cuộc đổi mới vào thực tiễn của địa phương

Từ tình hình thực trạng phát triển công nghiệp Thái Nguyên trước năm

2001 cho thấy, tỉnh Thái Nguyên có những thuận lợi cơ bản để địa phươngphát triển công nghiệp tốt hơn, song trước yêu cầu mới và những tồn tại trong

tổ chức thực hiện phát triển công nghiệp tỉnh nhà cần có bước đi và cách làmphù hợp, rút ra trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ cụ thể hơn để côngnghiệp phát triển một cách bền vững, đồng thời nghiên cứu đúc rút kinhnghiệm góp phần bổ sung, hoàn thiện chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộtỉnh về phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, địa chỉ tham khảo cho một

số tỉnh khác và cả nước để tiến tới mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ công nghiệphóa, hiện đại hóa trong cả nước

1.1.3 Yêu cầu về phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên trong những năm 2001 - 2010

Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự pháttriển mạnh mẽ của cách mạng khoa học, công nghệ và thực trạng về phát triểncông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên trước năm 2001 đặt ra những yêu cầu phảiphát triển công nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Yêu cầu phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó phát triểncông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa Thái Nguyên trở thànhtỉnh công nghiệp trước năm 2020

Yêu cầu về huy động nguồn lực, khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh đểphát triển công nghiệp nhanh, hiệu quả và bền vững gắn với phát triển thương mại,dịch vụ Yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa theo chỉ tiêu đến năm 2010: "Phấn đấu đạt cơ cấu kinh tế côngnghiệp - dịch vụ - nông, lâm nghiệp với tỷ trọng GDP là công nghiệp: 45%;dịch vụ: 38,5%; nông lâm nghiệp: 16,5% " [26, tr.35]

Trang 22

Một số cơ sở công nghiệp của Trung ương và địa phương, chủ yếu làcông nghiệp nặng, được xây dựng từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, thiết

bị, công nghệ đã lạc hậu, yêu cầu cần phải đầu tư đổi mới để tăng hiệu quảkinh tế và sức cạnh tranh trên thị trường, “Việc chuẩn bị các dự án thu hút đầu

tư vốn của nước ngoài, tổ chức khu công nghiệp tập trung trên địa bàn thựchiện đạt kết quả thấp, chưa có chính sách tích cực hỗ trợ kinh tế ngoài quốcdoanh phát triển " [61, tr.14]

Rà soát lại quy hoạch và cơ cấu phát triển công nghiệp của tỉnh nhằmphát huy có hiệu quả thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, vị trí địa chính trị,địa kinh tế và những cơ sở công nghiệp hiện có Đồng thời, phát huy năng lựckhoa học công nghệ của Đại học Thái Nguyên và các trung tâm nghiên cứu,ứng dụng, các trường đào tạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao và ứng dụng khoa học công nghệ cho phát triển công nghiệp của tỉnh

Phải củng cố và sắp xếp lại các cơ sở công nghiệp hiện có trên cơ sởđầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại hóatừng phần, cải tiến công tác quản lý nhằm hạ giá thành, nâng cao năng suất,chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường trongnước và xuất khẩu

Trong giai đoạn mới yêu cầu phải khuyến khích mọi thành phần kinh

tế trong tỉnh, trong nước và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển sản xuấtcông nghiệp Lựa chọn phát triển mới một số cơ sở sản xuất công nghiệpvới quy mô và trình độ thích hợp, chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏphù hợp với tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, lợi thế so sánh của tỉnh và

có thị trường tiêu thụ

Ưu tiên kêu gọi đầu tư phát triển các ngành: Công nghiệp sản xuất vậtliệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản; công nghiệp bảo quản vàchế biến nông, lâm sản, thực phẩm; cơ khí phục vụ nông, lâm nghiệp; công

Trang 23

nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có thị trường và sử dụng nhiều lao động như:may mặc, da giầy

Tiếp tục hình thành và nâng cao chất lượng mạng lưới các cơ sở sảnxuất kinh doanh gắn kết với Gang thép Thái Nguyên và Khu công nghiệpSông Công Phát triển các cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ởtỉnh Lựa chọn các sản phẩm, nhóm sản phẩm có lợi thế so sánh, sản phẩmmũi nhọn, chiếm tỷ trọng lớn để phát triển

Đầu tư phát triển mạnh công nghiệp công nghệ cao, ưu tiên cho côngnghiệp luyện kim truyền thống Đồng thời đầu tư cho công nghệ thông tin,điện tử, viễn thông

Xây dựng có chọn lọc và đầu tư về vốn, công nghệ, thị trường cho một

số cơ sở công nghiệp sản xuất ra tư liệu sản xuất như luyện kim, cơ khí, điện

tử, hóa chất cơ bản Đây cũng là một trong những thế mạnh của tỉnh cần đượcquan tâm đầu tư phát triển

Tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ và toàn thể nhân dân trongtỉnh quyết tâm thực hiện chủ trương phát triển công nghiệp trong tỉnh.Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị vào cuộc đẩy mạnh phát triểncông nghiệp của tỉnh

Những yêu cầu nội tại trên đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ, từ đó

có kế hoạch định hướng cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, phát huy cao độ nội lực của tỉnh, đồng thời khai thác nguồn lực trongnước và nước ngoài để phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên

1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển công nghiệp (2001 - 2010)

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển công nghiệp trong những năm 2001-2010

Phát triển công nghiệp là quá trình phát triển của phân công lao độnggắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ và kinh tế hàng hóa, với sự

Trang 24

hình thành và phát triển của thị trường trong nước và quốc tế Đó là quá trìnhphát triển các ngành công nghiệp riêng biệt nhằm từng bước điều chỉnh cơcấu kinh tế theo hướng hiện đại, trong đó công nghiệp ngày càng chiếm tỷtrọng cao, hướng tới xây dựng đất nước trở thành một quốc gia công nghiệptheo các tiêu chí tương ứng.

Quan điểm phát triển công nghiệp: trong chiến lược phát triển kinh tế

-xã hội 10 năm 2001 - 2010 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX (4-2001), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Coi phát triển kinh tế lànhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp làyêu cầu cấp thiết” [21, tr.164]

Bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp các nguồn lực trongnước và ngoài nước, tập trung sức phát triển kinh tế để xây dựng đồng bộ nềntảng cho một nước công nghiệp theo hướng hiện đại với những nội dung chủyếu như sau: Xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bao gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế, xãhội; nền công nghiệp, trong đó có công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quantrọng, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng; nền nông nghiệphàng hoá lớn; các dịch vụ cơ bản; tiềm lực khoa học và công nghệ Trên cơ sởhiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, trước mắt và lâu dài, triển khai xâydựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu và xây dựng có chọn lọc một số

cơ sở công nghiệp nặng quan trọng, cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ,thị trường, phát huy nhanh tác dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngànhkinh tế và quốc phòng, an ninh

Từ quan điểm trên Đại hội đưa ra định hướng phát triển công nghiệpthời kỳ 2001 - 2005 là: “Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năngphát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnhxuất khẩu, như chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, da - giầy, điện tử - tinhọc, một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng ” [21, tr.173]

Trang 25

Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng: dầu khí, luyệnkim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng với bước

đi hợp lý, phù hợp điều kiện vốn, công nghệ, thị trường, phát huy được hiệuquả Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệthông tin, viễn thông, điện tử, tự động hoá Chú trọng phát triển công nghiệp sảnxuất phần mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng vượt trội

Phát triển các cơ sở công nghiệp quốc phòng cần thiết, kết hợp côngnghiệp quốc phòng với công nghiệp dân dụng Quy hoạch phân bố hợp lýcông nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khuchế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm côngnghiệp lớn và khu kinh tế mở

Phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa vớingành, nghề đa dạng Đổi mới, nâng cấp công nghệ trong các cơ sở hiện có đểnâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Sử dụng phù hợp các công nghệ cókhả năng thu hút nhiều lao động Phát triển nhiều hình thức liên kết giữa cácdoanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến, tiêu thụsản phẩm trên cơ sở đảm bảo hài hoà về lợi ích Tăng tỷ lệ nội địa hoá trongcông nghiệp gia công, lắp ráp Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng sảnphẩm, bảo hộ sở hữu công nghiệp, bảo vệ môi trường

Trên cơ sở phương hướng đã xác định Đại hội đề ra mục tiêu phấn đấu:Nhịp độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) bình quântrong 10 năm tới đạt khoảng 10 - 10,5%/năm Đến năm 2010, công nghiệp vàxây dựng chiếm 40 - 41% GDP và sử dụng 23 - 24% lao động Giá trị xuấtkhẩu công nghiệp chiếm 70 - 75% tổng kim ngạch xuất khẩu Bảo đảm cungcấp đủ và an toàn năng lượng (điện, dầu khí, than); đáp ứng đủ nhu cầu vềthép xây dựng, phân lân, một phần phân đạm; cơ khí chế tạo đáp ứng 40%nhu cầu trong nước, tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe cơ giới, máy và thiết bị

Trang 26

đạt 60 - 70%; công nghiệp điện tử - thông tin trở thành ngành mũi nhọn; chếbiến hầu hết nông sản xuất khẩu; công nghiệp hàng tiêu dùng đáp ứng đượcnhu cầu trong nước và tăng nhanh xuất khẩu.

Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010,Đại hội định hướng phát triển công nghiệp trong những năm 2001 - 2005 là:

“ Phát triển với nhịp độ cao, có hiệu quả, coi trọng đầu tư chiều sâu, đổi mớithiết bị công nghệ tiên tiến và tiến tới hiện đại hóa từng phần các ngành côngnghiệp” [21, tr.279]

Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, chú trọng côngnghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; các ngành côngnghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Xây dựng có lựachọn, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, và hiệu quả một số cơ sởcông nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất Phát triển mạnh công nghiệp công nghệcao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử Phát triển một số cơ sởcông nghiệp quốc phòng cần thiết Kết hợp hài hòa giữa phát triển côngnghiệp đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu; có những biện pháp bảo hộhợp lý, bảo đảm công nghiệp với khả năng cạnh tranh cao, thúc đẩy côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sảnxuất công nghiệp với nhiều quy mô, nhiều trình độ; chú trọng các doanhnghiệp vừa và nhỏ, phù hợp định hướng chung và lợi thế của từng vùng, từngđịa phương; trước hết, tập trung cho công nghiệp chế biến, công nghiệp sửdụng nhiều lao động và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh

mẽ tiểu thủ công nghiệp

Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 –

2010, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006) đã đề ra mụctiêu phát triển công nghiệp những năm 2006 – 2010: “Cơ cấu ngành trong

Trang 27

GDP năm 2010: khu vực nông nghiệp khoảng 15 - 16%; công nghiệp và xâydựng 43 - 44%; dịch vụ 40 - 41%.” [22, tr.188].

Về định hướng phát triển công nghiệp trong những năm 2006 - 2010,Đại hội xác định: Phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế, đadạng hoá hình thức sở hữu và quy mô để phát triển công nghiệp và xây dựngvới cơ cấu ngành nghề phù hợp với nguồn lực, lợi thế và thị trường ở cácvùng, các địa phương Nâng cao sức cạnh tranh, hàm lượng khoa học côngnghệ và tỉ trọng giá trị tăng thêm, giá trị nội địa trong sản phẩm công nghiệp

và xây dựng Phát triển công nghiệp và xây dựng gắn với phát triển dịch vụ,phát triển đô thị và bảo vệ môi trường Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị tăngthêm trong công nghiệp và xây dựng 10 - 10,2%/năm

Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệcao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp quốc phòng,góp phần xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng tựchủ của nền kinh tế Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát triển côngnghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngànhcông nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiềulao động, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản; may mặc, giày dép, đồ nhựa, đồ

gỗ gia dụng; cơ khí đóng tàu, công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bịđiện, thiết bị xây dựng, máy nông nghiệp, phương tiện giao thông, sản xuất vàlắp ráp cơ - điện tử; công nghiệp bổ trợ, công nghiệp công nghệ thông tin, sảnxuất phần mềm Nâng tỉ trọng sản phẩm công nghiệp xuất khẩu đã qua chếbiến Chú trọng phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với áp dụng côngnghệ tiết kiệm năng lượng; công nghiệp vật liệu và công nghệ tiết kiệmnguyên vật liệu; công nghiệp dược và các chế phẩm sinh học; công nghiệpbảo vệ môi trường

Trang 28

Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quantrọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cảđầu tư trực tiếp của nước ngoài Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nướctập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọngcủa nền kinh tế, như: lọc hoá dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón,hoá chất, xi măng, khai thác bô - xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn vớitrồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo.

Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệptrên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc pháttriển sản xuất với bảo đảm nhà ở và các điều kiện sinh hoạt cho người laođộng Chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đôngdân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các khu công nghiệp tập trunghoặc các vùng ít dân cư

Huy động các nguồn lực (nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, cộngđồng) để xoá nhà ở dột nát, nhà ở tạm bợ cho người nghèo; phát triển nhanhquỹ nhà để đáp ứng cơ bản nhu cầu nhà ở cho công chức, viên chức, ngườilao động, sinh viên, học sinh, nhất là công nhân các khu công nghiệp và cụmcông nghiệp

Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước

ta hội nhập vào khu vực và quốc tế, trước hết thông qua việc thu hút mạnhđầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia tham gia phát triểncông nghiệp và xây dựng ở Việt Nam

Những đường lối, chủ trương trên là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

đề ra chủ trương, giải pháp phát triển công nghiệp của tỉnh trong những năm

2001 - 2010

Trang 29

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên quán triệt quan điểm của Đảng

về phát triển công nghiệp vào điều kiện cụ thể của địa phương trong những năm 2001 - 2010

Xuất phát từ đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội của tỉnh TháiNguyên và những lợi thế vốn có của địa phương Đảng bộ tỉnh đã quán triệtsâu sắc chủ trương của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàphát triển công nghiệp Vận dụng sáng tạo các nghị quyết, quan điểm củaĐảng phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, Ban Chấp hành Đảng

bộ tỉnh (khóa XVI) đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 11 tháng 10 năm

