1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tốt nghiệp vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế ở việt nam, thực trạng và giải pháp

25 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Khoa Học, Công Nghệ Trong Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 54,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học, công nghệ là động lực quan trọng, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Đảng, Nhà nước ta luôn xác định và nhất quán quan điểm khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển nhanh và bền vững. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh cùng với các nguồn lực khác (như nguồn lực lao động, vốn…) thì khoa học, công nghệ đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết các thách thức trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; coi đó là một trong những đột phá chiến lược của đất nước. Đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay thì khoa học, công nghệ trở thành chìa khoá cho việc hội nhập thành công, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bắt kịp với các quốc gia phát triển trên thế giới. Tổng kết rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện đường lối đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những kết quả đạt được nền kinh tế nước ta vẫn còn những hạn chế so với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời gặp phải những thách thức, đó là: Trình độ khoa học, công nghệ còn thấp; đóng góp của khoa học, công nghệ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa xứng đáng với vai trò của nó; thiếu đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ giỏi, đầu ngành, đặc biệt là đội ngũ cán bộ kế cận có trình độ cao còn thiếu (có tình trạng để chảy máu chất sám); cơ sở hạ tầng của các cơ sở khoa học, công nghệ thiếu và lạc hậu; nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ còn hạn chế; chi cho hoạt động khoa học, công nghệ thấp….

Trang 1

= = =*****= = =

MỞ BÀI

Khoa học, công nghệ là động lực quan trọng, là đòn bẩy thúc đẩy sựphát triển của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Đảng, Nhà nước taluôn xác định và nhất quán quan điểm khoa học, công nghệ là quốc sách hàngđầu, là động lực phát triển nhanh và bền vững Đại hội XIII của Đảng tiếp tụcnhấn mạnh cùng với các nguồn lực khác (như nguồn lực lao động, vốn…) thìkhoa học, công nghệ đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, giảiquyết các thách thức trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; coi đó làmột trong những đột phá chiến lược của đất nước Đặc biệt trong bối cảnhchuyển đổi số và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay thìkhoa học, công nghệ trở thành chìa khoá cho việc hội nhập thành công, rútngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bắt kịp với các quốcgia phát triển trên thế giới

Tổng kết rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện đường lối đổi mới và 30

năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội, bên cạnh những kết quả đạt được nền kinh tế nước ta vẫn cònnhững hạn chế so với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời gặp phảinhững thách thức, đó là: Trình độ khoa học, công nghệ còn thấp; đóng gópcủa khoa học, công nghệ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa xứng đáng vớivai trò của nó; thiếu đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ giỏi, đầu ngành, đặcbiệt là đội ngũ cán bộ kế cận có trình độ cao còn thiếu (có tình trạng để chảymáu chất sám); cơ sở hạ tầng của các cơ sở khoa học, công nghệ thiếu và lạchậu; nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ còn hạn chế; chicho hoạt động khoa học, công nghệ thấp…

Trang 2

NỘI DUNG

I NHẬN THỨC CHUNG VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VỚI SẢN XUẤT

1.1 Khái niệm khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế

Khoa học công nghệ là một nguồn lực không thể thiếu trong quá trìnhphát triển kinh tế xã hội, có vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển kinh

tế xã hội của đất nước

1.1.1 Khái niệm Khoa học

Là tập hợp những nhận thức, hiểu biết, tư duy và khám phá về hệ thốngtri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên và xã hội Khoa học cónguồn gốc từ sự đấu tranh của con người với thế giới thiên nhiên, gắn với lịch

sử phát triển của xã hội loài người Khoa học thường được phân thành khoahọc tự nhiên và khoa học xã hội, trong đó khoa học tự nhiên nghiên cứu các sựvật, hiện tượng và quá trình tự nhiên…khoa học xã hội nghiên cứu các hiệntượng, quá trình và quy luật vận động, phát triển của xã hội

