Chuyển dịch cơ cấu ngành trong phát triển kinh tế giai đoạn hiện nay góp phần đáp ứng được tính hội nhập và phát triển bền vững cũng như đảm bảo tính thời sự đối với Việt Nam chúng ta. Chuyển dịch cơ cấu ngành là khâu quan trọng mang đến sự chuyển biến thực chất cho nền kinh tế. Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều sách lược, chủ trương đúng đắn, phù hợp trong việc chuyể dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó phát huy lợi thế tối đa cơ cấu ngành kinh tế và lãnh thổ, bảo đảm sự phát triển hài hòa, cân đối và bền vững. Tuy nhiên, việc chuyển đổi ngành kinh tế vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, một số rào cản, hạn chế chưa có giải pháp khắc phục triệt để, hiệu quả giữa các ngành còn chênh lệch, chưa đồng đều, nhiều mô hình kinh tế hiệu quả chưa cao. Từ thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quyết sách hợp lý, khoa học, từng bước tháo gỡ những khó khăn, nhất là trong giai đoạn hiện nay, sự tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid19 đã làm cho nền kinh tế mới bắt đầu khởi sắc với những dấu hiệu tích cực, nay gặp phải những khó khăn nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng ta cùng tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước và Chính phủ, nhất định đất nước ta sẽ vượt qua khó khăn, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế khoa học, phù hợp, trong đó có cơ cấu ngành kinh tế, như văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”. Từ lý do đó, tôi lựa chọn chủ đề Chuyển dịch cơ cấu ngành trong phát triển kinh tế ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp làm tiểu luận khoa học cuối khóa.
Trang 11 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành
2
II THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
III VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM QUÂN ĐỘI ĐỐI VỚI VIỆC
THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
11
đó phát huy lợi thế tối đa cơ cấu ngành kinh tế và lãnh thổ, bảo đảm sự phát triểnhài hòa, cân đối và bền vững Tuy nhiên, việc chuyển đổi ngành kinh tế vẫn còntồn tại những khó khăn, vướng mắc, một số rào cản, hạn chế chưa có giải phápkhắc phục triệt để, hiệu quả giữa các ngành còn chênh lệch, chưa đồng đều,nhiều mô hình kinh tế hiệu quả chưa cao
Trang 2Từ thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quyết sách hợp lý,khoa học, từng bước tháo gỡ những khó khăn, nhất là trong giai đoạn hiệnnay, sự tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 đã làm cho nền kinh tế mớibắt đầu khởi sắc với những dấu hiệu tích cực, nay gặp phải những khó khănnhiều hơn Tuy nhiên, chúng ta cùng tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo sáng suốtcủa Đảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước và Chính phủ, nhấtđịnh đất nước ta sẽ vượt qua khó khăn, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tếkhoa học, phù hợp, trong đó có cơ cấu ngành kinh tế, như văn kiện Đại hội
XIII nhấn mạnh “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá
trị toàn cầu” Từ lý do đó, tôi lựa chọn chủ đề " Chuyển dịch cơ cấu ngành trong phát triển kinh tế ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" làm tiểu luận
khoa học cuối khóa
NỘI DUNG
I CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các ngành
Là sự chuyển dịch sao cho phù hợp với năng lực, trình độ của lao động trongđiều kiện kinh tế-xã hội ứng với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đấtnước Dễ hiểu hơn là ngành nào có tốc độ phát triển mạnh hơn thì sẽ tăng tỉ
Trang 3trọng của ngành đó, ngành nào có tốc độ phát triển thấp hơn thì điều chỉnhgiảm tỉ trọng của ngành đó cho phù hợp tổng thể chung của nền kinh tế