2001 về một số vấn đề phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai

đoạn 2001-2005; Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 25 tháng 3 năm 2006 của

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về phát triển công nghiệp tỉnhThái Nguyên giai đoạn 2006-2010 Nội dung cơ bản được tập trung trên một

số vấn đề chủ yếu sau:

* Về quan điểm chỉ đạo, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định:

Một là, phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phải phù

hợp với quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theocác vùng lãnh thổ đến năm 2010, gắn với sự phát triển của vùng trung dumiền núi phía Bắc

Hai là, phát triển công nghiệp phải dựa trên cơ sở lấy hiệu quả kinh tế

-xã hội làm thước đo chính Coi trọng tăng trưởng nhưng vẫn phải đảm bảophát triển bền vững và bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên

Ba là, phát triển nguồn nhân lực có tri thức cao phục vụ cho nhu cầu

phát triển công nghiệp là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển côngnghiệp của tỉnh Chú trọng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao nhằmchuẩn bị các điều kiện tốt nhất cho nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và xu thếphát triển xã hội thông tin và kinh tế tri thức

Trang 30

Bốn là, phát triển công nghiệp của tỉnh phải dựa vào sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học công nghệ, phù hợp với chiến lược phát triển khoa học côngnghệ của ngành công nghiệp

Những quan điểm chỉ đạo trên là cơ sở, nền tảng để Đảng bộ tỉnh TháiNguyên hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp đúng hướng, thúc đẩyngành công nghiệp của tỉnh nhà không ngừng phát triển

* Về phương hướng phát triển công nghiệp:

Một là, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ

trọng công nghiệp, trên cơ sở xây dựng một nền kinh tế đa dạng, nhiều thànhphần; đẩy nhanh tốc độ phát triển, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế là nhiệm vụtrọng tâm của toàn Đảng bộ trong suốt nhiệm kỳ

Hai là, củng cố và sắp xếp lại các cơ sở công nghiệp hiện có trên cơ sở

đầu tư có chiều sâu, đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đạihóa từng phần, cải tiến công tác quản lý nhằm hạ giá thành, nâng cao năngsuất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trườngtrong nước và xuất khẩu

Ba là, khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và

ngoài nước tham gia phát triển sản xuất công nghiệp, “ lựa chọn phát triểnmới một số cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ phù hợp vớitiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, lợi thế so sánh của tỉnh và có thị trườngtiêu thụ” [61, tr.27]

Bốn là, ưu tiên kêu gọi đầu tư phát triển các ngành: công nghiệp vật liệu

xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản; công nghiệp bảo quản và chế biếnnông, lâm sản (chè, trái cây, gỗ, thực phẩm); nhiệt điện và thủy điện nhỏ; cơ khíphục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến; công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng có thị trường và sử dụng nhiều lao động

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn

đề xã hội, xóa đói giảm nghèo và khuyến khích làm giàu trong phát triển công

Trang 31

nghiệp Cùng với phát triển công nghiệp phải gắn với xây dựng xã hội nôngthôn ổn định, văn minh, với một nền công nghiệp hiện đại, thúc đẩy giải quyếtviệc làm, xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu, tăng cường thu hút đầu

tư, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, nhất làvùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp gắn liền với bảo vệ môi trường vàphát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

* Về mục tiêu, nhiệm vụ:

Từ phương hướng về phát triển công nghiệp, Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI (1/2001) xác định mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển công nghiệp:

Một là, phát triển nền công nghiệp đa dạng, chất lượng sản phẩm cạnh

tranh cao và phát triển toàn diện lĩnh vực công nghiệp, hoạt động dịch vụ vàcác chương trình mục tiêu, các chương trình dự án các khu công nghiệp

Hai là, phát triển công nghiệp có chọn lọc, tập trung ưu tiên phát triển

những ngành hàng và sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến,

có hàm lượng chất xám cao, có giá trị gia tăng cao; coi trọng phát triển côngnghiệp hỗ trợ và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Ba là, tạo ra chuyển biến cơ bản về cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp

theo hướng công nghiệp sạch và giá trị gia tăng cao; thay đổi về chất lượngnội bộ ngành phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ngoài

ra, việc phát triển công nghiệp phải gắn đầu tư giao thông, xây dựng y tế, giáodục, điện, nước sinh hoạt, văn hóa, thể thao, du lịch…Đây là điều kiện khôngthể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triểncông nghiệp nói riêng của tỉnh Thái Nguyên

Bốn là, thực hiện đa dạng hóa sản xuất công nghiệp, vừa tập trung phát

triển các ngành có thế mạnh của tỉnh như: công nghiệp khai thác và chế biến

Trang 32

khoáng sản, công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất vật liệu xâydựng…vừa phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ caohơn như: ngành chế tạo máy và gia công kim loại, ngành thiết bị kỹ thuậtđiện, ngành sản xuất vật liệu mới thay thế nhập khẩu.