1.1.2 Khái niệm công nghệ

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm haydịch vụ phục vụ cho đời sống xã hội Ngày nay, công nghệ được coi là kếthợp giữa phần cứng và phần mềm: Phần cứng thể hiện kỹ thuật của phươngpháp sản xuất nó gồm các phương tiện sản xuất và máy móc thiết bị Phầnmềm bao gồm ba thành phần: Con người với những kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, tay nghề, thói quen trong lao động; thông tin gồm các bí quyết, quytrình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế ; thành phần cuối cùng là tổ chứcthể hiện trong việc bố trí sắp xếp, điều phối và quản lý Trong bất kỳ một quátrình sản xuất nào cũng đều đòi hỏi phải có sự tác động qua lại lẫn nhau giữaphần cứng và phần mềm Sự kết hợp chặt chẽ giữa chúng sẽ là điều kiện cơbản đảm bảo cho sản xuất đạt hiệu quả cao Trong mối quan hệ đó, phần mềmđược coi như là xương sống, cốt lõi của quá trình sản xuất thì thành phần con

Trang 3

người là chìa khoá, hoạt động theo những hướng dẫn của thành phần thôngtin Thành phần thông tin là sơ sở để con người ra quyết định Thành phần tổchức có nhiệm vụ liên kết các thành phần trên, động viên người lao độngnâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất

1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế

Được xem như là một quá trình biến đổi cả về lượng và chất, là sự kếthợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện hai vấn đề về kinh tế và xã hội củamỗi quốc gia Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêuthức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăngthu nhập bình quân đầu người Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấukinh tế Đây được coi là tiêu chí phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tếmột quốc gia Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội

1.2 Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ với sản xuất

Khoa học - công nghệ là một yếu tố không thể tách rời, nhưng thựcchất khoa học và công nghệ là hai lĩnh vực khác nhau, giữa chúng có sựkhác nhau căn bản Một bên đề cập đến hệ thống tri thức, còn một bên đềcập đến quy trình sản xuất cụ thể Tuy nhiên giữa khoa học, công nghệ tồntại mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, tác động lẫn nhau Ngàynay sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng xích lại gần nhauhơn, thúc đẩy lẫn nhau, phản ánh đặc trưng của giai đoạn mới trong sự pháttriển sản xuất xã hội giai đoạn cách mạng khoa học và công nghệ Khoa học

là công cụ tìm kiếm, phát hiện các nguyên lý của quá trình phát triển vànhững biện pháp thúc đẩy sự phát triển; khoa học không chỉ mô tả khái quátcông nghệ mà còn tác động trở lại, mở đường cho sự phát triển công nghệ.Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai côngnghệ mới vào sản xuất, đời sống Ngược lại, công nghệ là cơ sở để áp dụngnhững kết quả của khoa học vào thực tiễn sản xuất - kinh doanh và đời sống.Công nghệ còn tạo ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài Khoahọc không chỉ mô tả khái quát công nghệ mà còn tác động trở lại, mở đường

Trang 4

cho sự phát triển công nghệ Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất vàđời sống thì việc ứng dụng, triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếpnhiều hơn

Mối quan hệ biện chứng giữa khoa học - công nghệ được thể hiện quacác giai đoạn phát triển lịch sử Khoa học tạo ra cơ sở lý thuyết và phươngpháp ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất và đời sống Các hoạtđộng khoa học thường đòi hỏi thời gian dài, còn công nghệ luôn luôn thay đổi

và thậm chí là thay đổi nhanh chóng Khoa học càng gần với hoạt động sảnxuất và đời sống thì ứng dụng, triển khai công nghệ ngày càng mang tính trựctiếp nhiều hơn Mối quan hệ giữa khoa học - công nghệ được phát triển qua cácgiai đoạn lịch sử khác nhau Trước thế kỷ thứ XIX, khoa học thường đi sau vàgiải thích cho sự phát triển của công nghệ Mối quan hệ giữa khoa học, côngnghệ có thể hiểu như sau: Sản xuất « công nghệ « khoa học Cuối thế kỷ thứXIX đầu thế kỷ XX, khoa học tiếp cận gần hơn với công nghệ Mỗi khó khăntrong công nghệ lại là sự gợi mở cho nghiên cứu khoa học và ngược lại, nhữngphát minh khoa học lại tạo điều kiện cho sáng tạo công nghệ mới

