1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận vai trò của nguồn lao động với phát triển kinh tế ở việt nam lý luận và thực tiễn

29 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của Nguồn Lao Động Với Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam - Lý Luận Và Thực Tiễn
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lao động là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, mặt khác lao động cũng là một bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển. Sự phát triển kinh tế suy cho cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đới sống vật chất, tinh thần cho con người. Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo. Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất, tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó. Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai trò của lao động, dùng vai trò của lao động để vận hành máy móc. Với Việt Nam là một nước đang phát triển và muốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì cần đề cao vai trò của nguồn lao động trong phát triển kinh tế. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác định vai trò đặc biệt của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA NGUỒN LAO ĐỘNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT

NAM - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

MỞ ĐẦU

Lao động là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào khôngthể thiếu được trong quá trình sản xuất, mặt khác lao động cũng là một bộ phận củadân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển Sự phát triển kinh tế suycho cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đới sống vật chất, tinh thần cho conngười Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giánhất của mỗi quốc gia chính là con người Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môitrường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hộiphát huy mọi năng lực sáng tạo

Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó làyếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất, tinh thần của xã hội đều

do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó.Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai trò của lao động, dùngvai trò của lao động để vận hành máy móc Với Việt Nam là một nước đang pháttriển và muốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì cần đề cao vai trò của nguồnlao động trong phát triển kinh tế

Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóngdân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác định vai trò đặc biệt củanhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệpxây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

I VAI TRÒ CỦA NGUỒN LAO ĐỘNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Khái niệm chung về lao động, các vấn đề liên quan đến nguồn lao động với phát triển kinh tế

Trang 2

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật

chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quátrình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao độngnhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người

Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của

sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quátrình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là

ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm củachiến lược phát triển kinh tế – xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất,khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người laođộng, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò củangười lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước là rất quan trọng

Nguồn lao động (nguồn lực lao động) là bộ phận dân số, những người đang

tham gia lao động và có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động (vìnhiều lý do khác nhau)

Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện là số lượng vàchất lượng, như vậy theo khái niệm nguồn lao động thì có một số người được tínhvào nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động Đó là những ngườilao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm; nhữngngười đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình và những ngườithuộc tình trạng khác Cần biết là trong nguồn lao động chỉ có bộ phận nhữngngười đang tham gia lao động là trực tiết góp phần tạo ra thu nhhập của xã hội

Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm: Bộ phận dân số đủ 15 tuổitrở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưngđang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không cónhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những ngườinghỉ hưu trước tuổi quy định)

Trang 3

Chất lượng của nguồn lao động là mức độ đáp ứng về khả năng làm việccủa người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thựchiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động

Lực lượng lao động: Theo Tổ chức Lao động quốc tế, lực lượng lao động

là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định thực tế đang có việc làm

và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm Lực lượng lao

động bao gồm những người trong độ tuổi lao động có việc làm và những ngườichưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (thất nghiệp)

Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: Quy mô và

cơ cấu đân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấu của nguồn lao động

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số là: Phong tục,tập quán của từng nước, từng vùng; trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y

tế và chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ

Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau giữa các nước.Nhìn chung, các nước phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số thấp; ngượclại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao Mức tăng dân số bìnhquân của thế giới hiện nay là khoảng 1,8%, ở nước châu Âu thường ở dưới mức1%, trong khi đó ở các nước châu á là 2% - 3% và các nước châu Phi là 3 - 4%.Hiện nay ba phần tư dân số thế giới sống ở các nước đang phát triển, ở đó dân sốtăng, trong khi phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của nhân dânkhông tăng lên được và tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm Do đó kếhoạch dân số đi đôi với phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm của các nước đangphát triển

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là số

phần trăm của dân số trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động trongnguồn nhân lực

Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp: Thất nghiệp gồm những người không có

việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm Số người không có việc làm sẽ ảnhhưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế

Trang 4

Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó không chỉ tác động về kinh

tế mà tác động cả về khía cạnh xã hội

Theo cách tính thông thường tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ % giữa tổng

số người thất nghiệp và tổng số nguồn lao động Nhưng đối với các nước đang pháttriển tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng sự thực về nguồn lao động chưa sửdụng hết Trong thống kê thất nghiệp ở các nước đang phát triển, số người nghèothường chiếm tỷ lệ rất nhỏ và khi họ thất nghiệp thì họ cố gắng không để thời gian

đó kéo dài Bởi vì họ không có các nguồn lực dự trữ, họ phải chấp nhận mọi việcnếu có Do đó ở các nước đang phát triển để biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hếtlao động người ta dùng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình.Thất nghiệp trá hình gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình

Sử dụng nguồn lao động: Là hình thức phân công người lao động vào công

việc mỗi công việc có đặc tính khác nhau về chuyên môn, hình thái Sử dụng cóhiệu quả nguồn lao động thực chất là việc phân bố nguồn lao động một cách hợp

lý, sao cho việc sử dụng lao động này đạt được mục đích là tăng trưởng và pháttriển kinh tế - xã hội

Phân bố nguồn lao động chính là việc phân phối, bố trí hình thành nguồnlao động theo quy luật, xu hướng tiến bộ vào các lĩnh vực hoạt động, các ngànhkinh tế, các vùng lãnh thổ Xét về bản chất thì đó là sự đổi mới tình trạng phâncông lao động ngày càng tiến bộ hơn và đạt trình độ ngày càng cao hơn

Phân bố nguồn lao động hợp lý phải phối hợp, kết hợp hài hoà nhiều biệnpháp phân bổ theo từng lĩnh vực sản xuất, từng ngành, từng nội bộ ngành kinh tế,từng vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia Một xu hướng có tính quy luật là lựclượng lao động được phân bổ và lĩnh vực sản xuất vật chất ngày càng giảm và khinền kinh tế phát triển thì nhu cầu về hưởng thụ văn hoá tinh thần ngày càng cao vàđây là nhu cầu vô hạn

Đào tạo lao động, nâng cao trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn kỹthuật, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động, nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo

và tổ chức sản xuất Trong lĩnh vực không sản xuất vật chất phân bổ tỷ trọng lớn

Trang 5

lao động vào các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá thể thao, giảmlao động trong quản lý hành chính, lao động quản lý Trong lĩnh vực sản xuất vậtchất tăng tỷ trọng lao động, giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, bởi

vì tăng năng suất lao động trong các ngành trên là thuận lợi hơn nó tác động trở lạingành nông nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động: Số lượng lao động mới

phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động vào phát triển kinh tế, mặt kháccần được xem xét đến chất lượng lao động, đó là yếu tố làm cho lao động có năngsuất cao hơn Chất lượng lao động có thể được nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờsức khoẻ của người lao động, nhờ việc bố trí điều kiện lao động tốt hơn

Giáo dục được coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năngcủa con người theo nhiều nghĩa khác nhau Nhưng để đạt được trình độ nhất địnhcần phải chi phí khá nhiều, kể cả chi phí của gia đình và quốc gia Đó chính làkhoản chi phí đầu tư cho con người, ở các nước đang phát triển giáo dục đượcđược thể hiện dưới nhiều hình thức nhằm không ngừng nâng cao trình độ văn hoá

và chuyên môn cho mọi người Kết quả của giáo dục làm tăng lực lượng lao động

có trình độ tạo khả năng thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ Công nghiệpthay đổi càng nhanh càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vai trò của giáo dục cònđược đánh giá qua tác động của nó đối với việc tăng năng suất lao động của mỗi cánhân nhờ có nâng cao trình độ và tích lũy kiến thức

Giống như giáo dục, sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cảhiện tại và tương lai, người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợinhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trongkhi đang làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ em sẽ là yếu

tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em phát triển thành nhữngngười khoẻ về thể chất, lành mạnh về tinh thần, hơn nữa điều đó còn giúp trẻ emnhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông quagiáo dục ở nhà trường Những khoản chi cho sức khoẻ còn làm tăng nguồn nhânlực về mặt số lượng bằng việc kéo dài tuổi thọ lao động