Năm là, trong phát triển công nghiệp tranh thủ phát triển nhanh, nhưng

vẫn phải bảo đảm yêu cầu công bằng xã hội như: đảm bảo lợi ích của ngườisản xuất công nghiệp, cũng như bảo đảm lợi ích ổn định của người sản xuấtnguyen liệu cho các ngành công nghiệp Phát triển các khu, cụm công nghiệptập trung gần nguồn nguyên liệu, vừa giảm chi phí sản xuất, vừa đẩy nhanhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, Đảng bộ tỉnh TháiNguyên đề ra một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển mạnh các ngành côngnghiệp chủ lực theo hướng hiện đại, tạo bước phát triển nhanh trong lĩnh vựcdịch vụ, chuyển nhanh về chất nền sản xuất công nghiệp và phát triển toàndiện kinh tế - xã hội, “tập trung tháo gỡ khó khăn, giải tỏa các vướng mắc đểphát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nâng cao đáng kể tỷ trọng côngnghiệp trong nền kinh tế.” [25, tr.27]

Đối với công nghiệp Trung ương nằm trên địa bàn tỉnh như Công tygang thép Thái Nguyên, cần chủ động phối hợp với các ngành Trung ương đểgóp sức thực hiên có hiệu quả dự án đầu tư cải tạo và mở rộng sản xuất; đầu

tư đổi mới thiết bị, công nghệ và các cơ sở công nghiệp cơ khí như: nhà máygiấy Hoàng Văn Thụ; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhà máy chế biến vándăm, nhà máy điện Cao Ngạn, xây dựng nhà máy luyện kẽm Thái Nguyên;phát triển công nghiệp lưới điện trung thế Công nghiệp địa phương phảiđược tiếp tục đổi mới và phát triển; tổ chức lại việc khai thác tận thu và quản

lý, chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng

Trang 33

Hình thành và nâng cao chất lượng mạng lưới các cơ sở sản xuất kinhdoanh gắn kết với Gang thép Thái Nguyên và Khu công nghiệp Sông Công;các cơ sở chế biến nông, lâm sản gắn với vùng nguyên liệu, các đơn vị sảnxuất cơ khí quy mô vừa và nhỏ của mọi thành phần kinh tế để phục vụ sảnxuất và chế biến nông, lâm sản như làm đất, tưới tiêu, thu hoạch, bảo quản vàchế biến chè, hoa quả ,tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sử dụngnhiều lao động như giầy da, may mặc , thu hút các doanh nghiệp đầu tư sảnxuất kinh doanh vào khu công nghiệp Sông Công; phát triển các cụm, điểmcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.

Phát huy mạnh mẽ tiềm năng của các thành phần kinh tế trên địa bàn,tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp pháttriển theo đúng định hướng và đúng pháp luật, khuyến kích các thành phầnkinh tế cùng phát triển nhất là kinh tế tư nhân Phát triển các ngành nghề, các

cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút và sự dụng lao động trong công nghiệp, tạođộng lực cơ bản để phát triển nhanh ngành công nghiệp truyền thống Tiếpthu và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chú trọng khuyến kíchphát triển công nghệ cao, công nghệ sạch, nâng cao chất lượng các hoạt độngdịch vụ kỹ thuật công nghiệp, đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa trong tất cảcác khâu của ngành công nghiệp

Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh TháiNguyên lần thứ XVI, ngành công nghiệp của tỉnh đã đạt được những kết quảquan trọng:

Sản xuất công nghiệp đã thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và có bướcphát triển khá Các nhóm ngành, sản phẩm được Đại hội Đảng bộ tỉnhlần thứ XVI xác định là có lợi thế so sánh như: luyện kim, cơ khí sảnxuất vật liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản, chế biến lâmsản, nhiệt điện đều có bước phát triển khá một số sản phẩm đã có

Trang 34

chỗ đứng trên thị trường trong nước như thép cán, sản phẩm cơ khí,chè, xi măng, góp phần từng bước nâng cao sức cạnh tranh và chấtlượng phát triển của nền kinh tế [26, tr.9].