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì sự phân hóa ngành ngày càngtăng, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa Trong giai đoạnchuyển mình thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng rõ cho thấy sự pháttriển của năng lực sản xuất và phân công lao động xã hội Chuyển dịch cơ cấukinh tế cho phép khai thác tối đa thế mạnh tự nhiên-kinh tế-xã hội của từngvùng Cùng với đó, chuyển dịch cơ cấu cũng cho phép Nhà nước phân phốinguồn lực hợp lý cho từng ngành, từng vùng kinh tế Tập trung xây dựng,tổng hợp những nguồn lực quốc gia là cơ sở để đẩy mạnh tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ
Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí của từng ngành, mà là
sự thay đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu ngành Quá trình thay đổicủa cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác gọi là sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế Thực trạng cơ cấu ngành phản ánh trình độ phát triểncủa một quốc gia, nó là tiêu chí phân loại quốc gia thuộc nhóm nước pháttriển hay lạc hậu, công nghiệp, nông nghiệp hay dịch vụ Quá trình chuyểndịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự pháttriển kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp sẽ có có tác động tích cực,
hỗ trợ cho phát triển kinh tế nhanh và hiệu quả Ngược lại, chuyển dịch cơcấu kinh tế không phù hợp, sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế của một quốc gia
Do đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậuhoặc chưa phù hợp hướng đến xây dựng cơ cấu mới tiên tiến hoàn thiện, tối
ưu và phù hợp
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Trang 4Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chịu sự tác động của nhiều nhân tố, do
đó, việc phân tích các nhân tố này sẽ cho phép tìm ra một cơ cấu ngành hợp lý.Các nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành baogồm:
Nhóm nhân tố địa lý tự nhiên: (Vị trí địa lý, khí hậu, đất đai tài
nguyên) Nguyên tắc của chuyển cơ cấu kinh tế ngành là dựa trên cơ sở lợi thế
so sánh, do đó, các quốc gia khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hộinói chung và chiến lược phát triển các ngành nói riêng thường dựa trên nhữngtính toán các khía cạnh lợi thế khác nhau bao gồm cả địa chính trị, điều kiện tựnhiên, thiên nhiên, địa kinh tế Thực tế từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công cho thấy các quốc gia này khi xâydựng chiến lược, họ đều có những tính toán kỹ lưỡng dựa trên điều kiện tựnhiên, tài nguyên thiên nhiên đặt trong bối cảnh khu vực và toàn cầu trước khi
tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu đã chọn Không có một
công thức chung cho sự thành công khi tiến hành chuyển dịch kinh tế ngànhgắn với điều kiện tài nguyên thiên nhiên, với mỗi đặc điểm khác nhau về vị tríđịa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên thì sẽ có một cách lựa chọn cơ cấu ngànhkinh tế khác nhau
Nhóm nhân tố kinh tế, xã hội
Dân số và nguồn lao động: nhân tố này tác động không nhỏ tới quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Với đặc điểm dân số đông, nguồn laođộng dồi dào sẽ tạo ra một lợi thế nhất định trong quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành, đặc biệt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào nhữngngành mới phát triển trong nước nhờ lợi thế cạnh tranh về tiền lương
Nhân tố truyền thống, lịch sử: việc phát huy những ngành nghề tiểuthủ công nghiệp truyền thống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Điều này không chỉ tạo ra những sản phẩmtruyền thống xuất khẩu mà còn tạo điệu kiện phát triển các ngành dịch vụ dulịch văn hóa
Trang 5Nhân tố thị thường: thị trường là nhân tố đặc biệt quan trọng có tácđộng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Cầu và xuhướng vận động của cầu đặt ra những yêu cầu và thách thức cho từng ngành,từng doanh nghiệp, là cơ sở để đảm bảo tính thực thi và sự hiệu quả củaphương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Nhân tố khoa học công nghệ: Tác động của KHCN có ảnh hưởngnhiều mặt đến cơ cấu ngành của nền kinh tế Ngày nay, thế giới bước vàocuộc cách mạng 4.0, do đó mọi quốc gia khi xây dựng chiến lược chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành đều phải coi biến khoa học công nghệ là biến số quantrọng hàng đầu trong việc xác định mục tiêu của chiến lược chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành
Nhân tố chính trị: Sự ổn định về chính trị cũng là cơ sở thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Thực tế phát triển ở các quốc gia cóquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thành công đều cho thấy sự ổnđịnh chính trị là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu của chiến lượcchuyển dịch Những nước giữ được sự ổn định chính trị liên tục, nền kinh tế
sẽ phát triển theo đúng lộ trình và đạt được những thành tựu kinh tế ở bậc caohơn Lịch sử kinh tế thế giới cũng ghi nhận nhiều quốc gia đã chuyển dịch cơcấu kinh tế thành công, nền kinh tế đã cất cánh, nhưng khi nhân tố chính trịbất ổn, nền kinh tế lại trở lại điểm xuất phát ban đầu
Nhân tố thể chế, chính sách: Những quy định trong thể chế, chính sáchcũng như định hướng chiến lược và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước có ýnghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu ngành Chuyển dịch cơcấu kinh tế nếu chỉ chịu sự tác động của thị trường thì sự hình thành cơ cấungành thường rất chậm Ngược lại, nếu nhà nước can thiệp quá sâu vào quátrình thực hiện sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu ngành kém hiệu quả
II THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam
Trang 6Từ một nền kinh tế lúa nước lạc hậu với khoảng 90% lao động làmnông nghiệp, sau 35 năm đổi mới và đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã có chuyển dịch tích cực theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được một số thành tựu quan trọngnhư: Kinh tế liên tục tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp giảm và lạm phát đượckiểm soát trong giới hạn cho phép Đặc biệt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,việc chuyển dịch cơ cấu nghành có những chuyển biến tích cực, ngày càngphù hợp, hiệu quả, theo chiều hướng tăng dần khu vực thương mại, dịch vụ,
đó là dấu hiệu tích cực tạo đòn bẩy cho một nền kinh tế trên đà đi lên Qua đóđóng góp vào những thành tựu này là nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế để tận dụng hiệu quả các nguồn lực quan trọng của xã hội
Trong thời gian qua mặc dù nền kinh tế bị chịu ảnh hưởng rất lớn bởithiên tai, dịch bệnh, song Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu đáng ghinhận như: tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong nhiều năm; thu nhập bìnhquân đầu người tăng cao; giáo dục y tế được cải thiện, đời sống văn hóa vàtinh thần của nhân dân được nâng cao Mọi thành tựu đạt được, khởi nguồn từ
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế kinh tế và đổi mới phươngthức lãnh đạo kinh tế không ngừng trong mỗi giai đoạn phát triển của đấtnước đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Trong vòng hàng chục thập kỷ qua, thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế xã hội (1991-2000, 2001-2010, 2011 - 2020), cơ cấu ngành kinh tế của nước
ta có nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ Nhìn chung cơ cấu dịch chuyển theohướng tiến bộ, tuy nhiên, so với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế thìviệc chuyển dịch này còn chậm
1.1 Những thành tựu đạt được.
Nền kinh tế đã hình thành và phát triển được những ngành quan trọng,mang tính chiến lược như ngành dầu khí, xây lắp, lắp ráp ô tô, xi măng, dệtmay, thông tin, viễn thông, tài chính ngân hàng, du lịch góp phần làm thay đổidiện mạo kinh tế đất nước Trong điều kiện tình hình kinh tế thế giới không
Trang 7thuận lợi (khủng hoảng khu vực 1997-1998; khủng hoảng kinh tế thế giới2008-2012), nhưng Việt Nam vẫn tiến hành công nghiệp hóa đất nước vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu, góp phần nâng cao đời sống củamột bộ phận người dân.