Từ những năm 50 của thế kỷ XX, khoa học đã có bước tiến bộ mới, trởthành động lực quan trọng nhất của sự phát triển công nghệ Bước vào thế kỷXXI, thế kỷ của cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học có sự phát triển nhanhvượt bậc, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; từ nghiên cứu khoa học đếnứng dụng quy trình công nghệ rất nhanh Quan hệ giữa khoa học - công nghệđược thể hiện: Khoa học « Công nghệ « Sản xuất « Khoa học

Sự phát triển ngày càng xích lại gần nhau, thúc đẩy lẫn nhau giữa khoahọc và công nghệ phản ánh đặc trưng của giai đoạn mới trong sự phát triểnsản xuất xã hội - giai đoạn cách mạng khoa học - công nghiệp

II VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

2.1 Khoa học công nghệ góp phần mở rộng sản xuất thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế

Trang 5

Khả năng sản xuất của nền kinh tế thể hiện một cách chung nhất là sốlượng sản phẩm mà một nền kinh tế có thể cung ứng cho thị trường Nếu làmột nền kinh tế lạc hậu với trình độ khoa học, công nghệ thấp kém thì chắcchắn khả năng sản xuất của nền kinh tế đó rất thấp Khoa học, công nghệ giúpcho con người chiếm lĩnh tự nhiên, trình độ khoa học công nghệ cao đến đâuthì khả năng sản xuất của nền kinh tế sẽ tăng đến đó.

Dưới tác động của khoa học, công nghệ các nguồn lực sản xuất sẽ được

mở rộng, điều này có thể thấy: dưới tác động của khoa học công nghệ, conngười có thể mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào sử dụng cácnguồn tài nguyên thiên nhiên kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh Dướitác động của khoa học và công nghệ làm biến đổi chất lượng nguồn lực laođộng theo hướng tiến bộ Mặt khác, khoa học và công nghệ còn mở rộng khảnăng huy động tập chung di chuyển các nguồn vốn một cách an toàn, chínhxác và kịp thời

Khoa học và công nghệ tạo điều kiện chuyển hướng chiến lược pháttriển kinh tế theo chiều rộng cùng chiều sâu Khoa học và công nghệ pháttriển với sự ra đời của các công nghệ mới (vật liệu mới, công nghệ sinh học,công nghệ điện tử) làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, tức sự tăngtrưởng kinh tế nhờ vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào của sản phẩm sangphát triển theo chiều sâu tức là tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nâng caohiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Như vậy khoa học và công nghệ làphương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp

và kinh tế chi thức, trong đó phát triển nhanh ngành công nghệ cao và sửdụng nhiều lao động trí tuệ là đặc tính nổi trội

2.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ

Trong hoạt động kinh tế, có rất nhiều nhân tố ảnh hướng đến chuyểndịch cơ cấu kinh tế, trong đó khoa học, công nghệ có vai trò đặc biệt quantrọng Vì sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ không chỉ đẩy mạnhtốc độ phát triển các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày

Trang 6

càng trở nên sâu sắc và đưa đến sự phân chia các ngành thành nhiều ngànhnhỏ hơn, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thayđổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành hay thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng: Tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụ tăngdần, của ngành nông nghiệp giảm dần Bản thân cơ cấu kinh tế trong nội bộmỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng mạnh, quy mô sản xuất ởcác ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao Vai trò của lao động trí tuệtrong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng, ngày càng chiếm tỷ trọnglớn, mức độ đô thị hoá ngày càng tăng nhanh và trở thành đặc trưng phát triểnkhoa học công nghệ Chính vì sự phát triển của khoa học và công nghệ gópphần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn.