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, “Phát triển công nghiệp cònchưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, một số lợi thế như nguồn nhân lực,tài nguyên khoáng sản khai thác để phục vụ phát triển công nghiệp chưa cóhiệu quả” [26, tr.26] Từ đánh giá nêu trên, Đại hội Đảng bộ tỉnh TháiNguyên lần thứ XVII (1/2006) đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển côngnghiệp cho thời gian tiếp theo là: Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nghị quyếtĐảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII (1/2006) xác định:

Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng côngnghiệp, trên cơ sở xây dựng một nền kinh tế đa dạng, nhiều thành phần;đẩy nhanh tốc độ phát triển, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế là nhiệm vụtrọng tâm của toàn Đảng bộ trong suốt nhiệm kỳ Phấn đấu đến năm

2010 tỷ trọng công nghiệp chiếm 45%; dịch vụ 38,5%; nông, lâmnghiệp 16,5% [26, tr.36]

Trong giai đoạn 2006 - 2010, hướng tập trung phát triển các ngànhcông nghiệp theo thứ tự ưu tiên: Công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, công nghệthông tin; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và luyện kim; công nghiệpchế biến nông, lâm sản, thực phẩm, đồ uống Đồng thời, trong mỗi ngànhcông nghiệp tập trung phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng vànăng lực cạnh tranh, tạo nền tảng phát triển nhanh và bền vững, trên cơ sởphù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và quyhoạch phát triển hệ thống công nghiệp Việt Nam

Quy mô, năng lực sản xuất cần được tăng cường nhằm chuyển dịchnhanh cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại, tập trung đầu tư chiềusâu, đổi mới thiết bị công nghệ, từng bước hiện đại hoá các cơ sở sản xuất

Trang 35

hiện có, cũng như việc hình thành các doanh nghiệp vệ tinh phục vụ sản xuấtcho các nhà máy lớn, các tập đoàn, tổng công ty ngành hàng, tham gia vàochuỗi giá trị từng sản phẩm (may mặc, giầy da; phụ kiện cho các dây chuyềnsản xuất xi-măng, ô-tô; linh kiện…) Đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư vàocác khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch, trong đó ưu tiên thu hút các dự áncông nghệ cao, sạch, đồng thời kiên quyết loại bỏ các dự án có nguy cơ ônhiễm môi trường.

Phát triển công nghiệp phải gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và pháttriển bền vững Tập trung phát triển và mở rộng các khu công nghiệp, cụmcông nghiệp bao gồm: khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên với khu côngnghiệp luyện kim giữ vai trò chủ đạo, khu công nghiệp Sông Công với mụctiêu chuyên môn hóa cao về sản xuất cơ khi và phát triển công nghiệp nhẹ;phát triển các khu công nghiệp ở các huyện, thành phố, thị xã để khai thác lợithế của các địa phương, “ Ưu tiên phát triển các sản phẩm truyền thống có thịtrường và thế mạnh của địa phương như luyện kim, sản xuất vật liệu xâydựng, khai thác và chế biến khoáng sản, chế tạo máy và gia công kim loại,chế biến nông, lâm sản, dệt may, hóa chất” [26, tr.37]

Với đặc điểm của một tỉnh có điều kiện tiền đề cơ bản thuận lợi cho pháttriển công nghiệp, tiến tới mục tiêu xây dựng thành một tỉnh công nghiệp theohướng hiện đại của cả nước, tỉnh cần cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, tạođiều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp công nghiệp thuộccác thành phần kinh tế Đây là vấn đề trọng tâm để nâng cao năng lực cạnhtranh của tỉnh trong giai đoạn tới

Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kinh tế - xã hội: Ưu tiên hoàn thiệnkết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp hiện có như khu công nghiệp SôngCông, Gang thép, Nam Phổ Yên; qui hoạch và đầu tư xây dựng các khu, cụmcông nghiệp mới ở những huyện chưa có khu, cụm công nghiệp và dọc các

Trang 36

trục giao thông quan trọng như khu công nghiệp Yên Bình, Bãi Bông, TâyPhổ Yên Các khu công nghiệp trên địa bàn phải hướng tới mục tiêu phát triểnbền vững hạ tầng ở địa phương như điện, đường, trường, trạm xá, chợ, bưuđiện, trung tâm văn hóa thể thao, trung tâm thương mại, dịch vụ du lịch, các

cơ sở chế biến sản phẩm nông nghiệp, quy hoạch cụm dân cư nông thôn, nângdần mặt bằng xã hội nông thôn lên gần đô thị Trong đó, thực hiện tốt cácchính sách ưu đãi xã hội ở tất cả các lĩnh vực sản xuất khu vực kinh tế nôngnghiệp và thực hiện tốt chương trình an ninh lương thực theo chỉ đạo củaChính phủ và chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Phấn đấu 100% xã

và các vùng sản xuất tập trung có đường ô tô, nhiều xã vùng núi, vùng sâu,vùng xa có các trục giao thông chính đã được bê tông và nhựa hóa, làm tăngnăng lực sản xuất ở nông thôn, tạo điều kiện đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuậtvào sản xuất hàng hóa và nâng cao đời sống của nhân dân

Trên đây là những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về pháttriển công nghiệp trong thời kỳ mới Đòi hỏi Đảng bộ phải chỉ đạo sâu sát trêncác lĩnh vực để sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triểncông nghiệp đạt hiệu quả cao, tương xứng với yêu cầu một tỉnh trọng điểm vềphát triển kinh tế - xã hội khu vực trung du miền núi Bắc Bộ

