NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở TỈNH NINH BÌNH11Một số vấn đề lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch sinh thái11Thực trạng phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình26QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở TỈNH NINH BÌNH 52Những quan điểm cơ bản phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở Ninh Bình52Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở Ninh Bình trong thời gian tới58
Trang 1MỞ ĐẦU 3
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở
Chương 2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở
2.1 Những quan điểm cơ bản phát triển kinh tế du lịch sinh
2.2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế du lịch sinh
thái ở Ninh Bình trong thời gian tới 58
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn cầu và đã trở thành mộttrong những hoạt động kinh tế hàng đầu thế giới Hội đồng Lữ hành và Dulịch quốc tế (World Travel and Tourism Council - WTTC) đã công bố dulịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô
tô, thép, điện tử và nông nghiệp Du lịch đã nhanh chóng trở thành mộtngành kinh tế mũi nhọn và chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời sốngkinh tế của các nước đang phát triển Du lịch sinh thái là loại hình du lịchcòn mới mẻ, tuy nhiên kết quả hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái chothấy nó đã đem lại lợi ích và hiệu quả kinh tế xã hội to lớn, góp phần bảotồn và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao đờisống cộng đồng dân cư Do đó kinh tế du lịch sinh thái được các nước rấtchú trong đầu tư và phát triển
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng về du lịch cùng với cácngành kinh tế khác, kinh tế du lịch đã và đang được đầu tư phát triển, và nhucầu phát triển kinh tế du lịch càng trở nên cấp thiết Đảng và Nhà nước ta rấtcoi trọng lĩnh vực kinh tế này trong đường lối và chính sách phát triển nềnkinh tế Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững ngành du lịch, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên
cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc
tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực” [4, tr.178] Do vậy, kinh
tế du lịch được các cấp, các ngành các địa phương khai thác ở các mức độkhác nhau và mang lại sự phát triển kinh tế của từng vùng, từng địa phương
và từng địa bàn trên cả nước
Trang 3Ninh Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng cách Thủ đô
Hà Nội không xa, là nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch có giá trịnhư: rừng Cúc Phương, khu hang động Tràng An… đã đạt đến mức độc đáo vàquý hiếm, đó là những lợi thế to lớn để phát triển kinh tế du lịch sinh thái Trongnhững năm qua nhất là từ năm 2005 đến nay, kinh tế du lịch sinh thái Ninh Bình
đã có bước phát triển khá nhanh, mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, gópphần giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân…Tuynhiên, những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của
nó, các nguồn lực của kinh tế du lịch sinh thái chưa được khai thác một cáchkhoa học, tốc độ phát triển còn chậm, chưa có sản phẩm du lịch sinh thái đặctrưng… Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có những phân tích, đánh giá vềtiềm năng và thực trạng của kinh tế du lịch sinh thái ở Ninh Bình để từ đó đề
ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả trong thờigian tới góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương Với lý do đó tác giả chọn vấn đề “Phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về du lịch sinh thái vàkinh tế du lịch sinh thái dưới các khía cạnh và phạm vi khác nhau, trong đóđáng chú ý là một số công trình tiêu biểu như:
“Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”, đề tài khoa
học cấp Bộ 1996 do TS Phạm Trung Lương làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đãnghiên cứu cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái, chỉ ra những yêu cầu cơbản đối với phát triển du lịch sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường; đánhgiá tiềm năng và phân tích một số yếu tố tác động đến phát triển du lịch sinhthái; đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Trang 4Nguyễn Văn Mạnh, Lê Trung Kiên: “Đặc điểm của du lịch sinh thái và khả năng kinh doanh loại hình du lịch này tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 95/2005 Bài
viết đã luận giải đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch sinh thái,nghiên cứu sự cần thiết và khả năng kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tạicác vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam
Nguyễn Đình Hòa: “Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số1/2006 Bài viết giới thiệu
về những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái; phân tích các khía cạnh của
du lịch sinh thái và đánh giá thực trạng phát triển loại hình du lịch này hiện nay
ở nước ta; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoạch địnhchính sách, quản lý kinh doanh du lịch sinh thái ở Việt Nam
Lê Huy Bá (2006): “Du lịch sinh thái”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã đề cập đến lý luận du lịch sinh thái, vaitrò của du lịch sinh thái đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, luận giải cácnhân tố ảnh hưởng và điều kiện để phát triển du lịch sinh thái
“Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam”, đề tài
khoa học cấp Bộ 2007 do TS Đỗ Thị Thanh Hoa làm chủ nhiệm đề tài Đề tài
đã nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, khu du lịch và khu
du lịch sinh thái; đề cập đến kinh nghiệm và mô hình xây dựng, phát triển khu
du lịch sinh thái ở một số nước trên thế giới; phân tích tổng quan, thực trạnghoạt động du lịch sinh thái và các khu du lịch sinh thái hiện nay ở Việt Nam;
đề xuất các tiêu chí khu du lịch sinh thái làm cơ sở cho đầu tư, phát triển cáckhu du lịch sinh thái theo định hướng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
Trần Đức Thanh (2004): “Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội”, luận
văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị Thùy Linh (2007):
“Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái tại khu dự trữ sinh quyển Cát Bà”.
Trang 5luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Tấn Trung (2011):
“Khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai”, luận văn
thạc sĩ du lịch, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn của các tácgiả đã nghiên cứu du lịch sinh thái dưới góc độ chuyên ngành du lịch học
và khẳng định vai trò quan trọng của phát triển du lịch sinh thái đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đánh giá tiềm năng, thực trạng,chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái
ở các địa phương đó
Nguyễn Thị Hải (2007): “Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phát triển
du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”, luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Thị Ngoan (2009) “Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn, Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn của các
tác giả đã đề cập lý luận chung về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng địaphương; đánh giá tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch sinh thái và mốiquan hệ giữa du lịch sinh thái với cộng đồng địa phương; đề xuất một số giảipháp nhằm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở khu vực nhằm hàihoà giữa phát triển kinh tế - xã hội địa phương với công tác bảo tồn và pháttriển du lịch bền vững
Trần Thị Kim Bảo (2009): “Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị”, luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia
Hà Nội; Đàm Thu Huyền (2009): “Nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại một số đảo Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Luận văn của các tác giả đã tập trung nghiên cứu các điều kiệnphát triển du lịch sinh thái dải ven biển và trên một số đảo từ đó đánh giá hiệntrạng phát triển khách du lịch, cơ sở vật chất, hệ thống quản lý và lao độngtrong ngành du lịch; xác lập cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du
Trang 6lịch sinh thái dải ven biển và trên lãnh thổ biển đảo; nghiên cứu đề xuất vàđưa ra kiến nghị cho việc phát triển du lịch sinh thái dải ven biển và trên một
số biển đảo theo hướng bền vững trong thời gian tới
Nguyễn Hữu Vinh: “Những vấn đề về kinh tế du lịch sinh thái ở Thành phố Cần Thơ giai đoạn 2009 - 2012”, chuyên đề kinh tế du lịch Tác giả đã
phân tích thực trạng du lịch sinh thái Thành phố Cần Thơ; đề ra giải phápphát triển nhằm nâng cao hình ảnh du lịch sinh thái, loại hình du lịch đặctrưng của khu vực sông nước Cửu Long, nâng cao hiệu quả kinh tế từ mô hìnhnày, thúc đẩy kinh tế du lịch của Thành phố phát triển bền vững
Phạm Lê Hồng Nhung (2012): “Phân khúc thị trường du lịch sinh thái tại Thành phố Cần Thơ”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 21.
Tác giả đã nghiên cứu tiến hành phân khúc thị trường du lịch sinh thái; đềxuất giải pháp thu hút và thỏa mãn nhu cầu của khách trong từng phân khúc;xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm hiệu quả, mang tính đặc trưngcho du lịch sinh thái thái Thành phố Cần Thơ
Cùng với xu hướng phát triển kinh tế du lịch sinh thái của cả nước, ởphạm vi tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng đã có một số công trình nghiên cứu vềphát triển du lịch sinh thái và kinh tế du lịch sinh thái tiêu biểu như:
Nguyễn Văn Mạnh (2005, chủ nhiệm đề tài): “Phát triển sản phẩm
du lịch sinh thái tại Ninh Bình”, đề tài khoa học cấp Bộ (B2005.38.107).
Tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch sinh thái, phântích các tiềm năng phát triển và đánh giá thực trạng sản phẩm du lịchsinh thái của tỉnh, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạnchế cần khắc phục, phân tích định hướng và xây dựng các nguyên tắc pháttriển du lịch sinh thái ở Ninh Bình, đề xuất các nhóm giải pháp và kiếnnghị với các đối tượng có liên quan nhằm phát triển sản phẩm du lịchsinh thái ở Ninh Bình
Trang 7Tạ Minh Phương (2006): “Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã tập trung phân tích và đánh giá thựctrạng du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; đề xuất phương hướng vàgiải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình trong thờigian tới Tuy nhiên luận văn trên tiếp cận vấn đề du lịch sinh thái Ninh Bìnhtheo quan điểm kinh tế học phát triển, chưa đi sâu nghiên cứu luận giải dướigóc độ kinh tế chính trị
Đinh Chúc: “Du lịch sinh thái ở Ninh Bình”, Tạp chí Nông thôn mới, số
230/2008 Tác giả đã giới thiệu và trao đổi một số giải pháp nhằm phát huy,khai thác có hiệu quả các giá trị tài nguyên du lịch sinh thái ở Ninh Bình
Vũ Tuấn Cảnh (1997): “Nghiên cứu hiện trạng môi trường phục vụ phát triển du lịch khu vực Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động”, đề tài khoa học cấp Bộ.