2.3 Góp phần tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)

Các nhân tố tổng hợp TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất manglại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động nhờ vào tác động của nhân

tố đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độlao động, vv… Như vậy, không nhất thiết lúc nào cũng phải tăng lao độnghoặc vốn để tăng đầu ra, mà có thể có đầu ra lớn hơn bằng cách sử dụng tối

ưu nguồn lao động và vốn, cải tiến quá trình công nghệ, trình độ quản lý,trong đó các nhân tố đầu vào được phối hợp sử dụng tốt nhất Các nước pháttriển, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP thường rất cao, trên50%; với các nước đang phát triển khoảng 20 - 30% Điều đó cho thấy sựđóng góp của khoa học, công nghệ vào tăng năng suất các nhân tố tổng hợp

Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được

mở rộng Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giản đơn sang lao độngbằng máy móc, nhờ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Sự ra đờicủa các công nghệ mới làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiềurộng sang phát triển theo chiều sâu tức là tăng trưởng kinh tế đạt được dựatrên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất Với vai trò này, khoahọc, công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền

Trang 7

kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao, sử dụngnhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật (ở nước ta hiện nay có nhiều khucông nghiệp mà đặc biệt phát triển khu công nghệ cao Hòa Lạc là một minhchứng sinh động trong hội nhập và mở cửa phát triển khoa học, công nghệ).

2.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế

Một quốc gia có nền khoa học, công nghệ phát triển thì sẽ là quốc gia

có sức cạnh tranh quốc tế cao Năng lực sáng tạo công nghệ là một trongnhững tiêu chí cơ bản để xếp hạng năng lực cạnh tranh của quốc gia đó Việcứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ làm cho các yếu tố đầu vào nhất là TFPđược nâng cao và có hiệu quả hơn, quy mô sản xuất và tiêu dùng ngày càngđược mở rộng, tạo ra thị trường mới, hướng về xuất khẩu, tăng sức cạnh tranhtrên thị trường quốc tế và khu vực

Trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận

Do đó, các doanh nghiệp luôn hướng tới giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm,giảm nhân công lao động thì buộc phải áp dụng các tiến bộ khoa học - côngnghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, giảm chi phí, tạolợi thế cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong nước mà cả thị trường ngoàinước, từ đó tối đa hóa được lợi nhuận

2.5 Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần con người

Khoa học, công nghệ phát triển xuất hiện nhiều ngành nghề mới, tạonhiều việc làm mới, nhất là tăng năng suất lao động, từ đó tăng thu nhập, nângcao đời sống dân trí cho nhân dân Sự phát triển của công nghệ sinh học, hóahọc đã sản xuất nhiều loại thuốc mới và phương tiện chữa bệnh hiện đại từ đóđiều kiện chăm sóc sức khoẻ con người tốt hơn Như trong điều trị: Ung thư,HIV, Covid-19 Khoa học, công nghệ phát triển góp phần giao lưu xã hội làmcho đời sống tinh thần của con người phong phú tốt đẹp hơn Công nghệ điện

tử, tin học viễn thông phát triển làm rút ngắn khoảng cách địa lý giữa cácquốc gia, vùng miền như phát triển Internet, mạng xã hội…

Trang 8

2.6 Khoa học, công nghệ phát triển góp phần và tạo điều kiện cải tạo môi trường sinh thái

Sản xuất và tiêu dùng của con người liên tục phát triển do đó chất thảikhông ngừng tăng gây tác hại cho con người và môi trường sinh thái Pháttriển và ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học các chất thải được xử lý, cảithiện và bảo vệ môi trường Khoa học, công nghệ phát triển cũng góp phầntiết kiệm tiêu hao nguyên, nhiên liệu làm giảm chất thải, nguồn năng lượng,vật liệu mới thay thế các nguồn lực truyền thống không gây ô nhiễm môitrường; khoa học - công nghệ phát hiện và dự báo các thảm hoạ thiên nhiên

để phòng ngừa từ sớm, từ xa

Tuy nhiên, tác động của khoa học, công nghệ gây ra ảnh hưởng xấu đếnphát triển kinh tế như gia tăng và phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia,nhiều nước độc quyền trong những tiến bộ khoa học, công nghệ, thuốc chữabệnh đặc trị (như phân bổ thuốc đặc trị Covid -19… )

III THỰC TRẠNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

3.1 Thành tựu khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế Việt Nam

Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập; khoa học, côngnghệ nước ta bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực, Đại hội XIII nhấn mạnh