1.3 Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển công nghiệp trong từ năm 2001 đến năm 2010

1.3.1 Chỉ đạo phát triển các ngành công nghiệp

Thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về

phát triển công nghiệp, quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóaIX), Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 11 tháng 10 năm 2001 của Ban Chấp

hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVI); Chương trình hành động số 12- CT/TU của

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVI) về một số vấn đề phát triển công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 2001 - 2010; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Trang 37

năm 2006 - 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh và Nghị quyết số

26/2006/NQ-HĐND ngày 24 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triểncông nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 -2010; Đề án phát triển tiểu thủcông nghiệp và làng nghề tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010; Ủy bannhân dân tỉnh xây dựng Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnhThái Nguyên giai đoạn 2006 - 2015 có tính đến năm 2020 Đảng bộ tỉnh TháiNguyên đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, vận dụng sáng tạo vàođiều kiện địa lý, tự nhiên của tỉnh, đã đề ra những chủ trương, nhất quán vềđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó, làm cơ sở chỉ đạo toàn diệncho các cấp, các ngành, trên các lĩnh vực ở địa phương Phát huy tinh thầntrách nhiệm, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương do Đảng bộ đề ra vớibước đi và biện pháp thích hợp, với cơ cấu đã được xác định là kinh tế côngnghiệp - dịch vụ - nông, lâm nghiệp, tạo nên sự tăng trưởng mạnh về côngnghiệp, chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế, trong đó tăng nhanh tỉ trọngcông nghiệp và phát triển bền vững

* Chỉ đạo phát triển công nghiệp chế tạo máy, điện tử, gia công kim loại và cơ khi lắp ráp

Các ngành trên được tôn vinh là “Trái tim ngành công nghiệp”, Đảng bộchỉ đạo tập trung xây dựng công nghiệp chế tạo máy, điện tử, gia công kim loại

và cơ khí lắp ráp phát triển theo định hướng phù hợp với Chiến lược phát triển

ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

tại Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg và phấn đấu đạt các mục tiêu cụ thể sau:

Phát triển công nghiệp chế tạo máy, điện tử, gia công kim loại và cơ khílắp ráp gắn với phát triển các ngành công nghiệp khác, đặc biệt là với côngnghiệp sản xuất kim loại Thực hiện chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuấtgia công kim loại và cơ khí lắp ráp trên địa bàn, giữa các thành phần kinh tế,giữa các cơ sở sản xuất Khuyến khích, tạo thuận lợi để mọi thành phần kinh tế

Trang 38

tham gia chương trình phát triển công nghiệp chế tạo máy, gia công kim loại và

cơ khí lắp ráp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo máy và cơ khí lắp ráp Đầu tư xâydựng Nhà máy cơ khí Đại Từ của Công ty cổ phần Đại Thắng

Cần được ưu đãi đặc biệt cho các dự án đầu tư phát triển áp dụng côngnghệ tiên tiến, hiện đại; đầu tư có trọng điểm, tập trung, không dàn trải nhằmphục vụ cho sản xuất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước trong đó có công nghiệp hoá, hiện đại hoá công nghiệp nông thôn; đảmbảo cung cấp đầy đủ các công cụ, dụng cụ cầm tay và các dịch vụ sửa chữa,bảo hành máy và các thiết bị trên địa bàn

Đến năm 2010: Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.247 tỉ đồng, tăngtrưởng bình quân 23,1%

* Chỉ đạo phát triển công nghiệp nhẹ, chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng

Công nghiệp nhẹ: là những ngành có mức đầu tư thấp, thời gian thu

hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động, thời gian đào tạo tay nghề ngắn (5 - 6tháng), phù hợp với lực lượng lao động dôi dư và lao động sản xuất nông

nghiệp ở khu vực nông thôn hiện nay của tỉnh

Nâng cao năng lực sản xuất các cơ sở may công nghiệp hiện có, từngbước cải tiến, đầu tư mới các trang thiết bị tiên tiến để sản xuất các sản phẩm

có chất lượng cao nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá phục vụxuất khẩu và tiêu dùng trong nước Đầu tư xây dựng khu liên hợp sợi, dệtnhuộm, may mặc, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cho Công tymay Thái Nguyên Đầu tư các dự án sản xuất giầy dép lớn chuyên làmhàng xuất khẩu như nhà máy Giầy Thái Nguyên; trung tâm đào tạo và thiết

kế mẫu mốt thời trang tại các khu công nghiệp như: Sông Công, Nam PhổYên, Yên Bình, Điềm Thuỵ