Đề tài đã nghiên cứu tác động của môi trường đến hoạt động du lịch đứng từgóc độ đảm bảo phát triển du lịch bền vững, đánh giá hiện trạng các thànhphần môi trường chủ yếu có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch ở hai khu dulịch Hoa Lư và Tam Cốc - Bích Động; đề xuất những giải pháp cơ bản nhằmcải thiện tình trạng môi trường và hạn chế những tác động tiêu cực của nhữngvấn đề môi trường đến hoạt động phát triển du lịch ở hai khu du lịch nêu trên
Trần Đức Thắng (2008): “Phát triển du lịch sinh thái nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm Vườn Quốc gia Cúc phương”, luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã đề
cập đến những vấn đề chất lượng cuộc sống; đánh giá hiện trạng chất lượngcuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương và đềxuất một số giải pháp cho phát triển du lịch sinh thái nhằm nâng cao chấtlượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương
Së Văn hóa, Thể thao và Du lÞch Ninh B×nh (2010): "Dự án phát triển loại hình du lịch home stay tại khu du lịch sinh thái Vân Long,
Trang 8huyện Gia Viễn" Dự án đã nghiên cứu nguồn tài nguyên du lịch; đánh giá
thực trạng quản lý, khai thác tài nguyên du lịch, trên cơ sở đó đưa ra địnhhướng và đề xuất giải pháp kinh doanh phát triển du lịch homestay tại khu
du lịch sinh thái Vân Long
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khácnhau của du lịch sinh thái và kinh tế du lịch sinh thái song chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách hệ thống, dưới góc độ kinh tế chính trị về phát triểnkinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển kinh tế dulịch sinh thái đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái NinhBình trong thời gian tới
* Nhiệm vụ
Làm rõ quan niệm về du lịch sinh thái, kinh tế du lịch sinh thái, phát triểnkinh tế du lịch sinh thái và các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch sinh thái.Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế du lịch sinh thái Ninh Bìnhtrong thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra cần giải quyếttrong phát triển kinh tế du lịch sinh thái Ninh Bình
Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái NinhBình từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình
* Phạm vi nghiên cứu
Tập trung làm rõ thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinhthái ở Ninh Bình Số liệu điều tra, khảo sát được thực hiện chủ yếu từ năm
2005 đến nay
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về phát triểnkinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng, trong đó cóphát triển kinh tế du lịch sinh thái
-* Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, trong đó chú trọng phương pháp trừu tượng hoá khoa học
để luận giải những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế du lịch sinh thái Đồngthời vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hộinhư điều tra, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp và phương pháp xin ý kiếnchuyên gia để hoàn thiện luận văn
5 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ góp phần cung cấp thêm cáccăn cứ khoa học cho cấp ủy, chính quyền và các sở ban ngành có liên quancủa tỉnh Ninh Bình trong hoạch định chủ trương, chính sách và các giải phápphát triển kinh tế du lịch sinh thái của tỉnh Kết quả nghiên cứu của luận văn
có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn Kinh tếchính trị Mác - Lênin
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, 50danh mục tàiliệu tham khảo và 8 phụ lục
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở TỈNH NINH BÌNH
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch sinh thái
1.1.1 Khái quát chung về du lịch sinh thái và kinh tế du lịch sinh thái
* Quan niệm về du lịch sinh thái
Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanhchóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quantâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tựnhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng, sự phát triển dulịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, gópphần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo cơ hội tăng thêmviệc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng ngườidân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa nơi có cáckhu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn Ngoài ra, du lịch sinh tháicòn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông quacác hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí.Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh cáclợi ích về kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như một giải pháp hữuhiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức épkhai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch của ngườidân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch
Hiện nay, quan niệm về du lịch sinh thái được nhìn nhận ở nhiều góc
độ khác nhau, có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng củacác hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùngsinh thái quan trọng của quốc gia và thế giới Đã có nhiều tổ chức và cácnhà khoa học tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này và đưa ra định nghĩacủa riêng mình
Trang 11Một trong những định nghĩa được coi là sớm về du lịch sinh thái mà đếnnay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinhthái Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch Sinh thái là loại hình du lịch có tráchnhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yênbình của người dân địa phương” [1, tr.10].
Định nghĩa này đề cao trách nhiệm của du khách đối với khu vực mà họđến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đếnmôi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc sống của cư dân địa phương.Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Dulịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiênhoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của cácloài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộngđồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó" [1, tr.10]
Ở định nghĩa này cũng đề cập đến địa điểm có thể tổ chức các tuor dulịch sinh thái, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã, và điều quan trọng là giảmthiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và mang lại những lợiích kinh tế cho cộng đồng cư dân địa phương và những người bản địa làmviệc trực tiếp trong ngành du lịch
Theo tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN - World Commission onProtected Areas): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tạinhững khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích đểchiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó,giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du kháchđến thăm Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn nhữngkhu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bềnvững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và côngtác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [1, tr.11]
Trang 12Có thể nói đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như nhữngđặc điểm của du lịch sinh thái, đó là địa điểm để tổ chức được một tuor du lịch,mục đích chuyến đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao nhậnthức cho du khách cùng với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như dukhách trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá đểđảm bảo cho sự phát triển bền vững ở những nơi mà du khách tới thăm quan
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiếnlược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: "Dulịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắnvới giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vữngvới sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương".[1,tr.11]
Có thể nói đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về du lịch sinhthái, nó được coi là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và ứng dụng thực tế việcphát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Trong Luật Du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn: “Du lịchsinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địaphương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [18, tr.11].Như vậy, có thể thấy mặc dù có sự khác nhau về diễn đạt và cách thể hiệnnhưng trong các định nghĩa về du lịch sinh thái đều có sự thống nhất cao về nộidung ở bốn điểm:
Thứ nhất, phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ
hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa
Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự
nhiên, văn hoá và xã hội
Thứ ba, có tính giáo dục môi trường cao và có trách nhiệm với môi trường Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dân địa phương và có sự tham gia
của cộng đồng cư dân địa phương
Trang 13* Quan niệm kinh tế du lịch sinh thái
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loàingười Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch (trong đó có du lịch sinhthái) là hoạt động kinh doanh du lịch Kinh tế du lịch từng bước trở thành một
bộ phận hợp thành của hoạt động kinh tế xã hội, lấy sự phát triển các loại hìnhkinh doanh du lịch, biến các tài nguyên du lịch của một quốc gia, một vùnglãnh thổ thành những hàng hóa và dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu cho dukhách Càng ngày trên thế giới du lịch dần dần được xã hội hóa, số lượngngười đi du lịch ngày càng đông, đặc biệt với loại hình du lịch sinh thái hiệnnay thu hút một lượng rất đông du khách ở các nước phát triển sang các nướcđang phát triển Do đó xuất hiện những nhu cầu cần phải giải quyết như: đảmbảo chỗ ăn, chỗ ngủ cho những người tạm thời sống ngoài nơi cư trú thườngxuyên của họ Để đáp ứng nhu cầu đó, đã xuất hiện các nghề mới trong dân
cư ở các vùng có tài nguyên du lịch như kinh doanh du lịch, nhà hàng, môigiới, hướng dẫn du lịch v.v Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ du lịch nhưkhách sạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát, dịch vụ cho thuê, giặt là, mát xav.v cùng các tổ chức du lịch và đội ngũ phục vụ du khách lần lượt ra đời vàtừng bước hình thành một ngành nghề mới là ngành kinh doanh du lịch Theo
đó xuất hiện một thị trường mới là thị trường du lịch, trong đó hoạt động kinhdoanh du lịch sinh thái mới đi vào hoạt động nhưng là một bộ phận quantrọng của kinh tế du lịch
Hiện nay, nhiều quốc gia đã coi du lịch như một ngành công nghiệpkhông khói. Ủy ban Lữ hành và Du lịch thế giới cho rằng kinh tế du lịch đãtrở thành một ngành công nghiệp lớn nhất thế giới, đem lại thu nhập, việc làmđáng kể cho thế giới Kinh tế du lịch sinh thái cũng đóng góp không nhỏ cho
du lịch thế giới và ngày càng gia tăng, đem lại nguồn thu nhập lớn cho cácnước đang phát triển và kém phát triển
Trang 14Trên cơ sở các hoạt động kinh tế du lịch nói chung và hoạt động du lịch
sinh thái nói riêng có thể quan niệm: kinh tế du lịch sinh thái là một bộ phận của kinh tế du lịch, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch sinh thái nhằm tổ chức khai thác, sử dụng các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước để thu lợi ích kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Từ thực tiễn hoạt động kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, các nướctrong lĩnh vực du lịch sinh thái, các đối tượng tiêu dùng sản phẩm du lịch,dịch vụ Kinh tế du lịch sinh thái có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nói đến kinh tế du lịch sinh thái tức là đề cập đến các hoạt
động kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch sinh thái là hoạt động mua bántrao đổi sản phẩm du lịch sinh thái giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch vớingười tiêu dùng (khách du lịch) với mục đích là thu được lợi nhuận nhằm mụcđích mở rộng sản xuất kinh doanh Sản phẩm du lịch sinh thái là các dịch vụ,hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai tháccác giá trị tài nguyên du lịch sinh thái với việc sử dụng các nguồn lực tại mộtvùng hay một địa phương nào đó Các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du kháchnhư: dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, hàng lưu niệm… gắn với điểm dulịch sinh thái Trong cơ chế thị trường, việc xây dựng các sản phẩm du lịch, đặcbiệt là các sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù và hoạt động marketing xúc tiếnquảng bá du lịch đến các thị trường du lịch trọng điểm là một trong những yếu tốrất quan trọng quyết định sự thành công của kinh doanh du lịch sinh thái
Thứ hai, hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái phụ thuộc rất
lớn vào thị trường du lịch
Hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái được hiểu là một quá trình liêntục từ nghiên cứu thị trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc
Trang 15thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch để đạt được mục đích kinh doanh củadoanh nghiệp kinh doanh du lịch Hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái cóhiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch.