Trang 6

2 Vai trò của nguồn lao động đối với phát triển kinh tế

Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉ tiêu

về số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khoẻ người lao động và sự kết hợpgiữa lao động và các yếu tố đầu vào khác

Lao động, một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tốđầu vào không thể thiếu được của quá trình sản suất Mặt khác lao động là một bộphận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển Sự phát triểnkinh tế suy cho đến cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất,tinh thần cho con người

Các chỉ tiêu này được thể hiện tập trung qua mức tiền công của người laođộng Khi tiền công của người lao động tăng có nghĩa chi phí sản suất tăng, phảnánh khả năng sản suất tăng lên, đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập

có thể sử dụng của người lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của ngườitiêu dùng tăng Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người lao động nóichung là thấp, do đó ở những nước này lao động chưa phải là động lực mạnh cho

sự phát triển Để nâng cao vai trò của người lao động trong phát triển kinh tế cầnthiết có các chính sách nhằm giảm bớt lượng cung lao động, đồng thời tạo ra cácnguồn lực khác một cách đồng bộ

Nguồn lao động là yếu tố “đầu vào” không thể thiếu của quá trình sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế Với tư cách là nguồn lực đầu vào, nguồn lao

động kết hợp với các nguồn lực vật chất khác (tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoahọc, công nghệ…), tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra hàng hóanói riêng, của cải vật chất nói chung Tức là, nguồn lao động tham gia trực tiếp vàoquá trình tạo ra giá trị và làm tăng giá trị, hay nói cách khác, nguồn lao động đã tácđộng vào tổng cung của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển

Vai trò của lao động ở khía cạnh là bộ phận của dân số: Là người thụ

hưởng những thành quả của quá trình phát triển Lực lượng lao động là yếu tố tạocầu cho nền kinh tế với vai trò tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ xã hội Khi thunhập của họ tăng lên, họ sẽ có điều kiện nâng cao mức sống, từ đó sẽ nâng cao

Trang 7

năng suất lao động xã hội, hiệu quả sản xuất góp phần tăng nhu cầu xã hội Dovậy, thỏa mãn nhu cầu của người lao động luôn được xem là mục đích cuối cùngcủa phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia.

Nguồn lực lao động phát hiện, sáng tạo ra các nguồn lực phát triển: Con

người là chủ thể phát hiện, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tạo nêntăng trưởng kinh tế; nguồn lực vốn là kết qua lao động và tích lũy của con người

mà có; nguồn lực khoa học - công nghệ cũng do con người sáng tạo ra

Nguồn lực lao động đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng các nguồn lực khác: Chất lượng nguồn lực lao động là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu

quả sử dụng ba nguồn lực còn lại (gồm: Nguồn lực vốn, KH&CN và tài nguyênthiên nhiên) Nói đến nguồn lực lao động là nói đến tổng thể nguồn lực lao độngcủa một quốc gia, trong đó nguồn lực lao động có trình độ cao là bộ phận cấuthành đặc biệt quan trọng, là nguồn lực lao động tinh tuý nhất, có chất lượng nhất

và có vai trò quyết định sự thành công đối với phát triển kinh tế của một đất nước

Nguồn lực lao động là động lực của phát triển kinh tế: Nguồn lực lao động

vừa có nhu cầu tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao, phong phú và chủthể sáng tạo công nghệ, điều chỉnh cơ câu KT để thỏa mãn các nhu cầu xã hội

Nguồn lao động quyết định việc tổ chức, điều phối, sắp xếp và sử dụng các nguồn lực khác Nói một cách khác, nguồn lao động đóng vai trò quyết định trong

việc sử dụng các nguồn lực khác Nguồn lực lao động là yếu tố có ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả sử dụng ba nguồn lực còn lại (gồm Nguồn lực vốn, KH&CN, tàinguyên thiên nhiên) Nói đến nguồn nguồn lao động là nói đến tổng thể nguồn laođộng của một quốc gia, trong đó nguồn lao động có trình độ cao là bộ phận cấuthành đặc biệt quan trọng, là nguồn lực lao động tinh tuý nhất, có chất lượng nhất

và có vai trò quyết định sự thành công đối với phát triển kinh tế của một đất nước