Từ chỗ nền kinh tế khủng hoảng, thiếu lương thực, thực phẩm, quátrình chuyển dịch cơ cấu đã tạo ra kết quả to lớn; nông nghiệp đã tạo ra bướcđột phá, đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu lương thực, thực phẩm; tỷ trọngnông nghiệp giảm xuống, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên, góp phần đảm bảo
an ninh lương thực, tạo nền tảng cho công nghiệp chế biến phát triển Hơnnữa, trong giai đoạn này, chúng ta đã chuyển dịch một lực lượng lao động dưthừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ
Trên thực tế, trong thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xãhội 1991-2000, Việt Nam đã thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài hàng thập niêntrước đó Thành công lớn nhất trong giai đoạn này là Việt Nam vừa duy trì sựtăng trưởng liên tục của khu vực nông nghiệp, cải thiện thu nhập cho khu vựcnông thôn, vừa tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa một số ngành quantrọng Từ sau Đại hội VIII, chủ trương công nghiệp hóa - hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động khu vực nông nghiệp,tạo tiền đề dịch chuyển lao động sang khu vực công nghiệp và khu vực dịch
vụ Từ sau Đại hội IX, Kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng thuận lợi, một
số ngành dịch vụ phát triển mạnh như tin học, viễn thông, thị trường tài chính
và logistic, phát huy tốt điều kiện ưu thế của ngành này, vừa tạo điều kiện hỗtrợ cho hai khu vực còn lại của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng tích cực, chủ động mở cửa và hội nhập với kinh tế toàn cầu Tỷ trọngxuất khẩu/GDP ngày càng tăng, năm 1995 là 26,2%, năm 2000 là 46,6%, năm
2005 là 61,3%, năm 2010 là 69,3%
Chuyển dịch cơ cấu ngành kéo theo chuyển dịch cơ cấu về lao động
Cơ cấu lao động liên tục chuyển dịch theo hướng tích cực Cụ thể: Lao động
Trang 8làm việc trong khu vực nông nghiệp năm 1990 là 73% lực lượng lao động,giảm xuống còn 57,1% năm 2005 và 48,7% năm 2010 Thành công nhất trong
20 năm đổi mới là đã dịch chuyển lao động dư thừa, bán thời vụ từ khu vựcnông nghiệp có thu nhập thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có thunhập cao hơn Bằng chứng là, tỷ lệ lao động ở khu vực công nghiệp liên tụctăng lên từ 11,2% lực lượng lao động năm 1990 lên 18,2% năm 2005 và21,7% năm 2010 Tỷ lệ lao động của khu vực dịch vụ cũng tăng lên từ 15,8%năm 1990 lên 24,7% năm 2005 và 29,6% năm 2010
Một trong những thành tựu kinh tế quan trọng thể hiện rõ nhất của ViệtNam trong giai đoạn thời gian qua là tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm 2020,
do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, sự suy thoái kinh tế diễn ra trên toàncầu, trong bối cảnh đó nền kinh tế Việt Nam cũng vượt qua không ít khókhăn, để đạt tốc độ tăng trưởng dương (2,91%), tuy không đạt được mục tiêu
đề ra nhưng Việt Nam thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao nhất thếgiới; Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp Nhìnchung, trong giai đoạn 2015-2020, kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởngtrung bình là 6,76%/ năm, đạt mục tiêu “tăng trưởng kinh tế bình quân 5 nămđạt từ 6,5%-7%/năm” mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIIcủa Đảng đã đề ra; đây là thành tựu quan trọng so với khu vực và thế giới.Đặc biệt, 6 tháng đầu năm 2021, tốc độ tăng trưởng GDP tăng 5,64%, cao hơn1,82% so với cùng kỳ năm 2020 (theo báo cáo của Tổng Cục thống kê) Điềunày cho thấy, kinh tế Việt Nam có tín hiệu tăng trưởng tích cực bất chấp tìnhhình dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp
Vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế, nhất là cơ cấu nghành trong phát triển
kinh tế, văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế Cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư công Cơ cấu lại, phát triển lành mạnh các loại thị trường, các yếu tố sản xuất để huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực” Ở đây, cần chú ý cơ