Đó là các nhu cầu đi lại, lưu trú và ăn uống, giải trí, vui chơi thể thao, muasắm hàng hóa… việc thoả mãn nhu cầu này là khác so với việc thỏa mãn nótrong đời sống thương nhật, các nhu cầu này được thực hiện trong môi trường dulịch: lịch sự, sang trọng, mới lạ, cao cấp, thoải mái và tiện nghi Ngoài ra còn cónhu cầu rất đặc trưng đó là nhu cầu cảm thụ cái đẹp, cảm thụ các giá trị vật chất,tinh thần và nhu cầu về giải trí Về bản chất đó là nhu cầu thẩm mỹ của conngười, thoả mãn nó sẽ tạo ra cảm tưởng du lịch Nhu cầu đặc trưng quyết địnhchuyến du lịch dài hay ngắn, quy mô ra sao, chất lượng của chuyến du lịch phụthuộc vào mức độ thoả mãn các nhu cầu đặc trưng Tương ứng với mỗi loại nhucầu, cần thiết có các hoạt động dịch vụ nhằm đáp ứng và thoả mãn cho du khách
Thứ ba, hoạt động kinh tế du lịch sinh thái mang tính thời vụ là chủ yếu.
Xuất phát từ đặc thù của kinh tế du lịch sinh thái mà thể hiện rõ nét tínhthời vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh, bởi vì các thành tựu khoa họccông nghệ chưa được áp dụng rộng rãi, chưa đủ điều kiện để khắc phục cáchiện tượng thiên nhiên tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh như; mưa,gió, bão, nóng, lạnh, lụt lội, hạn hán bên cạnh những ảnh hưởng khác mangtính xã hội như “mùa” lễ hội; “mùa” nghỉ hè của học sinh, sinh viên; “mùa”
du lịch của khách du lịch quốc tế… sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, sản xuấtkhông theo kịp thời vụ cho nên chu kỳ kinh doanh hay bị gián đoạn Đây làmột trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm thu nhập, tăng chi phí phátsinh, cơ sở vật chất - kỹ thuật kinh doanh du lịch gối vụ không được sử dụng
sẽ bị xuống cấp, hư hỏng, cán bộ nhân viên trong các doanh nghiệp trong thờigian gối vụ thiếu việc làm, thu nhập thấp, sử dụng không hợp lý sẽ bị mai mộtkiến thức, dễ chuyển sang lĩnh vực khác
Trang 16Thứ tư, hoạt động kinh tế du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng
đồng dân cư bản địa
Kinh tế du lịch sinh thái đã mang lại thu nhập đáng kể cho cư dân địaphương bằng các hoạt động dịch vụ du lịch như: phục vụ lưu trú, ăn uống, bánhàng lưu niệm và các dịch vụ bổ trợ khác Khi du lịch sinh thái phát triển, nóluôn quan tâm đến việc tôn tạo cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinhthái để phát triển bền vững Chính những hoạt động này đảm bảo cho hệ thốngrừng cây, hệ động thực vật được bảo đảm, làm giảm thiểu sự tác động của thiênnhiên đến đời sống của người dân bản địa như hạn chế được xói mòn, lũ quét vànhững ảnh hưởng khác Các nhà kinh doanh du lịch sinh thái đã nhận thức
rõ rằng chính những người dân bản địa, họ sinh ra và tồn tại cùng với các
hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên xung quanh từ bao đời lại có đượckiến thức truyền thống văn hoá quý giá của cha ông họ để lại về thiên nhiên
và môi trường xung quanh, họ có văn hóa, phong tục tập quán riêng củadân tộc mình Nếu chỉ quan tâm đến thiên nhiên, bảo vệ và tôn tạo các giátrị tài nguyên để phát triển du lịch mà không quan tâm đến lợi ích củangười dân bản địa thì sẽ không có được sự phát triển ổn định bởi điều nàylại chính là những nhân tố và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển dulịch Một biện pháp mà du lịch sinh thái góp phần mang lại các lợi ích kinh
tế, phát huy các giá trị văn hóa và xã hội của những người dân bản địa là sửdụng những người dân bản địa làm các dướng dẫn viên du lịch tại nhữngkhu du lịch sinh thái Khuyến khích người dân gìn giữ và phát triển nhữngnghề truyền thống của mình như dệt thổ cẩm, thêu ren, làm hàng thủ công
mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của địa phương… để khách du lịchđược chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm các sản phẩm nơi họ đến thămquan Du lịch sinh thái giúp người dân bản địa chủ động làm kinh tế cùngvới việc gìn giữ bản sắc văn hóa của mình bằng việc cung ứng dịch vụ lưu trútrong hành trình của khách du lịch
Trang 171.1.2 Quan niệm và tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch sinh thái
* Quan niệm phát triển kinh tế du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch còn mới mẻ đối với nhiều quốc gia, đặcbiệt đối với Việt Nam, kinh tế du lịch sinh thái đã và đang được quan tâm đầu tưphát triển Trên thực tế, phát triển kinh tế du lịch sinh thái không những đemlại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích văn hóa, xã hội, môi trường…Ở mỗi quốcgia, dân tộc có tính đặc thù riêng, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, mục đích tính chất của quan hệ sản xuất và chế độ chính trịcủa mỗi nước cho nên trong nghiên cứu tất yếu sẽ có những quan điểm khácnhau Mặc dù chưa có khái niệm chính thống nào về phát triển kinh tế du lịchsinh thái Song vấn đề mang tính nguyên tắc xuyên suốt là để phát triển kinh
tế du lịch sinh thái có hiệu quả, bền vững cần phải nhận thức được mối quan
hệ gắn bó giữa tài nguyên du lịch sinh thái với môi trường, xã hội trong cảquá trình Bởi vậy, nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch sinh thái và đưa rađược định nghĩa về nó phải nhìn từ nhiều góc độ khác nhau
Thứ nhất, từ góc độ kinh tế: phát triển kinh tế du lịch sinh thái phải
đảm bảo khai thác có hiệu quả các nguồn lực gắn với yêu cầu tăng trưởngkinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và đem lạilợi ích cho cộng đồng địa phương nơi có tài nguyên du lịch Điều quan trọngtrong kinh doanh du lịch sinh thái là không chỉ thoả mãn lợi ích trước mắt màphải coi trọng sự phát triển lâu dài và đồng đều các lĩnh vực khác của đờisống xã hội Kinh doanh du lịch sinh thái phải đảm bảo thực hiện yêu cầu táisản xuất mở rộng, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, khả năng phát triển bềnvững, huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế tham gia
Thứ hai, từ góc độ văn hóa - xã hội: phát triển kinh tế du lịch sinh thái
nhằm phát huy những giá trị văn hóa dân gian, các di tích lịch sử văn hóa,đồng thời góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo thêm công ăn việc làm, xóa
Trang 18đói giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; góp phần
mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế, tăng cường giao lưu văn hóa,thiết lập mối quan hệ hữu nghị với các địa phương lân cận và với cả nước
Thứ ba, từ góc độ môi trường: đối với bất kỳ ngành kinh tế nào, sự phát
triển bền vững cũng gắn liền với vấn đề tài nguyên môi trường Điều này đặcbiệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của loại hình du lịch sinh thái, nơi môitrường được xem là yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của các hoạt độngkinh tế du lịch sinh thái Phát triển kinh tế du lịch sinh thái phải tuân thủ theonguyên tắc “sức chứa” du lịch Tức là khai thác các nguồn tài nguyên du lịch sinhthái hợp lý có tác động tích cực đến môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh, tránh gây ra ô nhiễm môi trường làm cho tài nguyên bị suy thoái.Như vậy, phát triển kinh tế du lịch sinh thái là một quá trình phát triển cânđối, hài hòa giữa các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường… các mặttrong tổng thể đó luôn có mối quan hệ qua lại, gắn bó, tác động lẫn nhau, thúcđẩy nhau cùng phát triển Từ những vấn đề nêu trên có thể quan niệm:
Phát triển kinh tế du lịch sinh thái là quá trình khai thác có hiệu quả những giá trị tiềm năng của du lịch sinh thái trên cơ sở bảo đảm các điều kiện về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và lao động làm du lịch nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của du khách, góp phần tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường và làm phong phú thêm các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Từ quan niệm trên có thể hiểu phát triển kinh tế du lịch sinh thái là quátrình khai thác có hiệu quả những giá trị tiềm năng tài nguyên du lịch và cácyếu tố sản xuất (cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, lao động trong du lịch…) để tạo
ra các hàng hóa và dịch vụ du lịch sinh thái có chất lượng cao đáp ứng nhucầu của du khách nhằm đạt doanh thu cao nhất và lợi nhuận tối đa góp phần
Trang 19tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiệuquả Phát triển kinh tế du lịch sinh thái phải đảm bảo phát triển theo hướng bềnvững, tức là hoạt động kinh tế du lịch sinh thái phải tính đến việc khai thác hợp
lý gắn với việc bảo vệ, tôn tạo các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường sinhthái, từ đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực thúcđẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội,mang lại thu nhập thường xuyên, ổn định cho người lao động, từng bước hoànthiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần nhân dânđược nâng cao, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.Phát triển kinh tế du lịch sinh thái đồng thời cũng là quá trình giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Bởi du lịch sinh thái là một hoạtđộng văn hóa, mục tiêu của du lịch sinh thái là sự phát hiện, tiếp nhận và nângcao các giá trị văn hóa vốn ẩn chứa trong các hiện tượng cuộc sống Do đó dukhách của du lịch sinh thái ngoài nhu cầu muốn thưởng thức không gian tronglành, tìm hiểu, khám phá thiên nhiên hoang dã họ còn có nhu cầu tìm hiểu vănhóa bản địa nơi họ đến thăm Nếu văn hóa càng lâu đời, độc đáo càng thu hút
và hấp dẫn du khách Vì thế bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đểphục vụ du khách là một trong những nội dung rất quan trọng của phát triểnkinh tế du lịch sinh thái
* Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch sinh thái
Từ quan niệm về phát triển kinh tế du lịch sinh thái có thể thấy việc đánhgiá sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái phải dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau,trong đó có các tiêu chí cơ bản sau:
Thứ nhất, mức độ phát triển của các phương tiện vật chất kỹ thuật.