Mối quan hệ giữa nguồn lực lao động với phát triển kinh tế: Nguồn lực lao

động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong cácnguồn lực để phát triển kinh tế đất nước Nguồn lực lao động quyết định quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử

Trang 8

dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao độngđược đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến,hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Trong nền kinh tế công nghiệp, nền kinh tế tri thức, nguồn lao động chấtlượng cao là nhân tố quyết định Đảng và nhà nước ta khẳng định mục tiêu và độnglực phát triển kinh tế - xã hội là vì con người và do con người

Bên cạnh đó, nguồn lao động vừa là yếu tố "đầu vào" của quá trình sảnxuất, vừa là người tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của xã hội Nhưvậy, với tư cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lao độngtrở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế Nguồn lực lao động khác với các nguồnlực khác là vừa tham gia tạo cung, tạo cầu, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ gắn bóvới chủ thể kinh tế - xã hội do con người tạo ra

Do đó nguồn lưc lao động có vai trò đặc biệt đối với phát triển kinh tế sovới các nguồn lực khác, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và

sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoànthiện bản thân mỗi con người Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu đểphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với ý nghĩa đó, trongthời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm, tạo điều kiện để thực hiệnphát huy nguồn lực lao động từ đó làm cơ sở phát triển đất nước, chính vì vậytrong thời gian qua nguồn lực lao động nước ta phát triển cả về số lượng, chấtlượng, tạo ra một nguồn lực lao động dồi dào, đủ trình độ để thực hiện côngcuộc đổi mới đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số yếu kém như: Nguồn lực ở nước tađông nhưng không mạnh, trình độ lao động phổ thông khá nhiều, lao động qua đàotạo còn ít và đặc biệt là chất lượng đào tạo chưa đạt hiệu quả yêu cầu, do vậynguồn lực lao động chưa phát huy vai trò khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồnlực khác đẻ phát triển kinh tế - xã hội

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng nguồn lao động

Trang 9

Nguồn lao động có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế, là nhân tốđầu vào đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, là động lực thúc đẩy việc phát huy vaitrò của các nguồn lực khác như vốn, khoa học - công nghệ Tuy nhiên, vai trò củanguồn lao động có phát huy được hay không trong phát triển kinh tế phụ thuộc rấtnhiều nhân tố khác nhau.

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến số lượng của nguồn lao động:

Sự gia tăng về quy mô dân số và tốc độ gia tăng dân số có liên quan trực tiếpđến số lượng lao động Một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân sốcao sẽ có nguồn lao động dồi dào, thậm chí ở mức dư thừa lao động

Cơ cấu dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng lao động, cơ cấu dân sốchính là các tiêu chí như độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính…

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm

Ngoài ra tỷ lệ thất nghiệp (thất nghiệp và thất nghiệp trá hình) cũng ảnhhưởng đến số lượng nguồn lao động

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn lao động

Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao độngđược biểu hiên thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực (ý thức, tinh thần) Ba mặtnày có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực (hay chấtlượng nguồn lao động) Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tảitri thức; trí tuệ (hay trí lực) là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực; ý thứctác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệthành thực tiễn

Chất lượng của nguồn lao động chịu tác động bởi các nhân tố sau:

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thể chất của nguồn lao động

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹthuật, đạo đức và tác phong của người lao động

Trang 10

Mô hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, hội nhập quốc tế và độ mởnền kinh tế.

Chính sách phát triển con người của một quốc gia

4 Thực trạng nguồn lao động với phát triển kinh tế ở Việt Nam sau những năm đổi mới

Về số lượng nguồn lao động:

Cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhiều giải pháp tạo việc làm chongười lao động, giải quyết vấn đề lao động - việc làm đã được các cấp, các ngànhquan tâm nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội.Tuy nhiên, chất lượng lao động hạn chế đang ngày càng gây nên những áp lực lớnđối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Do vậy, việc làm rõ thựctrạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

là một vấn đề cần thiết

Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắtđầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từtrước đến nay Tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong

đó nữ chiếm khoảng 48,94% Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo giatăng về lực lượng lao động Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệungười bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của ViệtNam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiềuhơn nữ với trên 50% lao động là nam giới Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng

kể và cho thấy lao động nữ chiếm một lượng đông đảo Tỷ lệ thất nghiệp của laođộng nữ khá cao so với lao động nam do hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫngiữa sinh đẻ và làm việc, cơ hội tìm được việc làm vừa ý sau khi sinh là thấp

Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồngbằng sông Hồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hảimiền Trung (trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long Đây là các khu vực có diện

Trang 11

tích đất rộng, tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp,thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh nên thu hút đông đảo lao động tập trung ởnhững khu vực này Những khu vực chiếm tỷ lệ thấp, là những khu vực có diệntích đất hẹp, nhiều đồi núi, ít khu đô thị và khu công nghiệp nên không thu hútnhiều lao động đến đây.

Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôncũng có sự chênh lệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tậptrung ở khu vực nông thôn, chiếm khoảng gần 70% Con số này có xu hướng giảmqua các năm nhưng vẫn ở mức cao Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niênnông thôn có độ tuổi từ 15-30, chiếm 70% số thanh niên và 60% lao động nôngthôn Tuy nhiên, 80% trong số này chưa qua đào tạo chuyên môn Đặc điểm này làtrở ngại lớn cho lao động nông thôn trong tìm kiếm việc làm Tính đến năm 2017,dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam là hơn 72,04 triệu người (chiếmkhoảng 75% tổng dân số cả nước), trong đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt75,5%, với 54,4 triệu người So với năm 2010 (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là75%), lực lượng lao động tính đến năm 2017 tăng cả về tỷ lệ và số lượng tuyệt đối

Thời gian qua, mặc dù lực lượng lao động tăng cả về số lượng và trình độchuyên môn, song vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với lực lượng lao động ViệtNam hiện nay, cụ thể:

Một là, lao động phân bổ không đều giữa các vùng: Các vùng đất rộng có

tỷ trọng lao động thấp (vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lựclượng lao động, Tây Nguyên chiếm 6,5% lực lượng lao động), phân bổ lao độngchưa tạo điều kiện phát huy lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động vàtác động tích cực đến sự di chuyển lao động từ các vùng nông thôn ra thành thị.Năm 2017, lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở các vùng Đồng bằng SôngHồng (21,8%), Đồng bằng Sông Cửu Long (19,1%), Bắc Trung bộ và Duyên hảimiền Trung (21,6%), các vùng còn lại chiếm 17,2%

Hai là, chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nôngthôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung lao động ở Việt Nam

Trang 12

hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao,lao động một số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin viễn thông, dulịch…) và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng,tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnhtranh thấp Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả vềchiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độlàm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.

Kỷ luật lao động của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt racủa quá trình sản xuất công nghiệp Một bộ phận lớn người lao động chưa được tậphuấn về kỷ luật lao động công nghiệp Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn,nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông,tùy tiện về giờ giấc và hành vi Người lao động chưa được trang bị các kiến thức

và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro,ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc

Ba là, còn nhiều rào cản, hạn chế trong dịch chuyển lao động: Phần lớn laođộng di cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập,chữa bệnh trình độ học vấn của lao động di cư thấp và phần đông chưa qua đàotạo nghề Hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất – nơi sử dụng đến 30% laođộng di cư không có dịch vụ hạ tầng xã hội (ký túc xá, nhà trẻ, nhà văn hóa, đàotạo nghề, tham gia bảo hiểm xã hội…), lao động di cư ít có cơ hội tiếp cận với cácdịch vụ xã hội cơ bản Tình trạng trên dẫn tới hậu quả là nguồn cung lao độngkhông có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu côngnghiệp, khu chế xuất

Dân số Việt Nam được tính đến ngày 21 Tháng Giêng 2019 là 97,016,479người, theo thống kê mới nhất của Liên Hiệp Quốc được công bố lại tại trangmạng “danso.org/viet-nam.” Việt Nam là một quốc gia có dân số đông đang trongthời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,29 triệungười, chiếm khoảng 60% dân số Đây là một lợi thế, nhưng cũng là thách thức

Trang 13

trong việc tạo việc làm, đặc biệt là thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việclàm ở nông thôn nước ta.