“Khoa học, công nghệ từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển

kinh tế - xã hội Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được tăng cường”1 Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phầncung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triểnnền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, conngười Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc Khoa học tự nhiên có nhiều thành tựutrong nghiên cứu, điều tra, góp phần xây dựng chiến lược và quy hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Khoa học, công nghệ đã gắn bóhơn với sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu

1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NxB chính trị quốc gia Sự thật, H2021, Tập 1, Trang 63

Trang 9

quả của tất cả các ngành, lĩnh vực, vùng và lãnh thổ trên cả nước Văn kiện

Đại hội XIII đánh giá “Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã

đóng góp tích cực hơn trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội”2

Kết cấu hạ tầng cho khoa học, công nghệ phát triển và ngày càng hiệnđại hơn Hình thành các trung tâm công nghệ cao, nhiều phòng thí nghiệmmáy móc và thiết bị hiện đại ngang tầm một số nước trong khu vực và quốc

tế Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ từng bước được đổi mới phù hợp với

cơ chế thị trường Nhiều nhà khoa học được tự do sáng tạo

Hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ được nâng lên, tạo chuyểnbiến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi nghiệp sáng tạo Quản lý nhànước về khoa học và công nghệ có bước đổi mới Một số cơ chế, chính sách

về phát triển, quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế, chính sách quản

lý nguồn vốn đầu tư, tài chính bước đầu phát huy tác dụng Nhiều ngành nghề

và từ cơ quan Trung ương đến địa phương có chính sách thu hút nhân tài

Các hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ ngày càngđược đổi mới, nhận thức của xã hội, của doanh nghiệp về vị trí, vai trò củakhoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế, phát triển đất nước khôngngừng được nâng lên Điều đó khẳng định rõ vai trò động lực trong phát triểnkinh tế - xã hội Trước yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nguồn nhânlực khoa học và công nghệ của Việt Nam đã và đang có bước phát triển vượtbậc Hiện nay, nước ta có khoảng trên 170 nghìn cán bộ khoa học và côngnghệ tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, làm việc trong các tổchức khoa học và công nghệ của Nhà nước (chiếm khoảng 84,1%) Hợp tácquốc tế về khoa học và công nghệ ngày càng mở rộng Đến năm 2020, ViệtNam đã có quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ với hơn 70 quốc gia,vùng lãnh thổ; là thành viên của hơn 100 tổ chức quốc tế và khu vực

2 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NxB chính trị quốc gia Sự thật, H2021, Tập 1, Trang 63

Trang 10

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng từ33,6% giai đoạn 2011-2015 lên 45,2% giai đoạn 2016-2020, tính chung 10năm 2011-2020 đạt 39,0% (vượt mục tiêu 35%) Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sảnphẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hoá tăng từ 19% năm 2010 lênkhoảng 50% năm 2020 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu-GII tăng 17 bậc tronggiai đoạn 2016 – 2020, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á, đứng đầu trong sốcác quốc gia ở mức thu nhập trung bình thấp Đặc biệt trong bối cảnh đại dịchCOVID-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, khi nhiềunước rơi vào suy thoái, Việt Nam nằm trong nhóm ít các quốc gia duy trì tăngtrưởng dương, kiểm soát tốt dịch bệnh, đạt nhiều kết quả ấn tượng.

3.2 Hạn chế của khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế Việt Nam

Bên cạnh những đóng góp quan trọng của khoa học, công nghệ trongphát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực chođất nước khoa học, công nghệ còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập Đại hội XIII

của Đảng chỉ ra “Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then

chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Năng lực và trình độ công nghệ của nền kinh tế nhìn chung còn thấp Công nghiệp vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỉ lệ nội địa hoá thấp, hiệu quả tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế ”3, trình

độ khoa học và công nghệ vẫn còn thấp, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh

tế chưa xứng đáng với vai trò của nó

Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển và ứngdụng khoa học và công nghệ còn hạn chế, thiếu thể chế về tài chính, chuyểngiao, ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao;thiếu giải pháp đồng bộ và sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương cònchưa được chặt chẽ

Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệcòn nặng về hành chính hoá, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huysức sáng tạo, thu hút nhân tài; thiếu đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ giỏi,

3 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NxB chính trị quốc gia Sự thật, H2021, Tập 1, Trang 82.