Phương tiện vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái là một trong nhữngnhân tố quan trọng đối với quá trình kinh doanh du lịch sinh thái Ngoài yếu tốtài nguyên du lịch thì tính đa dạng, phong phú, hiện đại, hấp dẫn của cơ sở
Trang 20vật chất - kỹ thuật cũng tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn củadịch vụ du lịch sinh thái Một địa phương, một doanh nghiệp muốn pháttriển kinh tế du lịch sinh thái phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậttiện nghi, đồng bộ, hiện đại Cho nên có thể nói rằng trình độ phát triển của
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sinh thái là điều kiện, đổng thời cũng là sựthể hiện trình độ phát triển kinh tế du lịch sinh thái của một điểm du lịchsinh thái cũng như của một địa phương Do đó mức độ phát triển cơ sở vậtchất - kỹ thuật để phục vụ các hoạt động kinh tế du lịch sinh thái là tiêu chírất quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái của mộtđịa phương Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế du lịch sinhthái bao gồm: khách sạn, nhà nghỉ, các nhà hàng kinh doanh ăn uống vàcác khu vui chơi giải trí, hệ thống thông giao thông, thông tin liên lạc, vàcác dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Thứ hai, số lượng khách du lịch sinh thái
Khách du lịch là yếu tố quyết định trong việc hình thành nên “cầu” dulịch và chi tiêu của khách tạo ra nguồn thu chính của các chủ thể tham giakinh doanh du lịch Do vậy, sự gia tăng liên tục trong một thời gian dài sốlượng khách du lịch sinh thái là một trong những tiêu chí quan trọng nhất đểđánh giá sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái Các chỉ tiêu về khách du lịchcho biết rất nhiều thông tin như: sự nổi tiếng và sức hấp dẫn của khu du lịchsinh thái; khả năng “cung” và đáp ứng các nhu cầu của du khách của khu dulịch sinh thái… Các đánh giá về khách là bức tranh về hoạt động kinh tế củakhu, điểm du lịch sinh thái, các đánh giá về khách sẽ làm cơ sở cho nhiềuđánh giá liên quan khác cũng như đưa ra những định hướng phát triển kinh tế
du lịch sinh thái trong tương lai Để có những đánh giá cụ thể về khách cầnthường xuyên tổ chức các cuộc điều tra nhằm đánh giá mức độ hài lòng của
du khách đối với các dịch vụ du lịch sinh thái cũng như thái độ đón tiếp của
Trang 21chính quyền và cộng đồng địa phương tại các điểm du lịch Tỷ lệ khách dulịch sinh thái tăng trưởng liên tục chứng tỏ rằng hoạt động kinh tế du lịch sinhthái tại địa phương đó đang phát triển đúng hướng, có hiệu quả cao.
Thứ ba, doanh thu và giá trị gia tăng (GDP) du lịch sinh thái
Doanh thu và giá trị gia tăng du lịch từ các hoạt động kinh doanh du lịchsinh thái là tiêu chí có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển củakinh tế du lịch sinh thái vì có đạt mức doanh thu, lợi nhuận cao mới có thểtích lũy để tái sản xuất mở rộng, tăng cường ưu thế trong cạnh tranh để từ đómới có điều kiện giải quyết thỏa đáng lợi ích kinh tế giữa nhà nước, doanhnghiệp và người lao động Nếu kinh doanh thua lỗ kéo dài mà không có biệnpháp khắc phục thì tất yếu ngành du lịch không thể phát triển và các chủ thểkinh doanh du lịch sinh thái sẽ bị phá sản Trong điều kiện cơ chế thị trườngcạnh tranh gay gắt như hiện nay, để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển,ngành du lịch cũng như các chủ thể kinh doanh du lịch sinh thái phải xâydựng được những sản phẩm du lịch sinh thái đặc sắc có sức cạnh tranh cao,thu hút khách du lịch nhằm đạt được doanh thu và giá trị gia tăng du lịch sinhthái ngày càng cao
Thứ tư, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân
Du lịch sinh thái luôn gắn với sự tham gia của cộng đồng địa phương, do
đó giải quyết việc làm, nâng cao đời cho người dân đặc biệt là cộng đồng dân
cư địa phương ở các vùng có tài nguyên du lịch sinh thái là một trong nhữngyếu tố để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái Bởi lẽ, các khu, điểm
du lịch sinh thái thường nằm xa các trung tâm thương mại, các khu đô thị nêncộng đồng dân cư địa phương ở nơi đó nhìn chung còn nghèo, trình độ dân tríthấp, thu nhập và đời sống còn rất nhiều khó khăn, cuộc sống của họ còn dựanhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như khai thác gỗ, săn bắn, háilượm… Phát triển kinh tế du lịch sinh thái chỉ bền vững khi số lượng các khu,
Trang 22điểm du lịch sinh thái cũng như các nguồn tài nguyên du lịch được quan tâmđầu tư, bảo vệ Đồng thời, quá trình đó tạo được công ăn việc làm cho cư dânđịa phương và đời sống của họ được cải thiện Có như vậy người dân mới có
ý thức trong việc bảo vệ các tài nguyên du lịch sinh thái
Thứ năm, tài nguyên du lịch sinh thái được bảo vệ.
So với các tài nguyên du lịch khác, tài nguyên du lịch sinh thái rất nhạycảm với các tác động của con người Sự thay đổi tính chất của bất kỳ thànhphần cấu thành nào cũng dẫn tới sự thay đổi thậm chí biến mất của cả hệ sinhthái và khiến cho tài nguyên du lịch sinh thái bị ảnh hưởng ở những mức độ khácnhau Do đó, nguồn tài nguyên du lịch sinh thái được bảo vệ, tôn tạo được xem
là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái.Nguồn tài nguyên du lịch sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấpdẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách,đến sự tồn tại của hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái Vì vậy, việc bảo vệ tàinguyên du lịch không bị suy thoái, cạn kiện, giữ gìn được bản sắc văn hóa dântộc và môi trường sinh thái không bị ô nhiễm sẽ góp phần làm tăng sức hấp dẫncủa các sản phẩm du lịch sinh thái, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch Điềunày làm cho hiệu quả các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái càng cao
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái
Thứ nhất, tài nguyên du lịch sinh thái.
Tài nguyên của du lịch sinh thái bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, vùngnúi có phong cảnh đẹp, các hang động, di tích lịch sử, di tích văn hoá, côngtrình lao động sáng tạo của con người, các di tích tự nhiên, các vùng khí hậuđặc biệt các điểm nước khoáng, suối nước nóng, hệ sinh vật, các vườn quốcgia, khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái độc đáo, môi trường văn hóa bảnđịa… đó là các yếu tố tạo ra sự hấp dẫn và hình thành các điểm du lịch, khu dulịch sinh thái Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển các hoạt
Trang 23động kinh doanh du lịch sinh thái Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càngphong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động dulịch càng cao bấy nhiêu Du lịch sinh thái, loại hình du lịch gắn liền với thiênnhiên và môi trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng cónguy cơ thường xuyên bị đe doạ xâm hại và tàn phá Muốn phát triển kinh tế
du lịch sinh thái một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên tắc
là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên, đảmbảo nguyên tắc “sức chứa”
Thứ hai, dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái.
Số lượng dân cư và chất lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngkinh doanh và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, hệ động thực vật Hệ sinhthái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông trình
độ dân trí thấp Các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái đạt kết quả caohay thấp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng lao động phục vụ tại các điểm dulịch sinh thái, đây là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm và dịch vụcung ứng Do đó, để phát triển các hoạt động kinh tế du lịch sinh thái đòi hỏiđội ngũ lao động làm du lịch đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinhthái, những người trực tiếp giao tiếp và cung cấp thông tin tới khách du lịch
có trình độ quản lý, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, nhận thức và hiểu biết vềmôi trường sinh thái và bản sắc văn hóa địa phương
Thứ ba, cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật.
Cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật được hiểu là toàn bộ các phương tiện vậtchất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch,tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầucủa du khách Với kinh tế du lịch sinh thái nó bao gồm các hoạt động nhằmcung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, muasắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu
Trang 24thiên nhiên và văn hoá… của khách du lịch Mặc dù du lịch sinh thái là hìnhthức du lịch dựa nhiều vào thiên nhiên và việc khai thác kinh doanh du lịchsinh thái phải đảm bảo nguyên tắc hạn chế tối đa việc tác đến môi trường thiênnhiên và hệ sinh thái Tuy nhiên, đây là một hoạt động dịch vụ phục vụ “conngười” do đó cơ sở kỹ thuật hạ tầng là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớnđến việc phát triển và thu hút khách du lịch đó là: đường sá giao thông, phươngtiện đi lại, cơ sở lưu trú, dịch vụ y tế, các dịch vụ bổ sung như hệ thống thôngtin liên lạc, các hoạt động vui chơi giải trí, hàng lưu niệm… đặc biệt vấn đềthông tin liên lạc là một khâu quan trọng đối với phát triển kinh tế du lịch sinhthái.