cấu lại thị trường bất động sản, đất đai, tài nguyên để đất đai, tài nguyên được
Trang 9sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao Cơ cấu lại các ngành công nghiệp,nông nghiệp, dịch vụ theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực, sản phẩm
có tiềm năng, lợi thế công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh caotrong hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, văn kiện lần này nhấn mạnh đến cơcấu lại hệ thống doanh nghiệp nói chung để phát triển lực lượng doanh nghiệpViệt Nam lớn mạnh, tăng cường gắn kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài với doanh nghiệp trong nước Đây cũng chính là để khắc phục sựthiếu gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài dẫn đến chưa tạo ra được sự chuyển giao công nghệ, thúc đẩyphát triển doanh nghiệp trong nước Phát triển khu vực kinh tế tư nhân đểthực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế cũng là điểm nhấn
trong văn kiện lần này Văn kiện nêu rõ: “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60% - 65%”
1.2 Một số tồn tại hạn chế, bất cập
Qua 35 năm đổi mới (1986-2021), cơ cấu kinh tế ngành Việt Nam đã
có những thay đổi căn bản theo chiều hướng tiến bộ Tuy nhiên, cơ cấu kinh
tế ngành Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập:
Tốc độ chuyển dịch còn chậm: Mặc dù trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của Việt Nam 35 năm qua luôn đặt mục tiêu chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng đưa nước ta thành nước công nghiệp tiên tiến và hiệnđại, tuy nhiên, trên thực tế, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP còn cao (năm
2005 là 21,02%, năm 2010 là 20,58%) Thêm vào đó, tỷ trọng công nghiệp ởmức trung bình và có dấu hiệu chậm lại trong những năm qua (ở mức thấp vàgần như không biến động (năm 2005 là 40,97%, năm 2010 là 41,09%)
Trang 10Cơ cấu nội bộ từng ngành còn bất hợp lý: Trong ngành công nghiệp,
tỷ lệ khai thác còn chiếm trên 10% (ở mức trên 25% trong tổng số đóng gópcủa ngành công nghiệp vào GDP) và có xu hướng tăng chứ không giảm, trongkhi đó, tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo lại có xu hướng giảm Bản thânngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu là gia công, lắp ráp và sử dụngcông nghệ ở mức trung bình
Ngành dịch vụ như ngân hàng tài chính vẫn chưa theo kịp yêu cầuphát triển, chưa đóng vai trò tương hỗ cho sự phát triển của công nghiệp vànông nghiệp, đôi khi ngành tài chính ngân hàng còn có xu hướng thoát ly khỏisản xuất, gây ra bong bóng và khủng hoảng, tạo hậu quả xấu cho môi trườngkinh tế vĩ mô như lãi suất tăng cao, lạm phát khó lường Cụ thể, lãi suất trongnhiều năm duy trì ở mức rất cao và không ổn định, gây khó khăn cho hai khuvực sản xuất còn lại.Bản thân khoa học và công nghệ cũng chưa phát huy hếtvai trò động lực cho sự phát triển của hai ngành sản xuất
Chuyển dịch cơ cấu ngành chưa tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô, chưa cải thiện chất lượng tăng trưởng theo chiều sâu, chưa đảm bảo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế.
Cơ cấu kinh tế ngành chưa hình thành được những ngành có tính liên kết bền vững, chịu được những cú sốc khủng hoảng từ bên ngoài gây ra Cụ thể, từ 2007 đến nay, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, hàng rào thuế quan bảo hộ giảm, chúng ta chứng kiến sự phá sản của nhiều ngành quan trọng như đóng tàu, vận tải biển, chế biến hải sản, chế biến lâm sản, v.v.
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu ngành còn nhiều hạn chế và yếu kém.Chuyển dịch giữa các ngành còn chậm, chưa đạt mục tiêu chiến lược pháttriển kinh tế xã hội đề ra (phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản thànhnước công nghiệp tiên tiến hiện đại) Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu ngành và
cơ cấu lao động còn thấp, thể hiện qua năng suất lao động tổng hợp còn ởmức thấp (dưới 20% GDP, trong khi các nước trong khu vực con số này là30-50%) Trong nội bộ từng ngành, sự chuyển dịch cũng chưa hiệu quả,