Trang 11

đầu đàn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ kế cận có trình độ cao Đầu tư cho khoahọc và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao, năng lực sáng tạo của các nhàkhoa học chưa được phát huy Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4chưa lan tỏa tích cực nhất là nhiều lãnh đạo, nhà khoa học và doanh nghiệpchưa thực sự quan tâm tới sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vàođời sống.

Chưa có chính sách hợp lý về vay vốn, thuế, hỗ trợ phát triển, tạo độnglực để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ Hệ thống thông tin, thống kêchưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ việc xây dựng các chiến lược, chínhsách Cơ sở hạ tầng của các cơ sở khoa học và công nghệ thiếu và lạc hậu;nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ còn hạn chế Mặc dùĐảng và Nhà nước rất quan tâm đến phát triển khoa học, công nghệ, tuy vậychi ngân sách cho lĩnh vực này chỉ chiếm 0,5% GDP, doanh nghiệp 0,3%GDP Đầu tư vào cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ tăng chậm và chủ yếutập trung vào xây dựng trụ sở, chưa tập trung đầu tư phát triển nguồn nhânlực, trang thiết bị và phòng thí nghiệm hiện đại nên vốn ít, đầu tư không tậptrung và không trọng điểm dẫn đến hiệu quả không cao

Bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa đạt yêu cầu; chưa gắn kết chặt chẽ giữa khoahọc tự nhiên, khoa học, công nghệ và khoa học xã hội - nhân văn, khoa học lýluận chính trị để phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước

Khoa học, công nghệ gắn kết với yêu cầu của thực tiễn còn hạn chế.Chưa tạo động lực và cơ chế phù hợp để gắn khoa học, công nghệ với sảnxuất và đời sống Thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trườngđại học và doanh nghiệp Nhiều đề tài nghiên cứu không xuất phát từ thựctiễn đặt ra Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam còn thấp,nhất là công nghệ hiện đại, tiên tiến

IV GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU MỚI VÀ NÂNG CAO VAI

Trang 12

TRÒ, HIỆU QUẢ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VỚI XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI

4.1 Định hướng phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6, khoá XI (Nghịquyết 20-NQ/TW ngày 01/11/2012) về phát triển khoa học và công nghệ phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế

thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chỉ rõ: “Phát

triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” “Đến năm 2020, khoa học, công nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực khoa học, công nghệ đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Nghị quyết Đại hội XII xác định: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước về khoa học, công nghệ Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy

tự do sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu, tư vấn, phản biện của các nhàkhoa học Khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ Đổi mới cơchế quản lý, nhất là cơ chế tự chủ về tài chính, tổ chức và hoạt động của các

tổ chức khoa học, công nghệ công lập Phát huy những thành quả đạt được

Đại hội XIII nhấn mạnh: “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng

và mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong

đó nguồn lực nội sinh”4

Phát triển mạnh mẽ nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học,công nghệ nhằm tạo đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong từng

4 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NxB chính trị quốc gia Sự thật, H2021, Tập 1, Trang 110.

Ngày đăng: 20/06/2023, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI (Dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội); NxB QĐND năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dùng cho cán bộ, đảng viên trong Đảng bộQuân đội
4. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6, khoá XI (Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 01/11/2012) về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế thịtrường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
5. Kết luận 62-KL/QUTW, ngày 18/01/2019 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục lãnh đạo công tác khoa học công nghệ và môi trường trong Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục lãnh đạo công tác khoa học công nghệ và môi trường trong Quânđội đến năm 2020 và những năm tiếp theo
6. Giáo trình kinh tế phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội, năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
7. Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị (Khối kiến thức thứ 2) tập 8, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, H.2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị (Khối kiến thức thứ 2)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
8. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phát triển đất nước hiện nay, vấn đề và giải pháp”. Hội đồng lý luận Trung ương, Bộ biên tập Tạp chí cộng sản. H 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lựcphát triển đất nước hiện nay, vấn đề và giải pháp”
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1; Nxb CTQG Sự thật, H.2021 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w