Thứ tư, hoạt động xúc tiến, quảng bá.
Hoạt động xúc tiến quảng bá là một khâu quan trọng trong quá trình pháttriển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh của một sản phẩm du lịch sinh thái.Chương trình quảng bá, xúc tiến nhằm khuyến khích du khách có mong muốnđược đi du lịch theo hình thức du lịch sinh thái Trên thực tế nhu cầu đi du lịchsinh thái của con người ngày càng tăng nhưng nếu một điểm du lịch hay một khu
du lịch dù có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, hấp dẫn, môi trường trong lành, hệsinh thái da dạng có thể nói đó là một điểm du lịch lý tưởng nhưng nếu nhữngthông tin về nó không được quảng bá, không đến được với du khách thì chắc chắnđiểm du lịch đó cũng không có nhiều khách đến thăm Nếu như công tác quảng
bá được chú trọng đúng mức, duy trì thường xuyên thì nó sẽ là một nhân tốquan trọng cho việc phát triển kinh tế du lịch sinh thái
Thứ năm, cơ chế chính sách và sự quản lý của nhà nước.
Xây dựng cơ chế, chính sách và quản lý một cách đồng bộ, khuyến khíchviệc khai thác các tiềm năng kinh tế du lịch sinh thái đặc biệt là ở các vườnquốc gia, khu bảo tồn thiên thiên…phải được cụ thể hóa bằng các văn bảnpháp lý từ các cơ quan quản lý nhà nước Thực tế cho thấy, mặc dù nhiều
Trang 25nước, nhiều quốc gia vùng lãnh thổ có tiềm năng rất lớn về kinh tế du lịchsinh thái nhưng sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo, những nhà hoạch địnhchính sách và đầu tư chưa thật sự sâu sắc, không có cơ chế, chính sách thíchhợp để quy hoạch, tập trung đầu tư phát triển kinh tế du lịch sinh thái v.v… đãlàm lãng phí nguồn tài nguyên thậm chí có thể bị lãng quên hoặc bị tàn phá dokhông có cơ quan đơn vị hay người quản lý các nguồn tài nguyên đó Để kinh
tế du lịch sinh thái phát triển thì việc nhận ra thế mạnh và phát huy vai trò của
nó là một vấn đề cần được quan tâm Vấn đề này chỉ được giải quyết khi cácnhà hoạch định chính sách, các cấp quản lý nhận thức rõ và đưa ra cơ chế,chính sách hợp lý để phát triển
1.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình
1.2.1 Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có tọa độ địa lý từ 19o50’đến 20o27’ vĩ độ Bắc và 105o32’ đến 106o33’ kinh độ Đông Về phía Bắc,Ninh Bình giáp Hà Nam với một phần ranh giới tự nhiên là sông Đáy, phíaNam giáp Thanh Hóa, phía Tây giáp Hòa Bình, phía Đông Nam giáp biểnĐông Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện)với diện tích 1.388,7 km2, trong đó đất đồi núi và nửa đồi núi chiếm trên 70%.Ninh Bình cách Thủ đô Hà nội hơn 90 km, có quốc lộ 1A và đường sắtxuyên Việt chạy qua (đoạn chạy qua Ninh Bình dài 35km), cùng hệ thốngsông ngòi phong phú với cảng Ninh Bình nên có điều kiện phát triển mạnhgiao thông cả đường bộ và đường thủy, giao lưu thuận lợi với các địa phươngtrong nước và quốc tế Như vậy, sự thuận tiện của hệ thống giao thông và cácphương tiện vận chuyển phục vụ khách du lịch đa dạng là một lợi thế và tạođiều kiện thuận lợi cho kinh tế du lịch sinh thái phát triển
Trang 26Ninh Bình nằm trên địa bàn trung chuyển của vùng núi Tây Bắc quađồng bằng châu thổ Sông Hồng ra biển Đông Toàn bộ lãnh thổ của tỉnh nằm
ở rìa Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùngnúi thấp Tam Điệp (Thanh Hóa) là phần cuối cùng của vùng núi Tây Bắc,trong khu đệm Hòa Bình - Thanh Hóa và tiếp giáp biển Đông Do là vùngchuyển tiếp nên địa hình Ninh Bình khá phong phú, đa dạng, bao gồm cả cácnúi, đồng bằng và bờ biển Về tài nguyên tự nhiên ở Ninh Bình, dạng địa hìnhKarst khá phổ biến và đây là dạng địa hình đặc biệt tạo nên các hang động vàcảnh quan hấp dẫn, rất có giá trị trong việc phát triển du lịch sinh thái
Ninh Bình thuộc đới khí hậu gió mùa chí tuyến, địa hình Ninh Bình phầnlớn là đồng bằng, chỉ có một phần nhỏ là đồi núi nên khí hậu ít có sự phânhóa theo lãnh thổ Nhìn chung, khí hậu của Ninh Bình tương đối thuận lợi chohoạt động du lịch trong cả năm Ninh Bình có mật độ sông ngòi ở mức trungbình, quan trọng nhất trong mạng lưới sông ngòi ở Ninh Bình là sông Đáy,chảy theo hướng Tây - Đông rồi Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển Đông quacửa Đáy Ngoài ra, ở Ninh Bình còn có sông Hoàng Long là phụ lưu sôngĐáy và một số sông ngòi nhỏ khác Về chế độ thủy văn, do có lượng mưahàng năm tương đối lớn nên lưu lượng dòng chảy tương đối phong phú Đây
là những lợi thế to lớn để phát triển các loại hình du lịch đua thuyền, du lịchtrên sông Về các hệ động thực vật, nơi lưu giữ được thảm thực vật và độngvật rừng có giá trị đối với du lịch tại Ninh Bình là Vườn quốc gia CúcPhương, khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặctrưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước Đây là những lợi thế tự nhiên rất tolớn để phát triển các loại hình và các hoạt động kinh tế du lịch sinh thái
Dân số của Ninh Bình là 922.582 người, trong đó số dân trong độ tuổilao động chiếm 61,03% (56,3 vạn người), mật độ dân số 664 người/km2 Dântộc Kinh chiếm đa số, dân tộc Mường là dân tộc thiểu số (1,7% dân số) dân
Trang 27tộc này còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống và các lễ hội, làngnghề truyền thống rất có giá trị thu hút khách du lịch.
Về kinh tế, giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hằngnăm đạt 16,5% Tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất các ngành đạt cao:nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 4,3%, công nghiệp xây dựng đạt 24,1% vàdịch vụ đạt 19,5% GDP/người tăng mạnh do quy mô nền kinh tế tăng nhanh
và thực hiện tốt chủ trương phát triển dân số hợp lý, đến năm 2010 đạt trên20,6 triệu đồng, gấp 3,7 lần so với năm 2005 Cơ cấu kinh tế về cơ bản có sựdịch chuyển theo hướng tiến bộ, hiệu quả Đây là yếu tố rất thuận lợi cho việcđầu tư phát triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình hiện nay
* Nguồn tài nguyên phát triển kinh tế du lịch sinh thái của Ninh Bình
Về tài nguyên du lịch tự nhiên
Do đặc điểm về địa hình kết hợp với các thành phần tự nhiên khác như
hệ thống thủy văn, lớp phủ thực vật đã tạo cho Ninh Bình nhiều danh lamthắng cảnh và nhiều hang động nổi tiếng, với hệ động thực vật phong phú,cảnh quan đặc sắc và tính đa dạng sinh học cao… Đây là tiền đề quan trọngcho việc phát triển du lịch sinh thái Trong đó phải kể đến một số tài nguyên
du lịch tự nhiên tiêu biểu như:
Khu du lịch sinh thái Tràng An: đây là một quần thể danh thắng đã đượcNhà nước xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng Nơi đây còn đượcgọi là thành Nam, gồm hệ thống dãy núi đá vôi ngập nước hàng triệu năm tạo
ra các hồ, đầm thông nhau bằng những hang động xuyên thủy Trong danhthắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi vàcác di tích gắn với lịch sử của kinh đô Hoa Lư xưa.Khu sinh thái Tràng Anhiện là đại diện của Việt Nam ứng cử di sản thiên nhiên thế giới với nhữnggiá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh thái và kiến tạo địa chất,
là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế
Trang 28Vườn Quốc gia Cúc Phương: với diện tích 22.200 ha, đây là một địađiểm du lịch nổi tiếng về sinh thái, môi trường và là một khu bảo tồn thiênnhiên, khu rừng đặc dụng Ở đó có hệ động thực vật phong phú đa dạng mangđặc trưng rừng nhiệt đới và là nơi mà nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệtchủng cao được phát hiện và bảo tồn Đây là một điểm du lịch sinh thái thu hútđược khá nhiều du khách khi về thăm quan Ninh Bình Du khách đến rừng CúcPhương để khám phá hệ động thực vật phong phú, chiêm ngưỡng cảnh quanthiên nhiên Hiện tại tỉnh Ninh Bình đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để đềnghị UNESCO công nhận rừng Cúc Phương là di sản thiên nhiên thế giới.