Về tốc độ tăng trưởng nguồn lao động: Dân số trung bình tăng từ 87.840

nghìn người (2011) lên 92.685 nghìn người (2016) Theo đó, tốc độ tăng chung là1,07%/năm, trong khi tốc độ tăng tự nhiên giảm dần hàng năm Gia tăng dân sốtrong những năm qua kéo theo gia tăng về lực lượng lao động (bảng 1) Nhìnchung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động,đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tưnước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Về chất lượng nguồn lao động:

Về thể lực: Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình

kém, cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng đượccường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêuchuẩn quốc tế

Về trí lực: Chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp,

nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung lao động ở ViệtNam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độcao, lao động một số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin viễn thông, dulịch…) và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng,tay nghề, còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp Năm 2015, cả nước có hơn 10,5triệu lao động được đào tạo trong tổng số 52,9 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên cóviệc làm, chiếm 19,9% Như vậy, cả nước hiện có trên 42,4 triệu người (chiếm80,1% tổng số lao động) chưa được đào tạo để đạt trình độ chuyên môn kỹ thuậtnào đó

Về năng suất lao động: Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của

Việt Nam thời gian qua tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua cácnăm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEANnhưng năng suất của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với nhiều nước trong khuvực Nguyên nhân dẫn đến NSLĐ của Việt Nam thấp so với các nước trong khu

Trang 14

vực là người lao động Việt chỉ đảm nhận các công đoạn hoàn thiện theo mẫu Lựclượng lao động Việt Nam đông nhưng chỉ đảm bảo nhận được các công việc giacông, không tạo ra sản phẩm có thương hiệu để cung ứng cho thị trường Ngoài ra,Việt Nam vẫn coi nguồn lao động giá rẻ là lợi thế của nền kinh tế khiến rất khónâng cao NSLĐ Bên cạnh đó, trong cộng đồng DN Việt Nam hiện nay có đến trên90% là DN nhỏ và vừa, công nghệ sản xuất thấp và trung bình chiếm tỷ lệ quá cao.

Về cơ cấu của nguồn lao động: Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới

tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn nữ với trên 50% lao động là nam giới Tuynhiên, sự chênh lệch này không đáng kể và cho thấy lao động nữ chiếm một lượngđông đảo Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ khá cao so với lao động nam do hạnchế về sức khỏe, những mâu thuẫn giữa sinh đẻ và làm việc, cơ hội tìm được việclàm vừa ý sau khi sinh là thấp

Cơ cấu lao động theo vùng: Lao động phân bổ không đều giữa các vùng: Cácvùng đất rộng có tỷ trọng lao động thấp (vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉchiếm 13,8% lực lượng lao động, Tây Nguyên chiếm 6,5% lực lượng lao động),phân bổ lao động chưa tạo điều kiện phát huy lợi thế về đất đai, tạo việc làm chongười lao động và tác động tích cực đến sự di chuyển lao động từ các vùng nôngthôn ra thành thị Năm 2017, lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở các vùngĐồng bằng Sông Hồng (21,8%), Đồng bằng Sông Cửu Long (19,1%), Bắc Trung

bộ và Duyên hải miền Trung (21,6%), các vùng còn lại chiếm 17,2%

Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôncũng có sự chênh lệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tậptrung ở khu vực nông thôn, chiếm khoảng gần 70% Con số này có xu hướng giảmqua các năm nhưng vẫn ở mức cao Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niênnông thôn có độ tuổi từ 15-30, chiếm 70% số thanh niên và 60% lao động nôngthôn Tuy nhiên, 80% trong số này chưa qua đào tạo chuyên môn Đặc điểm này làtrở ngại lớn cho lao động nông thôn trong tìm kiếm việc làm Tính đến năm 2017,dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam là hơn 72,04 triệu người (chiếmkhoảng 75% tổng dân số cả nước), trong đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt

Ngày đăng: 20/06/2023, 14:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w