Trang 39

Công nghiệp chế biến: Đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nông lâm

sản, thực phẩm và các loại hàng hoá tiêu dùng khác có quy mô vừa và nhỏ, gópphần giải quyết lao động việc làm tại chỗ và sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu

nội địa, gia công hàng xuất khẩu Xây dựng các cơ sở chế biến tập trung mới có

lợi thế cạnh tranh về nguồn nguyên liệu sẵn có như: Gỗ, tre, nứa, các vùngrau, củ, quả của tỉnh và các tỉnh lân cận, đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị,công nghệ tiên tiến đối với các cơ sở chế biến hiện tại nhằm tăng nhanh cácsản phẩm chủ lực như: Sản phẩm cao cấp; các loại bia chất lượng cao, nướchoa quả; rau, củ, quả đã qua chế biến, thịt hộp, đồ ăn nguội

Giảm dần các cơ sở sản xuất sản phẩm sơ chế, coi trọng công nghệ bảoquản sau thu hoạch và bao bì đóng gói, công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩmđăng ký thương hiệu hàng hoá nhằm tăng giá trị, chất lượng sản phẩm đủ sứccạnh tranh thị trường trong nước và xuất khẩu Tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổimới thiết bị công nghệ, đổi mới chủng loại mẫu mã, chất lượng sản phẩm các

cơ sở đang hoạt động như: giấy Hoàng Văn Thụ, giấy Sông Công, nhà máyván dăm Lưu Xá, cơ sở sản xuất đồ gỗ gia dụng và đồ dùng văn phòng, gỗ nộithất đảm bảo phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh Phát triển mạnh các làngnghề sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ như đồ mỹ nghệ tại huyện PhổYên, huyện Phú Lương, huyện Phú Bình, thêu ren tại huyện Đại Từ…,vớinguồn nguyên liệu sẵn có hoặc quy hoạch trồng mới vùng nguyên liệu

Đến năm 2010: Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 900 tỉ đồng, tăngtrưởng bình quân 22,7%

Chế biến chè: Là sản phẩm mũi nhọn của tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo ưu tiên

các dự án đầu tư sử dụng công nghệ sạch và công nghệ cao để đảm bảo chấtlượng cạnh tranh với sản phẩm cùng loại khu vực và quốc tế Xây dựng, đềnghị công nhận thương hiệu “Quốc trà Thái Nguyên”

Trang 40

Đa dạng hoá các loại sản phẩm, khuyến khích hỗ trợ các dự án đầu tưsản xuất chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như Công ty cổ phần chèSông Cầu, nhà máy chế biến chè Vạn Tài, hợp tác xã chè La Bằng, doanhnghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt, Công ty cổ phần tập đoàn Tân CươngHoàng Bình Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư trồng và chăm sóc chè sạch, cácgiống chè chất lượng và năng suất cao tại 29 cơ sở chế biến và làng nghề chètrên địa bàn tỉnh Mục tiêu đến năm 2010 đạt 15.000 tấn/ năm.

* Chỉ đạo phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựnghiện có trên địa bàn phát huy hết công suất như: Xi măng Thái Nguyên, LaHiên, Quan Triều, các dây truyền gạch Ceramic của công ty cổ phần Prime,Công ty đầu tư và sản xuất công nghiệp Thái Nguyên, Công ty cổ phần vậtliệu chịu lửa Thái Nguyên, các dây truyền sản xuất gạch tuynel, gạch khôngnung, đá ốp lát…

Đầu tư mới các dự án sản xuất của nhà máy gạch Vạn Xuân, công suất

28 triệu viên/năm, nhà máy gạch tuynel Đắc Sơn, công suất 30 triệu viên/năm;sản xuất gạch tuynel bằng nguyên liệu đất đồi của Công ty cổ phần Thái Sơntại huyện Đồng Hỷ, công suất 18 triệu viên/năm; nhà máy gạch tuynel củaCông ty trách nhiệm hữu hạn Quang Trung, huyện Phú Lương, tổng mức đầu

tư 61 tỉ đồng, công suất 40 triệu viên/năm

Đầu tư mới các dự án có công nghệ tiên tiến sử dụng nguyên liệu vàlao động của địa phương để sản xuất gốm, sứ cao cấp tại cụm công nghiệpPhú Lạc, huyện Đại Từ Khuyến khích, hỗ trợ các nhà máy sản xuất vật liệukhông nung của Công ty nhiệt điện Cao Ngạn, công suất 100.000m3/năm; môhình các cơ sở sản xuất gạch không nung của hợp tác xã dịch vụ môi trườngThành Công, huyện Đại Từ; dự án sản xuất vật liệu nhẹ tại cụm Công nghiệp

An Khánh, huyện Đại Từ, cụm công nghiệp số 1 Thành Phố Thái Nguyên,cụm công nghiệp Kim Sơn, huyện Định Hoá

Ngày đăng: 31/10/2014, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w