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long: là khu bảo tồn thiên nhiên đấtngập nước lớn nhất vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Khu bảo tồn nàynằm ở phía đông bắc huyện Gia Viễn Vân Long được đưa vào khai thác dulịch từ năm 1998 Năm 1999, nơi đây trở thành khu bảo tồn thiên nhiên,được ghi trong danh sách các khu bảo vệ đất ngập nước và danh mục hệthống các khu rừng đặc dụng Việt Nam Hiện tại, khu du lịch Vân Long đãhoàn thành đề án tổng thể về quản lý, bảo vệ, phát triển khai thác tiềm năngkhu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước để bảo vệ hệ sinh thái đa dạng,phong phú, tiêu biểu Đặc biệt là bảo vệ được một diện tích đất ngập nướcnội đồng lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ và cũng là bảo vệ quần thể voọcquần đùi lớn nhất Việt Nam hiện đang có nguy cơ bị tiêu diệt ở mức độtoàn cầu Khu Vân Long được nhiều cá nhân, tổ chức đã, đang đầu tư vào
cơ sở hạ tầng để khai thác và kinh doanh du lịch sinh thái Khu Vân Longhiện được đánh giá là một tuyến điểm du lịch sinh thái đặc sắc hấp dẫn dukhách, đặc biệt là du khách quốc tế
Khu du lịch sinh thái Tam Cốc - Bích Động: với diện tích tự nhiên là350,3 ha, là một trong những khu du lịch trọng điểm quốc gia hiện nay. Toànkhu vực bao gồm hệ thống các hang động núi đá vôi và các di tích lịch sử liên
Trang 29quan đến triều đại nhà Trần Tam Cốc đã được Nhà nước xếp hạng là di tíchquốc gia đặc biệt
Suối nước nóng Kênh Gà: là suối nước nóng mặn thuộc thôn Kênh Gà,
xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn Nước khoáng ở đây chứa nhiều muốinatriclorua, kaliclorua, canxi và muối Bicacbonat, nước không màu, trong, nhiệt
độ ổn định cho quanh năm là 53ºC Nước khoáng Kênh Gà dùng để tắm hayngâm mình nhiều lần có thể sẽ khỏi các bệnh như khớp mãn tính, viêm dâythần kinh, các bệnh ngoài da Nước suối Kênh gà uống vào có tác dụng kíchthích hoạt động của gan, mật, chữa bệnh bướu cổ, và dùng để bào chế thànhhuyết thanh tiêm tĩnh mạch Nước khoáng Kênh Gà là một trong số rất ít mỏnước khoáng lộ thiên ở nước ta có giá trị to lớn trong y học để phòng và chữabệnh đây là một địa điểm hấp dẫn du khách tạo nên sự đa dạng về sản phẩm
du lịch của tỉnh Ninh Bình
Hồ Đồng Thái: là một hồ nước ngọt nằm trên địa bàn hai xã Yên Đồng(huyện Yên Mô) và xã Đông Sơn (Thị xã Tam Điệp) Với diện tích mặt nước350ha được bao bọc bởi dãy núi Tam Điệp đây là một hệ sinh thái trong lànhtiềm ẩn nhiều tài nguyên du lịch sinh thái, du lịch hang động… Sát với hồ ĐồngThái là hồ Yên Thắng và các đồi thông xung quanh tạo thành một điểm du lịchsinh thái, vui chơi nghỉ dưỡng cuối tuần cho khách du lịch trong và ngoài nước Ngoài các điểm danh lam thắng cảnh nêu trên, Ninh Bình còn có nhiềuvùng cảnh quan khác có giá trị như động Địch Lộng; động Thung Lau, thuộchuyện Gia Viễn; Động Tiên ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư;đèo Tam Điệp, đặc biệt là hệ thống các hang động karst nằm trải dài dọc theo
lãnh thổ của tỉnh Ninh Bình trong đó đáng chú ý như động Mã Tiên, động Hang Mát, động Trà Tu đều là những tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị,
những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách
Về tài nguyên du lịch nhân văn:
Trang 30Ninh Bình có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, songtrong đó còn chứa đựng cả nguồn tài nguyên giành cho du lịch nhân vănvới nhóm các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu như:
Cố đô Hoa Lư: là kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước
ta, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích trải rộngkhoảng 400ha, tồn tại 42 năm qua 3 triều đại Trong đó, Đền vua Đinh là đềnthờ vua Đinh Tiên Hoàng với khuôn viên diện tích chừng 5ha Đền là mộtkiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sỹ dângian Việt Nam ở thế kỷ 17-19 Đền vua Lê là đền thờ vua Lê Đại Hành nằmcách đền vua Đinh chừng 500m Điều đặc biệt ở đền thờ vua Lê Đại Hành lànghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo.Đền được xây dựng để tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với ông vua đã cócông lớn lao trong việc xây dựng đất nước vào thế kỷ thứ 10
Nhà thờ đá Phát Diệm: là một quần thể kiến trúc bao gồm ao hồ, PhươngĐình… Nhà thờ đá là một công trình kiến trúc độc đáo có một không hai ở ViệtNam thể hiện sự hài hoà của nghệ thuật kiến trúc Á Đông và Châu Âu
Chùa Bái Đính: là một quần thể có diện tích 539ha Chùa được coi là cóquy mô hoành tráng nhất Đông Nam Á với năm cái nhất: chùa lớn nhất, tượng
to nhất (100 tấn đồng), nhiều tượng nhất (500 pho tượng La Hán), chuông tonhất, giếng ngọc lớn nhất Trong tương lai nơi đây còn là công viên văn hoá
và Học viện phật giáo Đây thể hiện tính độc đáo hiếm có của một khu du lịchvăn hoá tâm linh, là một trong những điểm nhấn của khu du lịch sinh tháihang động Tràng An
Nhóm các lễ hội:
Đến Ninh Bình, du khách còn được hấp dẫn trong không gian văn hoáđậm đà của vùng đất Châu thổ sông Hồng với những lễ hội truyền thống, lễ
Trang 31hội làng mang đậm yếu tố dân gian Hai lễ hội quan trọng nhất là hội TrườngYên và hội đền Thái Vi, thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế.
Lễ hội Trường Yên được tổ chức vào tháng 3 hàng năm với các chươngtrình rất đặc sắc như: rước nước, dâng hương, cắm trại cùng các cuộc thi như:thi người đẹp Hoa Lư, làng vui chơi, làng ca hát, kéo co, đánh cờ người, đấuvật, múa lân…thu hút đông đảo nhân dân và du khách về tham dự
Du lịch các làng nghề truyền thống:
Các làng nghề truyền thống ở Ninh Bình còn có sức thu hút đặc biệt đốivới du khách bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay một hệ thống ditích Chính điều này đã tạo nên khác biệt và là một trong những lợi thế của dulịch sinh thái Ninh Bình Phát triển du lịch đến các làng nghề không những thúcđẩy kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển mà còn khôi phục các làng nghề truyềnthống Là cơ hội tốt để các làng nghề giới thiệu sản phẩm và tiếp cận thịtrường Một số làng nghề truyền thống tiêu biểu ở Ninh Bình như:
Thêu ren Ninh Hải thuộc xã Ninh An, huyện Hoa Lư nổi tiếng về nghề
thêu ren Làng nghề này nằm cùng với khu du lịch sinh thái Tam Cốc - BíchĐộng, kiến trúc làng khá hấp dẫn, sản phẩm của làng nghề rất phong phú như:
ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, tranh, ảnh…là những sản phẩm đượckhách du lịch ưa thích Vì vậy, đây cũng là điểm du lịch hấp dẫn du kháchtrong nước và quốc tế
Mỹ nghệ cói Kim Sơn với nhiều sản phẩm làm từ cây cói như: thảm, làn,
khay, hộp, đĩa, cốc, túi xách, mũ , đặc biệt là chiếu cói - mặt hàng khá nổitiếng được nhiều du khách ưa chuộng Khách du lịch đến đây tham quan cóthể trực tiếp quan sát các thao tác của những người thợ dệt chiếu
Làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân Có hơn 400 năm lịch sử phát triển,
có vị trí thuận lợi cho khách tham quan, phong cảnh thiên nhiên đẹp, kiến trúcxây bằng đá Sản phẩm đá gồm các loại: tượng, chim thú, bể cảnh, bia, thống,chậu hoa, bàn, ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà Tất
Trang 32cả đều được chạm khắc tinh tế, sống động đây là cơ hội rất tốt để sản phẩm đáNinh Vân tiếp cận thị trường và thu hút khách du lịch.
Như vậy, có thể thấy Ninh Bình có các điều kiện và tiềm năng khá thuậnlợi cho phát triển kinh tế du lịch sinh thái Điều này được thể hiện ở giá trị củacác tài nguyên thiên nhiên còn tương đối hoang sơ, hệ sinh thái phong phú, tính
đa dạng sinh học cao… Giá trị các tài nguyên nhân văn làm cho sản phẩm dulịch sinh thái trở nên đa dạng và phong phú hơn bởi sự kết hợp của du lịch sinhthái và du lịch văn hoá Đó là những lợi thế to lớn để phát triển kinh tế du lịchtrong đó có du lịch sinh thái trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
1.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở Ninh Bình
* Những thành tựu đạt được:
Thứ nhất, về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch
Từ năm 2005 đến nay, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh tế du lịch nóichung và kinh tế du lịch sinh thái nói riêng ở Ninh Bình được chú trọng đầu
tư phát triển Các khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách được xây dựng và đưa vào
sử dụng đã làm thay đổi nhanh chóng số lượng và chất lượng của hệ thống cơ
sở lưu trú của Ninh Bình
Về hệ thống cơ sở lưu trú: nếu như năm 1995 chỉ có khu du lịch sinh thái
rừng Cúc Phương mới có hệ thống phòng ngủ phục vụ du khách, thì đến năm
2005 hầu như các khu du lịch của Ninh Bình đã có cơ sở lưu trú để kinhdoanh du lịch Số lượng cơ sở lưu trú ở Ninh Bình trong thời gian qua đã tănglên đáng kể Năm 2005 toàn tỉnh có 73 cơ sở lưu trú du lịch với 1.018 phòngngủ, 1.696 giường; trong tổng số 1.018 phòng ngủ có 283 phòng ngủ đạt tiêuchuẩn quốc tế, chiếm 27,7% tổng số phòng ngủ toàn tỉnh Đến năm 2010 có
158 cơ sở lưu trú, tương ứng với 2.491 phòng ngủ và 4,241 giường Trong đókhách sạn 1 sao: 03, khách sạn 2 sao: 21, đạt tiêu chuẩn 47 Các cơ sở lưu trú
Trang 33nằm rải rác ở các huyện thị: Thành phố Ninh Bình 100 cơ sở, thị xã Tam Điệp
15 cơ sở, huyện Yên Mô 06 cơ sở, huyện Nho Quan 05 cơ sở, huyện Hoa Lư 22
cơ sở, huyện Gia Viễn 07 cở sở, huyện Kim Sơn 03 cơ sở Theo báo cáo mớinhất của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình về công tác lữ hành, kháchsạn năm 2011 trên toàn tỉnh có 194 cơ sở lưu trú du lịch với 3.269 phòng, trong
đó có 6 khách sạn đang được đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật theo tiêu chuẩn 3-5sao và đang làm các thủ tục đề nghị Tổng cục Du lịch công nhận xếp hạng Cơ
sở vật chất, trang thiết bị các cơ sở lưu trú cơ bản đã được cải tiến, nâng cấp và
bổ sung đáp ứng được một phần đáng kể nhu cầu của khách du lịch [phụ lục 1]
Về các cơ sở phục vụ ăn uống: cùng với sự gia tăng của các cơ sở kinh
doanh lưu trú thì các hệ thống các cơ sở phục vụ ăn uống cũng được cải thiện
về số lượng và chất lượng Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều có quầy Bar,phòng ăn Ở các cơ sở này, thực đơn phục vụ có nhiều món ăn dân tộc, Á,Âu với chất lượng phục vụ tương đối tốt, đảm bảo vệ sinh thực phẩm Tại cáckhu du lịch thực đơn trong các nhà hàng luôn có món ăn đặc sản của Ninh Bình
là thịt dê núi, lươn, cua, ốc
Về hệ thống giao thông: mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh cơ bản đã
được cải tạo, nâng cấp cùng với chủ trương hiện đại hoá giao thông nông thôncủa tỉnh, đến nay 100% các thôn, xã trong tỉnh đã được bê tông hoá Hệ thốnggiao thông đến các điểm du lịch sinh thái của tỉnh hầu hết được xây dựng mớihoặc nâng cấp Năm 2002, tỉnh đã đầu tư xây mới đường 12B dài 25 km vàovườn quốc gia Cúc Phương và khu Vân Long (130 tỷ đồng), đường vào khuTam Cốc - Bích Động dài 4,5 km (12 tỷ đồng), đường vào khu du lịch hangđộng Tràng An và đường giao thông nội bộ trong khu du lịch (264,153 tỷđồng) Các phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển nhanh cả về thể loại
và chất lượng phục vụ Ngoài công ty vận tải ô tô Ninh Bình còn có một số đơn
vị khác cũng tham gia phục vụ vận chuyển khách du lịch như: công ty cổphần vận tải Minh Long với đội xe từ 16 - 32 chỗ ngồi chất lượng phục vụ tốt,
Trang 34có 3 công ty tắc xi phục vụ vận tải với khoảng 50 đầu xe và rất nhiều cá nhânmua xe để làm dịch vụ du lịch Cùng với việc bảo đảm giao thông bằngđường bộ, giao thông bằng đường thủy trên các tuyến đến các điểm du lịchsinh thái của tỉnh cũng được đầu tư, cải tạo đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyểnkhách du lịch như: sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Hoàng Long, sông Vạc
Về mạng lưới thông tin liên lạc: hiện nay 100% số xã trên toàn tỉnh đã được
lắp đặt hệ thống cáp điện thoại và phủ sóng điện thoại di động Tất cả các điểm
du lịch đang khai thác đều đã được thiết kế lắp đặt hệ thống cổng kết nốiInternet Hiện nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng đề án đầu tưxây dựng dự án hệ thống mạng thông tin phục vụ quản lý nhà nước về du lịch
Về đầu tư xây dựng cơ bản: từ năm 2002 đến nay, nhiều dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng phục vụ chiến lược phát triển du lịch sinh thái đã được triển khai
Từ chỗ chỉ khai thác các sản phẩm tự nhiên và di tích lịch sử văn hóa, từ năm
2002 đến 2005 toàn tỉnh đã có 38 dự án lớn đầu tư phát triển du lịch, trong đó
có 34 dự án của các thành phần kinh tế, 04 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằngnguồn vốn ngân sách nhà nước Các dự án đầu tư và chấp thuận đầu tư pháttriển du lịch trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị trên 4.000 tỷ đồng Đến năm
2006, ngành du lịch Ninh Bình đã đầu tư 421,453 tỷ đồng đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng du lịch bao gồm các hạng mục như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầngkhu du lịch sinh thái Tràng An; khu du lịch Tam Cốc - Bích Động; đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Vân Long; cơ sở hạ tầng làng nghềtruyền thống các xã Ninh Xuân, Ninh Hải, Ninh Vân…Đến năm 2011 toàntỉnh có 55 dự án đầu tư phát triển du lịch với số vốn 13.064.267 tỷ đồng, mở
ra triển vọng mới, sức bật mới cho du lịch Ninh Bình những năm sau
Thứ hai, về số lượng khách du lịch.
Từ năm 2002 đến nay, nhờ có chính sách đổi mới và sự quan tâm đầu tưđúng mức của các cấp, các ngành có liên quan, ngành du lịch Ninh Bình nói
Trang 35chung, du lịch sinh thái nói riêng đã có những khởi sắc đáng kể, số lượng khách
du lịch đến địa phương ngày càng tăng
Theo số liệu thống kê, năm 2002 số lượng khách du lịch đến Ninh Bình là647.072 lượt người; năm 2005 là 1.021.236 lượt Ở thời điểm này khách chủ yếuthăm quan rừng quốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc - Bích Động và Cố đô Hoa
Lư Đến năm 2006 cùng với việc có thêm một số điểm du lịch sinh thái mớinhư: khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, khu tắm ngâm CúcPhương, khu suối khoáng Kênh Gà, hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái đã thu hútđược số lượng khách du lịch tăng lên đáng kể với 1.186.998 lượt Đặc biệt từđầu năm 2009 đến nay với sự xuất hiện của khu du lịch sinh thái Tràng An vàkhu du lịch tâm linh núi chùa Bái Đính thì lượng khách đến thăm quan, chiêmbái đã tăng đột biến Năm 2009 là 2.199.975 lượt; năm 2010 là 3.096.589lượt;năm 2011 là 3.247.888 lượt Như vậy, từ năm 2002 đến 2011 lượng khách đếnthăm quan du lịch Ninh Bình tăng hơn 5 lần Tốc độ tăng trưởng bình quân giaiđoạn này đạt 20%/năm [phụ lục 3], trong đó bao gồm sự tăng lên cả khách du lịchquốc tế và trong nước, cụ thể:
Về khách du lịch quốc tế: từ năm 2002 đến 2011 số lượng khách du lịch
quốc tế đến Ninh Bình tăng trưởng liên tục Nếu như năm 2002 là 254.375lượt thì đến 2005 là 329.847 lượt; năm 2009 là 591.403 lượt; năm 2010 là663.284 lượt; đến năm 2011 do sự suy thoái và khó khăn chung của nền kinh
tế thế giới và của nước ta nên số lượng khách du lịch quốc tế có giảm đinhưng không đáng kể Năm 2011 du lịch Ninh Bình thu hút được 663.164lượt khách tăng 2,6 lần so với năm 2002 Tốc độ tăng trưởng trung bình giaiđoạn 2002 - 2011 là 12%./năm Khách quốc tế đến du lịch tại tỉnh Ninh Bình
từ nhiều nước, đáng kể là khách du lịch Nhật Bản chiếm 19,64%, Pháp chiếm16,57%, khách Đức chiếm 6,32%, khách Australia chiếm 4,58%, khách các
Trang 36nước Bắc Âu: Na uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan… chiếm7,62%; khách Mỹ chiếm 5,83% còn lại là các nước khác [phụ lục 3].
Về khách du lịch nội địa: khách du lịch nội địa đến với du lịch Ninh Bình
tăng trưởng liên tục ở mức rất cao trong những năm qua Nếu như năm 2002
là 392.697 lượt khách thì đến năm 2005 là 691.389 lượt; năm 2009 là1.608.572 lượt; năm 2010 là 2.433.305 lượt; đến năm 2011 là 2.584.724 lượtkhách tăng 6,58 lần so với năm 2002 Giai đoạn 2002-2011 tốc độ tăng bìnhquân đạt 24%/năm Đây là một mức tăng trưởng khá cao Khách du lịch nộiđịa đến đây nhiều một phần do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người laođộng trong cả nước, đặc biệt là từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Lượng kháchnày chủ yếu là học sinh, sinh viên đi tham quan, dự trại hè tại Tam Cốc - BíchĐộng, Khu du lịch sinh thái Tràng An, Vườn Quốc gia Cúc Phương, và mộtlượng lớn khách du lịch tham gia vào các chương trình lễ hội tại Cố đô Hoa
Lư, chùa Bái Đính, Nhà thờ đá, điện Thái Vi…[phụ lục 3]
Dự tính năm 2012, du lịch Ninh Bình phấn đấu đón 4.000.000 lượtkhách, tăng 23% so với năm 2011, trong đó khách quốc tế là 7.6000 lượt,khách nội địa 3.240.000 lượt, doanh thu đạt 800 tỷ đồng
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch còn khá mới mẻ ở Ninh Bình, Tuynhiên, có thể thấy với sự xuất hiện của các khu, điểm du lịch sinh thái mới nhưKhu du lịch sinh thái Tràng An, Khu tâm linh núi chùa Bái Đính, Khu sinh tháiđất ngập nước Vân Long… du lịch Ninh Bình đã thu hút sự quan tâm của nhiều
du khách trong và ngoài nước điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế du lịch sinhthái của Ninh Bình trong thời gian qua
Thứ ba, về doanh thu du lịch và giá trị gia tăng (GDP) du lịch.
Doanh thu du lịch: tổng doanh thu thuần túy du lịch của tỉnh Ninh Bình
trong những năm qua đã có sự tăng trưởng đáng kể Nếu như năm 2002 tổngdoanh thu của toàn ngành du lịch mới đạt 40.411 triệu đồng thì đến năn 2005
Trang 37đạt 63.180 triệu đồng; năm 2009 là 250.130 triệu đồng; đặc biệt đến năm
2010 với sự hoàn thiện của các khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịchchùa Bái Đính số lượng khách đến Ninh Bình tăng đột biến do đó doanh thunăm 2010 là 551.427 triệu đồng; năm 2011 là 655.239 triệu đồng tăng 16,2lần so với năm 2002 Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2002 –
2011 đạt 39,4%/năm Với mức tăng trưởng về doanh thu du lịch nói trên,ngành du lịch Ninh Bình cũng góp phần đáng kể trong việc tạo nguồn thu chongân sách nhà nước [phụ lục 3]
Nếu như nộp ngân sách nhà nước (chỉ tính đơn vị ngành quản lý trực
tiếp) năm 2002 là 4.637 triệu đồng thì đến năn 2005 là 7.463 triệu đồng; năm
2009 là 25.350 triệu đồng; năm 2010 là 55.000 triệu đồng; đến 2011 là 65.500triệu đồng Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hằng năm giai đoạn 2002 - 2010 là37,68%/năm [phụ lục 3]
Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch): giai đoạn 2006-2010, tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm của tỉnh Ninh Bình đạt 16,5% Tăngtrưởng bình quân của giá trị sản xuất các ngành đạt cao: nông, lâm nghiệp vàthủy sản đạt 4,3%; công nghiệp - xây dựng đạt 24,1% và dịch vụ đạt 19,5%đáng chú ý là trong ngành dịch vụ lĩnh vực du lịch đạt 36,1%
Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tiến bộ làm thay đổi bộ mặtcủa tỉnh trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội Tỷ trọngnông- lâm- thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế giảm nhanh, công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ tăng mạnh Năm 2010 tỷ trọng nông- lâm -thuỷ sản chiếm 16,2%;công nghiệp - xây dựng chiếm 47,3% và khu vực dịch vụ chiếm 36,5%
Từ cơ cấu kinh tế trên cho thấy ngành dịch vụ ở Ninh Bình (bao gồmdịch vụ thương mại và du lịch) đã có bước phát triển mạnh mẽ, đã khẳng định
vị trí của mình góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Những nămtrước, Ninh Bình vẫn luôn xác định là một tỉnh nông nghiệp nên xác định cơ cấu
Trang 38kinh tế là Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ - Du lịch Tuy nhiên, thực tếphát triển kinh tế du lịch Ninh Bình mà chủ yếu là phát triển kinh tế du lịch sinhthái trong những năm qua đã cho thấy dịch vụ du lịch ngày càng có những đónggóp tích cực vào sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương,hiện nay cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp - xây dựng rồi đến dịch vụ vàcuối cùng mới là nông nghiệp Cùng với công nghiệp khai thác vật liệu xâydựng, hoạt động du lịch cũng được xác định là một thế mạnh của tỉnh, với mứctăng trưởng như thời gian qua có thể thấy được du lịch Ninh Bình đang có nhữngbước đi đúng, sự quan tâm đầu tư phát triển của tỉnh thời gian qua cho du lịchcùng với sự tăng trưởng của các ngành kinh tế khác đã góp phần quan trọng thúcđẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững Trong chương trình phát triển du lịchdịch vụ đến năm 2015 tỉnh Ninh Bình xác định tập trung lãnh đạo phát tiểnmạnh dịch vụ, đặc biệt là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.Phấn đấu giá trị sản xuất toàn ngành dịch vụ tăng bình quân trên 19%/năm, tỷtrọng dịch vụ chiếm khoảng 42% tổng GDP toàn tỉnh Riêng lĩnh vực du lịchphấn đấu đến năm 2015 đón trên 6 triệu lượt khách du lịch doanh thu du lịch đạtkhoảng 1.650 tỷ đồng, đóng góp của du lịch khoảng 10% GDP của tỉnh.
Thứ tư, về lao động - việc làm trong du lịch
Kinh tế du lịch sinh thái là ngành có nhu cầu rất cao về lao động vì thếvới sự phát triển mở rộng các khu, điểm du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh đãgiải quyết việc làm cho nhiều lao động Không ít lao động từ các lĩnh vực sảnxuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chuyển sang kinh doanhdịch vụ và trực tiếp tham gia làm du lịch Do vậy, nguồn nhân lực du lịch sinhthái được tăng cường đáng kể về số lượng và chất lượng
Theo tổng hợp báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh NinhBình, năm 2005 ngành du lịch của tỉnh đã giải quyết được khoảng 6.400 laođộng với (thu nhập bình quân 750 nghìn đồng/tháng), đến năm 2008 là 7.975 lao
Trang 39động (thu nhập bình quân 1.600 nghìn đồng/tháng), đến năm 2009 là 8.611 laođộng (thu nhập bình quân 1.900 nghìn đồng/tháng), và đến năm 2010 con số này
đã lên tới 8.850 lao động (thu nhập bình quân 2.200 nghìn đồng/tháng), trong đó
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực tiếp quản lý 1100 lao động, với tỉ lệ laođộng qua đào tạo là trên 68%; số lao động có trình độ Đại học, Cao đẳngchiếm tỷ trọng 22%; lao động có trình độ ngoại ngữ chiếm tỷ trọng 36% trongtổng số lao động do ngành du lịch trực tiếp quản lý [phụ lục 5]
So với những năm trước đó số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trongngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng có sự tăng trưởng khá mạnh.Điều đó đã minh chứng rõ hiệu quả xã hội của hoạt động du lịch sinh thái trongtạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đặc biệt là những hộgia đình ở các địa phươngcó đất nông nghiệp được thu hồi để làm các dự án dulịch sinh thái Điển hình là khu du lịch sinh thái Vân Long, từ năm 2005 đếnnăm 2010 đã giải quyết việc làm cho 394 lao động và đã thu hút được nhiều laođộng của các hộ gia đình tham gia kinh doanh loại hình du lịch home stay (tức
là khách du lịch đến nghỉ ngơi sinh hoạt ngay chính tại ngôi nhà của người dânbản địa trong chuyến đi du lịch của mình) và dịch vụ vận chuyển cho kháchnước ngoài với thu nhập bình quân của người dân tham gia trực tiếp vào hoạtđộng du lịch là 1,8 triệu đồng/tháng
Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch sinh thái được quantâm, phát triển Ngoài các khoá đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ vàngoại ngữ do sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức, trên địa bàn tỉnh NinhBình có Trường Đại học Hoa Lư, 2 trường cao đẳng và một số trung tâm đàotạo các chuyên ngành liên quan đến du lịch…đây là nơi cung cấp nguồn nhânlực chất lượng cao trong chiến lược phát triển du lịch Ninh Bình Ngành dulịch Ninh Bình đã liên kết với nhiều đơn vị tổ chức đào tạo khóa đầu tiên ngànhhướng dẫn viên, thuyết minh viên, nấu ăn, lễ tân…cho gần 300 người tại trường
Trang 40đại học Hoa Lư với mục tiêu cung cấp bổ sung thêm cho ngành một lực lượng laođộng chính quy, bài bản, chuyên nghiệp
Trong những năm qua tỉnh đã phối hợp với Tổng Cục Du lịch, ViệnNghiên cứu Phát triển Du lịch, trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức cáclớp bồi dưỡng ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng về nghiệp vụ du lịch, nghiệp vụ kinhdoanh khách sạn - nhà hàng, ngoại ngữ, vi tính cho cán bộ công nhân viênthuộc ngành du lịch quản lý Để nâng cao nhận thức về nghiệp vụ du lịch, đạođức trong kinh doanh, tầm quan trọng của tài nguyên và môi trường và bảo vệmôi trường đối với hoạt động phát triển du lịch, khoảng 1.300 người cho nhândân các xã Gia Sinh, Gia Vân huyện Gia Viễn nơi có khu bảo tồn thiên nhiênVân Long; xã Yên Đồng huyện Yên Mô, xã Đông Sơn thị xã Tam Điệp nơi
có khu du lịch sinh thái hồ Đồng Thái - Đoong Đèn được tham gia các khóabồi dưỡng, tập huấn ngắn hạn tại địa phương Đây là những hoạt động tíchcực của ngành du lịch Ninh Bình nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong du lịch sinh thái tỉnh Ninh Bình
Phát triển kinh tế du lịch sinh thái không chỉ góp phần tích cực trong việcgiải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động mà còn cải thiện vànâng cao đời sống của người dân địa phương nơi có khu du lịch sinh thái.Thông qua đóng góp của các đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái ngân sách địaphương được nâng lên, từ đó có điều kiện để đầu tư phát triển y tế, giáo dục, cơ
sở hạ tầng phục vụ cho du lịch và cho cuộc sống của người dân địa phương.Hiện nay các tuyến đường giao thông đi đến các điểm tham quan du lịch cơbản đã được nâng cấp và hoàn thiện như: tuyến giao thông đến rừng CúcPhương, Vân Long, Tràng An, Bái Đính…đã được trải nhựa và bê tông hóa.Điều này không chỉ phục vụ tích cực cho du lịch sinh thái mà còn rất thuận tiệncho giao thông đi lại của người dân Bên cạnh đó hệ thống điện, nước, trạm y tế
ở nhiều địa phương đã được đầu tư xây dựng và nâng cấp, ở xã Gia Vân đã xây